SUY NIỆM CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH_C

08-05-2019 202 lượt xem

(Cv 13,14.43-52; Kh 7,9.14-17;Ga 10,27-30)

Mục Lục

ĐẤNG QUY TỤ MUÔN DÂN - + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

ƠN GỌI TRONG LÒNG GIÁO HỘI - Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long

TẬN HIẾN CHO ĐOÀN CHIÊN - JM. Lam Thy ĐVD.

ĐỨC GIÊSU - MỤC TỬ ĐẦY LÒNG THƯƠNG XÓT - Tu sĩ: Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.

MỤC TỬ TỐT LÀNH VỚI 3 CHỮ D Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

XEM QUẢ BIẾT CÂY - Trầm Thiên Thu

MỤC TỬ NHÂN LÀNH HIẾN MẠNG VÌ CHIÊN - Lm. Ant. Nguyễn Văn Độ

Thơ: CHÚA CHIÊN - Trầm Thiên Thu

LINH MỤC - MỤC TỬ - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Thơ: NGHE & THEO - Thế Kiên Dominic

x. SỨ ĐIỆP NGÀY CẦU CHO ƠN GỌI 2019

ĐẤNG QUY TỤ MUÔN DÂN

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Kinh Thánh Cựu ước thường trình bày Thiên Chúa như Đấng quy tụ muôn dân, vì Ngài là Đấng Sáng tạo muôn loài muôn vật. Ngài dựng nên con người và không ngừng chăm sóc như một người Cha. Thiên Chúa là Cha của gia đình nhân loại, một gia đình bao gồm nhiều sắc tộc và ngôn ngữ, nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, nhưng tất cả đều là anh em một nhà.

Thiên Chúa vừa là Cha, vừa là Mẹ đối với con người. Là Cha, Ngài hướng dẫn nhân loại với cánh tay mạnh mẽ uy quyền. Là Mẹ, Ngài bao bọc chở che với tình thương yêu dịu dàng. Chúa đã nói qua ngôn sứ Isaia: “Israel nói: ‘Chúa quên tôi rồi! Nào người mẹ có thể quên con mình được chăng? Nếu như có người mẹ nào quên con đi nữa, thì Ta cũng sẽ không quên ngươi!”. Tình thương yêu bao bọc của Chúa cũng giống như gà mẹ ấp ủ gà con, che chở con trước cuộc tấn công của sự dữ.

Giáo lý Công giáo dạy: Thiên Chúa là Đấng sáng tạo. Hôm nay, Ngài vẫn đang tiếp nối công trình sáng tạo đó bằng sự quan phòng yêu thương dìu dắt che chở giữ gìn. Nếu Ngài không chăm sóc và giữ gìn, vũ trụ này sẽ trở về thời hỗn mang, giống như tình trạng trước khi Chúa thực hiện công trình sáng tạo. Người tín hữu luôn nhận ra sự quan phòng yêu thương đó, để tôn vinh, cảm tạ và cầu xin Chúa ban cho mọi ơn lành, đồng thời họ cố gắng để tuân giữ những gì Chúa dạy.

Thiên Chúa là Đấng quy tụ muôn dân, điều đó được diễn tả qua hình ảnh một mục tử. Các ngôn sứ, đặc biệt là ngôn sứ Edêkien và Giêrêmia, nhấn mạnh tới hình ảnh này. Mục tử và đoàn chiên, sói dữ và người chăn thuê, đồng cỏ và suối mát… đó là những điều rất quen thuộc đối với bất kỳ người Do Thái nào. Qua giáo huấn của các ngôn sứ, chính Thiên Chúa nhận mình là một mục tử. Ngài săn sóc đoàn chiên, nhất là đối với các con chiên ốm đau hoạn nạn.

Sau khi đã long trọng mừng lễ Phục Sinh, Phụng vụ Chúa nhật thứ bốn diễn tả Đấng Phục sinh như một mục tử. Vị mục tử ấy đã quên mình vì chiên, đã hy sinh mạng sống mình để đàn chiên được cứu rỗi. Tiếp nối giáo huấn của Cựu ước, Chúa Giêsu sử dụng hình ảnh mục tử và đàn chiên, khi Người khẳng định: “Tôi là Mục tử nhân lành”. Trong tiếng Hy Lạp, “Mục tử nhân lành” cũng có nghĩa “Mục tử đích thực”. Nơi Đức Giêsu, có đủ những đức tính tốt của một mục tử, nhất là sự hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Khi Chúa Giêsu bị bắt trong vườn Cây Dầu, trước một đám đông lính tráng hằm hằm sát khí, Người nói với họ: “Vậy nếu các anh tìm tôi, thì hãy để cho những người này đi”. Tác giả Tin mừng còn thêm lời chú giải: ‘Thế là ứng nghiệm lời Đức Giêsu đã nói: ‘Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai’ (Ga 18, 8-9). Đây chính là nét đẹp của một mục tử đích thực.

Cái chết của Chúa Giêsu đã quy tụ muôn dân. Đó cũng là điều Thượng tế Caipha đã nói. Dưới cái nhìn của tác giả Gioan, câu nói của thày Thượng tế mang tính tiên tri (x.Ga 11,51). Qua cái chết của Người, Thiên Chúa sẽ quy tụ mọi con cái tản mác khắp nơi về một mối. Điều ấy đã được thực hiện ngày hôm nay, khi Tin Mừng Phục sinh được loan báo cho toàn thế giới. Cây thập giá như cánh tay dang rộng ôm lấy vũ trụ, nơi đó con mọi người thuộc mọi sắc tộc khác nhau.

Chúa Giêsu là Mục tử. Những ai tin Chúa sẽ trở nên con chiên trong đàn chiên của Người. Ngay từ thuở ban đầu, các tông đồ nghĩ rằng chỉ có người Do Thái mới có thể trở lại làm Kitô hữu. Với thời gian, các ông hiểu rằng Tin Mừng Phục sinh không chỉ dành cho dân tuyển lựa, vì Đức Giêsu là ánh sáng muôn dân, và ơn cứu độ nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh của Người được ban cho mọi dân tộc. Mặc dù các tông đồ gặp nhiều chống đối từ phía người Do Thái, các ông vẫn vững một niềm tin, mạnh dạn can đảm rao giảng Đức Giêsu Phục sinh, nhờ vậy mà cộng đoàn những người tin Chúa phát triển nhanh chóng. Chính sự ngăn cản của người Do Thái đã gợi hứng cho các Tông đồ vượt ra ngoài ranh giới Do Thái và đến với dân ngoại. Hai ông Phêrô và Barnaba khẳng định: “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại”.

Khi so sánh cộng đoàn Giáo Hội với đàn chiên, Chúa Giêsu mong muốn quy tụ chúng ta trong tình hiệp nhất. Người cũng muốn chúng ta lắng nghe giáo huấn của Người. Giáo huấn của Người đem cho chúng ta hạnh phúc, như mục tử dẫn đưa đàn chiên tới đồng cỏ xanh, suốt mát lành. Người cũng là Đường, là Sự thật và là Sự sống đem lại hạnh phúc đời này và đời sau cho những ai tin vào Người. Mục lục.

ƠN GỌI TRONG LÒNG GIÁO HỘI

Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long

Xưa nay chúng ta thường hiểu những người đi tu làm linh mục hay Tu Sĩ Nam Nữ trong các Hội Dòng là những người có ơn Kêu Gọi hay được Chúa kêu gọi tuyển chọn.

Vậy Ơn kêu gọi là gì?

Bây giờ nếu có ai hỏi, phải cắt nghĩa ơn kêu gọi như thế nào cho những người Trẻ hiểu rõ, có lẽ không có một định nghĩa giống như một công thức trắng đen rõ ràng nào.

Vì ơn kêu gọi không phải là một đơn từ, một bài viết ra cho người đọc, người xem chấp nhận hay không chấp nhận. Nhưng Ơn kêu gọi là tiếng mời gọi âm thầm hầu như linh thiêng vang lên từ trong tâm hồn mỗi người.

Nếu có ai hỏi, thế tiếng mời gọi đó vang vọng phát ra âm thanh trong tâm hồn con người như thế nào và vào lúc nào?

Điều này cũng không có thể nói diễn tả ra đơn giản bằng ngôn ngữ hay chữ viết con số được. Vì tiếng mời gọi vang vọng trong tâm hồn không thành tiếng nghe được bằng thính gíac của đôi tai. Nhưng cảm nghiệm nhận ra được trong trái tim tâm hồn.

Phải, tiếng mời gọi truyền đi qua cảm nhận trong làn rung động của trái tim, hay từ tầng thần kinh cảm gíac. Và tiếng mời gọi đó xảy đến bất chợt không theo một thời gian nhất định nào.

Như thế, có thể hiểu là ơn kêu gọi vang lên rồi cứ thế triển nở khắc ghi trong tâm hồn người đó mãi mãi sao?

Không hẳn là như thế đâu. Vì như hạt giống gieo vãi xuống đất, có hạt gặp nền đất tốt, có nước, có ánh sáng mặt trời chiếu xuống cùng được chăm sóc vun xới, sẽ mọc lên thành cây sinh hoa kết trái tươi tốt. Trái lại, nếu thiếu những điều kiện căn bản đó, hạt giống sẽ mai một chết lịm dần đi.

Với tiếng mời gọi cũng tương tự như thế. Những điều kiện ngoại cảnh về môi trường giáo dục đào tạo, môi trường đời sống gia đình, nếp sống văn hóa lành mạnh, cùng nếp sống đạo đức giúp tiếng mời gọi phát triển lớn lên thành ơn kêu gọi phát triển đứng vững giữa dòng đời sống.

Trong dân gian có suy tư: Ánh sáng mặt trời chiếu tỏa hơi nóng nồng ấm. Còn gío thổi thì mang đến hơi lạnh. Vì thế bầu khí sinh sống, sự vun xới chăm sóc nếp sống đạo đức nơi gia đình, nơi xứ đạo tựa như ánh sáng mặt trời chiếu tỏa hơi nóng cần thiết cho mầm ơn kêu Gọi nảy sinh phát triển.

Ơn kêu gọi cần phải được vun trồng chăm sóc theo hướng tinh thần cùng đào tạo vươn tới Thiên Chúa, là Đấng kêu gọi, và hướng tới căn bản đời sống tình người, không chỉ cho hôm qua hôm nay mà còn phải liên tục mãi cho ngày mai.

Ngày xưa trong thời Cựu ước, Thiên Chúa kêu gọi cá nhân từng người, như Thánh Tiên tri Maisen, Thánh tiên tri Isaia, Edechiel làm sứ gỉa loan báo ý muốn của Ngài cho mọi con người.

Chúa Giêsu đến, Ngài kêu gọi hoặc từng người, như các Thánh Tông đồ Phero, Phaolo, Andre, Toma, Giacobe…là những người tin đi theo làm chứng nhân sứ gỉa cho phúc âm Chúa giữa dòng đời sống xã hội. Trải qua dòng thời gian luôn có những người, những Bạn Trẻ lớn lên đã cảm thấy có tiếng thôi thúc trong tận tâm hồn về một đời sống trong nhà Dòng, trong Chủng viện ở các Giáo phận về đời sống dấn thân cho việc làm chứng rao truyền tình yêu Nước Chúa ở trần gian trong lòng Giáo Hội. Đó là tiếng Chúa kêu gọi thôi thúc trái tim tâm hồn họ.

Hằng năm vào ngày Chúa Nhật 4. mùa phục sinh, còn gọi là Chúa Nhật Chúa chiên lành, năm nay vào ngày 17.04.2016, là ngày cầu nguyện cho ơn kêu Gọi Linh mục, Tu sỹ Nam Nữ trong các Hội Dòng trong lòng Giáo Hội Công Giáo.

Hãng xưởng, nhà máy sản xuất cần những thợ nhân công làm việc, nhưng họ cần hơn những vị kỹ sư hoạch định thiết kế công việc chế tạo. Cũng tương tự như vậy trong đời sống Giáo Hội. Lẽ dĩ nhiên, không dám cùng không được phép nói hay nghĩ cho rằng người tín hữu Chúa Kitô là những người thợ làm việc còn các Linh mục tu sỹ là những kỹ sư…

Không, không, không đâu. Mọi người trong Giáo Hội Chúa đều là những tín hữu Chúa Kitô như nhau. Nhưng mỗi người có bổn phận trách vụ khác nhau trong cánh đồng vườn nho của Giáo Hội Chúa ở trần gian.

Vì thế trong lòng Giáo Hội có những ơn Gọi khác nhau. Và Ơn kêu gọi cũng như đời sống của con người là con đường sống trải dài từ hôm qua sang ngày mai.

„Ơn gọi được nảy sinh ngay trong lòng Giáo Hội. Từ khoảnh khắc một ơn gọi bắt đầu trở nên rõ ràng, ơn gọi ấy cần phải có “cảm thức” về Giáo Hội. Không ai được kêu gọi để dành riêng cho một vùng riêng biệt, hay cho một nhóm hoặc một phong trào nhưng là dành cho Giáo Hội và thế giới…

Ơn gọi lớn lên trong lòng Giáo Hội. Trong quá trình đào tạo, cáo ứng viên với những ơn gọi khác nhau cần học hỏi kiến thức về cộng đoàn Giáo Hội, vượt qua những giới hạn lúc đầu. Để khi kết thúc, họ nên cùng nhau thực hiện những trải nghiệm tông đồ với những thành viên khác của cộng đoàn, chẳng hạn như: cùng theo một khóa giáo lý, trao đổi các thông điệp Giáo Hội, gặp gỡ liên hội dòng, chia sẻ trải nghiệm việc truyền giáo tại các vùng ngoại vi, chia sẻ đời sống tu viện, khám phá nguy cơ đưa đến cám dỗ; liên hệ với các vị thừa sai để đào sâu hơn về sứ vụ đến với muôn dân; và trong cộng đoàn các linh mục giáo phận, để đi sâu vào kinh nghiệm đời sống mục vụ giáo xứ và giáo phận. Đối với những ai đã sẵn sàng cho việc đào tạo, cộng đoàn Giáo Hội luôn là môi trường đào tạo cơ bản.“ Đức Giáo Hoàng Phanxico, Sứ điệp ngày Thế Giới Ơn Gọi 2016: “Ơn gọi được sinh ra trong lòng Giáo Hội“. Mục lục.

TẬN HIẾN CHO ĐOÀN CHIÊN

JM. Lam Thy ĐVD

Trong Sứ điệp Ngày Thế Giới Ơn Gọi 2015, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô viết: “Chúa nhật thứ 4 mùa Phục Sinh trình bày cho chúng ta hình ảnh vị Mục Tử nhân lành biết rõ các chiên của mình, kêu gọi, nuôi dưỡng và dẫn dắt chúng. Trong Chúa Nhật này, từ hơn 50 năm nay, chúng ta cử hành Ngày Thế giới cầu cho ơn gọi. Mỗi lần Ngày này đều nhắc nhớ chúng ta về tầm quan trọng của việc cầu nguyện, để, - như Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ, - “xin chủ mùa gặt sai nhiều thợ đến làm việc trong mùa gặt của Người” (Lc 10, 2)... Như thế, lắng nghe và theo tiếng Chúa Ki-tô Vị Mục Tử nhân lành, để cho mình được Chúa thu hút và dẫn dắt, dâng hiến chính cuộc sống của mình cho Chúa, có nghĩa là để cho Chúa Thánh Linh dẫn đưa chúng ta vào trong năng động truyền giáo, khơi dậy nơi chúng ta ước muốn và lòng can đảm vui mừng hiến dâng cuộc sống chúng ta, dành cuộc sống để phục vụ chính nghĩa Nước Thiên Chúa.”

Bài Tin Mừng hôm nay (CN IV/PS-C – Ga 10, 27-30) trình thuật câu chuyện một đám người Do Thái cố tình dồn Đức Giê-su vào một thế kẹt để họ dễ dàng lên án Người. Lúc đầu chỉ là câu hỏi như kiểu nêu thắc mắc đòi được giải đáp (“Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin ông nói công khai cho chúng tôi biết.” – Ga 10, 24). Trước đó, khi nghe Đức Ki-tô nói: “Tôi chính là mục tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga 10, 14-15), thì đám người Do Thái này đã nói: "Ông ấy bị quỷ ám và điên khùng rồi! Nghe ông ấy làm gì?" (Ga 10, 20). Đức Giê-su quá hiểu mục đích của đám người này không phải muốn được giải tỏa thắc mắc, để họ có thể tin vào Đức Giê-su chính thực là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật; mà thực sự họ chỉ muốn nhân cơ hội kết án Người là phạm thượng, rồi ném đá Người (Ga 10,31-33).

Vì thế, khi trả lời họ, Đức Ki-tô đã nhấn mạnh: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi.” (Ga 10,25-26). Sau khi xác định đám người Do Thái không thuộc đoàn chiên của mình, Đức Giê-su lại tiếp tục nói về đoàn chiên mà Người thương mến: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chua Cha là một.” (Ga 10,27-30). Người đã lấy hình ảnh rất dễ thương của đàn chiên để chỉ những môn đệ và những kẻ tin theo Lời Người; đồng thời Người cũng xác định chính Người là Đấng chăm lo chăn dắt đàn chiên đó – Người chính là vị Chúa Chiên nhân lành.

Hiểu sâu vào vấn đề, thì vị Mục Tử nhân lành ấy được Chúa Cha sai đi chăn dắt đoàn chiên về đường linh thiêng, nên còn gọi là linh mục, và chính Đức Ki-tô là Linh Mục Thượng Phẩm, Linh Mục Duy Nhất như Tông huấn Ki-tô Hữu Giáo Dân (Ch. I, số 14) đã viết: “Thánh Au-gus-ti-nô viết: ‘Cũng như chúng ta tất cả được gọi là Kitô-hữu (Christiani) vì đã được xức dầu (Chrisma) một cách thiêng liêng, do đó tất cả được gọi là linh mục, bởi vì chúng ta là thành phần thân thể của Linh Mục Duy Nhất’ (De Civitate Dei - XX, 10)." Về lý thuyết thì tất cả mọi Ki-tô hữu đều là linh mục (tư tế cộng đồng), nhưng thực tế để có thể điều hành hoạt động của Giáo hội, thì lại rất cần có hàng ngũ những người trực tiếp thừa kế (tư tế thừa tác) sứ vụ của Linh Mục Duy Nhất Giê-su Ki-tô, thông qua Bí tích Truyền Chức ("Danh từ "hàng Linh Mục" đươc chọn với mục đích để chỉ định toàn thể hàng ngũ Linh Mục. Chúa Giê-su đã cho toàn thể Dân Chúa tham dự vào chức linh mục của Người nhưng Người còn muốn thiết lập những "thừa tác viên" của Người, những người này nhờ bí tích Truyền Chức được quyền dâng thánh lễ, quyền tha tội và thực hành chức vụ linh mục nhân danh Chúa Ki-tô." – Sắc lệnh "Chức vụ và đời sống các linh mục", số 2).

Hai chức vụ “tư tế thừa tác” và “tư tế cộng đồng” quan hệ khăng khít với nhau, chức vụ này vừa là tiền đề vừa là kết quả của chức vụ kia và ngược lại. Lý do cũng dễ hiểu: không thể có những phần tử lãnh nhận chức vụ tư tế thừa tác nếu không có hàng ngũ tư tế cộng đồng, ngược lai hàng ngũ tư tế cộng đồng muốn không bị khủng hoảng để đi đến tan rã, cũng rất cần thiết phải có người trông coi, chăm sóc, đó là những tư tế thừa tác. Nói cụ thể hơn, không có Giáo dân (đoàn chiên của Chúa) thì không thể có Linh mục, mà không có Linh mục thì đoàn chiên sẽ bị tan vỡ ngay. Tư tế cộng đồng (Giáo dân) hay tư tế thừa tác (Linh mục) thì cũng đều là con người, mà nói về con người thì “nhân vô thập toàn”, không một cá nhân nào được thập phần hoàn hảo, có ưu điểm thì cũng có khuyết điểm, đó cũng là lẽ tất nhiên.

Trong  đoàn chiên của Chúa có rất nhiều những con chiên ngoan hiền dễ thương, biết vâng nghe lời chủ, thì cũng không thiếu những con chiên lạc đàn, chạy theo bầy sói dữ, thậm chí còn quay lại chống trả và giết hại cả chủ chăn (mục tử). Cũng vậy, trong hàng ngũ mục tử – những thừa tác viên kế nghịêp Mục tử nhân lành Giê-su Ki-tô – có rất nhiều những mục tử xứng đáng với vai trò và trách vụ của mình đã được chính Đức Ki-tô trao phó trong bữa Tiệc Ly ("Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en." – Lc 22,29-30); nhưng cũng vẫn còn những mục tử bất trung, phạm những lỗi lầm nghiêm trọng, như "Thư của Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI gởi các linh mục nhằm thiết lập năm linh mục" ngày 16/6/2009, viết: "Bất hạnh thay, cũng tồn tại những hoàn cảnh, không bao giờ lấy làm tiếc đủ, mà chính Giáo Hội phải chịu vì sự bất trung của một số thừa tác viên của mình. Và đối với thế giới, đó là một cái cớ gương mù và khước từ” (xc. "Thư đề ngày 20/3/2010 của ĐGH Bê-nê-đic-tô XVI gửi Giáo Hội Ai-len" v/v một số linh mục xâm phạm tình dục trẻ em).

Nói chung, hàng ngũ mục tử cũng như hàng ngũ con chiên đều không thoát khỏi cảnh có những mục tử xấu, những con chiên ghẻ làm gương mù và khước từ ân sủng của Thiên Chúa. Người tín hữu không quá lạc quan để cho rằng đoàn chiên của Chúa cũng như những vị mục tử thừa kế sứ vụ của Đức Giê-su Ki-tô, tất cả đều tốt lành, hoàn hảo; nhưng đồng thời cũng không quá bi quan để cho rằng tất cả đều xấu. Vâng, “Trong Giáo Hội luôn có một ý thức mới mẻ và phấn khởi về sự cao cả của ân huệ của Thiên Chúa, được cụ thể hóa nơi những hình ảnh sáng ngời của những mục tử quảng đại, những tu sĩ rực cháy tình yêu đối với Thiên Chúa và các linh hồn, những vị linh hướng sáng suốt và kiên nhẫn" (xc. “Thư thiết lập Năm Linh Muc 2009”).

Bài Tin Mừng CN tuần trước (CN.III/PS-C) trình thuật về phép lạ “Mẻ cá lớn” có một chi tiết rất đáng lưu ý, đó là: Sau phép lạ, Đức Giê-su hỏi thánh Phê-rô ba lần liền "Simon, con ông Gio-an, con có yêu mến Thầy không?" Ba lần chỉ với một câu hỏi, khi nghe Phê-rô trả lời câu đầu tiên thì Đức Giê-su nói "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy" (Ga 21,15). Điều này cho thấy Đức Ki-tô muốn thánh Phê-rô với tư cách mục tử hãy chăm sóc đàn chiên con. Nếu đã có “chiên con” (giáo dân). thì tất nhiên phải có “chiên mẹ” (linh mục), nên hai lần sau, Đức Giê-su chỉ nói ngắn gọn: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21,17). Đức Ki-tô muốn thánh Phê-rô trông coi cả đoàn chiên (trong đó có chiên mẹ và chiên con), tức là trông coi cả Giáo hội như Người Mục Tử Nhân Lành đã làm ("Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt." – Is 40,11).

Có lẽ vì trong ràn chiên Giáo hội có cả chiên mẹ (linh mục) và chiên con (giáo dân) nên giáo dân Việt Nam thường dùng tiếng “cha” để gọi các linh mục; mặc dù Chúa dạy không được gọi ai bằng cha hay bằng thầy, vì chỉ có một người Cha duy nhất ở trên trời, và chỉ có một người Thầy duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô (Mt 23,8-10). Với tiếng cha thân thương dành cho các linh mục như vậy, giáo dân VN luôn mong mỏi các linh mục hãy coi đoàn chiên như con cái, đồng thời hãy coi mình có bổn phận và trách nhiệm của bậc cha mẹ, mà chăm sóc, bảo vệ đoàn chiên. Tuy nhiên, từ cái ưu điểm ấy, cũng nảy sinh những hạn chế. Đó là giáo dân vì gọi linh mục là cha, nên mang một mặc cảm tự ti, luôn e dè – thậm chí sợ hãi – mà không dám gần gũi, cộng tác, sẻ chia trong sứ vụ chung; đồng thời về phía linh mục, cũng có một số tự cao, tự đại coi mình là "cha thiên hạ", không thèm lắng nghe ý kiến từ giáo dân, thậm chí còn coi mình là nhân vật "bất khả xâm phạm, bất khả thay thế" nữa. Số người ấy (từ cả hai phía giáo dân và linh mục) tuy không nhiều, nhưng không phải là không có.

Tóm lại, “Lắng nghe và đón nhận tiếng gọi Chúa không phải là một vấn đề riêng tư và duy nội tâm, có thể bị lẫn lộn với cảm xúc nhất thời; trái lại đó là một dấn thân cụ thể, thực tế và trọn vẹn, bao trùm trọn cuộc sống của chúng ta, đặt cuộc sống ấy phục vụ cho việc xây dựng Nước Chúa trên trái đất này. Vì thế, ơn gọi Ki-tô, được ăn rễ sâu nơi sự chiêm ngắm trái tim của Chúa Cha, đồng thời thúc đẩy dấn thân liên đới giải thoát những người anh chị em, nhất là những người nghèo khổ nhất. Người môn đệ của Chúa Giê-su có con tim rộng mở đối với chân trời vô tận của Chúa và sống thân mật với Chúa, không bao giờ họ trốn chạy cuộc sống và thế giới, nhưng trái lại, “họ sống theo tình hiệp thông truyền giáo” (E.G. 23).” (Sứ điệp của ĐTC Phan-xi-cô nhân ngày Thế giới cầu cho Ơn Gọi – 26/4/2015).

Ý thức được vấn đề, người Ki-tô hữu hãy cầu xin cho mọi thành phần của Giáo hội sống đúng và sống trọn vẹn vai trò của mình: Ai được chọn làm mục tử thì luôn luôn phải là người mục tử tốt lành theo gương Mục Tử Nhân Lành Giê-su Ki-tô; còn đoàn chiên con phải luôn biết đoàn kết thương yêu nhau, cùng nghe theo tiếng nói đích thực của vị Mục Tử Nhân Lành Giê-su thông qua các mục tử trong ràn chiên Giáo hội, để ai nấy đều được sống và sống dồi dào Tình Yêu của Chúa Chiên Lành Giêsu-Kitô. Chỉ có như thế mới đổi mới được cuộc đời, “giải thoát nó khỏi bóng tối sự dữ” như lời dạy của ĐTC Phan-xi-cô trong bài Giáo Lý thứ hai về Năm Đức Tin (ngày 10/4/2013): “Là một Ki-tô hữu không chỉ là tuân giữ các giới răn, nhưng có nghĩa là sống trong Đức Ki-tô, suy nghĩ như Người, hành động như Người, yêu như Người; có nghĩa là để Người làm chủ cuộc đời chúng ta và thay đổi nó, biến đổi nó, để giải thoát nó khỏi bóng tối sự dữ và tội lỗi.” Ước được như vậy. Amen. Mục lục.

ĐỨC GIÊSU - MỤC TỬ ĐẦY LÒNG THƯƠNG XÓT

Tu sĩ: Giuse – Vinh Sơn Ngọc Biển, S.S.P.

Nói đến mục tử và đàn chiên, hẳn người Công Giáo không còn cảm thấy xa lạ về khái niệm và cách gọi. Tuy nhiên, để hiểu và biết cách thấu đáo, có lẽ chưa được chính xác, thiết thực cả về vai trò mục tử lẫn bổn phận của con chiên! Vì thế, Giáo Hội mỗi năm một lần, dành riêng Chúa Nhật thứ IV Phục Sinh, để mời gọi mọi thành phần ý thức về sứ vụ của mình trong vai trò và nhiệm vụ riêng biệt, ngõ hầu làm toát lên những nét tiêu biểu của vai trò mục tử và đàn chiên.

Để làm sáng tỏ bản chất thiêng thánh, chúng ta cần khởi đi và bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, vị Mục Tử Tối Cao, nhất là vai trò, sứ vụ Mục Tử nơi Thầy Giêsu.

Thiên Chúa là Mục Tử của dân Người

Hình ảnh Vị Mục Tử Nhân Lành, đầy lòng thương xót được khởi đi từ thời Cựu Ước, qua việc Thiên Chúa luôn chăm sóc, giữ gìn và bảo vệ dân của Người. Thánh Vịnh 23 đã thốt lên niền vinh dự và an tâm khi được Thiên Chúa bảo vệ: “Đức Giavê là Mục Tử tôi. Tôi không còn thiếu gì. Dù phải đi qua thung lũng tối đem. Tôi cũng không hề lo sợ” (x. Tv 23,1-6). Qua sự cảm nghiệm trên, tác giả Thánh Vịnh cho thấy: Giavê Thiên Chúa trở thành Mục Tử của dân Israel, Người yêu thương và chăn dắt dân của Người.

Hình ảnh và sứ mạng của người mục tử cũng được trao phó cho các vị lãnh đạo thời bấy giờ, để họ thay quyền Thiên Chúa, lo quản trị, nhắc nhở và nêu gương sáng cho dân.

Tuy nhiên, thật đáng buồn vì các mục tử thời đó đã làm cho dân phải đau đớn vì họ không sống đúng vai trò của mình! Điều này đã được Tiên tri Ezekiel quở trách thật nặng nề: “Hỡi các mục tử của Israel, các ngươi đã bị băng hoại rồi! Các ngươi chỉ biết lo cho bản thân mình chứ chẳng hề nghĩ đến bầy chiên... Các ngươi chẳng chăm sóc những con yếu đuối, chữa lành những con bệnh hoạn, băng bó những con bị thương tích, dẫn về những con lệch đường, hoặc tìm kiếm những con bị lạc mất. Vậy hỡi các chủ chăn, hãy nghe đây, Ta, vị Chủ Tể tối cao, Ta tuyên bố rằng... Ta sẽ tách bầy chiên ra khỏi các ngươi... Ta sẽ giao chúng cho một vị vua giống như Đavít tôi tớ Ta để làm mục tử của chúng và Người ấy sẽ lo lắng chăm sóc chúng” (x. Ez 34,2-4.9-10.23).

Sang thời Tân Ước, Đức Giêsu đã trở thành hiện thân Mục Tử mà Cựu Ước đã tiên báo. Nhưng về cung cách thì hoàn toàn khác. Vì thế, chính Ngài đã tuyên bố: “Tôi là Mục Tử Nhân Lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (x. Ga 10, 27); “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (x. Ga 10, 10), chứ không như những mục tử chỉ biết lo cho mình mà không đoái hoài đến đàn chiên đã được trao phó.

Quả thật, suốt cuộc đời, Đức Giêsu luôn chú tâm đến việc dạy dỗ, chữa lành, băng bó những con chiên đau ốm, ghẻ lở; dẫn về những con chiên đi lạc; phục hồi những con mất nhân cách; và cuối cùng, hiến tế chính mình cho chiên, để chúng được sống trong niềm vui và hạnh phúc viên mãn. Qua sự hiến dâng như thế, Đức Giêsu đã trao ban chính sự sống thần linh, tức là sự sống đời đời cho chiên của mình (x. Ga 10,28).

Như vậy, nơi cuộc đời và sứ vụ, Đức Giêsu đã phản ánh rõ nét Lòng Thương Xót của chính Thiên Chúa ngang qua lòng dạ nhân từ, bao dung và tha thứ của Ngài.

Kết thúc cuộc đời tại thế, Đức Giêsu đã trao phó vai trò mục tử cho các Tông đồ và những người kế vị. Để hành vi thương xót của Thiên Chúa ngang qua đời sống và cung cách của các vị trung gian được tiếp tục tiếp diễn cho đến ngày mọi người đều có một Chủ Chiên duy nhất là chính Thiên Chúa và tất cả đều là anh em trong một đàn chiên.

Sứ vụ, vai trò của các mục tử trong Giáo Hội

Khi nói đến vai trò mục tử trong Giáo Hội, chúng ta nghĩ ngay đến các giám mục, linh mục, phó tế... Các ngài được lãnh nhận sứ vụ này ngang qua Giáo Hội, để ra đi thi hành bổn phận mà Thầy Giêsu đã làm khi xưa.

Sứ mạng ấy chính là quyền lãnh đạo, giáo huấn và thánh hóa. Tuy nhiên, gương sáng và sự dấn thân sống hết mình vì đàn chiên là điều được đề cao đến nỗi nếu không có chiều kích này, thì việc lãnh đạo, giáo huấn và thánh hóa trở nên một thể chế thuần tục không hơn không kém!

Khi đề cập đến sứ vụ mục tử, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh: các mục tử ngày nay không chỉ lo lắng thuần túy về cơ cấu, nhưng còn phải “ngửi thấy mùi chiên”; và “phải mang mùi chiên đó vào mình”. Thật vậy, nếu không “ngửi” và mang “mùi” của chiên nơi mình, có lẽ ranh giới giữa mục tử và kẻ chăn thuê hay cướp bóc chỉ cách nhau gang tấc! Vì thế, chúng ta không lạ gì khi vẫn còn đó những vị mục tử luôn nóng nảy, dọa nạt vô cớ; cư xử phân loại; sống theo hiệu ứng đám đông; hay chỉ biết chăm chút mũ mão cân đai cho chính bản thân, lo củng cố địa vị và uy tín ngang qua những công trình sang trọng hay những buổi lễ hội... Khi lựa chọn như thế, ấy là lúc những mục tử đang có xu hướng “ngoại tình” với những “mục đích rẻ tiền” mà quên đi sứ vụ cao trọng, nếu không muốn nói là phản bội hay xúc phạm đến người nghèo và sứ vụ!

Nguyên nhân dẫn đến thảm trạng đau buồn này chính là không tin phục và chẳng sống theo mẫu gương Thầy Giêsu; luôn để cho lòng tự mãn, kiêu căng, vụ lợi, ích kỷ, hèn nhát, thiếu tình thương chỉ đạo, nên chỉ biết lo cho bản thân mà không màng chi đến sứ vụ!

Nếu là mục tử thuộc về Thầy Giêsu, noi gương Đấng Giàu Lòng Thương Xót, thì lòng dạ các ngài sẽ không yên khi còn đó biết bao con người khắc khoải, đói khát, bần cùng, tỗi lỗi... đang ngày đêm kêu van thống, để chỉ mong sao những bước chân của những mục tử dám đi ra “bên lề”, tiến vào những vùng “ngoại biên” để cứu giúp họ, ngõ hầu những con chiên đen đủi, bất hạnh này được bàn tay nhân ái của những mục tử nhân lành chạm vào tâm hồn họ, để tâm hồn chiên lạc và khổ đau được nóng và sáng lên nhờ cảm nghiệm được sự an bình thư thái...

Làm được điều đó, các vị mục tử mới thực sự là người thay mặt Chúa để trả lời và mang lại cho con người hôm nay niềm hy vọng mà xã hội trần thế không làm được.

Kitô Hữu là con chiên trong đàn chiên của Chúa

Còn với chúng ta, trong ngày lễ hôm nay, mỗi người hãy thực sự nhìn lại tư cách chiên của mình, để thấy được tình trạng tâm hồn trong tương quan với Vị Mục Tử Giêsu, Đấng mà chúng ta thật vinh dự khi được trở thành con chiên của Ngài ngày lãnh Bí tích Rửa Tội.

Vì thế, với tư cách là thành phần trong đàn chiên của Chúa, điều kiện tiên quyết, đó là phải tin tưởng và phó thác cuộc đời, vận mệnh, hiện tại và  tương lai cho Vị Mục Tử Tối Cao, để được núp dưới cây gậy mục tử nhân lành của Ngài.

Thứ đến là: lắng nghe Lời của Ngài, để: "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta" (Ga 10,27), ngõ hầu Lời Chúa trở thành nguồn suối mát, đồng cỏ xanh nuôi sống tâm hồn chúng ta.

Tiếp theo là đi theo, gắn bó mật thiết như hình với bóng, để trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài trong tâm tư, hành động, lời nói.

Cuối cùng, sống chứng nhân lòng thương xót của Thiên Chúa cho anh chị em, nhất là ngang qua nghĩa cử, lòng nhân ái của chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành, xin cho các chủ chăn trong Giáo Hội hôm nay biết phản chiếu lòng thương xót của Chúa cách trung thực. Xin cho chúng con trở thành con chiên ngoan hiền để tận hưởng nguồn hoan lạc của đồng cỏ xanh tươi và dòng suối mắt dưới bóng cánh và cây gậy mục tử của Chúa. Amen. Mục lục.

MỤC TỬ TỐT LÀNH VỚI 3 CHỮ D

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu khẳng định: “Tôi là Mục Tử Tốt Lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của Tôi biết Tôi. Mục Tử Tốt Lành hy sinh mạng sống cho đàn chiên”. Chúa Giêsu là vị Mục Tử Tốt Lành, là Đấng bảo vệ đoàn chiên, yêu thương săn sóc và hy sinh mạng sống cho đàn chiên, là nền tảng, là mẫu mực cho mọi vị chủ chăn tương lai được Ngài trao quyền chăn dắt đoàn chiên, tiếp nối sứ mạng Mục Tử của Ngài.

Chúa Giêsu là vị Mục Tử Tốt Lành với những nét đặc trưng sau đây:

+ Vị Mục Tử Tốt Lành hết lòng yêu thương những người thuộc về mình. Vì yêu thương nên Ngài quan tâm đến mọi người và đến từng người. Càng quan tâm thì càng biết tường tận: biết họ muốn gì, họ cần gì, họ có thể gặp phải những nguy cơ cạm bẫy hay thử thách nào.

+ Vị Mục Tử Tốt Lành luôn đi đầu, đi trước, hướng dẫn, lãnh đạo đoàn chiên, đứng mũi chịu sào, gánh chịu mọi khổ cực cho người thuộc về mình. Mục Tử Tốt Lành đem chiên đến những miền an toàn, có suối mát có cỏ xanh, cho chiên được ăn uống no nê, được nghỉ ngơi thoải mái. Chiên sẽ tăng trưởng cả về chất lượng lẫn số lượng. Mục Tử Tốt Lành dám hy sinh mạng sống vì chiên.

+ Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến để yêu thương, chăm sóc, quy tụ mọi con chiên. Ngài biết tên từng con chiên như Cha Ngài biết Ngài ( Ga 10,14-15). Ngài gọi tên từng con chiên và dẫn đi (Ga 10,3). Mục Tử sẵn sàng hy sinh mạng sống vì chiên:“Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15, 13). Chúa Giêsu đã chứng tỏ Ngài là vị Mục Tử Tốt Lành, vị chủ chăn không bao giờ hèn nhát thấy sói tấn công chiên mà bỏ trốn, nhưng Ngài luôn cứu vớt, tập họp, chăn dắt ( Ga 10,9.16 ).

Chúa Giêsu còn cho thấy tính tương phản của hai loại mục tử. Mục tử thật và mục tử giả. Mục tử thật luôn hết mình vì đàn chiên. Mục tử giả chỉ lo vun quén cho bản thân. Mục tử thật thì hy sinh cho đàn chiên. Mục tử giả chỉ đến để xén lông chiên. Mục tử thật luôn tìm kiếm nguồn nước và đồng cỏ xanh tươi cho đàn chiên no đầy. Mục tử giả chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chính bản thân mình, sống hưởng thụ, lười biếng và thiếu trách nhiệm đến sự sống còn của đàn chiên.

Đức Hồng Y Yvan Dias, Tổng trưởng Thánh bộ Phúc âm hóa các Dân tộc, đại diện Đức Thánh Cha đã chủ toạ bế mạc Năm Thánh 2010 tại Thánh địa Lavang.

Sau đại lễ, ĐHY Ivan Dias đã gặp gỡ các Giám Mục Việt Nam trong một tiếng đồng hồ để chia sẻ về tình hình cũng như gởi gắm sứ điệp. Về sứ điệp, ngài mời gọi tất cả Giám mục chia sẻ lại cho các linh mục, chủng sinh của mình về 3 chữ D rất cần thiết trong đời sống của người thuộc về Giáo Hội. 3 Chữ D là: Doctrine, Discipline, Dévotion.

DOCTRINE, về giáo thuyết. Mỗi Linh mục hôm nay được mời gọi nắm vững giáo lý Giáo hội Công giáo, giáo huấn Giáo hội, học thuyết xã hội của GHCG, bởi vì nếu không nắm vững những hướng đi trong đó, thì trong cách ứng xử một Linh mục ở tại giáo xứ nhiều khi có những cái chưa chuẩn mực và nếu như cả một Giáo hội mà lại không nắm vững về Doctrine này thì rất nguy hiểm, sẽ đưa Giáo hội đến chỗ không cứu vãn được. Tại sao Tòa Thánh phải lên tiếng về Giáo hội Trung Quốc? Câu trả lời cho biết vì yếu về giáo thuyết. Nếu hiểu Giáo hội không thể tự lực tự cường được thì người ta sẽ có chọn lựa khác. Chẳng phải nói đâu xa, trường hợp của GHVN ngày nay cũng cho thấy thấp thoáng nguy cơ. Hết rồi thời đối đầu, đã bước sang thời đối thoại. Nhưng đối thoại như thế nào để mình vẫn là GHCG, đó lại là cả một tuyến mở ra cho suy nghĩ và vì vậy quan trọng là nắm vững giáo thuyết để có những quyết định phù hợp.

DISCIPLINE, về kỷ luật. Đây là một vấn đề thường gây khủng khoảng cho các Giáo hội phương Tây. Vấn đề Linh mục lạm dụng tình dục là do việc không tuân thủ kỷ luật của Giáo hội, để đến khi bùng nổ ra thì không vớt vát được. Vài địa phận của Hoa Kỳ đã phải bán hết cơ sở của mình đi để trang trải cho việc xao lãng kỷ luật của một thời. Đây là một vấn đề đau lòng. Do đó, tuân thủ kỷ luật đời sống Linh mục là một cách để giúp Linh mục một đàng thánh hóa bản thân và đàng khác tránh tất cả những hậu quả tai hại. Thời mới bước chân vào Chủng viện, chắc chắn các chủng sinh đều thuộc lòng câu: Ai sống theo kỷ luật là sống theo ý Chúa, và sau này trên bước đường lớn hơn, Linh mục vẫn thường được nghe nhắc nhở: hãy giữ luật thì luật sẽ giữ cho mình, sẽ bảo vệ mình. Cho nên chữ Discipline mời gọi mỗi người trong hướng đi đời Linh mục cũng gắn bó với luật lệ của Giáo hội cách khít khao.

DÉVOTION, lòng đạo đức sốt sắng. Ở đây theo như lời chú giải của ĐHY Dias, thì nó gắn liền với những phong trào đạo đức, có một thời tưởng như bị bỏ rơi vì đi liền với lòng đạo đức bình dân của đại chúng. Thí dụ: tràng hạt Mân Côi, có một thời người ta rẻ rúng cho là loại kinh dành cho phụ nữ, người nhàn rỗi, người già… nhưng sau này người ta cảm nghiệm được sức mạnh của kinh Mân Côi, nhất là sức mạnh hoán cải, sức mạnh thánh thiêng giúp người ta tiến xa trên đường nên thánh. Những cái thuộc loại Dévotion thì thường gắn liền với những hình thức văn hóa. Ví dụ: hành hương coi như chuyện đi chơi, nhưng ở đó cũng là một thứ Dévotion mời gọi Linh mục không nên xem thường. Tất nhiên không thể loại trừ những hình thức Dévotion truyền thống tôn sùng Thánh Tâm, Chầu Thánh Thể, hay là những hình thức khác nhau dành cho các Thánh. Một Linh mục mà rẻ rúng những hình thức đạo đức bình dân thì coi chừng, tưởng là mình ở trên đỉnh cao trí thức, biết đâu lúc nào đó mình rớt xuống vực mà không hay. Lần hạt Mân Côi, đó là một lời kinh tháp tùng Linh mục trên mọi bước đường, trong mọi hoàn cảnh, đó là lời kinh còn lại duy nhất sau khi đã quên đi tất cả. Gắn bó với một sự đạo đức như thế cũng là một cách giúp cho đời Linh mục được vươn lên, được thăng tiến. (x. Huấn từ khai mạc Tình tâm Linh Mục Giáo Phận Phan Thiết, ngày 10.1.2011, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống [+]).

Chúa nhật IV Phục sinh, ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu Linh mục và ơn gọi Tu sĩ nam nữ. Giáo Hội luôn cần đến những mục tử tốt lành. Hãy cầu nguyện cho Giáo Hội có nhiều mục tử đạo đức, thánh thiện như lòng Chúa mong ước.

Trong Sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho các ơn gọi năm 2012, ĐTC Bênêđictô xác định: Lời Chúa, cầu nguyện và Thánh Thể là kho tàng quý giá giúp cho các ơn gọi hiểu vẻ đẹp của một cuộc sống hoàn toàn dâng hiến cho Nước Thiên Chúa.Ngài mời gọi mời gọi các mục tử : Khi kín múc ở nguồn mạch tình yêu Thiên Chúa trong đời sống cầu nguyện, cùng với việc năng lui tới với Lời Chúa và các Bí tích, cách riêng Bí tích Thánh Thể, mà ta có thể sống tình yêu đối với tha nhân trong đó ta học biết khám phá khuôn mặt của Chúa Kitô (x. Mt 25, 31-46).

Trở nên mục tử tốt lành nhờ biết trau dồi giáo thuyết Kinh Thánh (Doctrine), sốt sắng trong lời cầu nguyện gắn bó với Chúa Giêsu (Dévotion) và có tinh thần kỷ luật trong đời sống tu trì (Discipline).

Mục tử tốt lành là phải luôn sống kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, luôn khát khao và cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, vị mục tử tốt lành biết rõ đàn chiên,yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hiến mạng vì đàn chiên. Từ đó, vị mục tử tốt lành biết nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực có chất lượng cao đặc biệt là cử hành Thánh Thể sốt sắng và nhiệt thành trong bí tích Hòa Giải.

Ơn gọi Linh mục Tu sĩ chính yếu là để “sống với Chúa, và để Ngài sai đi”(Mc 3, 14). Sống với Chúa, là lắng nghe tiếng Ngài trong từng giây phút sống, để nên một với Chúa trong gian nan và hạnh phúc. Để Ngài sai đi, là sẵn sàng đi theo con đường Ngài đã đi, thực thi sứ mạng Ngài trao bất chấp những gì xảy ra.

Giáo dân cần Linh mục như bệnh nhân cần bác sĩ, như học sinh cần thầy cô giáo, như một người bạn sẵn sàng cảm thông chia sẻ vui buồn trong đời sống và như người bạn đồng hành giúp đỡ trong cuộc hành trình tiến về đời sau.

Hãy cầu nguyện cho các Linh mục được trở nên những mục tử như Chúa Giêsu, vị Mục Tử Tốt Lành, biết yêu thương phục vụ đoàn chiên, hiểu biết tâm tư tình cảm của từng người, quan tâm chăm sóc từng con chiên và sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi ích của đàn chiên. Trong bài giảng Lễ Dầu năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khuyên các linh mục : “Cha mời gọi các con điều này, các con hãy là những người chăn chiên có mùi của chiên. Người chăn chiên thì có mùi chiên, làm cho cái mùi ấy thành cái mùi thực, giống các người chăn chiên ở giữa đoàn chiên của các con. Mùi của chiên chỉ có được bằng cách sống các thực tại đời sống hàng ngày của họ, các bối rối khó khăn của họ, các niềm vui của họ, các gánh nặng và các hy vọng của họ”.

Hãy cầu nguyện cho các Linh mục có những đức tính tốt của những Mục Tử tốt Lành mà Thánh Kinh đã mô tả :

– Yêu thương, trìu mến chiên với tất cả tâm hồn: “Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40, 11).

– Yêu quý từng con chiên, một con cũng như cả trăm con: “Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao ? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc” (Mt 18, 12-13).

– Lo cho chiên, tạo những điều kiện tốt đẹp cho chiên: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ” (Ed 34, 14).

– Làm cho chiên được sống no ấm, hạnh phúc: “Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23,1); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ: “Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm”(23, 4).

– Tinh thần trách nhiệm đối với đàn chiên rất cao: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng” (Ed 34,16).

– Cứu thoát, giải phóng đàn chiên: “Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên” (Dc 9,16).

Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử Tốt Lành, xin  cho chúng con luôn theo gương vị thánh bổn mạng các Linh mục, đó là Cha sở Gioan Vianney “là mục tử mang nặng mùi con chiên của mình”, hôm nay ngày cầu nguyện cho các mục tử, xin giúp anh em linh mục chúng con luôn biết sống theo gương sáng mục tử của ngài. Amen. Mục lục.

XEM QUẢ BIẾT CÂY

Trầm Thiên Thu

MỤC TỬ THẬT HY SINH MẠNG SỐNG

NGƯỜI LÀM THUÊ BỎ MẶC ĐÀN CHIÊN

Đó là điều minh định của Mục Tử Nhân Lành Giêsu được Thánh sử Gioan cho biết trong Ga 10:11-12.

Người ta có nhiều cách ví von để kết luận về một hệ lụy tất yếu nào đó: cha nào con nấy, thầy nào trò nấy, rau nào sâu nấy. Còn Chúa Giêsu xác định:“Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai” (x. Mt 7:16; Mt 12:33; Lc 6:44). Xem quả có thể biết cây. Nhận định của Chúa Giêsu có thể áp dụng vào mọi trường hợp trong cuộc sống.

Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành, là Chúa Chiên Lành. Đã từng có những người noi gương Thầy Chí Thánh – như Thánh Gioan Maria Vianney (sinh ngày 8-5-1786, qua đời ngày 4-8-1859), cha sở xứ Ars (Pháp), đúng là một mục tử đích thực, là linh mục như Chúa muốn, sống khắc khổ vì lợi ích của các linh hồn. Ngay tại Việt Nam cũng đã có các gương sáng “nặng mùi chiên” như ĐGM Jean Cassaigne (gọi thân thương là “Cha Sanh”, người Pháp, 1895-1973) chấp nhận chết với các bệnh nhân phong Di Linh (Dalat), LM F.X. Trương Bửu Diệp (1897-1946) không ngại chết thay cho đoàn chiên (Gx Khúc Tréo, ngày nay có trung tâm hành hương Tắc Sậy). Chúa Giêsu muốn các linh mục phải thực sự sống PHỤC VỤ chứ KHÔNG HƯỞNG THỤ (Mt 20:26-28; Mt 23:11; Mc 10:43-45). Cả Thiên Chúa và Giáo Hội đều mong ước có những linh mục thánh như vậy. Lòng dân tỏ lộ ý trời.

Hình ảnh con chiên rất quen thuộc với người Do Thái – kiểu như với người Việt là con trâu, con bò, con heo. Đàn chiên nào cũng phải có chủ, và bất kỳ đàn súc vật nào cũng vậy, huống chi là một tổ chức, do đó mà một tổ chức hoặc một nhóm người nào thì cũng có người “chống mũi chịu sào”, thậm chí dù đó chỉ là nhóm ba người: “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư yên” (Trong ba người cùng đi, chắc chắn có một người là thầy; nghĩa bóng là người hướng dẫn, ý nói về tầm quan trọng của tập thể). Thật vậy, dù là tam giác hay đa giác, các cạnh và các góc đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời – dù là cạnh hay góc.

Kinh Thánh cho biết vào một ngày Sabát, hai ông Phaolô và Banaba vào hội đường ngồi tham dự. Tan buổi họp, có nhiều người Do Thái và nhiều người đạo theo, tức là những người tôn thờ Thiên Chúa, đi theo hai ông. Hai ông nói chuyện với họ và khuyên nhủ họ gắn bó với ân sủng của Thiên Chúa.

Theo sách Công Vụ cho biết, ngày Sabát sau, gần như cả thành tụ họp nghe lời Thiên Chúa. Một sự kiện rất lạ lùng. Thế nên khi thấy đám đông như vậy, người Do Thái SINH LÒNG GHEN TỨC, họ phản đối những lời ông Phaolô nói và nhục mạ ông. Nhưng ông Phaolô và ông Banaba vẫn mạnh dạn lên tiếng: “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em KHƯỚC TỪ lời ấy, và TỰ COI MÌNH KHÔNG XỨNG ĐÁNG hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại. Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này: Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất”(Cv 13:46-47). Thiên Chúa ban cho mỗi người được quyền tự do chọn lựa chứ không ép buộc. Tự nguyện có giá trị hơn miễn cưỡng.

Hai ông nói lời rất giản dị nhưng rõ ràng và chính xác, lời đó đã đủ sức “chạm” vào tận đáy lòng họ. Dân ngoại nghe lời đó và họ vui mừng tôn vinh Lời Chúa, rồi tất cả những người đã được Thiên Chúa định cho hưởng sự sống đời đời cũng đều tin theo. Thế là Lời Chúa đã lan tràn khắp miền ấy. Sự thật mãi là sự thật, chân lý là vĩnh cửu, không ai có thể thay đổi chân lý hoặc xuyên tạc sự thật.

Tuy nhiên, những người Do Thái đã sách động nhóm phụ nữ thượng lưu theo đạo Do Thái, cùng với các thân hào trong thành, xúi giục họ ngược đãi ông Phaolô và ông Banaba, và trục xuất hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ. Chuyện đời là thế, sự đời thường là vậy. Thấy họ cứng lòng, hai ông liền giũ bụi chân phản đối họ và đi tới I-cô-ni-ô. Còn các môn đệ được tràn đầy hoan lạc và Thánh Thần. Sự thật minh nhiên về những gì Chúa đã hứa.

Niềm vui không thể che giấu, thế nên Thánh Vịnh gia mời gọi: “Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu, phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ, vào trước thánh nhan Người giữa tiếng hò reo. Hãy nhìn nhận Chúa là Thượng Đế, chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người, ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt” (Tv 100:1-3). Nhận ơn thì phải biết ơn, trong cuộc sống đời thường cũng vậy. Chúng ta phải biết tạ ơn vì “Chúa nhân hậu, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương, qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín” (Tv 100:5). Hoàn toàn hợp lý!

Chắc chắn bất kỳ ai cũng không thể xuyên tạc sự thật, có cố ý bóp méo sự thật thì cuối cùng cũng bị người ta phát hiện. Thánh Gioan Tông Đồ kể lại thị kiến có thật chứ không bịa đặt: Tôi thấy một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế (Kh 7:9). Thánh nhân trả lời: “Thưa Ngài, Ngài biết đó”. Vị ấy bảo: “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7:14). Một cách giặt kỳ lạ: Giặt bằng máu – chứ không giặt bằng nước.

Có những điều bình thường mà kỳ diệu – và cũng có những điều tưởng lạ mà lại rất bình thường. Thánh Inhaxio Loyola cho biết: “Nếu Thiên Chúa gởi cho bạn nhiều đau khổ, đó là dấu Ngài có kế hoạch lớn dành cho bạn, và chắc chắn Ngài muốn làm cho bạn nên thánh”. Như vậy, gian truân và đau khổ là “điểm son” chứ không là nỗi bất hạnh như phàm nhân lầm tưởng. Thật vậy, đại văn hào Victor Hugo có cách nhận định chí lý: “Đau khổ như hoa quả, Chúa không khiến nó sinh ra trên những cành quá yếu ớt mà không chịu nổi”. Chắc chắn KHÔNG TRẢI QUA ĐAU KHỔ thì người ta KHÔNG CÓ KINH NGHIỆM và KHÓ TRỞ THÀNH NHÂN TÀI. Còn Albert Hubbard nói: “Nếu bạn đau khổ, hãy cảm ơn trời! Đó là DẤU HIỆU chắc chắn cho thấy bạn ĐANG SỐNG”. Có đau khổ thì mới đáng sống, thật kỳ lạ quá chừng!

Chúa Giêsu trải qua đau khổ mới tới vinh quang, và Ngài mệnh danh là Người Tôi Tớ Đau Khổ. Chính sự đau khổ tôi luyện người ta thêm vững mạnh và can đảm. Một dạng “mềm” hơn nhưng cần thiết: Thất bại là mẹ thành công. Vì thế, chính những người đã trải qua gian truân thử thách kia mới “được chầu trước ngai Thiên Chúa, đêm ngày thờ phượng trong Đền Thờ của Người; Đấng ngự trên ngai sẽ căng lều của Người cho họ trú ẩn. Họ sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa. Vì Con Chiên đang ngự ở giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh, và chính Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ” (Kh 7:15-17). Đó là quy trình hợp lý của công bình và công lý, vì Thiên Chúa là Đấng chí minh, chí công, chí thiện, và chí thánh!

Chắc hẳn ai cũng biết rằng trong các mối quan hệ, dù là mối quan hệ nào, cũng có hệ lụy đặc trưng. Riêng về hệ lụy chủ và chiên, chính Chúa Giêsu đã minh định:“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (Ga 10:27-28). Mục Tử Giêsu sống vì, sống cho, và sống với đàn chiên. Ngài không thể an tâm khi lạc mất một con chiên.

Thật thú vị với cách nói của công ty bảo hiểm Prudential: “Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu”. Trong châm ngôn của công ty này là “sự lắng nghe” (có chú ý) chứ không đơn thuần là “sự nghe” (không chú ý hoặc tình cờ). Hai động thái “lắng nghe” và “thấu hiểu” cũng có phần khác nhau, phải cố gắng mà “nối kết” chúng với nhau thành một động thái. Bởi vì nếu chỉ “lắng nghe” mà không “thấu hiểu” thì cũng vô ích. Người ta cũng không thể cố gắng “thấu hiểu” mà không chịu “lắng nghe”. Hai động thái liên quan lẫn nhau, hầu như không thể tách rời – tuy hai mà một.

Tương tự, nếu chủ và chiên không chịu nghe nhau, chủ tự nói tự nghe, và chiên cũng vậy, thì đó chỉ là các hoạt động một chiều, như hai đường thẳng song song không thể gặp nhau hoặc không thể đồng quy, tất nhiên không thể nào hiểu nhau được. Cũng vậy, chủ cứ độc đoán, chỉ muốn dùng “quyền” mà “hành” người khác thì thật nguy hiểm, đó chỉ là “thợ chiên” chứ không phải “chủ chiên”. Thật chí lý khi Việt ngữ có danh từ kép: Quyền hành. Thế thì thật thâm thúy!

Chỉ có chủ chiên thật mới dám xả thân vì đoàn chiên, chắc chắn chủ chiên giả hoặc thợ chiên thì chẳng bao giờ dám làm vậy – mà họ cũng chẳng muốn thế đâu. Chúa Giêsu là Chúa Chiên Lành nên Ngài mạnh mẽ xác định: “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha LÀ MỘT” (Ga 10:29-30). Gương Mục Tử Giêsu sáng chói, nhưng vấn đề là chúng ta có thật lòng soi và có thấy gì hay không.

Lạy Mục Tử Giêsu Nhân Lành, xin ban cho nhiều người dấn thân mở Nước Chúa, xin giúp chúng con luôn biết lắng nghe và thấu hiểu nhau, xin tẩy rửa chúng con trong Máu và Nước từ Thánh Tâm Ngài, xin hoàn thiện chúng con trong từng khoảnh khắc của cuộc sống, qua từng nhịp thở, nhờ tác động của Thánh Linh. Chúng con tin kính Ngài là Thánh Tử Phục Sinh, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. Mục lục.

MỤC TỬ NHÂN LÀNH HIẾN MẠNG VÌ CHIÊN

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Bước vào Chúa nhật thứ IV Phục Sinh, chúng ta có dịp đọc lại dụ ngôn “Vị Mục Tử nhân lành”. Phụng vụ mỗi năm trình bày cho chúng ta một khía cạnh. Năm nay, với vỏn vẹn 4 câu (Ga 10,27-30), cũng đủ làm nổi bật Chúa Giêsu là Mục Tử tốt lành, thí mạng sống mình vì đàn chiên, Người đến để cho chiên được sống dồi dào (c.28), qui tụ tất cả về một đàn chiên duy nhất, Người là Con Thiên Chúa, và cũng chính là Thiên Chúa (c.30).

Chúa là Mục Tử

“Mục tử” là hình ảnh rất quen thuộc của nền văn minh nông nghiệp còn trong trạng thái thô sơ của dân du mục vùng Trung Đông, được Chúa Giêsu dùng để diễn tả tương quan “dễ thương” giữa Người và chúng ta. Dân Cựu Ước thường gọi Chúa là mục tử của mình (St 49,24 – 31; Gr 31,10 ; Mk 7,14 v.v ...), vì khởi đầu lịch sử thánh, dân được chọn là dân du mục trên hành trình về Đất Hứa, trước tiên là Abraham từ Ur đến Canđê, thứ đến là Môsê, kẻ chăn cừu, cho tới Đavít cậu bé chăn cừu ở Bêlem.

Chúa là mục tử đích thực của dân Israel kể từ khi Chúa chọn họ làm dân riêng và hứa không để dân bị phân tán như đàn chiên không người chăn dắt. Chính Chúa chăn dắt dân Chúa: “Này đây Ta chăm sóc chiên Ta” (x. Ed 34). Trách nhiệm mục tử này được trao cho các vị lãnh đạo dân Chúa.

Mục tử tốt lành hiến mạng sống vì chiên

Chúa Giêsu tự xưng “là mục tử tốt lành” (Ga 10,11). Trong hang toại đạo, người ta tìm thấy hình ảnh Chúa Giêsu với vẻ dịu dàng, trìu mến của người chăn chiên, vác chiên trên vai, tìm kiếm con chiên lạc, đưa chiên về với đàn của chúng để cùng chia sẻ một đồng cỏ xanh tươi. Khi lấy lại hình ảnh người mục tử và tự ví mình như thế, chứng tỏ Thiên Chúa không chỉ là Đấng dẫn dắt dân, hơn thế nữa còn sẵn sàng, “thí mạng sống vì chiên” (Ga 10,11). Chúa biết chiên, nên hy sinh mạng sống: “Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta” (Ga 10,27 - 28).

Trong lời nguyện hiến tế, Chúa Giêsu nguyện rằng: “Vì chúng, Con xin hiến thánh mình Con, ngõ hầu chúng được tác thánh cách chân thật” (Ga 17,19). Khi tự do vâng phục ý muốn Chúa Cha, tự hiến tế mình trên Thập Giá, Người trở thành “Mục tử nhân lành hiến mạng sống vì đoàn chiên” (Ga 10,11). Đúng là Chiên con cứu chuộc đàn chiên mẹ (x. Ca tiếp liên lễ PS). Bằng tình yêu trao ban, hy sinh và tận hiến, Người hiến tế chính mình làm của ăn của uống cho chúng ta. Đó là lý do hôm nay chúng ta mừng kính Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành vào Chúa nhật thứ IV sau Đại lễ Phục Sinh, nên Chúa nhật này được gọi là Chúa nhật Chúa chiên lành.

Mục tử tốt lành vác chiên trên vai, ôm chúng vào lòng như người mẹ bồng ẵm con thơ. Chúa Giêsu cũng làm như thế : hàng ngày, Người nuôi dưỡng chúng ta bằng những Lời Hằng Sống và các bí tích của Hội Thánh, giang cánh ta trên thập giá để thâu họp “con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm một” (Ga 11,52), đón nhận chúng ta vào lòng nhân ái của Người. Thật là hình ảnh tuyệt đẹp và đầy cảm động về một Vì Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa đã làm đối với chúng ta là những tạo vật, những con chiên của Ngài.

Hôm nay, mỗi người chúng ta tự hỏi: tôi có phải là chiên của Chúa không? Nếu phải thì tôi có nghe tiếng Chúa không ? Chúa nói : “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta” (Ga 10,27). Tiếng ở đây chính là Lời Chúa. Tiếng để chúng ta nhận biết Chúa, như Maria Mađalêna đã nhận ra Chúa khi đi viếng mộ Chúa.

Chúng ta có biết Chúa không và nếu biết thì biết thế nào? “Biết” ở đây, không có nghĩa là “biết” nhờ đức tin, nhưng là “biết” nhờ đức mến. “Biết” được diễn tả qua việc làm, như thánh Gioan viết: “Ai nói mình biết Thiên Chúa mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối” (1 Ga 2,4).

Vậy ai nghe, biết và chân thành đi theo Chúa Giêsu thì được nuôi dưỡng nơi đồng cỏ xanh tươi muôn đời. Đồng cỏ của đoàn chiên đây là gì nếu không phải là cảnh thiên đàng luôn xanh ngắt, khiến tâm hồn ngập tràn niềm vui, nơi có Thiên Chúa luôn hiện diện, nơi đây chiên theo Chúa và làm theo ý Chúa sẽ được hân hoan mừng lễ cùng với các công dân Nước Trời.

Cầu cho ơn kêu gọi

Trong Sứ điệp ngày thế giới cầu cho ơn gọi 2019, Đức Phanxicô viết: “Can đảm liều với lời hứa của Thiên”. Theo Đức Thánh Cha, “ơn gọi là sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa, nên theo Chúa phải chấp nhận liều, cần liều với bản thân, nghĩa là để đón nhận tiếng Chúa gọi, cần liều chính bản thân, chấp nhận đương đầu với một thách đố mới; cần từ bỏ tất cả những gì cột chúng ta vào một con thuyền nhỏ, cản ngăn không để chúng ta thực hiện một sự chọn lựa chung kết; chúng ta được yêu cầu có thái độ táo bạo thúc đẩy chúng ta mạnh mẽ khám phá dự phóng của Thiên Chúa dành cho cuộc đời chúng ta” (x. Sứ điệp cầu cho ơn gọi 2019).

Ngài mời gọi các bạn trẻ đáp lại ơn Chúa gọi khi nói : “Không có niềm vui nào lớn hơn là chấp nhận liều mạng vì Chúa! Đặc biệt với các bạn là những người trẻ, tôi muốn nói: các bạn đừng điếc đối với tiếng Chúa gọi! Nếu Chúa gọi các bạn đi theo con đường này, các bạn đừng rút mái chèo lên thuyền, những hãy tín thác vào Chúa. Các bạn đừng để mình bị lây sự sợ hãi làm các bạn tê liệt đứng trước những đỉnh cao mà Chúa đề nghị với các bạn. Hãy luôn nhớ rằng, với những người bỏ lưới, bỏ thuyền để theo Chúa, Ngài hứa cho họ niềm vui của một cuộc sống mới, làm cho tâm hồn được đầy tràn và Chúa linh hoạt hành trình của họ” (Đức Phanxicô 8-3-2019).

Chúng ta cũng cầu nguyện cho Giáo hội có thêm nhiều người trẻ đáp lại tiếng Chúa mời gọi. Chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho các mục tử thân yêu của chúng ta : nâng đỡ, cám ơn và khuyến khích các ngài !

Lạy Mẹ Maria, mẫu gương ơn gọi của chúng con, Mẹ đã không sợ hãi khi thưa tiếng “xin vâng” trước lời mời gọi của Thiên Chúa, xin dạy chúng con bước theo Con Mẹ. Amen. Mục lục.

CHÚA CHIÊN

[Niệm khúc Ga 10:1-10]

Cửa chuồng chiên là Chúa

Đức Giêsu Kitô

Chuồng chiên là Giáo Hội

Cửa Giêsu phải qua

Chuồng chiên được bảo vệ

Bằng thánh luật, giới răn

Ai trung thành tuân giữ

Được vào Nước Thiên Đàng

Một chủ chân đích thực

Quên mình vì đàn chiên

Người chăn thuê chạy mất

Khi chiên gặp khó khăn

Chúa Giêsu Mục Tử

Hiến mạng vì đàn chiên

Bửu Huyết Ngài đã đổ

Thắm tình yêu nồng nàn

Ngài là Nguồn Sự Sống

Ban hạnh phúc Trường Sinh

Ngài là Đường Sự Sống

Về Quê Cha uy linh. Mục lục.

Trầm Thiên Thu

LINH MỤC - MỤC TỬ

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Lễ Chúa chiên lành, chúng ta cùng nhìn lại một khía cạnh nhỏ, trong rất nhiều khía cạnh xảy ra do những tương quan giữa linh mục và anh chị em mà Chúa trao ban cho ngài.

Linh mục hàng ngày tiếp xúc cùng mọi con người. Tất cả những người đến với linh mục, trừ những trường hợp có công tác, xin lễ, hay những công việc thường xuyên nào đó, tất cả số còn lại dường như có một điểm chung: Dù là ai, thuộc tầng lớp, tâm tính, lứa tuổi nào, họ đều có những góc khuất của tâm hồn, mà chỉ bản thân họ và sự khôn ngoan thượng trí của Thiên Chúa mới biết mà thôi.

Nếu những góc tâm hồn ấy chất chứa hạnh phúc, sự đỡ nâng, tình yêu, hy vọng..., ngay cả khi phải long đong và ưu tư mà vẫn thấy được ánh sáng phía đàng trước, thì đều là tín hiệu đáng mừng và không có gì đáng nói.

Nhưng trong số họ, nhiều người bị cô đơn, bị bỏ rơi, bị ruồng rẫy, bị bạc đãi, bị phản bội, bị bách hại..., dù là tinh thần hay thể xác..., đều là những người đáng thương, đáng được sớt chia, thấu hiểu và cảm thông.

Chỉ là chủ quan, tôi nghĩ rằng, hơn ai hết, từ tòa giải tội, cho đến những gặp gỡ hàng ngày, chỉ có linh mục là người được biết nhiều nhất về tâm tư, về những chiều sâu lắng đọng trong tâm hồn anh chị em mình.

Bởi có biết bao nhiêu điều, nhất là những tội lỗi, những chấn thương tâm hồn, có khi đã lắng suốt nhiều năm, ngay cả vợ chồng với nhau còn chưa được biết, ngay cả những chuyên viên tư vấn tâm lý còn chưa được đương sự bộc lộ, hay chưa được bộc lộ hoàn toàn, thì những anh chị em ấy vẫn có thể nói ra với linh mục để xin chúc phúc lành, xin được động viên, chia sớt, ủi an, giúp thêm lời sống, giúp thêm ý kiến để có chút ánh sáng phía trước mà tiếp tục sống.

Nhất là lời cầu nguyện. Tất cả những anh chị em này, trong đau khổ, trong nỗi xót xa của lòng mình, đều muốn vị linh mục đang lắng nghe họ, hãy cầu nguyện cho họ, cho hoàn cảnh của họ...

Trong số những anh chị em trĩu nặng tâm tư, không chỉ là tín hữu Kitô, mà có cả nhiều anh chị em ngoài Hội Thánh Chúa. Tôi đã từng bắt gặp người cán bộ khá cao cấp, đến trút bỏ nỗi niềm của anh cho vị linh mục có chút thân thiện với anh...

Vì thế, trong cuộc đời này, từng có biết bao nhiêu linh mục, mang theo trong tâm tư, mang theo trong suốt một đời cầu nguyện, mang theo trong từng hiến lễ mỗi ngày của mình, không biết bao nhiêu bí mật của vô vàn cuộc đời con người.

Những bí mật này sẽ theo mãi, theo mãi... như trái tim, như giọt máu trong thân thể, suốt đời, cho đến giờ vị linh mục trình diện trước tòa Đấng Cứu Chuộc.

Nói chính xác hơn, khi vị linh mục khép lại hành trình đời mình, thì những trăn trở, những tâm tư, có khi là bức xúc, có khi là tội lỗi, là mặc cảm, là tất cả những gì được xem như bí mật của đời người... cũng sẽ theo ngài đi về bên kia cuộc đời, mà không có bất kỳ ai là người thứ ba được biết...

Và như vậy, đã có biết bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu bí mật về cuộc đời của anh chị em đã theo vị linh mục để trình diện trước tòa phán xét của Thiên Chúa hằng sống...

Biết bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu thổn thức, bao nhiêu trăn trở, bao nhiêu uất ức, bao nhiêu cái bi ai... của những kiếp người được linh mục mang theo bên mình để hiến dâng lên Chúa, để cầu nguyện trực tiếp ngay bên ngai tòa Chúa.

Đó là vinh quang, danh dự. Nhưng đó cũng là trách nhiệm cao quý của linh mục.

Được thấu hiểu nỗi niềm thuộc về góc khuất nơi tâm hồn con người, điều đó cũng nói lên lòng yêu mến, sự tin tưởng mà anh chị em dành cho linh mục.

Lòng yêu mến, sự tin tưởng của anh chị em dành cho linh mục, cùng sự trân trọng, sự thấu hiểu mà linh mục dành cho anh chị em mình là vốn liếng, là tài sản đáng quý hết sức của Hội Thánh Chúa Kitô.

Qua linh mục, Hội Thánh trở nên nguồn sống sinh động, nguồn an ủi, nguồn hy vọng của con người. Qua bàn tay lãnh đạo cách tận tụy, đầy tình yêu hy sinh của linh mục, Hội Thánh mãi mãi là bà mẹ chăm sóc, nâng niu, bảo vệ từng đứa con của mình.

Vì thế, trong một suy tư mà thánh Giám mục Augustino từng chia sẻ: "Cho anh chị em, tôi là Giám mục. Cùng với anh chị em, tôi là Kitô hữu", thì người linh mục cũng có thể nói: "Cho anh chị em, tôi là linh mục. Cùng với anh chị em, tôi là Kitô hữu".

Vì thế:

1. Một mặt, trong từng giây phút sống, người linh mục không được buông lỏng trách nhiệm.

Ngài phải chăm chút từng tí một cho ơn gọi của mình bằng việc thường xuyên cầu nguyện, thường xuyên kết hợp với Chúa, nhất là dâng thánh lễ sốt sắng, và chìm đắm trong thinh lặng tuyệt đối trước Mình Thánh Chúa để múc lấy ơn Chúa, múc lấy sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần mà hoàn thành cách tốt nhất trách nhiệm được trao phó.

2. Mặt khác, để mang lại chính lợi ích thiêng liêng cho bản thân mình, người tín hữu nói riêng, tất cả mọi người nói chung, hãy cầu nguyện cho các  linh mục được yêu mến Chúa, thánh thiện và dư đầy ơn Chúa. Nhờ đó, các ngài có đủ những điều kiện thiêng liêng cần thiết mà lãnh đạo và trao ban cho chúng ta. Mục lục.

NGHE & THEO

(Suy niệm Tin Mừng  Ga 10,27-30)

Bạn có nghe chăng tiếng Chủ Chiên?

Ngôi Hai Thiên Chúa, Chúa nhân hiền

Giáng trần gây dựng đoàn chiên Chúa

Đón nhận đoàn viên khắp mọi miền.

Chúa ban thần khí đủ khôn ngoan

Mạc khải tình thương mãi chứa chan

Nhận biết thế nào là vĩnh cửu

 Thế nào là vui sống chiên đoàn...

Chúa nói: Chiên tôi nghe tiếng tôi

Tôi  tìm kiếm, chúng, chúng theo tôi

Ngày nay Giáo Hội còn luôn nhắc:

Chúa ở cùng ta, chẳng lúc rời…

Theo Chúa là theo Đấng Cứu Tinh

Tin Mừng rao giảng Nước Thiên Đình

Chiên ngoan trọn đạo nơi dương thế

Lãnh phúc ngàn sau chốn  hiển vinh.

(Thế Kiên Dominic) Mục lục.

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan