SUY NIỆM CHÚA NHẬT III PHỤC SINH_C

01-05-2019 60 lượt xem

(Cv 5,27b-32.40b-41; Kh 5,11-14; Ga 21,1-9)

Mục Lục

GẶP GỠ ĐẤNG PHỤC SINH - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

YÊU MẾN CHÚA - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

TÂM PHỤC KHẨU PHỤC JM. Lam Thy ĐVD

MẺ LƯỚI CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

CON CÁ VÀ CON NGƯỜI Trầm Thiên Thu

GẮN BÓ CÁ VỊ VỚI CHÚA KITÔ - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

TRƯỚC KHI TRUYỀN GIÁO, PHẢI BIẾT “YÊU” - Jos. Vinct. Ngọc Biển

Hãy Theo Thầy - (Thế Kiên Dominic)

GẶP GỠ ĐẤNG PHỤC SINH

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan ghi lại cuộc gặp gỡ lần thứ ba, cũng là lần cuối cùng giữa Chúa Giêsu Phục sinh và các môn đệ. Việc đánh cá được nói đến trước và sau khi Đức Giêsu tỏ mình, mang ý nghĩa đặc biệt. Trước đó, các ông vất vả mà không được con cá nào. Sau khi nghe lệnh của Đức Giêsu và thả lưới, các ông kéo được một mẻ cá lạ lùng, đếm được 153 con. Gặp gỡ với Đấng Phục sinh là điều kiện cần thiết để mang lại những hiệu quả ngoạn mục trong sứ mạng tông đồ.

Qua hình ảnh mẻ cá lạ, Thánh Gioan muốn nói với chúng ta về một cộng đoàn tín hữu đang phát triển nhanh chóng đầy hứa hẹn vào tương lai. Sách Công vụ Tông đồ kể lại, nhờ lời giảng dạy của các tông đồ, số người tin theo Chúa ngày một gia tăng. Những người mới gia nhập Đạo, vừa là người Do Thái, vừa là người gốc dân ngoại. Cộng đoàn tín hữu đoàn kết hiệp nhất với nhau đến nỗi họ chỉ có một tâm hồn. Theo các nhà chú giải Kinh Thánh, 153 là con số tượng trưng, vì thời bấy giờ, khoa nghiên cứu thủy sản hệ thống các loài cá dưới biển và liệt kê được 153 loài cá lớn nhỏ khác nhau. Khi nói đến một mẻ lưới bắt được 153 con cá, tác giả muốn nói với chúng ta về hình ảnh Giáo Hội của Chúa Kitô. Nhờ có Chúa Phục sinh hiện diện, cả nhân loại được mời gọi gia nhập Giáo Hội, làm thành gia đình của Thiên Chúa. Hơn nữa, tác giả cũng muốn khẳng định với chúng ta, ơn cứu độ của Thiên Chúa nhờ máu của Đức Kitô có giá trị cứu thoát mọi dân tộc, mọi quốc gia trên toàn thế giới này.

Chúa Giêsu không còn hiện diện hữu hình trên thế gian, nhưng Người vẫn hoạt động trong Giáo Hội. Người là sức sống và nguồn nghị lực truyền giáo của Giáo Hội. Chính Chúa Giêsu Phục sinh trao phó cho các tông đồ, mà cụ thể là Phêrô, vị Tông đồ trưởng, nhiệm vụ hướng dẫn đàn chiên của Người. Tin Mừng Thánh Gioan, vào lúc kết thúc, lại mở ra một thời đại mới, thời đại của Giáo Hội. Tông đồ Phêrô đã ba lần tuyên thệ yêu mến Thày, như một tình yêu mến trọn hảo. Dựa trên tình yêu mến được tuyên xưng đó, Chúa trao phó cho ông thay Người cai quản Giáo Hội. Giáo Hội Công giáo kể từ Phêrô là vị Giáo Hoàng đầu tiên cho đến nay, luôn có người kế thừa lãnh đạo. Trong lịch sử, có những giai đoạn khó khăn thử thách khốc liệt, nhưng vẫn có người kế vị Thánh Phêrô để chèo lái con thuyền Giáo Hội lướt qua sóng gió phong ba của biển đời.

Sau khi tuyên thệ một lòng yêu mến, Chúa Giêsu nói với ông Phêrô: “Hãy theo Thày”. Chúa cũng đã nói lời này với Phêrô, khi lần đầu gặp ông đang vá lưới ở bờ hồ Galilêa, và ông mau mắn từ bỏ mọi sự đi theo Người. Hôm nay, Chúa lại nói với ông một lần nữa, như thể đây là khởi đầu của một hành trình mới để làm môn đệ của Người. Nếu trước đây, ông đi theo Chúa để được thụ giáo với Người, thì bây giờ, ông theo Chúa để trở thành hiện thân của Người giữa thế gian. Có Chúa ở với ông, nên ông trở nên mạnh mẽ và can đảm. Đứng trước thày Thượng tế, Phêrô và các tông đồ đã khẳng khái tuyên bố: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta. Thiên Chúa cha ông chúng ta đã cho Đức Giêsu sống lại, Đấng mà các ông đã giết và treo Người trên thập giá”. Khi bị đánh đòn, các ông lại “hân hoan vì thấy mình xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” Bài đọc I). Cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu đã giúp các ông có thêm nghị lực và nhiệt huyết để làm chứng về Người.

Đấng Phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta. Có những lúc chúng ta không nhận ra Người, nhưng Người vẫn đồng hành với chúng ta, vì Người là Thiên Chúa quyền năng và nhân ái. Khi cử hành phụng vụ mùa Phục sinh, Giáo Hội muốn cho chúng ta được gặp gỡ Đấng đã từ cõi chết sống lại. Chúa Phục Sinh cũng đang đặt ra cho mỗi người chúng ta câu hỏi về tình yêu mến: “Con có yêu mến Thày không?”.  Câu trả lời của chúng ta thể hiện mức độ dấn thân theo Chúa và thiện chí trở thành môn đệ của Người. Mục lục

YÊU MẾN CHÚA

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Phục Sinh hiện ra với Maria Mađalêna và Ngài nhắn gởi là sẽ gặp các môn đệ ở Galilê (Mt 28,10). Trong khi chờ đợi, các tông đồ trở về với nghề xưa, trở về biển hồ quen thuộc đầy ắp kỷ niệm tình thầy trò.

Phêrô kêu gọi anh em đi đánh cá. Tối hôm ấy, họ thức trắng đêm mà vẫn trắng tay, chẳng được con cá nào. Họ sửa soạn giũ lưới đi nghỉ, Chúa hiện đến trên bờ. Trời vừa tảng sáng để có thể nhận biết người và thuyền. Nhưng họ vẫn không nhận ra Chúa Giêsu đứng đó, cũng giống như trường hợp của Maria Mađalêna bên ngôi mộ (Ga 20,14), cũng như hai môn đệ Emmau (Lc 14,13).

Từ xa xa, Chúa Giêsu gọi các môn đệ một cách thân mật: “Các chú có gì ăn không?”. Một câu hỏi đối với dân miền biển nên phải hiểu là: đánh cá có được gì không? Các môn đệ trả lời một tiếng vắn vỏi: “Thưa không” xem ra mệt mỏi chán chường. Chúa bảo: “Hãy thả lưới bên hữu thuyền”. Họ vâng lời và họ kéo được quá nhiều cá hơn sức họ mong tưởng. Thấy thế hẵn là các môn đệ nhớ lại phép lạ ngày nào bên bờ biển hồ Galilê, Chúa cũng bảo Phêrô ra khơi và họ đã bắt cá nhiều đến nỗi phải nhờ thuyền bạn bè chở giúp (Lc 5,1-11).

Gioan là người đầu tiên nhận ra Thầy: “Chúa đó”. Lúc ấy Phêrô liền nhảy xuống biển, đến với Ngài. Phêrô thật nồng nhiệt, hăng hái. Các môn đệ cho thuyền vào bờ. Chúa phục sinh đã chuẩn bị sẵn “than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa”. Bữa ăn sáng thật “thơ mộng” ngay tại bãi biển này, bữa ăn Chúa dọn sẵn và cũng có phần đóng góp của các môn đệ: “Đem ít cá mới bắt được tới đây!”.  Cho đến lúc này các môn đệ mới nhận ra là Chúa và không ai dám hỏi gì nữa, không còn ai hồ nghi gì nữa. Sau bữa ăn thân mật ấy, Chúa tâm sự riêng với Phêrô. Ngài hỏi Phêrô ba lần: Con có yêu mến Thầy không? Trước khi đặt Phêrô làm đầu Hội Thánh, Chúa muốn ông phải yêu mến Ngài một cách quảng đại hơn những người khác. Phêrô đã bày tỏ tình yêu của mình một cách đơn sơ và chân thành: Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy. Chúa Giêsu đã ân thưởng lòng yêu mến ấy bằng cách trao ban cho Phêrô sứ mạng : Hãy chăn dắt đoàn chiên của Thầy.

Ba lần được hỏi và thưa về tình yêu của Phêrô đối với Thầy cũng là ba lần Phêrô được giao phó trách nhiệm chăm sóc đoàn chiên. Đó là vai trò mục tử của Phêrô. Bằng tất cả trải nghiệm về đức ái mục tử theo gương Mục Tử Tối Cao, Phêrô đã dạy cho các mục tử trong Giáo hội tinh thần:”Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèm, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên. Như thế khi Vị Mục Tử Tối Cao xuất hiện, anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát” (1Pr5,2-4). Phêrô trở thành một người lãnh đạo tốt. Người lãnh đạo tốt là người biết tự cảnh giác về sự yếu đuối của mình. Kinh nghiệm sa ngã đã giúp Phêrô thoát khỏi tính tự phụ và tin tưởng mù quáng vào khả năng của mình, đồng thời giúp ông thông cảm với yếu đuối của người khác. Như thế Phêrô còn học biết một sự thật tuyệt vời về Chúa Giêsu. Ông học được rằng, mặc dù ông đã chối Ngài nhưng Ngài vẫn yêu thương ông. Chính tình thương của Ngài đã mang ông trở về cuộc sống. Cái cảm nghiệm được yêu thương trong chính sự yếu đuối và tội lỗi của mình đúng là một cảm nghiệm sửng sốt. Được yêu trong cái tốt của mình là chuyện bình thường. Được yêu ngay trong cái xấu của mình, đó mới là ân sủng.

Nhiều vị thánh gọi đoạn Tin mừng hôm nay là cuộc đối thoại tình yêu. Chúa Giêsu hỏi ba lần : “Con có yêu mến Thầy không ?”, đáp lại ba lần “Có” cũng là để bù lại ba lần chối Thầy. Trước thái độ ba lần từ chối của Phêrô, Chúa không đòi hỏi Phêrô ba lần xin lỗi hay để trừng phạt, song ba lần Chúa muốn được nghe Phêrô nói : “Con yêu mến Thầy”. Như trước đây với Madalena, lần này là Phêrô và sau này là mỗi người chúng ta, Chúa Giêsu muốn nói : “Con yêu nhiều thì sẽ được tha thứ nhiều và ngược lại, con được tha thứ nhiều vậy con hãy yêu nhiều”. Tiếng gọi lãnh đạo của Chúa là tiếng tình yêu, Chúa Giêsu cũng không hỏi Phêrô con đã có chìa khóa lãnh đạo cao cấp chưa ? Hay có bằng cấp gì ? Tốt nghiệp đại học nào chưa ? Song như có lần Chúa Giêsu nói : “Ai yêu mến Ta thì hãy giữ lề luật của Ta” thì bây giờ Ngài nói : “Con yêu mến Thầy thì hãy chăm sóc chiên con của Thầy”. Chúa Giêsu quan niệm về lãnh đạo là yêu thương, là phục vụ, rửa chân cho những người mình lãnh đạo, Chúa Giêsu không quan niệm nền tảng và phương pháp lãnh đạo là thao tác thôi. Đối với những người lãnh đạo không phải là thao tác bắt người ta làm theo ý mình, song bằng tình yêu giúp nhau thực hiện ý Chúa. Như trong trường hợp của Phêrô, tình thương của Chúa đối với Phêrô và của Phêrô đối với Chúa, tình thương ấy xóa bỏ hận thù, xóa bỏ lỗi lầm xưa và đưa người yêú kém kia trở lại sống trong tình yêu của Chúa. “Anh em yêu mến Thầy thì hãy chăm sóc chiên của Thầy”. Lời mời gọi ấy nhằm vào hàng giáo sĩ. Dĩ nhiên, sau cùng là lời mời gọi đối với mỗi người tín hữu, ai cũng có trách nhiệm liên đới đối với vận mệnh phần rỗi của mỗi anh em mình, về phận sự chăn dắt, nuôi nấng và đưa anh em về đoàn chiên và gìn giữ họ an toàn trong Đức tin. Hãy vì yêu mến Chúa mà làm phận sự chăn dắt và yêu người, tức là làm việc Tông đồ truyền bá Tin mừng và làm cho anh em mình nhận biết và phụng thờ Thiên Chúa (dmhcg.org).

Nhìn lại cuộc đời của Thánh Phêrô, chúng ta thấy một điều rất rõ là trong trái tim vị Tông đồ lúc nào cũng yêu Chúa. Ngay cả khi Chúa bảo Phêrô là Satan thì ông cũng không giận Chúa. Chỉ vì sự sợ hãi yếu đuối mà chối Thầy, chứ trong tâm hồn lúc nào Phêrô cũng yêu mến Chúa. Không phải Phêrô yếu đuối vấp ngã mà Chúa bỏ rơi, chính tình yêu chân thành trong tâm hồn Phêrô mà Chúa đã yêu thương chọn làm Tảng đá.

Chúng ta tự hỏi: Tại sao Chúa Giêsu không trao Giáo hội cho một người trí thức thông thái, có tài lãnh đạo, có uy tín, mà Chúa lại trao Giáo hội cho Phêrô, một Tông đồ nhiều khuyết điểm, bị la mắng nhiều hơn khen ngợi? Chắc chắn nơi Phêrô có một lòng mến Chúa thiết tha. Sau ba lần hỏi: Con có yêu mến Thầy không? Và sau ba lần Phêrô xác định tình yêu ấy, Chúa Giêsu trao Giáo Hội cho Ngài. Ngài vâng lời Chúa về Giêrusalem, bài giảng đầu tiên hùng hồn mang về cho Chúa 3.000 người xin rửa tội. Kể từ đó, Ngài đi vào cánh đồng truyền giáo bao la, là thành đô Roma. Đối diện với gian nguy bắt bớ tù đày, Thánh Nhân đã can trường làm chứng cho Đức Giêsu Phục sinh. Ngài đã lấy máu đào tử đạo minh chứng cho lòng yêu mến Thầy. Ngài đã viết nên trang sử vàng, hào hùng, vẻ vang cho Giáo Hội sơ khai.

Lòng khiêm nhường, lòng yêu mến Chúa của Thánh Phêrô, kinh nghiệm về ơn tha thứ của Chúa, tất cả đều dẫn đưa Thánh Nhân đến với tình yêu của Chúa. Nhờ tình yêu Chúa dẫn lối mà Ngài đã đi bất cứ nơi nào Chúa muốn, cho dẫu nơi đó là ngục tù, là cái chết, bởi lẽ vì tình yêu của Chúa lớn hơn tất cả.

Lòng mến Chúa sẽ mở cửa cho người tín hữu chúng ta đi vào Nước trời. Chúa không đòi hỏi nơi mỗi người sự khôn ngoan, tài năng. Chúa chỉ cần lòng mến “con có yêu mến Thầy hơn những người này không?”.  Lòng mến Chúa chính là điều kiện nền tảng để có thể chu toàn sứ mệnh mà Chúa trao phó. Không có lòng yêu mến, công việc của người mục tử hay tín hữu dù thành công cũng chỉ là điểm tô, đánh bóng cho cá nhân mình. Khi nói yêu mến Chúa là chúng ta sẵn sàng chấp nhận mọi đau thương, thử thách, và hy sinh. Và khi nói yêu mến hơn những người này, thì cũng có nghĩa là phải hy sinh, chịu khó, và chấp nhận hơn nếu Chúa muốn, để làm chứng nhân cho Ngài trong chính cuộc đời mình.

Khi yêu mến Chúa, chúng ta sẽ làm mọi sự đẹp lòng Chúa. Lòng mến là thước đo cho mọi giá trị đạo đời. Mục lục

TÂM PHỤC KHẨU PHỤC

JM. Lam Thy ĐVD

Khi đặt tiêu đề cho bài viết (TÂM PHỤC KHẨU PHỤC), kẻ viết bài này liên tưởng tới câu nói của thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Rô-ma: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ. Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ.” (Rm 10, 9-10). Đúng vậy, khi người ta mới chỉ nói “tin” ngoài miệng thì “lời nói theo gió bay đi mất”, mà sự tIn phục ấy cần phải xuất phát tự trong lòng, đó mới thực sự là “Tâm phục khẩu phục” ( 心  服  口  服 : phục tự đáy lòng, chứ không phải chỉ nói ngoài miệng – Từ nguyên). Chính Đức Giê-su cũng dạy: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (Mt 7, 21)

Có hai lần Đức Giê-su làm phép lạ lưới cá vào 2 dịp đặc biệt: lần thứ nhất Người làm vào thời điểm khai mạc sứ vụ, khi thu nhận 4 môn đệ đầu tiên (ông Phê-rô và người anh là ông An-rê, ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an). Vì cả 4 người đều là dân chài lưới, nên Người muốn dùng chính những dụng cụ và việc làm quen thuộc hàng ngày của các môn đệ, để các ngài được chứng kiến tận mắt Người Thầy mà mình sắp đi theo chính là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật. Đó là một cách thu phục nhân tâm cụ thể nhất, hữu hiệu nhất.

Sau bài giảng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, Đức Giê-su Ki-tô bảo ông Si-môn: "Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá". Ông Si-môn đáp: "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới." Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm" (Lc 5, 4-7). Cả 4 môn đệ và đám đông được chứng kiến tận mắt phép lạ, đều kinh ngạc và thán phục. Người bộc trực Phê-rô đã thể hiện sự tín phục như vậy khi “sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5, 8). Và vì thế, Đức Ki-tô trấn an và chính thức thu nhận các ông: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta” (trở thành những kẻ “lưới người như lưới cá” – Mt 4, 20). Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người (Lc 5, 10-11). Quả thật là “có tin thật trong lòng mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng mới được ơn cứu độ” (Rm 10, 10).

Lần thứ hai sau Phục Sinh, Đức Giê-su Ki-tô lại làm phép lạ lưới cá (Bài Tin Mừng hôm nay – CN III.PS-C – Ga 21, 1-19). Lần này cũng giống như lần ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, “Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá” (Ga 21, 6). Cả 2 lần, các tông đồ đều có được mẻ cá lớn đến không thể tưởng tượng. Hai lần làm phép lạ với 2 mẻ cá lớn (là những con cá thực sự), Đức Giê-su Ki-tô đã làm cho các môn đệ – kể cả đám đông chứng kiến phép lạ – tâm phục khẩu phục. Và một lần nữa, thánh Phê-rô biểu lộ lòng tin phục bằng hành động (“ông Si-môn Phê-rô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển” – Ga 21, 7). Cũng chính hành động dũng cảm khi nhảy xuống biển để bơi vào bờ mong gặp Thầy ngay lập tức (chớ không chờ “Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá” – Ga 21, 8), đã biểu hiện đức tín phục của Phê-rô là “Đức tin và hành động luôn đi đôi với nhau”. Thật vậy, “Nhờ hành động mà con người được nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin mà thôi… Một thân xác không hơi thở là một xác chết, cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết.” (Gc 2, 24-26)

Khách quan mà nói, với phép lạ ở biển hồ Ti-bê-ri-a, Đức Ki-tô đã củng cố đức tin cho các Tông đồ một cách chắc chắn. Tuy nhiên, hơn ai hết, Đức Giê-su Thiên Chúa vẫn còn nghi ngại các Tông đồ với bản chất loài người cũng rất có thể không chu toàn được sứ vụ mà Người đã trao (“lưới người như lưới cá”). Vì thế, sau phép lạ, Người hỏi thánh Phê-rô ba lần liền: "Si-môn, con ông Gio-an, con có yêu mến Thầy không?" Ba lần chỉ với một câu hỏi, khiến người môn đệ bản tính bộc trực tỏ ra buồn rầu, vì nghĩ là Thầy vẫn chưa thực sự tin tưởng vào tấm lòng chân thực của mình. Để ý kỹ một chút, sẽ thấy có lẽ tại khi bước vào cuộc khổ nạn, Phê-rô đã chối Thầy ba lần trong một buổi tối, nên lần này Đức Ki-tô cũng gặng hỏi Phê-rô tới 3 lần chỉ với một câu hỏi.

Cũng lại là con số 3. Ba lần Phê-rô chối Chúa chứng tỏ đức tin của Phê-rô chưa kiên định. Vậy tại sao Đức Ki-tô không hỏi lại ba lần "Si-mon, con ông Gio-an, con có tin Thầy không?" mà lại là "Si-mon, con ông Gio-an, con có yêu mến Thầy không?" Vấn đề mấu chốt chính ở điểm này: Để củng cố đức tin thì cần – rất cần – phải có đức ái, vì “chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái” (Gl 5, 6). Các môn đệ đã củng cố đức tin vững mạnh chính là nhờ các ngài đã yêu mến Thầy hết lòng hết sức. Vâng, tất cả mọi sự, mọi hành động “phải nhằm đưa tới đức mến phát xuất từ tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình.” (1Tm 1, 5). Cũng bởi vì “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3, 14).

Với 2 lần làm phép lạ, Đức Giê-su đã ban cho các môn đệ hai mẻ cá lớn không chỉ là những con cá thực sự nằm trong lưới, mà còn là những con cá đức tin và đức mến, khiến cho các ngài tâm phục khẩu phục; để từ đó “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su.” (Cv 1, 14). Chính vì thế, kết quả tất yếu là mẻ cá lớn thứ ba (là những con-cá-tín-hữu) các tông đồ thu lượm được tới con số 3.000, đáp ứng được sự mong mỏi của Đức Ki-tô Phục Sinh ("Ông Phê-rô còn dùng nhiều lời khác để long trọng làm chứng và khuyên nhủ họ. Ông nói: "Anh em hãy tránh xa thế hệ gian tà này để được cứu độ." Vậy những ai đã đón nhận lời ông, đều chịu phép rửa. Và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo." – Cv 2, 40-41).

Riêng con người bộc trực Phê-rô đã chính thức trở thành người đứng đầu cộng-đồng-lưới-người là Giáo Hội tiên khởi, đúng như Lời hứa của Thầy Chí Thánh (“Còn Thầy, Thầy bảo cho anh  biết: anh là Phê-rô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” – Mt 16, 18). Với vô vàn vô số những mẻ cá lớn thu lượm được trong quá trình hơn 2.000 năm “lưới người”, Giáo Hội Công Giáo ngày hôm nay đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: Tất cả những môn đệ thừa kế sự nghiệp của các môn đệ tiên khởi đã biết sống đức tin trong đức mến và triệt để áp dụng – áp dụng rất hiệu quả – công cuộc mà các tông đồ thủa xưa đã thể hiện trong ngày lễ Ngũ Tuần: Đó chính là “ĐỨC TIN + ĐỨC MẾN => CẦU NGUYỆN => HÀNH ĐỘNG”. Và phải chăng đó chính là châm ngôn sống cho tôi, cho anh, cho tất cả chúng  ta – những dân chài trong làng chài lưới Giáo Hội hiện đại?

Tóm lại, Thiên Chúa là Tình Yêu, nên người Ki-tô hữu cần phải “yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình”. Và khi đã yêu như thế, thì còn chờ đợi gì mà không đến với Lời Phục Sinh. Ấy cũng bởi vì “Lời này cũng được gửi đến chúng ta, như đã được nói với các phụ nữ chạy đến mộ Chúa: ”Tại sao các bà tìm người sống nơi những người chết? Người không ở đây, Người đã sống lại rồi!” (Lc 24, 5-6). Sự chết, cô đơn và sợ hãi không còn là tiếng nói cuối cùng nữa. Có một lời đi xa hơn và chỉ có Thiên Chúa mới có thể nói lên: đó là Lời Phục Sinh.

Xin hiệp ý với Đức Thánh Cha Phan-xi-cô dâng lời cầu nguyện lên Đấng Phục Sinh: "Xin Đấng Phục Sinh, Đấng đã mở toang cánh cửa của những ngôi mộ, cũng mở con tim của chúng ta trước những nhu cầu của những người thiếu thốn, người không được bảo vệ, người nghèo đói, người thất nghiệp, người vô gia cư, những người gõ cửa ngôi nhà chúng ta để xin đồ ăn, xin một nơi ẩn náu, và xin được nhìn nhận phẩm giá của mình.” (Sứ điệp Phục Sinh 2019). Ước được như vậy. Amen. Mục lục

MẺ LƯỚI CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Bước sang Chúa nhật thứ Ba sau Đại lễ Phục Sinh, phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta tích cực gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh trong đời sống thường ngày. Gặp được Chúa sẽ có niềm vui, vui vì Chúa đã sống lại. Thánh Phêrô Tông Đồ cho chúng ta kinh nghiệm sống động về cuộc gặp gỡ này, ông hân hoan vui mừng cả khi người Do Thái đánh đòn, cấm không được rao tin Chúa Kitô Phục Sinh (x.Cv 5,40b). Vì thế lời Ca nhập lễ bảo ta ca vang : “Cả trái đất, nào tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên, mừng danh thánh rạng ngời, hãy dâng Người lời ca tụng tôn vinh. Hallêluia“.

Trang Tin Mừng (Ga 21, 1-19) thật là đẹp, đẹp về con người người, vì các môn đệ tin Chúa đã sống lại ; đẹp về công việc, đi bắt cá suốt đêm không được gì, này có mẻ lưới đầy cá; đẹp về thời gian, bởi đây là buổi bình minh của ngày thứ nhất trong tuần; đẹp về nơi chốn vì Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra với các ông ở trên bờ (x. Ga 21,4).

Một chi tiết rất hay đáng chúng ta lưu ý là : “Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bời biển” (Ga 21,4). Biển là gì nếu không phải là biểu tượng của thế gian đang bị xô đẩy bởi những con sóng dữ dội và những vòng xoáy của ba thù? Và bờ biển ở đây là gì, hả chẳng tượng trưng cho sự sống đời đời đó sao ? Các môn đệ đã vất vả, cực nhọc suốt đêm trên biển để đánh bắt cá, đương đầu với những con sóng của cuộc sống hay chết, nhưng Đấng Cứu Chuộc chúng ta, sau khi sống lại, Người đứng trên bờ. Theo thánh Grêgôriô Cả (540-604), Giáo hoàng, Tiến sĩ Hội Thánh giải thích thì : Chúa Giêsu đứng trên bờ, vì sau khi sống lại, Người đã vượt qua các điều kiện của một xác thịt mong manh hay hư nát, Người đứng trên bờ để nói cho các môn đệ về mầu nhiệm phục sinh, rằng : “Thầy không hiện ra với anh em trên mặt biển nữa (x. Mt 14,25), bởi vì Thầy không còn ở với anh em trong lúc biển gầm bão tố nữa”. Đó chính là ý nghĩa Chúa muốn nói với các môn đệ sau khi sống lại: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em” (Lc 24,44). Người không nói điều này bởi vì Người không còn ở với họ. Thân xác vĩnh hằng lúc ẩn lúc hiện rất xa vời với thân xác hay chết của các môn đệ. Người nói, Người không còn ở giữa họ nữa. Chúa ở trên bờ để kéo các ông lên bờ và biến các ông từ nay trở thành những kẻ lưới người ở trên bờ, chứ không lưới cá ở dưới nước nữa. (Trích Homélies sur l’Évangile, n°24)

Trở lại với mẻ cá lạ của các môn đệ làm theo lệnh truyền của Chúa Phục Sinh, vào buổi bình minh của ngày mới, Chúa hiện ra với các môn đệ lần thứ ba. Nếu như Tin Mừng không nói rõ, chúng ta không thể tưởng tượng được rằng chính Chúa sẽ chuẩn bị một cái gì đó cho chính mình cũng như các môn đệ, những ngư dân mệt mỏi suốt đêm nay cần đồ ăn sáng.

Chúa Giêsu Phục Sinh đã cách mạng hóa cuộc sống của họ và biến đổi lịch sử nhân loại ở mọi nơi mọi thời. Các Tông Đồ thấy rằng họ đã thất bại, họ đã không đạt được tầm mức mà Đấng Mê-sia mong đợi. Trong lưới của Phêrô và các môn đệ, người ta nhận ra sự kiệt sức, gần như đầu hàng, không hướng về Thiên Chúa, nhưng lại đối diện với sự nghèo nàn của chính họ. Phêrô nói : “Tôi đi đánh cá đây“(Ga 21,3), ngay lập tức những người khác cũng đi theo, dường như muốn nói: “Bây giờ họ không có gì khác để làm“.

Quả thật, con người của các Tông Đồ lúc này : Sau “khổ đau” của Thánh Giá, họ đã trở về gia đình, với cộng việc thường nhật, có người đi đánh cá, nghĩa là họ trở về lại con người và làm những công việc trước lúc chưa gặp Chúa Giêsu. Điều này cho thấy bầu khí phân tán và rối loạn trong nhóm  (x. Mc 14, 27, và Mt 26, 31). Đó là khó khăn cho các môn đệ để hiểu những gì đã xảy ra, khi mà tất cả dường như đến hồi kết, thì trên đường Emmaus, Chúa Giêsu đã đến với các môn đệ dưới dạng khách đồng hành. Giờ đây, Chúa gặp gỡ họ lúc họ đang ở biển, là nơi mà tâm trí họ nặng trĩu vì những thử thách gian truân của cuộc đời; Người gặp họ vào rạng sáng ngày sau khi họ vất vả cực nhọc vô dụng suốt đêm. Lưới họ không có gì, cách nào đó, điều này cho thấy cảm nghiệm của họ với Chúa Giêsu, họ biết Chúa đang ở bên họ, và Chúa hứa với họ nhiều điều. Tuy nhiên, họ thấy mình bây giờ với mẻ lưới  trống rỗng.

Chúng ta cũng vậy, có lúc thấy mình với mẻ lưới trống rỗng. Đi bộ, kiệt sức, trên đường Emmaus của chúng ta, Chúa tiến lại gần để giúp chúng ta thực hiện những bước nhảy vọt về sự khiêm nhường và tin tưởng vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Các tông đồ thấy mỏi mệt, nhưng xúc động trước tình yêu của Chúa Kitô, họ thả lưới ở “phía bên kia” thuyền. Tại sao lại ‘bên kia ? Bên kia là bên của lòng thương xót của Thiên Chúa. Tấm lưới của Phêrô đã được thả xuống từ một phần của lòng thương xót Chúa. Quả thật, lòng thương xót của Thiên Chúa là rất cần thiết trong thế giới hôm nay. Chúng ta hãy vâng nghe Lời Chúa, tin tưởng làm theo những gì Chúa truyền dạy để xứng đáng được kể là dân của lòng Chúa xót thương.

Lạy Chúa, xin thương xót chúng con. Amen. Mục lục

CON CÁ VÀ CON NGƯỜI

Trầm Thiên Thu

Con cá và con người có điểm giống nhau là động vật, nhưng lại có điểm khác nhau là con cá chỉ có giác hồn, còn con người có linh hồn.

Người ta thường dùng con cá để ví von. Như khi nói về tình quân và dân: Quân và dân như cá với nước; khi so sánh về giáo dục: Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư. Và khi kêu gọi Phêrô và Anrê đi truyền giáo, Chúa Giêsu cũng dùng hình ảnh con cá để nói về con người: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽlàm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4:19; Mc 1:18; x. Lc 5:10).

Cá là loài chứa nhiều dưỡng chất tốt cho cơ thể, đặc biệt là khi ăn chay theo Kitô giáo, người ta không phải kiêng cá. Quả thật, cá là loài có gì đó rất đặc biệt.

Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, các Tông Đồ không còn nhút nhát như trước, vì họ đã xác tín và được Thầy Giêsu ban Chúa Thánh Thần khi Ngài hiện ra và thổi hơi vào họ (Ga 20:22). Trình thuật Cv 5:27b-32. 40b-41 cho biết về lòng can đảm của các Tông Đồ.

Khi người ta điệu các Tông Đồ đến giữa Thượng Hội Đồng, vị thượng tế hỏi: “Chúng tôi đã nghiêm cấm các ông không được giảng dạy về danh ấy nữa, thế màcác ông đã làm cho Giêrusalem ngập đầy giáo lý của các ông, lại còn muốn cho máu người ấy đổ trên đầu chúng tôi!”.

Nói về Ông Giêsu thì mắc mớ chi tới họ mà họ cấm? Ngày nay cũng vậy, người ta vẫn tìm mọi cách bách hại những người tin vào Đức Kitô. Cả xưa và nay, tại sao người ta tìm bắt Chúa Giêsu và những người tuyên xưng Đức Kitô? Nếu không là ghen tức thì là lý do gì? Những người tin vào Đức Kitô thì chỉ làm điều tốt chứ có hại ai mà họ lại ghét thế? Thật là vô lý hết sức!

Tuy nhiên, họ nói gì thì cứ nói, ông Phêrô và các Tông Đồ khác vẫn hiên ngang đáp lại thẳng thắn: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm. Đức Giêsu đãbị các ông treo lên cây gỗ mà giết đi; nhưng Thiên Chúa của cha ông chúng ta đãlàm cho Người trỗi dậy, và Thiên Chúa đã ra tay uy quyền nâng Người lên, đặt làm thủ lãnh và Đấng Cứu Độ, hầu đem lại cho Ít-ra-en ơn sám hối và ơn tha tội. Vềnhững sự kiện đó, chúng tôi xin làm chứng, cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Người”.

Nghe nói vậy, họ cho gọi các Tông Đồ lại mà đánh đòn và cấm các ông không được nói đến danh Đức Giêsu, rồi thả các ông ra. Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu. Và tất nhiên các Tông Đồ không thể im lặng theo lệnh của những người có quyền lực kia.

Thật vậy, họ vẫn rao giảng về Đức Kitô dù biết khó yên thân. Và hàng ngày, cả trong Đền Thờ và tại tư gia, các ông không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng về Đức Kitô Giêsu – Đấng chịu đóng đinh, chịu chết nhưng đã phục sinh.

Vì “vô tri” mà “bất mộ”. Nhưng một khi đã biết rồi thì người ta càng thêm lòng yêu mến và không thể lặng im: “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt, không để quân thù đắc chí nhạo cười con” (Tv 30:2). Ai cũng có kinh nghiệm sống, đặc biệt là sống thật về phần linh hồn. Chỉ những người cố chấp và vô ơn mới không chịu nhận ra hồng ân của Thiên Chúa trao ban hàng ngày, từng phút và từng giây.

Chúa Giêsu phục sinh vinh hiển, nhưng người ta không muốn tin; chính người ta cũng đã và đang được cứu thoát, nhưng người ta vẫn không muốn công nhận. Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật minh nhiên, không thể phủ nhận: “Lạy Chúa, từ âm phủNgài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống. Hỡi những kẻtín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Người. Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời. Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống, hừng đông về đã vọng tiếng hò reo” (Tv 30:4-6).

Chuỗi vui-buồn-sướng-khổ hoặc chuỗi sinh-lão-bệnh-khổ – mà người ta gọi chung là “bể khổ” – chính là chuỗi cuộc đời nhân thế. Buồn khổ nhiều hơn vui sướng, nhưng người có đức tin vẫn thấy thanh thản, ngay cả khi đối diện với cái chết. Họ tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót nên họ vẫn cầu nguyện liên lỉ: “Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con, lạy Chúa, xin phù trì nâng đỡ. Khúc ai ca, Chúa đổi thành vũ điệu, cởi áo sô, mặc cho con lễ phục huy hoàng. Vì thế, tâm hồn con ca ngợi Chúa, và không hề nín lặng” (Tv 30:11-13).

Đúng như Thánh Phaolô đã xác định: “Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô” (x. Rm 8:35).

Trong trình thuật Kh 5:11-14, Thánh Gioan cho biết thị kiến về sự tôn thờ Con Chiên: “Tôi thấy, và tôi nghe tiếng muôn vàn thiên thần ở chung quanh ngai, các Con Vật và các Kỳ Mục. Số các thiên thần có tới ức ức triệu triệu. Các vị lớn tiếng hô: Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang, và muôn lời cung chúc”. Vô số các sinh vật tôn vinh và xưng tụng Con Chiên, không thể đếm nổi. Dù ngày nay con số đó chưa nhiều, chỉ là số ít so với dân số thế giới, nhưng ngày cuối cùng sẽ là đa số, có hằng hà sa số những người tin vào Đức Kitô. Con số đó đang gia tăng hàng năm, hàng tháng, và hàng ngày. Một sự thật minh nhiên!

Thánh Gioan cho biết thêm: “Tôi lại nghe mọi loài thụ tạo trên trời, dưới đất, trong lòng đất, ngoài biển khơi và vạn vật ở các nơi đó, tất cả đều tung hô: ‘Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời!’. Bốn Con Vật thưa: ‘Amen’. Và các Kỳ Mục phủphục xuống thờ lạy”. Con số những người tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót đã và đang tăng lên theo cấp số cộng, rồi theo cấp số nhân. Và chúng ta đang chứng kiến sự lạ lùng này.

Trình thuật Ga 21:1-14 cho biết về cuộc hiện ra lần thứ ba của Chúa Giêsu ở Biển Hồ Tibêria, sau khi Ngài sống lại.

Hôm đó, ông Simôn Phêrô, ông Tôma (Điđymô), ông Nathanaen (người Cana miền Galilê), các con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, họ đang ở với nhau. Ông Simôn Phêrô nói đi đánh cá. Các ông kia cũng muốn cùng đi. Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả.

Khi trời đã sáng, Đức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giêsu. Ngài hỏi: “Này các chú, không có gì ăn ư?”. Các ông nói là “không”. Ngài bảo các ông cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền thì sẽ bắt được cá. Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Ông Gioan nói với ông Phêrô: “Chúa đó!”. Vừa nghe nói vậy, ông Simôn Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.

Lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giêsu bảo các ông đem ít cá mới bắt được tới nướng. Ông Simôn Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Rồi Đức Giêsu bảo mọi người đến ăn. Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Ngài cũng làm như vậy. Như vậy là Ngài dâng Thánh Lễ ngay tại bờ biển, Chúa Giêsu thật tuyệt vời và vô cùng bình dân!

Tiếp theo, trình thuât Ga 21:1-19 cho biết mối liên kết giữa Chúa Giêsu và Giáo hội.

Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simôn Phêrô có mến Ngài hơn các anh em không. Ông thưa là “có”, và nói rõ: “Thầy biết con yêu mến Thầy”. Chối Thầy mấy hôm trước nên ông hối hận lắm. Tội to mà được Thầy tha thì còn gì bằng, thế nên ông yâu Thầy lắm. Đức Giêsu bảo ông chăm sóc chiên của Ngài. Rồi Ngài lại hỏi lại như trước, ông cũng thưa như trước. Nhưng Ngài lại hỏi ông lần thứ ba, thế nên ông hơi buồn. Lần này ông thưa rạch ròi: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy”. Đức Giêsu cũng bảo ông chăm sóc chiên của Ngài. Ôi, thật kỳ diệu, vì buổi đăng quang giáo hoàng của Phêrô rất giản dị trong khung cảnh thân mật tình Thầy trò, cũng ngay tại bờ biển. Hay quá chừng! Rõ ràng Thiên Chúa không câu nệ nghi thức chi cả. Từ nay, ngư phủ Phêrô không còn lưới cá nữa, mà chuyên lưới người.

ĐƯỢC nhiều thì ắt bị ĐÒI nhiều. Đó là sự công bằng. Và Chúa Giêsu nói với giáo hoàng tiên khởi: “Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn”. Ngài nói vậy có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Rồi Ngài bảo ông: “Hãy theo Thầy”. Và Phêrô đã theo Thầy Giêsu đến cùng, chứng minh bằng cái chết là bị đóng đinh ngược trên thập giá!

Con cá sống nhờ nước, con người sống nhờ không khí. Nước và không khí có được là nhờ hồng ân thương xót của Thiên Chúa. Thiếu nước thì cá chết, thiếu không khí thì người cũng chết. Nhưng có nước và có không khí mà cá và người cũng vẫn chết. Sinh – tử là quy luật muôn thuở. Sinh là để chết. Chết là để sống lại. Chết là ngưỡng chuyển tiếp từ cõi chết qua cõi sống. Một cuộc vượt qua ngoạn mục. Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại. Sự phục sinh của Chúa Giêsu bảo đảm cho cuộc vượt qua kiếp người của chúng ta. Thật là mầu nhiệm về sự chết và sự sống của những người tin vào Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.

Tiên tri Muhammad không sống lại. Khổng Tử không sống lại. Lão Tử không sống lại. Phật Thích Ca không sống lại. Chẳng thấy có bất kỳ ai sống lại. Nhưng CHỈ CÓ ĐỨC GIÊSU KITÔ ĐÃ SỐNG LẠI, dù bị người ta giết chết, và đúng như Ngài đã BÁO TRƯỚC. Cũng CHỈ CÓ ĐỨC GIÊSU KITÔ đi trên nước, tuyên bố là Thiên Chúa, và làm cho người khác sống lại. Chính Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết, chiến thắng Tử Thần, chiến thắng vĩnh viễn.

Thật là hạnh phúc, vì chỉ có trong Kitô giáo của chúng ta mới có Đức Kitô là Thiên Chúa, làm nhiều phép lạ chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa, và chỉ có một mình Chúa Giêsu tuyên bố Ngài “là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” và chúng ta chỉ có thể đến với Chúa Cha qua Đức Kitô (Ga 14:6). Thật hạnh phúc biết bao, vì niềm tin của chúng ta là chính đáng, không hề mơ hồ!

Cuộc đời giống như một sân khấu lớn, và ai cũng là diễn viên trên “sàn diễn cuộc đời”. Sau mỗi màn diễn, dù là phim hay kịch, chúng ta thường nhận xét về cách diễn của diễn viên có đạt hay không, chứ chúng ta không cần biết vai diễn của người đó là chính diện hay phản diện, là hoàng đế hay tướng cướp, là chủ nhân hay đầy tớ,…

Tương tự, Thiên Chúa không xét VAI DIỄN của chúng ta – là giáo sĩ, tu sĩ, hay giáo dân, giàu hay nghèo, mà Ngài chỉ xét CÁCH DIỄN của chúng ta – tức là chúng ta có sống đúng cương vị của mình và thể hiện đức ái theo Thánh Ý Chúa hay không.

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con luôn duy trì sự sống trong ơn nghĩa với Ngài, được ngụp lặn trong Dòng Tình Thương Xót của Ngài. Vâng, lạy Ngài, xin giữgìn con như thể con ngươi, và dưới bóng Ngài, xin thương che chở (Tv 17:8). Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen. Mục lục

GẮN BÓ CÁ VỊ VỚI CHÚA KITÔ

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Chấp nhận tin không có nghĩa chỉ đơn thuần là chấp nhận một giáo lý, giáo điều, một mớ luật lệ, hay những nghi thức nào đó là đủ. Ngay cả khi ta chấp nhận Hội Thánh và đi theo đường lối của Hội Thánh, thì đó cũng chưa phải là điểm mấu chốt của đức tin.

Tin trước hết là hiệp thông với Chúa Kitô, là gắn bó cá nhân cách mật thiết với Chúa Kitô.

Bởi vậy, những gì ta từng sống, từng hành động cho cái gọi là con người của tôn giáo Kitô, nhưng chưa có chiều sâu bằng cảm nghiệm nội tâm về tình yêu Chúa Kitô, mà chỉ là giữ và buộc mình phải chấp nhận luật lệ, chấp nhận giáo lý, thì giờ đây, ta hãy chỉnh đốn lại, hãy làm cho tất cả những gì ta phải giữ từ trước tới nay nằm trong tương quan tình yêu Chúa Kitô.

Thánh Gioan tông đồ là người luôn có cảm nghiệm nội tâm về tình yêu Chúa Kitô dành cho mình. Chỉ một mình thánh nhân nói lên nỗi tự hào vì được Chúa yêu trong danh xưng mà thánh nhân tự nhận: "Người môn đệ Chúa Giêsu yêu".

Chính nhờ cảm nghiệm vừa cá nhân, vừa nội tâm về tình yêu của Chúa, thánh Gioan đã nhiều lần phát hiện Đấng Phục Sinh đến với mình. Chẳng hạn, ngay trong lễ Phục sinh đầu tiên, nhìn ngôi mộ trống, trước cả những phụ nữ là những người phát hiện mộ trống, trước cả thánh Phêrô, người đã vào thăm mộ trước, thánh Gioan đã tin.

Hôm nay, cũng bằng chính cảm nghiệm nội tâm về Chúa Kitô, một lần nữa, thánh Gioan cũng lại là người phát hiện ra Chúa Phục Sinh trước các anh em mình. Sau mẻ cá đầy ắp như muốn rách tung chiếc lưới, “Người môn đệ Chúa Giêsu yêu” hãnh diện mà cả quyết: “Chúa đó”.

Cũng thế, không ai trong bạn và tôi lại cho rằng mình không có đức tin, không có lòng yêu mến Chúa.

Nhưng nói là nói như vậy. Hiểu là hiểu như thế. Trong thực tế của cuộc đời, không ít lần, bạn và tôi dường như chao đảo, dường như mất sức sống. Đức tin vào Chúa, lòng yêu mến Chúa của mình có lúc như bị đánh gục, như tuyệt vọng

Để khởi đầu cho việc cảm nhận cách cá vị về tình yêu của Chúa, mỗi người hãy chiêm ngắm Chúa Kitô trước đã. Hãy gắn bó với Chúa bằng những suy niệm về đời sống của chính Chúa, bằng lời dạy mà Chúa đã giảng dạy. Hãy học lấy tấm gương yêu mến Chúa của thánh Gioan tông đồ: yêu một cách cá vị bằng cảm nghiệm nội tâm và thâm sâu với Chúa Kitô.

Chỉ có thể cảm nghiệm tận hồn về tình yêu mà Chúa dành cho mình, và mình dành cho Chúa, thì từ nay tôi giữ đạo, tôi chấp nhận lề luật, tôi thực hiện các hành vi đạo đức, tôi sống tốt trong tương quan với mọi người… không chỉ vì luật của Chúa, của Hội Thánh dạy như thế, mà vì tình yêu của Chúa Kitô dành cho tôi, và của tôi đáp trả tình yêu ấy.

Vì tình yêu của Chúa Kitô và vì yêu mến Người, tôi thực hiện nghĩa vụ tôn thờ Thiên Chúa, tôi sống lẽ sống mà đạo dạy tôi, tôi quan tâm đến nguời xung quanh… Vì Chúa Kitô, tôi chấp nhận lề luật của Thiên chúa, và chấp nhận đường lối Hội Thánh hằng chỉ dạy tôi...

Chỉ khi nào sống trong tương quan tình yêu với Chúa Kitô, việc giữ đạo của ta mới nhẹ nhàng. Cũng giống hai người đàn ông cùng cuốc một thửa đất, nhưng một người là tù binh bị ép buộc phải lao động, còn người kia là người cha trong gia đình.

Người cha trong gia đình vì thương vợ, thương con, ông miệt mài làm việc, dù mệt nhọc nhưng ông cảm thấy vui, cảm thấy lòng thanh thản và an ủi vì nhờ bàn tay lao động của ông, gia đình ông có thể sinh sống. Ông luôn sống trong hy vọng về một kết quả tốt sẽ đến cho tương lai của gia đình ông. Càng hy vọng, ông càng vui...

Người đàng ông là tù binh chắc chắn không bao giờ có được cảm nghiệm về niềm vui mà người cha trong gia đình có được. Bởi việc ông làm không phải là tình yêu, không phát xuất từ động cơ của lòng yêu thương mà chỉ là ép buộc, là hình phạt, là đền tội, hoàn toàn không có tự do trong lao động của ông.

Cách nào đó, giữ đạo cũng gần giống như chuyện hai người đàn ông cuốc đất. Nếu tôi yêu mến Chúa, việc thực hành đạo của tôi là niềm hạnh phúc, là nhu cầu cần đáp ứng của tình yêu, do tình yêu, phát xuất từ tình yêu đối với Thiên Chúa. Nếu không có lòng yêu mến Chúa, đức tin chỉ là một gánh nặng vô cùng.

 Ta cần thay đổi tương quan giữa mình với Chúa, để đức tin của ta có một tương quan cá vị với tình yêu của Chúa. Chỉ có đức tin trong tương quan tình yêu, việc giữ đạo của ta mới là việc làm tự do, mang lại hạnh phúc, thấm đẫm yêu thương và ngày càng đi vào chiều sâu nội tâm.

 Nếu ta thay đổi tương quan tình yêu với Chúa Kitô, cuộc đời ta sẽ được nâng đỡ, được ủi an. Có đức tin trong tương quan cá vị với Chúa Kitô, ta sẽ cảm nhận một điều lớn lao: Gánh nặng của sự sống mà ta phải mang gánh trong đời có Chúa cùng sớt chia với ta..., điều mà trước đây ta chưa từng nhận ra, vì trước đây, ta đã không có tương quan cá vị với Chúa... Mục lục

TRƯỚC KHI TRUYỀN GIÁO, PHẢI BIẾT “YÊU”

Jos. Vinct. Ngọc Biển

Trước khi về trời, Đức Giêsu đã truyền lệnh cho các Tông đồ hãy đi loan báo Tin Mừng: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21). Lệnh truyền này mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, truyền giáo chính là bản chất của Giáo Hội. Hay nói cách khác, Giáo Hội của Đức Giêsu phải truyền giáo. Bao lâu Giáo Hội không còn truyền giáo, thì bấy lâu Giáo Hội đánh mất căn tính của mình. Hình ảnh mẻ cá lạ với 153 con nhưng lưới không bị rách mà Tin Mừng theo thánh Gioan hôm nay trình thuật chính là một lời mời gọi ra đi để quy tụ muôn dân và hướng tới một Giáo Hội phổ quát.

Tuy nhiên, Giáo Hội mà Đức Giêsu thiết lập và trao phó cho các Tông đồ chăm sóc, loan truyền, phải là một Giáo Hội mang trong mình tình yêu. Chính vì thế, trước khi trao cho Phêrô quyền lãnh đạo Giáo Hội, cũng như mặc khải cho các Tông đồ về sứ mạng truyền giáo qua mẻ cá lạ, Đức Giêsu đã trắc nghiệm Phêrô về lòng yêu mến của ông.

Con có yêu mến Thầy không? 

Sau khi Phục sinh, Đức Giêsu đã tỏ mình ra cho các Tông đồ trên biển hồ Tibêria và truyền lệnh cho các ông thả lưới bên phải mạn thuyền sau một đêm vất vả mà không được gì (x. Ga 21, 6). Họ đã nghe theo vị khách lạ xem ra có vẻ dày dạn về kinh nghiệm đánh bắt cá truyền bảo. Kết quả thật mỹ mãn: đó là một mẻ lưới đầy cá. Khi thấy những sự kiện lạ như vậy, Gioan đã hô lên: “Chúa đó!”. Phải chăng vì lòng mến Chúa cách đặc biệt mà ông đã nhận ra Chúa trước anh em? (x. Ga 20, 1-9).

Khi nghe Gioan nói: “Chúa đó!” các ông vào bờ và Đức Giêsu trực tiếp phục vụ các ông. Một bữa ăn tràn đầy lòng thương xót của Đấng Phục Sinh.

Sau bữa ăn, chính là phần trao ban sứ vụ lãnh đạo cho Phêrô. Nhưng trước khi trao, Đức Giêsu cất tiếng hỏi vị Tông đồ trưởng tới ba lần: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?” (Ga 21, 15a). Ông đáp: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21, 15b). Đức Giêsu nói với ông: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21, 15c). Đức Giêsu hỏi Phêrô tới ba lần như vậy là vì muốn phục hồi địa vị môn đệ của ông sau khi ông đã yếu đuối và sa ngã tới ba lần khi trối Thầy trong cuộc thương khó. Hơn nữa, Đức Giêsu muốn cho chính Phêrô hiểu rằng: lòng mến là nền tảng căn bản, quan trọng phải có của người môn đệ, bởi lẽ: “Đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại. Nhưng đức mến là quan trọng nhất” (1 Cr 13,13). Vì thế, Đức Giêsu nói tiếp với Phêrô: “Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn” (Ga 21,18). Cuộc khổ nạn mà Đức Giêsu loan báo cho Phêrô có nghĩa là: ông không còn làm chủ đời mình nữa, mà là một đời môn đệ đích thực. Ông phải trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu chịu đóng đinh. Bị kẻ khác thắt lưng còn có nghĩa là bị bắt, chịu trói và bị giết chết. Thật vậy, phải tin yêu hết lòng thì mới có sức chịu đựng được những cực hình ấy.

Phêrô đã xác tín mạnh mẽ và tin theo Đức Giêsu cách tuyệt đối, nên sau những lần trả lời đầy khiên tốn và yêu mến, Đức Giêsu đã trao phó nhiệm vụ chăn dắt Giáo Hội cho ông. Như thế: mầu nhiệm phục sinh chấm dứt cuộc đời trần thế của Đức Giêsu, thì đồng thời khai mở sứ vụ truyền giáo.

Sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội

Hình ảnh mẻ cá lạ và có tới một 153 con mà lưới không bị rách, diễn tả mầu nhiệm Giáo Hội phổ quát.

Theo các nhà động vật học của Hylạp thời bấy giờ, trên thế giới có tất cả là 153 loại cá. Mẻ cá lạ này, Thầy Giêsu mặc khải cho các ông thấy rằng: công cuộc loan báo Tin Mừng dưới quyền lãnh đạo của Phêrô phải được các ông loan đi tới tận cùng trái đất, cho hết mọi người, để mọi người được ơn cứu chuộc.

Nếu hình ảnh 153 con cá tượng trưng cho sứ mạng của người môn đệ, thì hình ảnh chiếc lưới lành lặn không bị rách mặc dù cá nhiều đến như vậy là tượng trưng cho một Giáo Hội của Đức Giêsu luôn đứng vững trước mọi cạm bẫy của “ba thù”. Mặt khác, dù nhiều chủng loại, ngôn ngữ và văn hóa khác nhau, thì vẫn là cộng đồng duy nhất trong một chiếc lưới của Thiên Chúa dưới vị lãnh đạo của Phêrô; vẫn là một Chủ Chăn và một đoàn chiên duy nhất.

Khi truyền lệnh cho Phêrô thả lưới bên phải thuyền, ông đã vâng lời và kết quả đã thành công. Sự kiện này cho thấy, viễn tượng truyền giáo của Giáo Hội có thành công hay không nhờ vào việc vâng phục thánh ý Thiên Chúa và trung thành với lời hứa của Ngài. Chính thánh nhân cũng đã quả quyết cách khẳng khái khi bị quan tòa tra hỏi: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm” (Cv 5,29). Khi vâng lời trong lòng mến, các ngài đã “hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” (Cv 5, 41). 

Đây cũng chính là nền tảng sứ mạng tông đồ của chúng ta sau khi được Chúa gọi vào làm “vườn nho của Ngài”.

Sứ điệp cho chúng ta ngày hôm nay

Đức Giêsu đã trao phó cho Phêrô nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Ngài vì ông đã vâng lời, khiêm tốn, tin tưởng và yêu hết lòng. Chúa trao cho ông vì chính Ngài cũng tin tưởng và yêu mến ông tha thiết.

Còn chúng ta ngày hôm nay thì sao? Gẫm lại lịch sử đời chúng ta: hẳn ai cũng thấy có biết bao lần mình sa ngã phạm tội, nhưng có khi không hề nói lên lời sám hối, hoặc sám hối hời hợt cho qua! Phải chăng lòng mến của chúng ta chưa đủ mạnh như Phêrô để một lần cho cả đời?

Hôm nay, Chúa cũng trao phó cho mỗi chúng ta sứ mệnh loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Hãy loan tin ấy tới tận cùng trái đất. Đây là trách nhiệm của mỗi chúng ta khi đã lãnh nhận và cảm nghiệm được tình yêu ấy trong cuộc đời, để rồi sứ vụ loan báo Tin Mừng của người môn đệ luôn gắn liền với Thập Giá và những hy sinh, vất vả, cô đơn, hiểu lầm, và, ngay cả cái chết như Phêrô để làm chứng cho Thiên Chúa là Tình Yêu. Hình ảnh 153 loài cá là lời mời gọi ra đi truyền giáo cách tha thiết tới mỗi người chúng ta.

Như vậy, sứ mạng truyền giáo đòi hỏi mỗi người chúng ta phải vượt ra khỏi chính mình để loại bỏ những bon chen, cố chấp, hẹp hòi, nghi kỵ và sợ sệt, để biết thích ứng với từng hoàn cảnh như văn hóa, truyền thống, thiếu thốn, bệnh tật trong khi loan báo Tin Mừng…

Xin Chúa ban sức mạnh cho chúng ta và các thừa sai của Chúa trên cách đồng truyền giáo bao la ngàn trùng, để các ngài ra đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh đến tận cùng trái đất. Xin cũng cho chúng ta đón nhận tất cả mọi thử thách trước, trong và sau khi loan báo Tin Mừng với tâm niệm rằng: vì lòng mến Chúa, xin cho con đón nhận tất cả, bởi vì tần số của tình yêu là yêu không giới hạn.

Nếu được như thế, chúng ta hãy đáp lại lời mời gọi của Đức Giêsu dành cho Phêrô khi xưa: “hãy theo Thầy” và cùng Thầy lên đường…? 

Đây chính là sứ điệp mà Đức Giêsu muốn gửi đến cho các Tông đồ trong lần thứ 3 Ngài tỏ mình ra cho các ông, kể từ sau khi trỗi dậy từ cõi chết và cũng là sứ vụ được trao phó cho chúng ta hôm nay. Amen. Mục lục

Hãy Theo Thầy

(Suy niệm Ga 21.1-19)

Hôm nay Chúa lại hiện ra,

Khác hai lần trước (tại nhà hội chung)

Lần này, bãi biển mênh mông,

Chỉ nơi lưới cá, rồi cùng nướng ăn…

Nhận ra dấu chỉ tình thân

Qua bao sự việc dần dần diễn ra.

Cuối cùng, Chúa bảo: Theo Ta…

Trở về tiếp tục việc Cha trên Trời.

Phêrô được cử thay Người,

Chăn đoàn chiên Chúa chớ rời tình thương.

Bao nhiêu môn đệ theo gương,

Tin Mừng rao giảng, coi thường khó nguy.

Tin lời Chúa sai ta đi…

Chúa luôn hiện diện chẳng kỳ ngày đêm.

Trong lòng Giáo Hội triền miên,

Và lòng tín hữu: niềm tin vững vàng. Mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan