SUY NIỆM CHÚA NHẬT II PHỤC SINH_C

24-04-2019 195 lượt xem

 (Cv 5,12-16; Kh 1,9-13.17-19; Ga 20,19-31)

Mục Lục

GIÁO HỘI: CỘNG ĐOÀN NHÂN CHỨNG CHO ĐẤNG PHỤC SINH – ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

THÁNH TÔMA VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA – Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

GẶP GỠ ĐẤNG GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT – JM. Lam Thy ĐVD

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA TỒN TẠI ĐẾN MUÔN ĐỜI Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ĐỨC GIÊSU MẠC KHẢI LÒNG THƯƠNG XÓT QUA ƠN BAN BÌNH AN Tu sĩ Jos. Vinct. Ngọc Biển, S.S.P.

PHÚC LÀNH THƯƠNG XÓT Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG VÀ BIẾN CỐ "SRI LANKA" ĐAU THƯƠNG – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

HAI LẦN CHÚA HIỆN ĐẾN… Thế Kiên Dominic

TRỞ THÀNH HIỆN THÂN CỦA LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT  Huệ Minh

GIÁO HỘI: CỘNG ĐOÀN NHÂN CHỨNG CHO ĐẤNG PHỤC SINH

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Nếu trong thời gian Đức Giêsu còn tại thế, cộng đoàn tín hữu chỉ thu hẹp nơi những ai theo Người để nghe Người giảng dạy, thì sau khi Chúa từ cõi chết sống lại, cộng đoàn ấy đã trở nên mạnh mẽ, đông đảo hơn nhiều. Tác giả sách Công vụ tông đồ diễn tả với chúng ta Giáo Hội như một cộng đoàn nhân chứng cho Đấng Phục sinh (Bài đọc I). Cộng đoàn ấy không còn phân biệt người Do Thái hay dân ngoại, nhưng giang rộng vòng tay đón nhận tất cả những ai thành tâm thiện chí tin vào Đức Giêsu. Số những người tin Chúa gia tăng ngày một đông đảo và họ chuyên tâm thờ phượng Chúa. Với sự kiện Đức Giêsu phục sinh, Giáo hội bước sang một giai đoạn mới, như một mùa gặt bội thu.

Nhờ sự hiện diện của Đấng Phục sinh, các Tông đồ có thể làm phép lạ, như Chúa Giêsu khi Người còn ở trần gian. Toàn dân tuốn đến với các ngài, như trước đây họ tuốn đến với Chúa Giêsu để lắng nghe giáo huấn và xin làm phép lạ. Nhờ khả năng làm phép lạ, uy thế của các Tông đồ ngày một tăng thêm. Các Tông đồ cũng như mọi tín hữu, đều xác tín rằng, Đấng Phục sinh đang hiện diện giữa cộng đoàn và Người làm nên sức mạnh cũng như sự tăng trưởng của Giáo hội. Thánh Gioan Tông đồ, trong một thị kiến, đã thấy Chúa Giêsu, với lời tuyên bố: “Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời…” (Bài đọc II).

Đối với một số người khác, vấn đề Đức Giêsu phục sinh đang hiện diện giữa cộng đoàn tín hữu cũng gây những tranh cãi và bất đồng ý kiến. Họ muốn được trực tiếp gặp gỡ Đức Giêsu sau khi Người từ cõi chết sống lại. Tiêu biểu cho những người có tư tưởng này là Tôma. Ông là một trong nhóm Mười Hai được Chúa Giêsu chọn từ ban đầu. Vào ngày Chúa từ cõi chết sống lại hiện ra với các tông đồ, Tôma không có mặt ở đó. Nay ông muốn được kiểm chứng. Ông lên tiếng thách đố phải có những bằng chứng trực tiếp thì mới tin.

Thiên Chúa là Đấng quyền năng, nhưng thiêng liêng vô hình. Tin là chấp nhận Chúa hiện diện mặc dù không nhìn thấy bằng con mắt thể lý. Mà thực ra, khi đã kiểm chứng được bằng giác quan thì chẳng cần phải tin. Hai ngàn năm đã qua, rất nhiều người tin vào Đức Giêsu, và nhờ Đức tin mà họ nên hoàn thiện. Tuy vậy, cũng có những người không chấp nhận Đức Giêsu như đối tượng của niềm tin. Có thể họ chỉ coi Người như một nhân vật lịch sử, đã sinh ra và đã chết đi như biết bao vĩ nhân khác.

Khi hiện ra với các Tông đồ và có mặt ông Tôma ở đó, Chúa Giêsu đã đáp ứng những thách thức của Tôma: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thày. Đưa tay ra và đặt vào cạnh sườn Thày. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Tôma đã đạt được điều ông thách thức, nhưng ông không dám kiểm chứng trực tiếp như mong muốn trước đó, kể cả khi có lời gợi ý của Thày mình. Ông chỉ còn biết quỳ gối xuống mà tuyên xưng Đức tin, tôn nhận Người là Chúa và là Thiên Chúa. Đó là lời tuyên xưng Đức tin của một người đã hoàn toàn bị chinh phục. Đó cũng là tâm tình sám hối của một người đã chậm tin những chứng từ của anh em mình.

Bầu khí sôi động tưng bừng của lễ Phục Sinh đang dần khép lại. Mọi sinh hoạt của các cộng đoàn tín hữu đang trở lại với nhịp sống bình thường. Sứ điệp của Lễ Phục Sinh có nguy cơ bị coi nhẹ, thậm chí quên lãng nơi nhiều người. Ý thức Đức Giêsu phục sinh đang hiện diện nơi cộng đoàn, mỗi tín hữu hãy mở lòng đón nhận Người và thay đổi cuộc sống, nhờ đó thực sự được sống lại với Đức Kitô. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Thánh lễ Vọng Phục Sinh cử hành tại Rôma tối 26-3-2016, đã mời gọi các tín hữu “Hãy mở toang những nấm mộ đóng kín của chúng ta cho Chúa Giêsu bước vào”. Người Kitô hữu, khi tham dự Lễ Phục sinh, phải để cho ân sủng của Chúa biến đổi cuộc đời. Nơi mỗi cá nhân có những ngôi mộ đóng kín. Đó là sự ích kỷ, giận hờn và mâu thuẫn đối với những chị em xung quanh.

Đức Thánh Cha diễn giải thêm: “Chúng ta cũng vậy, cũng như Phêrô và các phụ nữ, chúng ta không thể có được sự sống khi cứ mãi buồn phiền, thất vọng, và trở thành tù nhân của chính mình. Nhưng chúng ta hãy mở toang những nấm mộ đóng kín của chúng ta ra cho Chúa – mỗi người chúng ta đều biết những nấm mộ ấy là gì–, để cho Chúa Giêsu bước vào và ban cho chúng ta sự sống; hãy dâng cho Người những viên đá hận thù và quá khứ của chúng ta, những tảng đá nặng nề của những yếu đuối và vấp ngã. Người muốn đến và đưa tay cho chúng ta để kéo chúng ta ra khỏi mối lo lắng. Nhưng tảng đá đầu tiên phải lăn ra trong đêm nay là sự thiếu niềm hy vọng vốn nhốt kín chúng ta vào chính mình. Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi cái bẫy khủng khiếp của những Kitô hữu không có niềm hy vọng, sống như thể Chúa đã không sống lại, như thể các vấn đề của chúng ta là trung tâm của đời sống”.

“Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Chúa Giêsu Phục Sinh đang nói với tôi, với bạn và với mọi tín hữu hôm nay. Xin cho chúng ta có niềm tín thác tuyệt đối nơi Chúa, một niềm tín thác không cần bằng chứng, nhưng nhờ cảm nhận bằng trái tim chân thành, nhờ đó, chúng ta sẽ trở nên những chứng nhân của Chúa Phục Sinh giữa lòng thế giới. Mục lục.

THÁNH TÔMA VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa nhật II phục sinh Giáo hội tuyên dương lòng thương xót của Chúa. Đức Gioan Phaolô II đã thiết lập lễ này đáp lại ý Chúa muốn qua thánh nữ Maria Faustina: "Ta muốn ngày lễ kính lòng thương xót là một trợ giúp và là nơi trú ẩn cho mọi linh hồn và nhất là cho những người tội lỗi đáng thương. Trong ngày ấy, lòng thương xót của Ta sẽ rộng mở, Ta sẽ tuôn đổ một đại duơng hồng ân xuống các linh hồn đến gần nguồn mạch lòng thương xót của Ta" (Tiểu nhật ký, số 699). Đức Gioan Phaolô II qua đời vào đêm cuối tuần Phục Sinh đầu tiên (ngày 2 tháng 4 năm 2005). Lòng thương xót của Chúa đã chiếu một luồng ánh sáng vào cái chết của một vị thánh thời đại.

Lòng thương xót của Chúa được diễn tả qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài trên thập giá. Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn. Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành nay thành những vết sẹo. Lòng thương xót ghi đậm nét nơi các vết thương trên thân thể Chúa. Vì thế, việc đầu tiên khi hiện ra với các môn đệ, sau khi trao sự bình an, là cho các ông xem các vết thương ở tay và cạnh sườn, các môn đệ vui mừng và bình an.

Lòng thương xót của Chúa đối với con người trước và sau phục sinh không thay đổi, vì Chúa Giêsu vẫn là một để cho người ta nhận ra Ngài. Vết thương diễn tả lòng thương yêu của Chúa với con người không thay đổi. Ngài còn khoe và cho phép Tôma lấy tay kiểm tra vết thương.Chúa không che dấu, không tiếc xót dù Tôma có cứng lòng, đòi thực tế phải thấy mới tin.

1. Đức tin của Tôma

Chúa sống lại, các môn đệ không dễ dàng tin, thánh sử Luca kể: “Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này. Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẫn, nên chẳng tin” (Lc 24,11). Thánh Máttthêu thuật lại: khi mấy người phụ nữ báo tin cho các môn đệ: Chúa đã sống lại rồi, các ông cũng hoài nghi. Rồi, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17). Riêng Tôma đã nói một câu quyết liệt: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”. Đây là kiểu tin bằng lý luận kiểm chứng, chỉ tin khi thấy, khi đã có đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên. 

Tôma đại diện cho những người lý luận, cái gì cũng muốn xem tận mắt, bắt tận tay. Chỉ tin những gì thấy được. Chỉ chấp nhận những gì sờ được. Đòi kiểm nghiệm tất cả. Đòi tự mình chứng nghiệm tất cả. Không chỉ tin vào lời nói suông. Tôma không vội tin một cách dễ dàng như bao người khác. Ông là người có tính thực tế của khoa học phải qua kiểm chứng, kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay chân sờ mó đụng chạm hẳn hoi thì mới tin. Đây phải chăng là thái độ khôn ngoan, cẩn thận trước một quyết định hết sức quan trọng của đức tin nơi Tôma? Cảm ơn thánh Tôma, vì nhờ ngài mà các môn đệ khác được chứng kiến tỏ tường Chúa sống lại, được nhìn thấy những vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người.

Trước khi tin, Tôma phải hoài nghi đã. Tôma chỉ tin những điều hợp lý, những gì ‘thấy được, sờ được'. Đây không phải là thái độ cố chấp của Tôma mà ngược lại là thái độ không nhẹ dạ, không cả tin vội vàng bằng tai nghe. Đó là lối phân tích theo nhận định tự nhiên của con người và cũng là kinh nghiệm sống đức tin của nhiều người chúng ta. Dù sao, đây cũng là một khó khăn riêng tư của Tôma trong việc tin vào Chúa sống lại. Chúa Giêsu hiểu ông, nên đã đích thân đến và giúp cho ông dễ dàng hơn để tin vào Chúa. Ngài mời gọi ông hãy tin vững vàng. Và ông đã nói lên lời tuyên xưng đức tin thật đẹp đẽ, thật trang trọng 'lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi'. Cuối cùng, Chúa Giêsu đã ban cho Toma sự bình an và đức tin mạnh mẽ qua sự hoài nghi, để ông tuyên xưng đức tin cá nhân của mình: "Lạy Thiên Chúa của con". Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Tôma đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi. Theo lưu truyền, ông đi rao giảng đức tin và lòng thương xót của Chúa ở Ba tư, Siri rồi chịu tử đạo ở Ấn Độ.

Thần học gia Hans Kung nói: "người tín hữu không bao giờ nghi ngờ sẽ khó lòng hoán cải một người hoài nghi". Nhà thần học Paul Tillich nói: "sự hoài nghi chín chắn là sự khẳng định của đức tin. Nó chứng tỏ một sự quan tâm rất nghiêm chỉnh". Còn Thomas Merton bảo: "người có niềm tin mà chưa từng trải qua sự nghi ngờ thì không phải là người có niềm tin". Jean Guitton, một nhà triết học người Pháp, nói: "Chính vì nghi ngờ thường trực mà tôi lại có thể tin vững". Thực tế, trên đời có biết bao điều chúng ta không thấy mà vẫn tin, không kiểm tra được mà vẫn phải chấp nhận và sống điều ấy. Sự hoài nghi giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin, thúc đẩy ta thắc mắc, tìm hiểu, học hỏi, cầu nguyện, nghiên cứu sách vở (Lm. Pet. Bi Trọng Khẩn).

2. Lòng mến của Gioan

Có hai mức độ tin: mức độ thấp là tin vì thấy,tin dựa vào bằng chứng; mức độ cao là tin mà không cần thấy, tin không dựa trên bằng chứng mà dựa trên tình yêu. Đây là mối phúc thứ 9 như lời Chúa Giêsu nói với Tông đồ Tôma: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28). Không thấy mà tin không có nghĩa là tin một cách mù quáng, vu vơ, không có cơ sở, không có lập trường mà là bằng tình yêu nên đức tin vững mạnh hơn, truởng thành hơn. Thánh Gioan, “người môn đệ Chúa yêu”, bằng tình yêu, Gioan “đã thấy và đã tin” và nhận ra điều mà mọi người khác không nhận ra. Phúc âm kể: khi thấy một bóng người mờ mờ đi trên mặt biển, mọi người khác đều tưởng là ma, chỉ có Gioan là tức khắc nhận ra đó là Thầy mình. Khi Chúa Phục Sinh hiện ra bên bờ biển hồ Tibêria, “các môn đệ không nhận ra” nhưng “ môn đệ được Chúa Giêsu thương mến” đã nhận ra và nói với Phêrô “Chúa đó” (Ga 21, 4-7)… Rõ ràng, con đường tình yêu đi đến niềm tin nhanh chóng hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn.

Tin mừng Phục Sinh cho thấy: có hai con đường dẫn tới đức tin, một con đường bằng lý luận với những bằng chứng rõ ràng, và con đường thứ hai là dựa vào tình yêu thoạt xem có vẻ tầm thường nhưng thực ra lại nhanh chóng, nhẹ nhàng và cũng không kém phần vững chắc. Chúng ta hãy củng cố đức tin của mình bằng cả hai con đường đó. Phải có những suy nghĩ lý luận thật vững chắc về Chúa, mặt khác chúng ta cũng hãy cố gắng yêu mến Chúa ngày càng nhiều hơn, bởi vì cũng như thánh Gioan, nếu có thêm sức mạnh của tình yêu, chúng ta sẽ được mở mắt để nhận biết những gì mà người không yêu Chúa không nhận biết.

3. Lòng Chúa Xót Thương

Nhân loại thời nay khát khao một “Thiên Chúa tình yêu giàu lòng thương xót” (1 Ga 4,8; Ep 2.4) để họ tôn thờ, tựa nương và tìm được ý nghĩa cuộc đời. Năm Thánh Lòng Thương Xót là cơ hội để đào sâu đức tin và canh tân chứng tá Kitô giáo. Lòng thương xót là tình yêu thương, là lòng trắc ẩn với người đau khổ, với người nghèo đói, với người bệnh tật, với người tội lỗi. Nhân loại thời nay cần tình yêu, đây là một dấu chỉ của thời đại. Vì thế, mỗi người tùy vào khả năng của mình hãy đặc biệt quan tâm đến việc thực thi lòng thương xót. Mỗi tín hữu được mời gọi trở thành nhân tố tích cực để sống và làm chứng cho lòng thương xót. 

Điều làm nên nét độc đáo của người tín hữu là nhân đức thương xót, thể hiện bằng đạo yêu thương, được bộc lộ nơi bản thân và cuộc đời mỗi cá nhân. Mỗi người trong chúng ta, bằng cách thực thi bác ái, lòng thương xót và tha thứ, có thể trở nên dấu chỉ quyền năng tình yêu của Thiên Chúa có sức biến đổi tâm hồn, đem lại hòa giải và bình an. Trong Tông sắc Misericordiae Vultus (Dung mạo Lòng Thương Xót), ĐTC Phanxicô nói: “Thời đại ngày nay, khi Hội Thánh đang thực thi công cuộc Tân Phúc Âm hóa, lòng thương xót quả là cần thiết để một lần nữa tạo nên nhiệt tình mới và đổi mới các hoạt động mục vụ. Điều tối quan trọng đối với Hội Thánh, cũng như để làm cho lời rao giảng của Hội Thánh đáng tin, chính là sống và làm chứng cho lòng thương xót. Ngôn ngữ và hành động của Hội Thánh cần phải thông truyền lòng thương xót, để đến với trái tim con người và giúp họ gặp thấy lối đường dẫn về Chúa Cha” (số 12). Đáp lại lời kêu gọi của ĐTC Phanxicô, trong Thư gởi cộng đoàn Dân Chúa (17.9.2015), HĐGMVN nhấn mạnh: “Mỗi người Công giáo phải trở thành nhân tố tích cực trong việc xây đắp nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống. Không có những chứng nhân của lòng thương xót, xã hội sẽ trở thành một sa mạc hoang vu, cằn cỗi, không sức sống”.

Chúa Phục Sinh cho các Tông đồ xem những thương tích cuộc khổ nạn nay đã thành sẹo như mời gọi các ngài chiêm ngắm chính nguồn mạch của Lòng Thương Xót không bao giờ cạn vơi.

Thánh Tôma Aquinô đã cầu nguyện rằng: "Chúa ơi, con không xin được xem thương tích Chúa như ông Tôma tông đồ, nhưng con tuyên xưng Chúa là Chúa của con. Hãy làm cho con luôn tin vào Chúa, cậy trông vào Chúa và yêu mến Chúa nhiều hơn nữa". Người kitô hữu đôi khi không cần trí tuệ để tin vào những thực tại thiêng liêng; không cần giác quan để kiểm soát những dấu chỉ mầu nhiệm trong đạo, mà cần sống bằng lòng mến. Càng yêu mến nhiều thì càng tin chắc. Càng tin vững thì càng bình an.

Như vậy, con đường của lòng tin là con đường của lòng mến. “Ai xót thương người, sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).Những ai luôn tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh đều luôn sống tích cực và khám phá ra điều kỳ diệu trong những cái tầm thừơng để có khả năng chứng mình về tình yêu và lòng thương xót của Chúa. Mục lục.

GẶP GỠ ĐẤNG GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

JM. Lam Thy ĐVD

Khi Đức Ki-tô phục sinh ra khỏi mồ, Người không còn bị giới hạn trong không gian và thời gian. Vì thế, Người có mặt trên mọi nẻo đường ở khắp mọi nơi trong cuộc sống trần thế. Đọc Tin Mừng Phục Sinh sẽ thấy rõ Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau: Ngườì xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người; Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới; Người xuất hiện ở làng Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem một quãng đường dài; Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp. Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syria, nơi Phao-lô lùng bắt người theo đạo. Thời gian không làm chậm bước chân Người. Không gian khép kín không ngăn được bước chân Người.

Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật Đức Giê-su Phục Sinh hiện ra với các Tông đồ. Trước đó, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Ma-ri-a Mac-đa-la và một bà khác cũng tên là Maria, đi viếng mộ, thấy mộ trống thì hoảng sợ, nhưng được thiên thần hiện ra báo cho biết Đức Giê-su đã sống lại (Ga 20,11-18). Các bà vội vàng về báo cho các môn đệ khác, thì mọi người vẫn không tin. Chỉ đến khi Chúa hiện ra với các ông vào chiều ngày thứ nhất trong tuần (Ga 20,19-25), các ông mới chịu tin. Riêng với Tô-ma thì vì không có mặt hôm ấy, nên khi các môn đệ kể lại cho ông biết Chúa đã phục sinh và hiện ra với họ, Tô-ma cũng không tin và đòi phải được xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Thầy, thì ông mới tin. Mãi tới “Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em." Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Tới lúc đó, Tô-ma mới thực sự tin và kêu lên: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" (Ga 20,26-28).

Tâm lý chung của con người chuyện gì cũng đòi phải được “thực mục sở thị” (chứng kiến tận mắt) hoặc phải có chứng cớ xác thực, mới chịu tin. Không những thế, mà nhiều khi được thực mục sở thị, cũng vẫn còn có kẻ “không tin vào mắt mình”, mà lại đi tin vào những truyền thuyết hoang đường, những ma mị quỷ quái. Các Tông đồ (kể cả Tô-ma) cũng không ngoại lệ, các ông mới chỉ “nghe” thì chưa tin mà còn phải được “thấy”, được “đụng vào” vật chứng mới tin. Và cũng chính cái tâm lý chỉ tin khi được “thực mục sở thị” đã đẻ ra tâm trạng hoài nghi. Thật thế, chỉ vì được trông thấy nhãn tiền Thầy mình đã chết khổ nhục trên thập giá, đã được chính tay mình liệm xác Thầy và táng trong hang đá, thì làm sao tin được Thầy mình đã sống lại? Và vì thế nên khi thấy Thầy hiện ra thì “Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma” (Lc 24,37). Ấy là chưa kể lúc Thầy còn sống và ở liền bên không rời một bước, vậy mà khi trông thấy nhãn tiền Thầy đi trên mặt biển đã vội hô hoán lên là “ma đấy!” (Mt 14,26).

Nói về niềm tin của con người thì rất đa dạng: Có những người dễ tin thì cũng có những người khó tin, có những người tin một cách sáng suốt thì cũng không ít những kẻ tin một cách mù quáng, có những người trông thấy nhãn tiền mà vẫn “không tin vào mắt mình” thì cũng có những kẻ chẳng cần biết ất giáp gì cũng cứ “nhắm mắt mà tin”. Dễ tin thì cũng dễ mất lòng tin (dễ tin trong trường hợp này thì cũng dễ tin trong trường hợp khác, thậm chí có những lúc các trường hợp đó trái ngược nhau cũng vẫn OK tuốt luốt, nên lúc gặp thử thách rất dễ bị chao đảo, đánh mất niềm tin). Ấy là chưa nói đến những trường hợp tin theo thói quen, theo truyền thống, tin hùa theo đám đông (a dua, a tòng), tin theo mê tín dị đoan. Những kẻ khó tin thì thường đòi hỏi đầy đủ chứng cớ mới tin và khi có đầy đủ chứng cớ rồi thì niềm tin trở nên kiên định (kiểu như Tông đồ Tô-ma thủa xưa). Tuy nhiên cũng không thiếu những kẻ khó tin, mà vì quá cực đoan nên rất dễ sa vào chủ thuyết hoài nghi (chẳng tin vào bất cứ chuyện gì cho dù đó có là sự thực hiển nhiên). Chính vì thế, Đức Tin là một yếu tố quan trọng hàng đầu đối với mọi tôn giáo. Riêng đối với Ki-tô Giáo thì đức tin là cơ sở vững chắc tuỵêt đối để đạt được cứu cánh Nước Trời.

Tâm lý con người kể cũng lạ, cứ đòi “thấy” nhãn tiền mới tin, nhưng nhiều khi được “thấy” tận mắt cũng vẫn bán tín bán nghi. Vì thế Đức Ki-tô mới day: "Phúc thay những người không thấy mà tin!" (Ga 20,29). Quả thực “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1). Tuy nhiên, nếu chỉ tin trên môi miệng mà trong lòng thì trống rỗng, cũng chưa thể kể được là tin, mà phải là “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ. Quả thế, có tin thật trong lòng mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng mới được ơn cứu độ.” (Rm 10,9-10). Thánh Gia-cô-bê Tông đồ còn xác quyết mạnh hơn: “Nhờ hành động mà con người được nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin mà thôi… Một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết.” (Gc 2, 24.26). Vì thế, hai khía cạnh đó (tin thật trong lòng + tuyên xưng ngoài miệng) phải được xem là “tuy hai mà một”, bởi “lòng có đầy miệng mới nói ra” (Mt 12,35). Thật vậy, lòng còn hoài nghi mà miệng leo lẻo nói tin tưởng, hoặc giả trong lòng tuy có tin, nhưng bề ngoài thì sợ nọ sợ kia, sợ bóng sợ vía, cứ “câm miệng hến”, thì cũng kể như không.

Trong Tông thư tự sắc Năm Đức Tin “Porta Fidei” (số 15), Đức Bê-nê-đic-tô XVI đã dạy: “Đức Tin là bạn đồng hành trong cuộc sống giúp nhận thức với một cái nhìn luôn mới mẻ về những kỳ công mà Thiên Chúa thực hiện nơi chúng ta. Ðức tin nhằm đón nhận những dấu chỉ thời đại trong hiện tại của lịch sử, và thúc đẩy mỗi người chúng ta trở thành dấu chỉ sinh động về sự hiện diện của Ðấng Phục Sinh trong thế giới. Ðiều mà thế giới ngày nay đặc biệt cần đến, đó là chứng tá đáng tin cậy của những người được Lời Chúa soi sáng trong tâm trí, có khả năng mở tâm trí của bao nhiêu người mong ước Thiên Chúa và sự sống chân thực, sự sống không tàn lụi.” Như vậy vấn đề đặt ra cho người Ki-tô hữu ngày hôm nay là phải biết xoay cái nhìn ra khỏi cái tôi thành kiến bảo thủ, mà đổi mới cách nhìn vào những công trình kỳ diệu Thiên Chúa tạo dựng trong vũ trụ và nhất là nơi mỗi cá thể con người, để từ đó nhận chân được “những dấu chỉ thời đại trong hiện tại của lịch sử”, sẵn sàng làm chứng nhân cho Tin Mừng Cứu Độ (“trở thành dấu chỉ sinh động về sự hiện diện của Ðấng Phục Sinh trong thế giới” – Tông thư “Porta Fidei”, số 15).

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cũng lưu ý về nền tảng Đức Tin trong phong trào Đại Kết: “Chúng ta là những người được thừa hưởng đức tin, đức mến và đức cậy của bao nhiêu người, với sức mạnh dịu dàng của Tin Mừng, họ đã có can đảm lật ngược hướng đi của lịch sử, thứ lịch sử đã làm cho chúng ta nghi kỵ nhau và trở nên xa lạ đối với nhau và hỗ trợ cái vòng quỉ quái liên tục phân hóa. Nhờ Chúa Thánh Linh, Đấng soi sáng và hướng dẫn phong trào đại kết, hướng đi đã thay đổi và một con đường vừa mới mẻ và cổ kính, đã được vạch ra một cách không thể xóa nhòa: đó là con đường hiệp thông hòa giải, tiến về sự biểu lộ rõ ràng tình huynh đệ đã liên kết các tín hữu Ki-tô ...

... Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận tầm quan trọng đặc biệt của công việc mà Ủy ban Đức Tin và hiến chế của Hội đồng Đại Kết thực hiện và muốn tiếp tục góp phần vào công việc này qua sự tham gia của các thần học gia có trình độ cao. Nghiên cứu của Ủy ban Đức tin và Hiến chế để đạt tới một quan niệm chung về Giáo Hội và công việc phân định của Ủy ban về những vấn đề luân lý đạo đức có liên hệ tới những điểm nòng cốt trong thách đố đại kết.” (xc. Diễn văn của ĐTC Phan-xi-cô ngày 21/6/2018 tai Học Viện Đại Kết Bossey ở Genève, Thụy Sĩ).

Tóm lại, mọi Ki-tô hữu “Hãy xây dựng đời mình trên nền tảng đức tin rất thánh của anh em, hãy cầu nguyện nhờ Thánh Thần.” (Gđ 1,20). Mà muốn cầu nguyện cho có hiệu quả thì không gì bằng chạy đến cùng Mẹ Maria – Người được tuyên xưng là "người có phúc" vì Mẹ “đã tin" (Lc 1,45), là mẫu gương trung thực tuyệt đối của Đức Tin – để từ đó “nhờ Mẹ, đến với Chúa”. Vâng, chính nhờ Mẹ, với Mẹ và trong Mẹ, mà mọi lời cầu xin khấn nguyện của tín hữu sẽ được chuyển tới Người Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ – Đấng Giàu Lòng Thương Xót Phục Sinh vinh hiển – Người sẽ đến với mọi người bằng lời chúc “Bình an cho anh em. Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.” (Ga 20,21-22). Chỉ đến khi đó, đức tin của người Ki-tô hữu mới thực sự vững mạnh, như xưa các Tông đồ cùng với Mẹ Đức Tin đã cầu nguyện trong ngày Lễ Ngũ Tuần và được Thiên Chúa ban Thần Khí dư đầy.

Ôi! “Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, hằng năm Chúa dùng ngọn lửa phục sinh để khơi lại niềm tin trong lòng dân thánh, cúi xin Chúa tăng ân sủng để chúng con hiểu rằng: Chính Chúa Ki-tô đã thanh tẩy chúng con bằng phép rửa, đã tái sinh chúng con bằng Thánh Thần và cứu chuộc chúng con bằng  Máu Thánh. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen." (Lời nguyện nhập lễ CN II PS-C). Mục lục.

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA TỒN TẠI ĐẾN MUÔN ĐỜI

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Khởi đi từ năm 1931, lòng thương xót của Chúa đã mạc khải cho nữ Thánh Faustina về lòng tôn sùng; mà Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã quyết định thiết lập lễ kính lòng thương xót của Chúa vào Chúa Nhật thứ II sau Phục Sinh khi tuyên thánh cho nữ tu Maria Faustina Kowalska, ngày 30/4 năm 2000 và phổ biến Thông điệp đó trên toàn cầu.

Suy niệm đoạn Tin Mừng (Ga 20,19-31) Chúa Kitô tỏ cho thánh Tôma thấy cạnh sườn, nơi trào ra nước và máu, suối nguồn ân sủng. Truyền thống Giáo hội đã coi đây như là nguồn gốc của bí tích hòa giải, nơi mà con người cảm nhận được sự tha thứ do lòng thương xót của Chúa.

Cử chỉ trao ban bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh cho các môn đệ, biến các ông từ những người đang lo sợ và kinh ngạc, trở nên những tác viên của Lòng Chúa Thương Xót. Chúa đưa đôi tay và cạnh sườn còn in những dấu tích của cuộc thương khó và nói với các ông: "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại" (Ga 20,21- 23).

Chúa Giêsu trao phó cho các ông hồng ân "tha thứ các tội lỗi" diễn tả lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa đối với nhân loại, hồng ân này phát sinh từ những vết thương của đôi tay, đôi chân và nhất là của cạnh sườn Chúa bị đâm thâu qua. Đó là những vết thương hằn in trên cơ thể của Người lúc còn sống, ngay cả sau khi phục sinh. Những vết thương vinh quang, mà Tôma đã tận mắt chứng kiến tám ngày sau, thật không thể nào hiểu nổi và tin được lòng thương xót của Thiên Chúa. Từ đó, một làn sóng tình thương nhân từ đổ xuống trên toàn thế giới.

Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho nhân loại hồng ân tha thứ, những con người lầm lạc đang bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, của ích kỷ và sợ hãi, tình yêu của Thiên Chúa tha thứ tất cả, hòa giải tất cả và tái tạo tâm hồn, mang lại cho chúng nhân niềm hy vọng. Đó là tình yêu có sức biến đổi con tim và ban tặng bình an. Thế giới ngày nay đầy những thương tích về thể lý, tâm lý và luân lý cần thiết biết bao lòng thương xót của Thiên Chúa!

Chúa nhật Lòng Thương Xót của Chúa, Giáo hội lặp lại câu Thánh vịnh mà suốt cả tuần Bát Nhật Phục Sinh toàn thế giới ca vang: "Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thưở" (Tv 117,1). Lòng từ bi mạnh hơn tội lỗi và sự chết, ngày nay, nhân loại vẫn đang tiếp tục thừa hưởng lòng từ bi tuôn trào từ những vết thương vinh hiển và từ Trái Tim của Chúa, nguồn mạch không bao giờ cạn.

Trái Tim của Chúa Kitô đã trao ban tất cả cho con người: sự cứu chuộc, ơn cứu rỗi và ơn thánh hóa. Từ Trái Tim Chúa xuất phát ra hai tia sáng chiếu tỏa thế gian mà theo lời Chúa giải thích cho thánh nữ, "hai tia sáng này tượng trưng cho máu và nước". Máu nhắc lại hy tế trên đồi Golgotha và mầu nhiệm Thánh Thể; còn nước, theo hình ảnh phong phú của thánh sử Gioan, làm cho ta nghĩ đến bí tích Rửa Tội và hồng ân Chúa Thánh Thần  (x. Ga 3,5; 4,14).

Lời kinh chúng ta vẫn đọc: "Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa", diễn tả đúng thái độ mà chúng ta muốn có, để chúng ta đặt niềm tin tưởng, phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, Ðấng cứu độ duy nhất của chúng ta! Những tia sáng của lòng từ bi Chúa mang lại niềm hy vọng cho những ai cảm thấy mình bị đè bẹp dưới gánh nặng của tội lỗi. Chúa Giêsu Kitô là Tình Yêu và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa nhập thể.

Vậy, chúng ta hãy luôn tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa, là Ðấng luôn chờ đợi và yêu thương chúng ta, đừng bao giờ đánh mất sự tin tưởng nơi lòng thương xót nhẫn nại của Thiên Chúa, là Ðấng luôn luôn yêu thương, dịu hiền, chờ đợi và tha thứ cho chúng ta. Cả khi chúng ta xa rời, Thiên Chúa vẫn luôn gần gũi và sẵn sàng giang tay ra ôm ấp chúng ta vào lòng, nếu chúng ta trở về với Chúa.

Giờ kinh Truyền Tin ngày 11-01-2015, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Ngày nay chúng ta rất cần đến lòng thương xót, Điều quan trọng là các tín hữu sống lòng thương xót ấy và đem vào các môi trường xã hội khác nhau”. Đức Thánh Cha Phanxicô xác tín rằng, cốt lõi của Phúc Âm là tình thương, (x. Huấn từ 28-3-2014). Vì thế, theo nguyên tắc, tất cả mọi cơ cấu, nguyên tắc, luật lệ và tổ chức của Giáo Hội đều phải làm sao để hướng về và đạt đến đích điểm là tình thương (x. Niềm vui Phúc Âm,26-43). Bởi vậy, trong thực hành, Giáo Hội cần phải là một bệnh viện lưu động để chữa lành, chứ không phải chỉ mở cửa đón nhận tội nhân và nạn nhân trở về mà thôi (x. trả lời Phỏng Vấn 04-12-2014). Ngài muốn Giáo Hội phải đi đến tận rìa mép của xã hội để tìm kiếm các con chiên lạc đáng thương, thậm chí Giáo Hội phải ăn uống với thành phần đàng điếm và thu thuế tội lỗi (Huấn từ bế mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới  ngày 18-10-2014).

Lạy Mẹ maria, Mẹ của Lòng Thương Xót, xin giúp chúng con duy trì lòng tin vào Con Mẹ. Lạy thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, thánh nữ Faustina, xin trợ giúp chúng con, để chúng con được cùng với các thánh hướng nhìn về Ðấng Cứu Chuộc, và lặp lại lời nguyện: "Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa", bây giờ và mãi mãi. Amen. Mục lục.

 ĐỨC GIÊSU MẠC KHẢI LÒNG THƯƠNG XÓT QUA ƠN BAN BÌNH AN

Tu sĩ: Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.

Trong Đêm Vọng Phục Sinh vừa qua, Giáo Hội công bố Tình yêu của Thiên Chúa trải dài trên nhân loại và trong cuộc sống của con người ngang qua các bài đọc trong phần phụng vụ Lời Chúa.

Hôm nay, Chúa Nhật II Phục Sinh, Giáo Hội cử hành đại lễ kính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Qua thánh lễ này, Mẹ Giáo Hội muốn làm cho bản trường ca tình yêu của Thiên Chúa một lần nữa rõ nét hơn nơi trái tim và lòng dạ thương xót của chính Đức Giêsu, Đấng hiện thân lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Thiên Chúa có tên là Tình Yêu

Nói đến Thiên Chúa, ấy là chúng ta nói đến bản chất của Người là “Tình Yêu”. Chính thánh Gioan đã khẳng định như thế trong thư của ngài: “Thiên Chúa là Tình Yêu”.

Vì yêu, Ngài đã tạo dựng trời đất muôn vật; đã tuyển chọn Israel làm dân riêng; đã nghe thấy tiếng van xin thống thiết của dân Người và đã ra tay giải thoát, dẫn đưa họ từ Ai cập trong thân phận nô lệ trở về Đất Hứa, nơi tràn trề sữa và mật; đồng thời nuôi sống họ bằng Manna và chim cút; vì yêu, Thiên Chúa đã không chấp nhất những tội vô ơn bạc nghĩa của dân...

Bởi lẽ, ở đâu tội lỗi tràn đầy, ở đó ân sủng chứa chan gấp bội, và lòng thương xót của Thiên Chúa luôn phủ lấp muôn vàn tội lỗi, sẽ tẩy trắng như tuyết, sạch như bông..., nên Thiên Chúa đã không bỏ rơi kẻ tội lỗi, không oán giận, không trả thù bằng sự giận dữ hay chừng phạt, nhưng xót xa vì họ lầm đường lạc lối, đau đớn vì họ đang đi đến hố diệt vong!

Vì thế, nhiều lần nhiều cách, Người đã gửi các ngôn sứ, thẩm phán, vua chúa ... để nhắc nhở và mời gọi dân đi trong đường lối thương xót của Thiên Chúa. Cuối cùng, Thiên Chúa đã trao ban chính Con Một của Người là Đức Giêsu, Ngài đã đến trần gian trong thân phận của con người, để dạy dỗ, yêu thương, tha thứ, chữa lành bệnh tật và đồng hành với chúng ta trong mọi biến cố của cuộc đời. Đỉnh cao của lòng thương xót ấy chính là cái chết đau thương trên thập giá vì con người... Và cũng chính tình yêu, Ngài đã khai mở Giáo Hội ngang qua lưỡi đòng đâm thâm. Chính từ cạnh sườn, Máu và Nước của lòng dạ xót thương đã chảy ra để lộ hiện dung mạo Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, nhằm khai sinh và nuôi dưỡng Giáo Hội bằng chính nguồn sung mãn của lòng thương xót...

Trao ban bình an là trao ban lòng dạ thương xót của Thiên Chúa

Không dừng lại ở đó, lòng thương xót của Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu sống lại để chứng minh con đường cứu chuộc của Thiên Chúa nơi lịch sử cứu độ, trong cuộc đời, sứ vụ, sự chết và sự sống lại của Đức Giêsu. Tất cả được móc nối chặt chẽ trên cùng một con đường tình yêu, được khởi đi và kết thúc do lòng thương xót của Thiên Chúa.

Nên ngay sau khi sống lại, Đức Giêsu đã trao chuyển lòng thương xót của Thiên Chúa cho các môn đệ qua ơn ban bình an. Vì: nếu tình yêu là bản chất của Thiên Chúa; thì lòng thương xót chính là biểu hiện của tình yêu và nhân loại được mời gọi sáp nhập, dìm mình vào trong đại dương lòng thương xót ấy ngang qua sự bình an sâu thẳm của tâm hồn.

Tin Mừng hôm nay trình thuật việc Đức Giêsu hai lần hiện ra với các môn đệ. Cả hai lần, Ngài đều trao ban bình an cho các ông.

Khi trao ban cho các ông sự bình an, Đức Giêsu muốn cho các ông bình tâm để nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa ngang qua lịch sử cứu độ, nhất là trên chính cuộc đời của từng người, để các ông đọc lại cuộc đời của mình và dân tộc mình trên nền tảng thương xót của Thiên Chúa ngõ hầu các ông chan chứa niềm tin và hy vọng, nhằm can đảm làm chứng về lòng thương xót của Thiên Chúa, và nhất là nơi cuộc thương khó và phục sinh của Thầy Giêsu.

Muốn có được điều đó, các ông cần đón nhận sự bình an của Đức Giêsu trong tâm tình của những người có đức tin và lòng mến, chứ không như theo quan niệm thói đời về sự bình an khi phỏng chiếu nó theo kiểu may rủi...

Thật vậy, sự bình an mà Đức Giêsu trao tặng, chính là một ơn cao trọng, biểu lộ tình yêu và lòng dạ thương xót của Thiên Chúa, để nở hoa tình yêu và kết trái tha thứ. Thế nên, bản chất của nó khác xa một lời chào hay một nghĩa cử xã giao. Điều này chính Đức Giêsu đã nói:  “Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như kiểu thế gian ban” (Ga 14,27).

Khi bình an của Đức Giêsu được trao ban và những ai được đón nhận, thì sự bình an ấy sẽ sinh hoa trái và làm cho người đón nhận được biến đổi. Điều này ta thấy diễn biến của tâm trạng Tôma, từ một người cứng lòng tin, đến nỗi ông thách thức luôn cả Đấng Phục Sinh!!! Tuy nhiên, Đức Giêsu thấu hiểu nỗi yếu đuối của ông, bởi vì qua biến cố Ngài chịu khổ nạn, tinh thần của Tôma đang hoảng loạn và hoài nghi mọi chuyện, nên Đức Giêsu một lần nữa đem lòng quý mến ông, thương xót ông, nên đã hiện ra và đáp ứng nhu cầu hiếu tri của người môn đệ cứng tin. Tôma đứng trước Đấng đầy lòng thương xót và được nghe thấy Thầy của mình không trách móc, nhưng lại yêu thương và mời gọi ông, cho ông được đặc ân sỏ ngón tay và lỗ đinh, thọc bàn tay vào cạnh sườn... Đến lúc này, Tôma đã đụng chạm được vào tận căn của lòng thương xót nơi Thầy mình, vì thế, ông đã thốt lên: “Lậy Chúa là Thiên Chúa của con” (Ga 20,28).

Đây là một lời tuyên xưng đức tin nơi tâm hồn bình an thực sự của Tôma. Cũng chính vì lời tuyên xưng đầy tin tưởng này mà Đức Giêsu đã trao ban mối phúc lòng thương xót: “Vì con đã thấy Thầy nên con đã tin; nhưng phúc cho những ai đã không thấy mà đã tin” (Ga 20,29).

Như vậy, hai lần hiện ra, Đức Giêsu đều muốn các ông rồi mai đây sẽ trở thành chứng nhân của lòng thương xót, ngang qua cuộc sống và hành động của chính mình, để Thầy và trò cùng đi chung con đường thương xót, nhằm trải dài ơn cứu chuộc của Thiên Chúa cho nhân loại.

Sống và thi hành sứ điệp lòng thương xót của Thiên Chúa trong cuộc đời Kitô hữu

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã nói: “Trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào, và cách riêng trong thời hiện tại chúng ta đang sống, Giáo Hội phải coi một trong những nhiệm vụ chính yếu của mình là rao truyền và thể hiện Lòng Chúa Thương Xót đã được mạc khải một cách tuyệt vời trong Đức Kitô.”

Khám phá ra sứ điệp thương xót của Đức Giêsu ngang qua lời cầu chúc bình an cho các môn đệ, mỗi người chúng ta cũng hãy xin ơn bình an đó cho chính mình, và loan truyền sự bình an sâu thẳm ấy cho anh chị em chúng ta.

Đây là sứ mạng của mỗi chúng ta! Chúng ta không được dửng dưng với lòng thương xót và cũng không được thờ ơ khi thấy con người, nhân loại hôm nay vô tâm, quay lưng lại với lòng thương thương xót của Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu đã nói với thánh nữ Faustina: “Ta khao khát lòng thương xót của Ta được tôn thờ” (NK, 998) ; “Hãy công bố sự tôn kính lòng thương xót của Ta cho mọi tạo vật” (NK 1572). “Người nào tín thác nơi lòng thương xót của Ta, thì sẽ không bị tàn lụi, vì tất cả những việc của người đó đều là việc của Ta, và những kẻ thù của họ đều sẽ bị tan tác dưới bệ chân Ta” (NK,723). “Ta đòi hỏi con việc làm cho lòng thương xót phát xuất từ tình yêu đối với Ta. Con sẽ tỏ bày lòng thương xót với những người chung quanh con, mọi nơi mọi lúc. Con không được lùi bước hay biện hộ hoặc tự miễn trách nhiệm cho bản thân việc đó. Ta ban cho con ba cách sử dụng lòng thương xót đối với người thân cận: Thứ nhất – bằng việc làm; thứ hai – bằng lời nói; thứ ba – bằng lời cầu nguyện. Trong cả ba cấp đó cần chứa đựng đầy lòng thương xót, và đó là bằng chứng không thể nghi ngờ được của tình yêu dành cho Ta” (NK, 742).

Lạy Chúa Giêsu, Đấng hiện thân của lòng thương xót, xin ban bình an cho chúng con, để chúng con trở nên sứ giả của lòng thương xót khi chúng con đem bình an của Chúa đến cho mọi người.

Lạy Chúa Giêsu, con tín thác cuộc đời chúng con cho lòng thương xót Chúa. Amen. Mục lục.

PHÚC LÀNH THƯƠNG XÓT

Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

Trong lần thị kiến ngày 20-4-1968 tại Milan (Ý), Mẹ Carmel hỏi: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa muốn con làm gì?”. Chúa Giêsu nói: “Hỡi con gái của Ta, con hãy viết. Con sẽ làm Tông đồ Tình Yêu Đầy Thương Xót của Ta. Ta sẽ chúc lành cho con. Và Cha sẽ đổ xuống trên con muôn vàn ơn Thánh, và những ân thưởng lớn lao. Ta cảm ơn con đã phổ biến Thánh Nhan của Ta. Ta sẽ chúc lành cho các gia đình trưng bày hình ảnh của Ta, và Ta sẽ cải hoán những kẻ tội lỗi sống trong các gia đình đó. Ta sẽ giúp kẻ lành tự cải tiến thêm, và những kẻ nguội lạnh trở nên sốt sắng hơn. Ta sẽ để mắt đến các nhu cầu của họ, và sẽ giúp họ trong mọi sự cần thiết, vật chất cũng như siêu nhiên”. Chúa Giêsu đã xác nhận: “TA LÀ GIÊSU ĐẦY LÒNG THƯƠNG XÓT”.

Qua Thánh Faustina, Chúa Giêsu đã hứa: “Linh hồn nào truyền bá Lòng Thương Xót của Ta sẽ được Ta bảo bọc suốt đời” (Nhật Ký, 1075). Đồng thời Chúa Giêsu cũng khuyến cáo: “Nhân loại sẽ không có hòa bình nếu không tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót” (Nhật Ký Thánh Faustina, số 300).

Như chúng ta đã biết, ngày 30-4-2000 là ngày Giáo Hội tuyên thánh cho Nữ tu Maria Faustina Kowalska (OLM, 1905-1938), và cũng là ngày Thánh GH Gioan Phaolô II chính thức ấn định Chúa Nhật II Phục Sinh là lễ kính Lòng Chúa Thương Xót (LCTX). Chúa Giêsu là Đấng giàu lòng thương xót và cũng chính là Chúa Chiên Lành, hai cách gọi nhưng vẫn mang một ý nghĩa. Vả lại, đó cũng chính là ước muốn của Chúa Giêsu đã mặc khải cho Thánh nữ Faustina, vị Tông Đồ tiên khởi của LCTX.

Một điều hợp lý kỳ diệu, bởi vì chính Chúa Giêsu đã bày tỏ với Thánh Faustina: “Ta muốn một tấm hình được làm phép trọng thể vào Chúa Nhật sau Đại lễ Phục Sinh, và Ta muốn tấm hình đó được tôn kính công khai để mỗi linh hồn đều biết đến tấm hình đó” (Nhật Ký, số 341). Tất cả mọi thứ, dù chỉ là một sợi tóc mỏng manh còn trên đầu hay rụng xuống, cũng không ngoài Thánh Ý Chúa.

Chúa Nhật II PS thật đặc biệt vì trong ngày này, “linh hồn nào xưng tội và rước lễ sẽ được ân xá cả tội lỗi và hình phạt” (Nhật Ký, số 699). Đó là lời hứa chắc chắn mà Chúa Giêsu đã xác định: “Ta muốn ban ơn tha thứ hoàn toàn cho các linh hồn nào xưng tội và rước lễ trong ngày lễ kính Lòng Thương Xót của Ta” (Nhật Ký, số 1109). Ai có niềm tin chân chính thì thành tâm thi hành điều mà Thầy Chí Thánh Giêsu mong muốn, làm như vậy với lòng tín thác chứ không phải là nhắm vào lợi ích riêng, bởi vì không khéo lại trở thành lạm dụng hoặc lợi dụng LCTX.

Niềm tin không cầu kỳ, phức tạp, chỉ đơn giản là CHẤP NHẬN hay TỪ CHỐI. Thế thôi, có vẻ rất đơn giản mà lại phức tạp, vì khoảng cách chỉ là một làn ranh mong manh. Vấn đề quan yếu là tin ai, tin cái gì, và tin như thế nào? Động từ TIN có vẻ đơn giản, nhưng vấn đề TIN lại không hề đơn giản. Cái khoảng “giằng co” đó cần phải thực sự can đảm thì mới có thể dứt khoát, sâu sắc, đúng kiểu tin mà Chúa Giêsu vẫn đề cập mỗi khi Ngài chữa lành: “Niềm tin của bạn đã cứu bạn”.

Bằng cảm nghiệm sâu xa, Thánh nữ Faustina đã tâm sự: “Lạy Chúa Giêsu, khi con được đắm chìm vào Ngài, nếu so sánh với Ngài, mọi sự chỉ là không. Đau khổ, chống đối, nhục nhã, thất bại, và hoài nghi trên đường con đi, tất cả chỉ như viên đá lửa làm làm bùng lên ngọn lửa tình yêu con dành cho Ngài mà thôi” (Nhật Ký, số 57). Cảm nghiệm đau khổ là cảm nghiệm sự thật phũ phàng mà Chúa Giêsu đã phải chịu khi những người thân nhất lại nỡ lòng phản bội, và bị người ta vu oan giáng họa.

Là người Công giáo, hằng ngày chúng ta tuyên tín qua kinh Tin (Lạy Chúa, con tin thật có một Đức Chúa Trời là Đấng thưởng phạt vô cùng…), và mỗi Chúa Nhật cùng nhau tái tuyên xưng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình…”, rồi lại tuyên xưng sau truyền phép (Lạy Chúa, chúng con loan truyền…; Lạy Chúa, mỗi lần ăn bánh…; Lạy Chúa cứu thế, Chúa đã dùng Thánh Giá…). Các động thái tin được lặp lại nhiều lần trong ngày, đơn giản nhất là khi chúng ta làm Dấu Thánh Giá, nhưng rất quan trọng khi chúng ta thể hiện lúc ăn uống ở tiệm. Thật buồn khi thấy có những người không dám Làm Dấu, có những người Làm Dấu mà chỉ là Làm Giấu hoặc làm chiếu lệ.

Xuyên suốt Kinh Thánh, LCTX luôn được đề cập bằng nhiều cách, đặc biệt trong Phúc Âm có một số dụ ngôn “điển hình” về LCTX: Người Samari Tốt Lành (Lc 10:30-37), Con Chiên Bị Mất (Lc 15:4-7), Đồng Bạc Bị Mất (Lc 15:8-10), và Người Cha Nhân Hậu (Lc 15:11-32).

Tuy nhiên, có điều quan trọng cần lưu ý: Đừng đến với LCTX với sự tò mò, chỉ tìm kiếm những “sự lạ”. Đôi khi chỉ vì “hiện tượng lạ” nào đó chứ không vì “phép lạ của lòng tin”. Phép lạ thực sự hằng ngày là Bí tích Thánh Thể nhưng người ta lại không quan tâm. Kể cũng “lạ” thật!

Thánh Luca cho biết trong sách Công Vụ: “Nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân, nhờ bàn tay các Tông Đồ. Không một ai khác dám nhập đoàn với họ. Nhưng dân thì lại ca tụng họ. Càng ngày càng có thêm nhiều người tin theo Chúa: cả đàn ông, đàn bà rất đông” (Cv 5:12-14). Họ đã chấp nhận lời rao giảng của các Tông Đồ là thật nên họ mới TIN vào Đức Kitô là Thiên Chúa, và sẵn sàng tín thác vào LCTX. Vô tri bất mộ.

Không chỉ vậy, còn có điều đặc biệt hơn nữa: “Người ta còn khiêng cả những kẻ đau ốm ra tận đường phố đặt trên giường trên chõng, để khi ông Phêrô đi qua, ít ra cái bóng của ông cũng phủ lên được một bệnh nhân nào đó. Nhiều người từ các thành chung quanh Giêrusalem cũng lũ lượt kéo đến, đem theo những kẻ ốm đau cùng những người bị thần ô uế ám, và tất cả đều được chữa lành” (Cv 5:16). Quả thật là “sự lạ” hiển nhiên!

Ngày xưa, Thánh Vịnh gia đã lên tiếng tuyên xưng: “Ít-ra-en hãy nói lên rằng: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Nhà A-ha-ron hãy nói lên rằng: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Ai kính sợ Chúa hãy nói lên rằng: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:2-4). Điệp khúc “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọng tình thương” thật là tuyệt vời vô cùng!

Đôi khi cái cụ thể vẫn cần thiết. Tương tự, niềm tin phải được thể hiện ngay cả trong lúc gian truân, đó mới là đức tin chân thật: “Chúng xô đẩy tôi, xô cho ngã, nhưng Chúa đã phù trợ thân này. Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi. Kìa nghe tiếng reo mừng chiến thắng trong doanh trại chính nhân: Tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao, tay hữu Chúa đã ra oai thần lực” (Tv 118:13-15). LCTX có từ ngàn xưa chứ không phải theo phong trào. Thật vậy, Thiên Chúa vẫn thương xót mặc dù Cain đã phạm tội giết em mình, Cain lo sợ nhưng Ngài hứa: “Bất cứ ai giết Cain sẽ bị trả thù gấp bảy” (St 4:15).

Cuộc sống đời thường mà vẫn khác thường, các sự lạ không ngừng nối tiếp nhau: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:22-24). Nỗi vui mừng ấy thật rộn rã, tưng bừng hoan hỉ và không thể diễn tả đầy đủ bằng phàm ngôn!

Chân thành bộc bạch, Tông-đồ-trẻ-được-Chúa-yêu cho biết: “Tôi là Gioan, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giêsu. Lúc ấy, tôi đang ở đảo gọi là Pát-mô, vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giêsu. Tôi đã xuất thần vào ngày của Chúa và nghe đằng sau tôi có một tiếng lớn như thể tiếng kèn nói rằng: ‘Điều ngươi thấy, hãy ghi vào sách và gửi cho bảy Hội Thánh: Ê-phê-xô, Xi-miếc-na, Péc-ga-mô, Thy-a-ti-ra, Xác-đê, Phi-la-đen-phi-a và Lao-đi-ki-a’. Tôi quay lại để xem tiếng ai nói với tôi. Khi quay lại, tôi thấy bảy cây đèn vàng. Ở giữa các cây đèn, có ai giống như Con Người mình mặc áo chùng và ngang ngực có thắt đai bằng vàng” (Kh 1:9-13). Số 7 kỳ diệu – được coi là con số hoàn hảo về số lượng và về tâm linh.

Sau đó, Thánh Gioan còn cho biết thêm: “Lúc thấy Người, tôi ngã vật xuống dưới chân Người, như chết vậy. Người đặt tay hữu lên tôi và nói: Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ. Vậy ngươi hãy viết những gì đã thấy, những gì đang diễn ra và những gì sẽ xảy ra sau này” (Kh 1:17-19). Đó là điều tiên tri, đã đúng, đang đúng và sẽ đúng đến từng chi tiết, dù một chấm một phẩy cũng không sai (x. Mt 5:18).

Một điều minh nhiên mà Giáo Hội đang hân hoan tin kính là Chúa Giêsu Phục Sinh. Là hậu sinh, chúng ta không được chứng kiến sự kiện trọng đại này, nhưng chúng ta vẫn TIN. Đó là sự may mắn mà chúng ta có được niềm hạnh phúc kỳ diệu như vậy. Và đó là phép lạ thực sự, bởi vì không thấy mà vẫn tin – đức tin có lý trí kiểm chứng chứ không nhẹ dạ cả tin hoặc mê tín dị đoan.

Theo lời chứng trong Kinh Thánh (Ga 20:19-31), vào chiều ngày ấy – ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở đều đóng kín các cửa, vì các ông sợ người Do Thái quấy rầy, kiếm chuyện. Bất ngờ Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!”. Cửa đóng, then cài, thế mà Chúa Giêsu vào một cách dễ dàng. Vẫn Con Người đó, nhưng hoàn toàn khác nhau giữa lúc còn là xác thể trần tục (cũ) và xác thể đã biến đổi (phục sinh, nên mới). Thân xác chúng ta mai mốt cũng được trở nên như vậy – sau khi chết và sống lại. Thế thì kỳ diệu quá, thật tuyệt vời biết bao!

Vừa chúc bình an xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn để minh chứng là Ngài đã sống lại thật như Ngài đã nói trước. Các môn đệ vui mừng vì được gặp lại Thầy như vậy. Rồi Ngài lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em”. Hai lần Ngài chúc bình an, đồng thời Ngài cũng trao sứ vụ cho những người tin theo Ngài: Làm nhân chứng loan báo Tin Mừng và Lòng Thương Xót. Ngài còn trao quyền tha tội khi Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ”. Đó là Bí tích Hòa Giải, một bí tích liên quan Lòng Thương Xót. Thiên Chúa yêu thương nhân loại đến cùng nên Ngài tìm mọi cách để cứu độ chúng ta.

Hôm đó, khi Chúa Giêsu hiến ra với Nhóm Mười Hai, không hiểu vì lý do gì mà vắng mặt Tôma – cũng gọi là Điđymô. Sau đó, các môn đệ khác nói với ông rằng “đã được thấy Chúa”, nhưng Tôma thản nhiên nói: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”. Rồi tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, lần này có cả ông Tôma. Các cửa cũng vẫn đóng kín. Đức Giêsu lại hiện đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Rồi Ngài bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Ông Tôma hết hồn hết vía bèn sụp lạy mà thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”. Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”. Không thấy mà vẫn tin, vậy mới đáng nói. Chúa Giêsu xác định điều đó mới là diễm phúc. Đức tin quan trọng lắm, bởi vì người ta nên công chính cũng nhờ đức tin – cụ thể như Tổ Phụ Ápraham và Đức Dưỡng Phụ Giuse.

Ngoài ra, Thánh sử Gioan còn xác định: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em TIN rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô là Con Thiên Chúa, và để anh em TIN mà ĐƯỢC SỰ SỐNG nhờ danh Người”. Động từ TIN cứ được lặp đi lặp lại nhiều lần, điều này càng chứng minh rằng TIN là điều thực sự vô cùng quan trọng. Tin Chúa là tin vào tình yêu của Ngài, tin vào Ơn Cứu Độ của Đức Kitô, và tín thác vào Lòng Thương Xót vô biên của Thiên Chúa – Đấng Tam Vị Nhất Thể.

Tin tưởng và tín thác được cụ thể bằng việc cầu nguyện. Nhưng cầu nguyện như thế nào? Thánh Faustina cho biết cách cầu nguyện hiệu quả và đẹp lòng Thiên Chúa: “Khi cầu nguyện, chúng ta ĐỪNG NÀI ÉP CHÚA ban cho điều chúng ta muốn, mà chúng ta NÊN TUÂN PHỤC Thánh Ý Ngài” (Nhật Ký, số 1525). Vâng ý Cha chứ không phải theo ý riêng mình.

Niềm tin cũng cần được lưu ý, bởi vì Thánh Phaolô đã từng cảnh báo: “Lạ gì đâu! Vì chính satan cũng đội lốt thiên thần sáng láng! Vậy có gì là khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính. Chung cục, chúng sẽ lãnh nhận hậu quả công việc chúng đã làm” (2 Cr 11:14-15). Đừng lẫn lộn giữa phép lạ và sự lạ, vì có thể rất dễ lầm tưởng!

Lạy Thiên Chúa hằng hữu, xin cho chúng con được ngụp lặn trong Đại Dương Thương Xót của Ngài và được tắm gội trong Máu và Nước tuôn ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Vì cuộc khổ nạn đau thương của Đức Giêsu Kitô, xin thương xót dân Việt chúng con và toàn thế giới. Xin Thánh Faustina và Thánh Gioan Phaolô II cầu thay nguyện giúp cho chúng con, hôm nay và mãi mãi. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. Mục lục.

LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG VÀ BIẾN CỐ "SRI LANKA" ĐAU THƯƠNG

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Ngay đầu tuần Thánh, thứ hai 15.4.2019, thông tin về Vương cung Thánh đường Đức Bà Paris, thủ đô Pháp quốc, bị cháy dữ dội đã làm hầu như cả thế giới ngẩn ngơ, tiếc nuối về một công trình vừa của đức tin Kitô giáo vừa là văn minh, văn hóa của cả nhân loại.

Tuy nhiên, dù đó là công trình đồ sộ, dù nơi đó đã chứng kiến nhiều biến cố và sự kiện lịch sử, dù đó là di vật của trí tuệ đã trải qua hàng thế kỷ, dù giá trị vật chất và tinh thần của nó hết sức lớn..., vẫn không bằng mạng sống của loài người. Chỉ cần sự sống của một sinh linh, đã vô giá. Vì thế, sự sống của hàng trăm con người không thể nói hết, không thể có bất cứ điều gì sánh ví...

Vậy mà chưa đầy một tuần, Chúa nhật 21.4.2019, ngay ngày đầu mùa tôn vinh Sự Sống, cũng là ngày lễ của Sự Sống, lễ mừng Chúa phục sinh, nhân loại lại chết điếng, từng người công chính như đứt từng đoạn ruột khi phải chứng kiến hàng trăm anh chị em đồng đạo bị thảm sát chỉ trong một ngày.

Sri Lanka nói chung, Thủ đô Colombo của nước này nói riêng, trở thành tên gọi vừa thân thương, vừa đau đớn tận cùng của mọi người công chính trên khắp thế giới khi nghĩ đến, hay chỉ cần nhắc đến.

Chúa nhật thứ II phục sinh, ngày cuối của tuần Bát nhật phục sinh, Hội Thánh Công giáo mừng lễ Chúa lòng thương xót trong bầu khí đau buồn về những cái chết hàng loạt vừa mới xảy ra đúng một tuần ấy.

Nhiều người tỏ ra bi quan về đức tin của chính mình. Có Chúa thật không? Những bi thảm diễn ra từng ngày gây nên đau khổ cho không biết bao nhiêu người, làm sao có thể gọi đó là lòng thương xót? Chưa biết có lòng thương xót không, nhưng sự dữ thì khắp thế giới đều chứng kiến. Sự dữ như sờ thấy được!

Là người Công giáo, chúng ta phải trả lời thế nào cho nhiều anh chị em xung quanh về tình yêu thương xót của Thiên Chúa giữa bối cảnh tan thương này? Hình như sự thật trở thành chướng ngại lớn làm cho các môn đệ của Chúa Kitô gặp khó khăn khi rao giảng về lòng Thiên Chúa xót thương?

Trước khi trả lời bất cứ sự gì, ta phải khẳng định dứt khoát và mạnh mẽ rằng, Thiên Chúa không làm ra sự dữ. Người không bao giờ muốn có sự dữ. Chính tấm lòng của Thiên Chúa không bao giờ muốn tấn công ai, không bao giờ muốn đẩy ai vào con đường cùng, nhưng chỉ ngự trị sự từ ái, tha thứ, bao dung.

1. Sự dữ xuất phát từ lòng người.

Biến cố quá bi thương của ngày Phục sinh là minh chứng rõ ràng về sự tàn ác mà con người dành cho nhau. Kẻ thủ ác giết người có tính toán, có hệ thống, có kế hoạch. Chúng hành động chính xác đến nỗi những nơi chúng thảm sát là thủ đô và vùng lân cận, là những nhà thờ lớn, trong chính ngày lễ trọng nhất của Kitô giáo, quy tụ đông tín hữu nhất, và giờ giấc các vụ nổ hầu như đồng loạt, chính xác trong cùng một giờ, hoàn tất mọi vụ nổ chỉ trong một ngày.

Điều đáng buồn hơn nữa là, dù biết trước cuộc thảm sát có thể xảy ra, nhưng chính phủ Sri Lanka không có bất cứ hành động nào để ngăn chặn. Họ giữ im lặng đến phút cuối. Họ không có một thông báo hay tuyên bố nào để người dân có thể đề phòng.

Nhờ sự im lặng đến lạ thường của chính phủ mà cuộc thảm sát đã diễn ra thành công đúng như kế hoạch của những kẻ thủ ác, khiến nhiều người nghi ngờ, ngay trong nội bộ quốc gia, có sự kỳ thị tôn giáo. Hay chính phủ cố tình làm ngơ trước những hành động nhằm thanh trừng Kitô giáo?

Sự ác xuất phát từ lòng người. Đó là điều Chúa Giêsu từng cảnh báo: "Từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế" (Mc 7, 21-23).

Chính lòng người thù hận đã dẫn đến quá nhiều oan khuất, thê lương. Ngay thời khởi đầu vũ trụ, con người đã giết nhau: Cain giết chính em ruột mình là Abel. Rồi từ đó, lịch sử nhân loại đã chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc giết hại từ lẻ tẻ đến hàng loạt một cách tàn bạo, đẫm máu, phi nhân tính...

2. Chúa Giêsu, nạn nhân của sự dữ.

Ta không thể hiểu vì sao Chúa không cất sự dữ. Nhưng ta biết chắc, tội ác trong lòng người đã không tha chính Con Thiên Chúa làm người.

Chúa Giêsu, Đấng đã bị loài người loại trừ, thì Thiên Chúa dùng chính sự chết và sống lại của Người để cứu độ loài người, cho phép những kẻ mang phận người cùng được phục sinh, được thừa hưởng cơ nghiệp vĩnh cửu của Người trong nhà Thiên Chúa, trong sự sống trường tồn của Thiên Chúa.

3. Vài điểm giáo lý.

- Sự dữ là vô cùng đáng sợ. Nhưng nhìn về khía cạnh tích cực, sự dữ nhắc nhở ta về thân phận yếu đuối, mỏng dòn của mình, để ta luôn sẵn sàng cho bất cứ lúc nào, nếu phải kết thúc hành trình đời mình.

- Dù Thiên Chúa không muốn sự dữ xảy ra. Nhưng trong trường hợp sự dữ đã xảy ra, Thiên Chúa có thể rút ra từ sự dữ, những điều tốt lành. Thậm chí, Người còn lấy ra từ sự dữ những giá trị thánh, giá trị hằng sống, giá trị cứu độ, giá trị vĩnh cửu... Chính cái chết của Chúa Giêsu là bằng chứng.

- Qua sự dữ mà ta đang phải đối mặt, Chúa có thể giáo dục ta như người cha dùng roi để đánh con mình. Qua sự dữ mà ta kiên trung chịu đựng, đức tin của ta mạnh mẽ hơn, lòng cậy trông vững vàng hơn, tình yêu mến ngày càng hoàn thiện hơn.

- Chúng ta cần ghi nhớ: Chúa công bằng vô cùng. Bởi khi một người gặp phải nhiều khổ đau ở đời này, họ sẽ không hoặc giảm việc đền tội mà họ phải gánh chịu ở đời sau.

Tôi tin rằng, Chúa có cách của Chúa để dành phần ưu ái, dành sự yêu thương cho những nạn nhân của những vụ thảm sát, kể cả khi họ qua đời hay còn sống. Nhất là những cuộc thảm sát diễn ra giữa lúc họ làm nghĩa vụ thờ phượng và đang biểu lộ cách cao nhất lòng tin tưởng vào Chúa trong thánh lễ Phục sinh mà họ đang tham dự.

- Trong Hội Thánh, giáo lý về đến tội thay là một giáo lý đẹp. Chúa Kitô vô tội đã đền tội thay cho cả loài người. Cũng vậy, biết bao nhiêu người hy sinh chính mình đền tội thay cho những kẻ tội lỗi. Và tất cả những người được chọn làm vật tế sinh, làm của lễ đền tội, Chúa sẽ có cách của Chúa để trả lại cách cân xứng những gì mà họ phải chấp nhận.

Vì thế, tôi tiếp tục tin rằng, chính vì tội lỗi của tôi, của mọi người, của cả thế gian này, mà nhiều anh chị em đã phải đau khổ. Nhìn vào những gì họ phải chịu, tôi nhận ra rằng, Thiên Chúa tố cáo tội ác của tôi nơi chính họ, để tôi sống tốt hơn, đẹp lòng Chúa hơn. Từng ngày sống trong đời, tôi phải phục sinh chính mình như Chúa muốn.

4. Nội dung Tin Mừng trong lễ kính Chúa lòng thương xót.

Tin Mừng khả dĩ giúp ta vững tin hơn. Thánh Gioan ghi nhận, có đến hai lần Chúa Phục sinh hiện ra với các tông đồ. Cả hai lần, Chúa đều mạc khải dấu thánh giá trên thân thể phục sinh của Người. Thậm chí, Chúa còn mời: “Tôma, hãy xỏ ngón tay của con vào lổ đinh trên tay Thầy đây, hãy thọc bàn tay của con vào cạnh sườn của Thầy”.

Chúa Kitô không tự nhiên mà phục sinh, nhưng phục sinh từ trong đau khổ, phục sinh từ trên thánh giá. Hôm nay, dù đã sống lại, đã chiến thắng khải hoàn, thân xác phục sinh chói ngời đã cùng quyền năng Thiên Chúa bước vào vô biên, bước vào vĩnh cửu, nhưng bây giờ hiện ra với môn đệ, thân xác phục sinh rạng ngời ấy vẫn còn y nguyên dấu của thánh giá.

Rõ ràng phục sinh không giết chết thánh giá. Chúa không xóa dấu tích thánh giá. Dấu thánh giá vẫn theo Chúa ngay cả khi Chúa đã phục sinh.

Bởi thánh giá vẫn còn nguyên vẹn trong ơn phục sinh, nên dù hôm nay Chúa đã phục sinh, thì cuộc đời vẫn còn đó đầy dẫy những khổ đau, những thách thức mà lòng người phải cam chịu.

Dù trải qua quá nhiều mất mát, tôi tin rằng lòng thương xót của Chúa mãi mãi vẫn chan đầy. Lòng thương xót đã từng trao ban trong quá khứ. Chắc chắn, lòng thương xót ấy như dòng suối cuồn cuộn chảy mãi, sẽ vững bền, sẽ trường tồn đến muôn đời. Mục lục.

HAI LẦN CHÚA HIỆN ĐẾN…

(Cảm nhận từ Ga 20.19-31)

Bình an cho các con

Chúa ngự đến khi cửa phòng đóng kín.

Chúa hiện ra, đứng giữa các tông đồ.

Chúa cho xem dấu tích đã lành khô,

Rồi Chúa phán: bình an cho các con hết thảy…

Quyền tha tội  

Như Cha đã sai Thầy cứu nhân thế,

Thầy cũng sai toàn thể đoàn chúng con.

Nói thế rồi, Chúa thở hơi, ban ơn:

Hãy nhận lấy Thánh Thần và quyền tha tội…

Tám ngày sau

Chúa hiện đến lần trước, Tô Ma vắng mặt

Hôm nay Ông gặp Chúa thoả ước mơ,

Chúa Phục Sinh bảo Ông: chớ nghi ngờ,

Ông xưng tụng: lạy Chúa,Vua Cứu Thế!!!

Áp dụng theo Tin Mừng

Giáo Hội muốn chúng ta năng suy niệm:

Chúa Phục Sinh nền tảng cho niềm tin:

Sống Tin Mừng phấn khởi triền miên,

Với hy vọng phục sinh cả hồn xác… Mục lục.

(Thế Kiên Dominic)

HÃY TRỞ THÀNH HIỆN THÂN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Huệ Minh

Sau biến cố tử nạn của Thầy mình, các tông đồ tìm đến với nhau để ở lại với nhau trong sự an ủi nhau khi bơ vơ tất bạt vì mất Thầy. Và cũng vì sợ người Do Thái truy lùng như trang Tin Mừng hôm nay thuật lại mà các tông đồ tụ họp trong phòng lầu tại Giêrusalem, đóng cửa và gài chốt bên trong.

Các ông tụ họp nhau lại cầu nguyện để an ủi, nâng đỡ nhau sau cảnh tang thương bi đát trước cuộc tử nạn của Thầy mình,. Bỗng nhiên Ðức Giêsu hiện ra trước mắt các ông để củng cố đức tin gần như bị tàn lụi của các ông.

Tin mừng thuật lại hai lần Đức Giê-su Phục Sinh hiện ra với các môn đệ để củng cố niềm tin của các.

Lần thứ nhất (c 19-25): vào buổi chiều sau khi sống lại, Chúa Phục Sinh đã hiện đến đứng giữa các môn đệ đang hội họp mà không có Tôma. Người cho các ông xem các vết thương nơi bàn tay và cạnh sườn để chứng minh Người đã sống lại sau cuộc tử nạn, rồi thổi hơi ban Thánh Thần và trao quyền tha tội cho các ông.

Lần thứ hai (c 24-29): Tám ngày sau, Chúa Giê-su lại hiện ra với các môn đệ và có Tôma. Người đặc biệt đáp ứng các đòi hỏi của ông. Rồi khi ông đã đạt đến đức tin, thì Người dạy: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”.

Riêng có ông Tôma lại tách rời ra khỏi các bạn đồng chí hướng. Do đó đức tin của ông đã bị dập tắt: Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào vết đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi nhất định không tin (Ga 20, 25). May phúc cho ông là chính Ðức Giêsu lại đích thân hiện ra để phục hồi đức tin của ông. Lúc này ông kêu lên: Lạy Chúa của con. Lạy Thiên Chúa của con (Ga 20, 28).

Tôma là người cứng tin, nhưng sau khi đã được gặp gỡ Chúa và đã cảm nghiệm về sự phục sinh của Người, ông đã đạt tới một đức tin sâu xa và vững mạnh nhất, thể hiện qua lời tuyên xưng đức tin : “Lạy Chúa của con. Lạy Thiên Chúa của con !” (Ga 20, 28). Ngang qua Tôma, Chúa Giêsu chúc phúc cho các tín hữu sẽ tin theo Người sau này như sau: “Vì đã trông thấy Thầy, nên con tin. Phúc thay người không thấy mà tin”. 

Ngày nay, dẫu rằng không ai trong chúng ta được gặp Chúa Phục Sinh, không trực tiếp nghe lời nói của Người, cũng không được ăn uống tiếp xúc với Người như các Tông đồ xưa, nhưng đức tin của chúng ta sẽ có phúc nếu chúng ta tin vào lời rao giảng của các Tông đồ là những chứng nhân đức tin, là những người không dễ tin nhưng đã từng cảm nghiệm về mầu nhiệm phục sinh như ông Tôma trong Tin Mừng hôm nay.

Do đó, cùng với thánh Grêgôriô chúng ta có thể nói: “Ngón tay đa nghi của Tôma đã trở nên ông thầy của toàn thế giới ; bàn tay đa nghi của Tôma đã dạy cho mọi người một sự thật chắc chắn, đó là thân xác Đức Giê-su Kitô thực sự đã sống lại”.

Trong đời sống thường nhật, ta cần biểu lộ đưc tin bằng việc làm như cầu nguyện, dự lễ, hi sinh, bác ái. Nếu là thiên thần, người ta không cần biểu hiệu. Là loài người có xác, người ta cần biểu lộ đức tin bằng những cử chỉ đạo hạnh như qùi gối, chắp tay, cúi đầu… để khơi dạy tâm tình đạo đức bên trong. Người ta cũng cần những biểu hiệu như tượng ảnh đạo treo trong nhà, hay trong phòng để nhắc nhở cho mình về sự hiện diện của Chúa, Mẹ Maria và các thánh.

Thế giới ngày nay quá nhiều người hoài nghi và không tin tưởng vào Tin Mừng Phục Sinh. Cách thức duy nhất làm cho họ được ơn biến đổi trong lòng tin là làm sao để họ có thể “nhìn thấy” Đức Giêsu và “đụng chạm“ vào Người qua con người nhân bản của các tín hữu, qua lời nói thân thiện lễ độ và lối ứng xử khiêm tốn phục vụ vị tha của chúng ta.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: “Người thời nay không thích nghe các thầy dạy, mà chỉ thấy các chứng nhân; và giả sử như người ta có thích nghe các thầy dạy, thì các thầy dạy đó trước tiên phải là những chứng nhân”.

Hôm nay cũng là lễ kính “Lòng Thương xót của Chúa” mà Đức Gioan-Phaolô II đã thiết lập ngày 30-4-2000. Chúng ta hãy nhớ đến hình ảnh Đức Giêsu từ bi thương xót do thánh Faustina Kowalska để lại: Người mặc y phục trắng, bàn tay phải ban phép lành, bàn tay trái vén mép áo ngực, từ đó thoát ra các tia sáng xám và đỏ, tượng trưng Bí tích Thánh Thể và Bí tích Rửa Tội. Đức Giêsu là hiện thân Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Chúng ta hãy cùng với thánh nữ Faustina Kowalska thưa với Người rằng: “Lạy Chúa Giêsu, con xin tín thác vào Người !”

Chúng ta hãy trở thành hiện thân của Lòng Chúa thương xót qua lối sống hiệp nhất, chia sẻ nâng đỡ nhau, sẵn sàng tha thứ cho nhau. Mục lục.

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan