SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIV TN_C

03-07-2019 143 lượt xem

(Chúa Nhật 14 Thường Niên C)

(Is 66,10-14c; Gl 6,14-18; Lc 10,1-12.17-20)

Mục Lục

SỐNG VÀ LOAN BÁO TIN VUI - ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

CẨM NANG NHÀ TRUYỀN GIÁO - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

CĂN TÍNH KI-TÔ GIÁO JM. Lam Thy ĐVD

CÁC CON HÃY ĐI Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ĐIỀU KIỆN CẦN CỦA NGƯỜI THỪA SAI Jos. Vinct. Ngọc Biển

“KHÔNG CÓ NƠI GỐI ĐẦU”Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

GIỮA BẦY SÓITrầm Thiên Thu

ĐƯỢC GHI TÊN TRÊN TRỜI (Thế Kiên Dominic)

SỐNG VÀ LOAN BÁO TIN VUI

ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Tín hữu là người cảm nhận được niềm vui khi theo Chúa và thao thức đem Tin vui ấy để kể lại cho mọi người. Năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố Tông huấn “Niềm vui của Tin Mừng”. Qua Tông huấn này, vị Chủ Chăn của Giáo Hội Công giáo mời gọi mọi thành phần Dân Chúa cảm nhận niềm vui của những người tin Chúa, đồng thời nhiệt thành cộng tác để loan báo niềm vui ấy cho mọi người sống trong thời đại hôm nay. Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Người loan báo Tin Mừng không bao giờ mang bộ mặt của một người vừa đi đưa đám về!… và chớ gì thế giới của thời đại chúng ta, một thế giới đang kiếm tìm, khi thì trong lo âu, khi thì trong hy vọng, có thể nhận được tin mừng không phải từ những người rao giảng rầu rĩ, chán nản, mất kiên nhẫn hay lo âu, nhưng từ những thừa tác viên Tin Mừng đang sống một cuộc đời đầy nhiệt huyết, những người trước đó đã nhận được niềm vui của Đức Kitô” (Số 10).

Khi trình bày đức tin, nhiều người trong chúng ta thường nhấn mạnh đến một chuỗi những ràng buộc mà ít khi đề cập đến niềm vui và vinh dự của người công giáo. Có lẽ vì thế mà đời sống đạo nơi một số tín hữu trở nên miễn cưỡng, nặng nề, không có sức thuyết phục đối với  anh chị em lương dân. Hãy nghe ngôn sứ Isaia, một người đã trải nghiệm niềm vui vì được Chúa yêu thương chăm sóc, diễn tả: “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy…”. Người tin vào Chúa trước hết cảm thấy vui vì có Chúa giữ gìn. Mặc dầu trải qua biết bao thử thách và giông tố cuộc đời, họ vẫn vui vì đang sống trong sự chở che của Chúa và tin vào quyền năng của Ngài. Thiếu niềm vui trong đời sống đức tin, những thực hành đạo đức sẽ trở nên trống rỗng vô hồn. Bởi lẽ chính niềm vui thúc đẩy chúng ta mến Chúa và cầu nguyện với Ngài. Niềm vui thiêng liêng ấy cũng giúp ta được sức mạnh để vươn lên trong cuộc sống, quảng đại bao dung với tha nhân.

Tín hữu là người sống và loan báo niềm vui. Như Ông Môisen trong Cựu ước chọn bảy mươi hai vị kỳ lão, Chúa Giêsu sai bảy mươi hai môn đệ, để cộng tác với Người trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Chân dung người loan báo Tin vui được chính Chúa Giêsu phác họa. Họ không phải là nhà doanh nghiệp, không phải chính trị gia hay chuyên viên kỹ thuật. Họ đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Món quà họ đem đến cho mọi người là sự bình an. Nội dung sứ điệp họ loan báo rất đơn giản: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. Đây cũng chính là nội dung sứ điệp từ thời ngôn sứ Isaia: “Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết”.Điều các môn đệ đem đến cho mọi người, trước hết là niềm vui nội tâm do đức tin đem lại. Nhờ niềm vui thiêng liêng đó, mọi người nghe sẽ được thuyết phục và đón nhận Lời Chúa.

Ngày hôm nay, Chúa cũng vẫn gọi và sai chúng ta đi đến mọi nẻo đường của cuộc sống. Thừa sai là bản chất của Giáo Hội. Mọi thành phần dân Chúa đều được mời gọi sống ơn gọi thừa sai phù hợp với hoàn cảnh sống và điều kiện cụ thể của mình. Đây là điều ít được chúng ta chú ý. Một bệnh nhân ốm đau liệt lào; một người già yếu không mấy khi ra khỏi nhà; một người sống trong môi trường công nhân thợ thuyền… tất cả đều là những tông đồ đang được Chúa sai đi để loan báo Tin vui. Nội dung của lời loan báo rất đơn giản, đó là Chúa yêu con người và Ngài khuyên họ hãy sống ngay lành thánh thiện. Người được sai đi có trách nhiệm loan báo Lời Chúa, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện, kể cả trong trường hợp bị khước từ và xua đuổi. Giống như người gieo hạt cần mẫn miệt mài làm tròn bổn phận mình, còn Chúa sẽ làm cho hạt ấy nảy mầm và lớn lên.

Một khi xác tín vào tình yêu thương của Chúa, và chúng ta tìm được niềm vui nơi Ngài, những khó khăn ta gặp phải trên đường đời không làm ta sợ hãi và thất vọng. Thánh Phaolô, sau khi đã gặp gỡ Chúa Giêsu, đã đặt lý tưởng sống của mình nơi Người. Thánh nhân đã chia sẻ: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”. Đối với ngài, mọi cố gắng nỗ lực đều nhằm đến việc tôn vinh Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá. Thập giá, đau khổ là điều mà mọi người muốn né tránh, thì Thánh Phaolô lại coi đó là một vinh dự và là bằng chứng của tình Chúa yêu thương.

Những ai nhiệt thành loan báo niềm vui được Chúa Giêsu hứa ban phần thưởng cao quý, đó là tên của họ được ghi khắc trên trời. Đây là một cách diễn tả hạnh phúc vĩnh cửu mà Chúa ban cho những ai trung tín với Người. Ghi khắc tên của ai, là dành cho chính bản thân người ấy một vị trí trang trọng với sự thân thương trìu mến. Tên của người tông đồ sẽ được khắc ghi trong trái tim của Thiên Chúa, Đấng là cội nguồn của hạnh phúc và là đích điểm của cuộc đời chúng ta. Mục lục.

CẨM NANG NHÀ TRUYỀN GIÁO

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu lập Nhóm Mười Hai. Ngài cho các ông sống bên cạnh mình. Ngài trực tiếp huấn luyện bằng cách cho các ông được nghe những lời Ngài giảng, được xem những việc Ngài làm. Sau đó, Ngài sai các Tông đồ ra đi thực tập truyền giáo. Chúa Giêsu còn chọn thêm nhiều môn đệ nữa. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy 72 môn đệ được sai phái thêm sau chuyến sai đi Nhóm Mười Hai (Lc 9,1-6) vì “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 10,2). Thánh Luca muốn nhấn mạnh rằng, không riêng gì các Tông đồ, mà tất cả mọi người đều được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng. Hai động từ “gọi, sai đi” diễn tả rõ rệt ơn gọi của các môn đệ. Trước khi các học trò lên đường, Chúa Giêsu căn dặn nhiều điều như là hành trang cần thiết cho sứ vụ tông đồ. M. Quesnel ví những lời đó như “một loại thủ bản, một cẩm nang cho một nhà truyền giáo hoàn hảo”1.

Hành trang Tông đồ

Hành trang đi đường chỉ là: cây gậy, đôi dép, không mang hai áo. Ý nghĩa ở đây là những kẻ được sai đi phải là những con người thanh thoát, không cồng kềnh nặng nề với của cải vật chất để có thể luôn sẵn sàng lên đường ra đi cho sứ vụ.

Chuyến đi nào cũng cần đến những hành trang. Hành trang cồng kềnh bước đi sẽ chậm. Hành trang gọn nhẹ bước tới sẽ nhanh. Hàng trang càng được tinh giản chỉ còn lại những gì thiết yếu nhất thì bước chân cũng sẽ thanh thoát khai lối cho mùa sứ vụ.

Hành trang của những kẻ lên đường xem ra chẳng có gì. “Gậy và dép” như gợi lại buổi Xuất hành. Nhẹ nhàng quá! Bận vướng với của cải đất đai sản nghiệp đùm đề làm sao có đủ tự do để bứt ra mà dứt khoát lên đường?

Hành trang của những kẻ lên đường xem ra chẳng có gì. “Không bánh, không bị, không tiền, không hai áo”. Nghèo khó quá! Chả bù cho con người ngày nay luôn biết tích lũy lo xa, có của ăn chưa đủ, còn có của để dành nữa. Nhưng cái nghèo về tài sản lại cho thấy cái giàu về đức hạnh. Không lo chiếm hữu hoặc gắn bó với của cải vật chất, người Tông đồ trở nên thanh thản lên đường bất cứ lúc nào. Không bận vướng những thứ lỉnh kỉnh làm nặng bước đi hoặc làm chùn bước tới, người Tông đồ học sống tinh thần phó thác để chỉ biết đợi chờ tất cả nơi một mình Thiên Chúa.

Xem ra chẳng có gì. Mà thực ra lại có tất cả. Bởi hành trang đích thực của họ chính là Chúa, Đấng đã nên sản nghiệp cho những kẻ được sai đi 2.

Hành trang ấy còn có ý nghĩa đặc biệt nữa. Đó là các môn đệ được tham dự vào ba chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Chúa Giêsu. Cây gậy của vương đế, đôi dép của tiên tri, và tấm áo của tư tế.

– Cây gậy

Cây gậy trong tay biểu trưng cho sức mạnh của Thiên Chúa thông ban cho người thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Ra đi với niềm tin vào năng quyền của Thiên Chúa trao ban: công bố Tin mừng cứu độ của Đức Kitô, chữa lành và thánh hoá nhằm cải thiện đời sống, xua trừ ma quỷ hầu chế ngự và đẩy lui các thế lực sự dữ.

– Đôi dép

Đôi dép là hình ảnh luôn lên đường. Truyền giáo là ra đi. Đi để mang sứ điệp Tin mừng đến với muôn dân. Sứ vụ sai đi khởi phát từ Chúa Cha “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”.

– Tấm áo

Người ra đi mang áo là mặc lấy tâm tình Chúa Giêsu. Nhờ đó, các môn đệ làm cho cuộc đời mình trở nên của lễ hiến dâng hợp với hiến lễ Chúa Kitô.

Chúa Giêsu còn trao cho các môn đệ những quyền năng của Ngài: quyền rao giảng, quyền chữa bệnh, quyền trừ quỷ.

Với những hành trang như thế, Chúa Giêsu muốn tỏ cho thấy sự thành công trong hoạt động Tông đồ không do tài lực của con người nhưng là do quyền năng Thiên Chúa.

Phương thức hoạt động Tông đồ

Sứ vụ loan báo Tin mừng không phải là việc của một cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải liên đới và liên kết với nhiều người khác. Khi sai đi “từng hai người một”, Chúa Giêsu mong các môn đệ hợp tác và liên đới với nhau, khích lệ và bàn hỏi nhau khi gặp khó khăn “Hai người có giá trị hơn một, nếu họ ngã, người này đỡ người kia dậy” (Gv 4,9). Hai người làm việc chung, nâng đỡ nhau biểu lộ tình yêu thương nhau như một dấu chỉ đặc trưng của môn đệ của Chúa (x. Ga 13,35). Dấu chỉ này là một chứng từ sống động và lôi cuốn người khác.

Trong Công vụ Tông đồ, các nhà truyền giáo thường lên đường với nhau “từng hai người một”: Phêrô đi với Gioan (Cv 3,1; 4,13); Phaolô với Banabê (Cv 1 3,2); Giuđa và Sila (Cv 15,22)… Hoạt động Tông đồ luôn là tạo thành nhóm. Nếp sống huynh đệ là một bài giảng về tình yêu. Chứng tá về tính hiệp nhất khi gắn bó với Đấng đã sai mình, chứng tá về tình huynh đệ khi nhận ra mình được sai đi “từng hai người một”. Chứng tá Kitô hữu phải nhắm đến một hình thức cộng đoàn trong Giáo Hội. Cuộc sống yêu thương trong cộng đoàn vừa là dấu hiệu của người môn đệ Chúa Giêsu, vừa là lời rao giảng sống động, hùng hồn nhất về Tin Mừng.

Chúa Giêsu gọi các môn đệ và sai đi truyền giáo. Giáo hội tiếp nối sứ vụ được sai đi, đến với muôn dân. Ra đi là dấn thân đi đến gặp gỡ mọi người với tinh thần đơn sơ, từ bỏ và tự do, để loan báo tin vui và mang đến cho họ ơn cứu độ.

Như thế, Tông đồ là người lên đường chứ không phải xuống đường. Lên đường là một tinh thần nhạy cảm của Tin Mừng được thể hiện qua lối sống gắn bó với sứ vụ. Nhạy cảm với những thao thức của thời đại để tìm đổi mới tư duy, nâng cao tầm nhìn, nới rộng kiến thức, mong diễn đạt Tin Mừng sát với ngôn ngữ hiện tại. Nhạy cảm với nhu cầu của tha nhân bằng muôn ngàn cách thể hiện lòng nhân ái vốn là điểm sáng của giới luật yêu thương, đồng thời là dấu hiệu dễ nhận ra nhất của Tin Mừng cứu độ. Nhạy cảm với Giáo Hội để tìm hiệp nhất. Nhạy cảm với đồng nghiệp để tìm huynh đệ nâng đỡ cộng tác. Nhất là, nhạy cảm với Chúa để tìm thuộc về Ngài mỗi ngày một hơn. Và dọc dài sứ vụ, tư thế lên đường sẽ làm nên hình ảnh chứng nhân 3.

Sứ vụ Tông đồ là sống chứng nhân

Trao “Sứ vụ” cho các môn đệ, Chúa Giêsu không bảo các ông “phải giảng điều gì”. Ngài chỉ căn dặn các ông những chi tiết “phải sống”. Đối với Chúa Giêsu, ra đi làm chứng tá bằng cuộc sống quan trọng hơn chứng tá bằng lời nói.

Trong Tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, Đức Thánh Cha Phaolô VI quả quyết ít nhất hai lần rằng, phương thức thứ nhất để rao truyền Phúc Âm chính là làm chứng bằng một cuộc sống Kitô hữu đích thực (x. số 21 và 41).

Có ba cách làm chứng: nói, làm và sống. Hiệu năng nhất là cách thứ hai và thứ ba. Ai cũng biết nói thì dễ, làm khó hơn, và sống như mình nói lại càng khó hơn nữa. Chính việc làm và đời sống làm cho lời mình nói đáng tin hơn. Nhưng cả khi người ta chưa nói hay không thể nói, chưa làm hay không thể làm một số điều nào đó, thì người ta đã có thể sống điều mình xác tin và muốn chia sẻ.

Theo Đức Phaolô VI, làm chứng bằng cuộc sống, bằng hành động cụ thể là một cách rao giảng thầm lặng, không nghe được, nhưng thấy được và rất hữu hiệu, nhất là đối với con người thời nay vì hai lý do: một là vì thời nay (thời của khoa học thực nghiệm và của óc thực tiễn), người ta nhạy cảm với việc làm và dị ứng với lời nói và các học thuyết, hai là vì trong thế giới trần tục hoá ngày nay, như ở Việt Nam chẳng hạn, tôn giáo bị đẩy ra bên lề như chuyện riêng tư, thế nên không phải bất kỳ ở đâu và lúc nào người ta cũng có thể, hay nên trực tiếp rao giảng Tin Mừng. Năm 1937, Mahatma Gandhi, vị anh hùng dân tộc Ấn Độ nói với các nhà truyền giáo: “Hãy để cho đời sống các ngài nói với chúng tôi như đoá hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ đơn sơ để cho hương thơm của mình toả lan. Cả người mù không nhìn thấy hoa hồng vẫn nhận ra được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của nhân dân của các ngài khi họ toả hương thơm đời sống. Đối với tôi, đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu chứ không phải chú giải nó”.

Vậy để loan báo Tin Mừng thuyết phục, người Kitô hữu phải sống thế nào cho cuộc đời mình trở thành đáng tin. Đới sống đáng tin thì tự nhiên lời nói cũng đáng tin. Làm tông đồ, rao giảng Phúc Âm đặc biệt thích hợp cho ngày nay là làm cho đời sống Kitô hữu đáng tin. Như vậy toàn bộ cuộc sống ta đều phải “làm chứng”: lời ăn tiếng nói, cách cư xử, giao tiếp, trong gia đình, ngoài xã hội, khi làm việc, khi vui chơi giải trí… Đối với người có ý thức truyền giáo thì nhất nhất việc gì, khía cạnh nào của đời sống họ cũng có thể là lời loan báo. Lời trách nặng nề nhất của người chưa biết Chúa đối với tín hữu Công giáo có lẽ là: Người Công giáo các anh (các chị) không mấy đáng tin; các anh (các chị) nói một đường làm một nẻo. Đức tin, giáo lý nghe thì thật hay nhưng không thấy đem lại cho xã hội một cái gì thật sự tốt đẹp và mới mẻ. Lời phê bình đó có lẽ là quá đáng nhưng thiết tưởng ta chẳng cần cãi lý làm gì, hãy coi đó như một lời nhắc nhở để chúng ta nhìn lại cuộc sống “chứng tá” của mình. Xã hội này đang suy thoái trầm trọng về đạo đức: tham nhũng, thối nát, dối trá, bất công, xì ke ma túy, sa đoạ … Ta có còn là men, là muối, là ánh sáng nữa không?

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu,xin sai chúng con lên đường nhẹ nhàng và thanh thoát,không chút cậy dựa vào khả năng bản thân hay vào những phương tiện trần thế. Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm: rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,chữa lành những người ốm đau. Xin cho chúng con biết nói Tin Mừng với niềm vui,như người tìm được viên ngọc…. quý,biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân. Xin ban cho chúng con khả năng đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa. Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ của bao người đau khổ thể xác tinh thần.

Lạy Chúa Giêsu,thế giới thật bao la mà vòng tay chúng con quá nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau mà tin tưởng lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát. Amen.(Mana).

____________________

1 “Comment lire un évangile?”, Seuil, trang 103.

2 “Với cả tâm tình”, trang 117-120, ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống (+).

3 “Với cả tâm tình”, trang 121.

4 “Đạo trong đời”, trang 252-255, Lm. Nguyễn Hồng Giáo (+). Mục lục.

CĂN TÍNH KI-TÔ GIÁO

JM. Lam Thy ĐVD

Mở đầu Sứ điệp Truyền Giáo năm 2017, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô viết: “Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay một lần nữa quy tụ chúng ta quanh con người Đức Giê-su, “Người rao giảng Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất” (Tông huấn Loan báo Tin Mừng “Evangelii Nuntiandi”, số 7), Người liên tục sai chúng ta đi công bố Tin Mừng tình yêu của Thiên Chúa Cha trong quyền năng Chúa Thánh Thần. Ngày Truyền Giáo này mời gọi chúng ta một lần nữa suy tư về việc truyền giáo ở tâm điểm của đức tin Ki-tô giáo. Hội Thánh tự bản chất là truyền giáo; nếu không, Hội Thánh không còn là Hội Thánh của Đức Ki-tô, mà là một trong nhiều nhóm người nào khác rốt cuộc sẽ đánh mất mục đích phục vụ của nó và qua đi. Vì vậy, điều quan trọng đối với chúng ta là tự đặt ra cho mình những câu hỏi về căn tính Ki-tô giáo và trách nhiệm của chúng ta là những tín hữu trong một thế giới đầy hỗn loạn và thất vọng ê chề, bị xâu xé bởi những cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhắm vào những con người vô tội một cách bất công.” 

Trong khi “đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền, Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,35-38). Và vì thế, Người tiếp tục sai 72 môn đệ đi rao giảng Tin Mừng (CN XIV/TN-C – Lc 10,1-12.17-20). Trước đó, Người đã sai 12 môn đệ đi giảng dạy (Lc 6,12-15), và vì là 12 môn đệ đầu tiên chính thức được sai đi, nên các Thánh sử nêu tên đầy đủ; nhưng lần này là con số đông gấp 6 lần nên không thể nêu danh tính. Sự kiện này mang ý nghĩa gì? Điều này cho thấy ngay từ giai đoạn khởi đầu cho sứ vụ cứu độ nhân loại, Đức Giê-su Ki-tô đã trao sứ vụ cho tất cả những ai tin và đi theo Người, được Người coi là bạn hữu (“Anh  em là bạn hữu của Thầy, nếu anh  em thực hiện những điều Thầy truyền dạy” – Ga 15,14). Như vậy là đã rõ, tất cả mọi Ki-tô hữu đều được coi là “thợ gặt” trên cánh đồng lúa chín Truyền Giáo. 

Đức Giê-su Ki-tô – Đầu của Giáo hội – đã chỉ thị rõ ràng như vậy, nhưng tiếc một điều là sau đó, Giáo hội lại chỉ dành cho Giám mục đặc quyền giảng dạy Lời Chúa. Đến Linh mục, Tu sĩ cũng không được phép, chớ đừng nói là giáo dân. Mãi đến thế kỷ XII, XIII, có những nhóm giáo dân tự phát chia sẻ Lời Chúa (như nhóm “Các bà mẹ khoác áo choàng” chẳng hạn). Một số Linh mục trong những dòng tu (Dòng Phan-sinh, Dòng Đa Minh) nhận chân được vấn đề, nên đứng ra trình bày với Toà Thánh để xin phép và được Đức Giáo Hoàng châu phê, cho giáo dân được chính thức tham dự vào công cuộc loan báo Tin Mừng (Dòng Phan-sinh cũng như Dòng Đa Minh từ đó có thêm Dòng Ba dành cho giáo dân, ngoài hai Dòng Nhất và Nhì dành cho Linh mục, Tu sĩ, Đan sĩ). Kể từ đó, giáo dân mới được quyền rao giảng Tin Mừng và phải chờ đến thế kỷ XX, với Công đồng Va-ti-ca-nô II (1962-1965), người giáo dân mới chính thức được công nhận có quyền và có bổn phận loan báo Tin Mừng, chia sẻ Lời Chúa. 

Sở dĩ như vậy, cũng một phần do cách hiểu Tin Mừng ở giai đoạn đầu của Giáo hội. Tuy nhiên, cho đến ngày nay vẫn còn rải rác những tư tưởng cho rằng chỉ có hàng Giáo sĩ, Giáo phẩm (Giám mục, Linh mục, Phó tế) mới có quyền làm “thợ gặt” và trong những giờ chầu Thánh Thể, khi hát bài “Lời nguyện Truyền Giáo” (“Lạy Chúa, xưa Chúa đã phán: Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt…”), đa phần đều cầu nguyện xin Chúa ban thêm nhiều linh mục. Thật ra, làm “thợ gặt” không nhất thiết cứ phải là linh mục. Và cũng không phải hễ cứ là linh mục thì sẽ là “thợ gặt” đích thực. Điều cần thiết là phải cầu xin Thiên Chúa ban cho có những “thợ gặt” chính hiệu, nghĩa là những “thợ gặt” lành nghề, chịu khó, có tinh thần và lương tâm tông đồ, chứ không phải là những thợ gặt “ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được chào hỏi ở những nơi công cộng, ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc” (Lc 20,46). 

Còn nếu cứ thích hiểu “thợ gặt” là linh mục, thì xin đọc kỹ Tông huấn Ki-tô Hữu Giáo Dân “Christi Fideles Laici”(số 14): “Thánh Phê-rô Tông đồ đã dạy khi gọi những người đã chịu phép rửa tội "là dòng giống được lựa chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, là dân tộc thuộc về Thiên Chúa" (1 Pr 2,9). Và cũng vì nó bắt nguồn từ sự thông hiệp trong Giáo hội nên việc tham dự của các tín hữu giáo dân vào ba chức vụ của Đức Ki-tô đòi hỏi phải sống và thực hiện trong sự thông hiệp, và để cho sự thông hiệp ngày càng tăng trưởng. Thánh Au-gus-ti-nô viết: "Cũng như chúng ta tất cả được gọi là Kitô-hữu (Christiani) vì đã được xức dầu (Chrisma) một cách thiêng liêng, do đó tất cả được gọi là linh mục, bởi vì chúng ta là thành phần thân thể của Linh Mục duy nhất.”

Linh Mục duy nhất đó chính là Đức Ki-tô – vị Linh Mục Thượng Phẩm (Tư Tế Thượng Phẩm), Đấng là Đầu, là người chăn dắt các chiên linh mục. Tuy rằng tất cả những tín hữu đã lãnh nhận Phép Rửa đều được coi là linh mục, nhưng những người được đón nhận Ơn Gọi Tu Trì (Ơn Thiên Triệu) mới chính thức là người thừa kế công việc (thừa tác vụ) của Linh Mục Duy Nhất là Đức Giê-su, thông qua bí tích Truyền Chức (nên được gọi là Tư tế thừa tác). Số đông còn lại chỉ là những linh mục tự chăn dắt chính con chiên bản thân và đóng góp sức mình vào sứ vụ chung của cả đoàn chiên (nên được gọi là Tư tế cộng đồng). Rõ ràng các chiên linh mục được Linh Mục duy nhất Giê-su chăn dắt bao gồm cả Tư tế thừa tác và Tư tế cộng đồng.

Nhìn vào nhu cầu loan báo Tin Mừng cho thế giới, Đức Giê-su nhận thấy số người đi loan báo so với số người cần được loan báo quả thật còn quá ít. Vì thế, điều Người yêu cầu là “hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Nghĩa là Người yêu cầu các tín hữu hãy cầu xin Thiên Chúa làm cho số “thợ gặt” đông lên. Điều lý thú ở đây là Người chưa yêu cầu các môn đệ làm “thợ gặt” chính hiệu, mà hãy cầu nguyện cho có nhiều “thợ gặt” đã. Khi thành tâm cầu nguyện như thế, ắt Ông Chủ sẽ thoả mãn nhu cầu, vì “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho.” (Mt 7,7). Và khi lời cầu xin ấy đạt hiệu quả tốt đẹp, thì những người cầu nguyện ấy đã đương nhiên là những “thợ gặt” chính hiệu rồi vậy.

72 “thợ gặt” được sai đi loan báo triều đại Thiên Chúa đã đến gần, đó là một sứ mệnh cao trọng và vô cùng khẩn thiết trong một thế giới chứa đầy hận thù gian ác. Một cách cụ thể thì đó là sứ mệnh hòa giải đem lại an bình cho nhân loại như chính Đức Giê-su đã đến và mời gọi cộng tác với Người trong sứ vụ cao trọng đó. Những tưởng sứ vụ hoà bình thì chỉ là đi vào một cánh đồng mênh mông bát ngát những bông lúa chín vàng để thoải mái gặt, ai dè lại được Người Sai Đi báo trước: “Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói” (Lc 10,3). Chiên con mà đi vào giữa bầy sói thì không dễ dàng gì mà thực hiện nổi sứ vụ đi ngược lại với dục vọng của sói dữ. 

Tuy nhiên, nếu chiên con tin tưởng mãnh liệt vào Người Thầy đã sai mình đi, thì sẽ được “Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em” (Lc 10,19), và sẽ hoàn tất được sứ mệnh. Chỉ đến khi nào “Sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ, bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau” (Is 11,6), “Sói với chiên con sẽ cùng nhau ăn cỏ, sư tử cũng ăn rơm như bò” (Is 65,25); thì lúc ấy các thợ gặt sẽ hoan hỉ báo công và được Ông Chủ “sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thủa tạo thiên lập địa” (Mt 25,33-34).

Còn biểu tượng nào diễn tả cảnh hòa bình cho bằng cảnh chiên con nằm chung với chó sói (Is 11,6; 65,25). Đó là hình ảnh tuyệt vời thể hiện sứ mệnh hòa giải khó khăn nhất mà người môn đệ phải thực hiện trên bước đường truyền giáo. Đức Giê-su đã biết trước tất cả những nguy hiểm đó vì chính Người cũng đã phải đối mặt với khổ đau và cái chết. Người môn đệ cũng phải chia sẻ cùng một thân phận, nên cần  phải nhận chân được sự khổ đau và cái chết chính là thành quả gặt hái được của những “thơ gặt” chính hiệu trên cánh đồng Truyền Giáo. Hãy vững  tin và kiên trì cầu nguỵên cho mình có đủ can đảm và dũng khí chấp nhận khổ đau và nhất là cái chết vì Tình Yêu như Chiên Thiên Chúa Giê-su Ki-tô, thì sẽ được trở nên đồng hình đồng dạng với Người. Vâng, “Vấn đề là được biết chính Đức Ki-tô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3,10-11). 

Ôi! Lạy Chúa! Cúi xin Chúa thương ban cho nhân loại thật nhiều “thợ gặt” là những Tông đồ đích thực, thiện nghệ, có tình yêu thật sự đối với Thiên Chúa và tha nhân, để họ dám hy sinh cho vinh quang của Chúa và hạnh phúc của mọi “người thân cận” trên khắp năm châu bốn biển. Nhờ đó, Nước Chúa sẽ được thực hiện ngay trên trần gian này. Ôi! Lạy Chúa! Cúi xin Chúa soi lòng mở trí cho chúng con để “chúng con tự đặt ra cho mình những câu hỏi về căn tính Ki-tô giáo và trách nhiệm của chúng con là những tín hữu trong một thế giới đầy hỗn loạn và thất vọng ê chề, bị xâu xé bởi những cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhắm vào những con người vô tội một cách bất công” (Sứ điệp Truyền Giáo năm 2017) Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen. Mục lục.

CÁC CON HÃY ĐI

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Tin Mừng hôm nay cho thấy có một số đông những người vây quanh Chúa Giêsu. Nhìn đồng lúa chín vàng, Chúa nói với họ: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người" (Lc 10,2). Và Người đã chọn trong đám đông đó một số người. Anh hãy theo Ta, anh và cả anh nữa. Cho đến người thứ bẩy mươi hai...

Như thế, ngoài số Mười Hai Tông Đồ ra còn có rất nhiều môn đệ được Chúa gọi đi theo Chúa. Trong số các môn đệ Người, Chúa Giêsu đã chọn ra bảy mươi hai người khác và giao cho một sứ vụ cụ thể. Người đòi hỏi họ như đòi hỏi Nhóm Mười Hai, là dứt khoát từ bỏ những dính béng với của cải trần thế và phó thác hoàn toàn cho sự quan phòng của Thiên Chúa toàn năng.

Chọn xong rồi, Chúa sai họ cứ từng hai người một, đi đến các thành và các nơi mà Người định tới. Một người trong số họ đã có thể trả lời trong sự lúng túng: "nhưng lạy Thầy, con đến chỉ để lắng nghe Thầy thôi vì tất cả những gì Thầy nói đều tốt đẹp!"

Chúa cảnh báo họ đề phòng những hiểm nguy đang chờ đợi họ. "Các con hãy đi! Này Ta sai các con như chiên con vào giữa sói rừng" (Lc 10,3). Và bằng cách dùng các hình ảnh quen thuộc của dụ ngôn, Chúa nói thêm: "Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép" (Lc 10,4). Diễn đạt bằng ngôn ngữ biểu cảm của Chúa Giêsu là: Hãy để sự trợ giúp của con người sang một bên. Thày sai các con đi, các con cứ đi và như thế đã là đủ. Cho dù các con ở xa tít tắp, Thầy vẫn ở bên cạnh các con, đồng hành với các con.

Bẩy mươi hai người này khác với mười hai môn đệ kia, Chúa chọn gọi mười hai ông để ở với Người, còn bẩy mươi hai môn đệ ở lại với gia đình và nghề nghiệp của họ. Và sống điều họ khám phá ra khi ở bên Chúa Giêsu: để làm chứng, mỗi người một địa vị, đơn giản là để giúp đỡ những người xung quanh để họ được gần gũi Chúa Giêsu hơn.

Cuộc phiêu lưu của họ kết thúc tốt đẹp: "Bảy mươi hai trở về vui mừng" (Lc 10,17). Ngồi quanh Chúa Giêsu, họ kể cho Chúa nghe những kinh nghiệm từng gặp, và họ khám phá ra nét đẹp của đời nhân chứng.

Biến cố thời xa xưa ấy ngày hôm nay nhắc nhớ chúng ta rằng, đây không phải là một ký ức đơn thuần lịch sử. Chúng ta cảm thấy mình có liên quan: chúng ta có thể đến gần Chúa Giêsu hiện diện trong các nhà thờ và tôn thờ Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Đức Thánh Cha Phanxicô khuyến khích chúng ta "mang Chúa Giêsu Kitô đến cho mọi người và dẫn mọi người đến gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô là đường, là sự thật và là sự sống, Người đang thực sự hiện diện trong Giáo hội và nơi con người hôm nay".

Thánh Công đồng Vatican II, trong Sắc Lệnh về Tông đồ Giáo dân, nhắc nhở chúng ta rằng, sau khi rửa tội mỗi người Kitô hữu được mời gọi để thực hiện một sứ mệnh nhân danh Chúa: "Vậy Thánh Công Ðồng nhân danh Chúa hết sức kêu mời tất cả các giáo dân, hưởng ứng sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, hãy mau mắn, đại độ và sẵn sàng đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, Ðấng giờ đây đang tha thiết mời gọi họ. Ước gì giới trẻ hiểu rằng lời mời gọi này được đặc biệt gởi tới họ và ước gì họ vui mừng và quảng đại đón nhận. Quả thật chính Chúa một lần nữa nhờ Thánh Công Ðồng này, mời gọi tất cả các giáo dân hãy kết hợp với Người ngày một mật thiết hơn và nhận thức được những gì của Người cũng là của chính mình (x. Ph 2,5), họ hãy tham gia vào sứ mạng cứu rỗi của chính Người và một lần nữa Người sai họ đi tới các thành và những nơi Người sẽ đến (x. Lc 10,1). Như thế giáo dân hãy chứng tỏ mình là cộng tác viên của Chúa, cộng tác vào cùng một công cuộc tông đồ của Giáo Hội bằng nhiều hình thức và phương tiện khác nhau. Những cộng tác viên phải luôn luôn thích nghi với những đòi hỏi mới của thời đại và không ngừng ra sức phục vụ Chúa bởi biết rằng khó nhọc của mình không phải là uổng phí trong Người" (x. 1 Cr 15,58). (số 33).

Chúa Giêsu Kitô muốn thấm nhuần nơi các môn đệ của Người sự mạnh dạn tông đồ; chính vì lý do đó mà Chúa Giêsu nói với họ: "Này Ta sai các con" (Lc 10,3). Và Thánh Gioan Kim Khẩu giải thích rằng: "Như thế đã đủ để ban cho các con sự can đảm, điều này cũng đủ để ban cho các con niềm tin để các con không còn sợ hãi trước sự tấn công của kẻ thù".

Sự can đảm của các Tông Đồ và của các môn đệ đến từ chính Thiên Chúa là Đấng đã chọn họ và sai họ đi. Như Phêrô đã quả quyết trước Thượng Hội Đồng rằng, nhân danh Chúa Giêsu Kitô thành Nagiarét, "vì dưới gầm trời này, không có môt Danh nào khác đã được ban xuống cho nhân loại để phải nhờ vào đó mà chúng ta trông được giải thoát " (Cv 4,12).

"Các con hãy đi". Lời Chúa Giêsu ngày hôm nay vẫn còn rất cấp bách. Xin cho các bạn trẻ đáp lại sự sai đi của Chúa. Amen. Mục lục.

ĐIỀU KIỆN CẦN CỦA NGƯỜI THỪA SAI

Jos. Vinct. Ngọc Biển

Khi nói đến truyền giáo, Giáo Hội muốn chúng ta trở về căn gốc để hiểu và thấy được rằng: Đức Giêsu chính là nhà thừa sai đầu tiên được Chúa Cha sai xuống trần gian để loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân.

Khi đến trong thế giới con người, Đức Giêsu đã thi hành xuất sắc sứ vụ thừa sai mà Chúa Cha trao phó cho Ngài. Sứ vụ ấy không chỉ dừng lại nơi bản thân và cuộc đời của Đức Giêsu, nhưng nó được trao truyền cho những người tiếp bước. Khởi đi từ các Tông đồ, rồi đến các môn đệ và chúng ta, đồng thời sẽ còn được tiếp diễn mãi cho đến tận thế.

Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về vai trò, tinh thần, sứ mạng của người được sai cũng như những cách thức thực hiện sứ vụ thừa sai.

1. Vai trò của nhà thừa sai

Bài đọc I cho chúng ta thấy vai trò thừa sai của tiên tri Isaia: ông loan báo cho dân về một giai đoạn tự do, không còn bị lệ thuộc trong thân phận nô lệ bên Babylon nữa. Bởi vì vua Ba Tư đã ký và cho phép dân Israel hồi hương, kết thúc giai đoạn lưu đày. Tuy nhiên, lòng dân vẫn chưa thấy bình an, nỗi lo vẫn còn đó...! Biết được sự trăn trở của dân, nên tiên tri Isaia đã trấn an họ bằng việc loan báo Chúa sẽ ban bình an và vinh quang cho Giêrusalem. Bổn phận của họ là kiên trì và tin tưởng vào Người để được no nê, sung sướng, bình an, được vỗ về, an ủi và nâng niu. Giống như người mẹ yêu thương con mình thế nào, Thiên Chúa cũng yêu thương dân của Người như vậy.

Sang Bài đọc II, Thánh Phaolô đã sống sứ vụ cốt lõi thừa sai của mình khi tập trung vào mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô.

Vì thế, ngài đã mạnh dạn tuyên bố niềm xác tín đó của mình khi nói: "Trong khi người Dothái đòi dấu lạ, và người Hylạp tìm sự khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô đã bị đóng đinh vào thập giá, cớ vấp phạm cho người Dothái, sự điên rồ đối với người dân ngoại (Hylạp)" (1 Cr 1,22-23).

Không chỉ nói, mà cả cuộc đời của ngài diễn tả niềm vui vì được kết hợp với Đức Giêsu chịu đóng đinh: "Đối với tôi, không một vinh quang nào khác ngoài vinh quang thập giá Đức Kitô".

Như vậy, vai trò thừa sai của thánh Phaolô chính là gắn bó mật thiết nơi mầu nhiệm thập giá Đức Kitô.

2. Tinh thần của nhà thừa sai

Sang bài Tin Mừng, sau khi đã gợi hứng cho các môn đệ về sứ vụ thừa sai qua hình ảnh cánh đồng lúa chín vàng, Đức Giêsu bắt đầu sai họ ra đi để thu hoạch.

Trước tiên, Ngài sai "từng hai người một" ra đi loan báo Tin Mừng. Khi sai các môn đệ đi từng hai người như thế, Đức Giêsu muốn cho các ông hiểu rằng: khi loan báo về Nước Trời, điều quan trọng là tính hiệp thông, hiệp nhất để cùng nhau sống và làm chứng cho sự thật.

Thứ đến, Đức Giêsu tiên báo cho các môn đệ thấy trước những khó khăn thử thách, những rào cản trên cuộc hành trình ấy: "Thầy sai các con đi như chiên con đi giữa bầy sói" (Lc 10,3). Ngài nói trước những khó khăn như vậy để cho các ông thấy rằng, trong khi loan báo về Nước Trời, không thiếu những kẻ không muốn vào mà lại còn tìm cách ngăn cản không cho những người khác vào. Cuộc sống và hành trình này không phải lúc nào cũng xuôi trèo mát mái, mà luôn gặp phải những bão táp cuồng phong.

Tiếp theo, tinh thần siêu thoát, nhẹ nhàng là hành trang của người môn đệ. Đức Giêsu không chấp nhận nhà thừa sai mang những thứ cồng kềnh. Bởi vì những thứ đó sẽ làm cho người thi hành sứ vụ sinh ra nặng nề và đôi khi bỏ cuộc chỉ vì những chuyện phụ thuộc như "củ hành, củ tỏi". Vì thế, Ngài nói:"Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép...".  Người môn đệ phải sống nghèo thực sự. Có sống nghèo, các ngài mới có sự cảm thông, liên đới và chấp nhận tất cả vì sứ mạng.

Hơn nữa, loan báo về Nước Trời là một sự cần kíp, cấp bách đến độ phải ưu tiên hàng đầu. Vì thế, Đức Giêsu căn dặn các ông rằng: "Đừng chào hỏi ai dọc đường". Lý do, đây là mệnh lệnh khẩn trương, đòi hỏi người môn đệ phải nhanh nhẹn. Bởi vì, khi loan báo Tin Mừng, không được quan tâm đến những chuyện bên lề quá nhiều để rồi quên đi việc chính yếu.

Cuối cùng, là tinh thần kiên nhẫn. Phải chăng chính Đức Giêsu đã cảm nghiệm sâu sắc khi người dân quê của Ngài nhận định về mình: "Ông ấy chẳng phải là con bà Maria hay sao, cha ông ta lại không phải là bác thợ mộc...?" Rồi biết bao chống đối, ngờ vực, không tin, bị bắt bớ, đánh đòn... Nhân đây, Đức Giêsu muốn dạy cho các ông phải có tinh thần kiên trì, chịu đựng, không được nóng vội.

Như vậy, qua bài Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu đã truyền lại cho các môn đệ tinh thần thừa sai của chính Ngài, để các ông ra đi thi hành sứ vụ theo Thiên Ý chứ không phải theo cách thế phàm trần.

3. Sứ mạng thừa sai của mỗi chúng ta

Khi sai 72 môn đệ đi loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu muốn cho mỗi người chúng ta được tham dự vào sứ mạng ngôn sứ phổ quát của Ngài. Sứ mạng ấy được khởi đi từ lệnh truyền của Đức Giêsu: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16,15). Từ đó, chúng ta xác định căn tính truyền giáo thuộc về chúng ta. Bao lâu chúng ta không truyền giáo, thì bấy lâu ta đánh mất bản chất của mình. Bởi vì: "Khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng" (1 Cr 9,16). Nỗi lòng thao thức của Đức Giêsu: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít..." phải là lời chất vấn lương tâm mỗi chúng ta.

Là Kitô hữu, chúng ta cùng đồng lòng và cảm nghiệm với Đức Giêsu trước những cánh đồng bao la đang độ chín vàng... Tham gia vào sứ mạng truyền giáo là chúng ta đang đóng góp cho Giáo Hội những viên gạch, hạt cát để xây nên tòa nhà Giáo Hội, nơi đó là niềm vui, hạnh phúc và bình an.

Thiết nghĩ, trong cuộc sống của con người thời nay, niềm tin đang bị đánh cắp hay bị đặt sai chỗ bởi những chủ thuyết tương đối, dẫn đến tình trạng bình thường hoá mọi mặt, kể cả những giá trị đạo đức, những chân lý đức tin. Đứng trước thực trạng trên, chúng ta có bổn phận phải thực thi sứ vụ thừa sai của mình về Chúa cho anh chị em chúng ta.

Sứ vụ ấy được khởi đi từ trong gia đình: chồng làm chứng cho vợ, vợ làm chứng cho chồng, vợ chồng sống chung thủy. Cha mẹ nêu gương sáng cho con cái. Con cái hiếu nghĩa với cha mẹ. Bạn bè sống tốt với nhau trong môi trường, công ty, xí nghiệp. Hàng xóm láng giềng ăn ở hài hoà, sẵn sàng giúp đỡ nhau những lúc cần kíp...

Khi sống đời chứng tá bằng những giá trị Tin Mừng như thế, chúng ta sẽ gặp không ít những khó khăn, thử thách trong đời sống. Không thiếu gì những cám dỗ làm cho muối ra nhạt, ánh sáng bị lu mờ. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn luôn nhớ mình thuộc về Đức Kitô, có tránh nhiệm mang Ánh Sáng ấy soi sáng thiên hạ.

Lạy Chúa Giêsu, còn biết bao nhiêu người chưa nhận biết Chúa, nhiều chiên lạc chưa được đưa về ràn. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con trở nên những thừa sai đích thực, luôn sẵn sàng, hăng say loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Chúa. Ước gì mọi người con của Chúa trên trần gian này đều được quy tụ thành một ràn chiên duy nhất, dưới sự lãnh đạo của Vị Mục Tử Tối Cao là chính Chúa. Amen. Mục lục.

"KHÔNG CÓ NƠI GỐI ĐẦU” 

Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG

Chiếc xe khách Đà Lạt – Sài Gòn vừa dừng. Tôi bước xuống. Giữa trưa đầu mùa hè, cái nắng Sài Gòn hầm hập và gay gắt. Định gọi xích lô về nhà, còn đang ngơ ngác, tôi bỗng nghe từ phía sau có tiếng gọi:

- Anh về đâu, lên xe em về nè. Một người lái xích lô mời.

- À, tôi về...

Bỗng ánh mắt của người lái xích lô nhìn tôi không chớp, nhìn chằm chằm. Tôi hơi ngỡ ngàng.

- Ủa, H phải không? Đi đâu mới về vậy? Vừa hỏi, anh vừa lấy nón lau mồ hôi..

Đúng lúc đó, tôi mới nhận ra N, Bạn học từ khi lên lớp sáu. Hồi ấy N là học sinh giỏi, nhưng gia đình lại nghèo. Vì thế, sau khi tốt nghiệp trung học, N không thể tiếp tục học. Thế rồi chúng tôi chia tay nhau. Từ đó không có liên lạc gì. Sau bao nhiêu năm vật lộn với cuộc sống, bây giờ N già đi nhiều quá. Nước da đen sạm. Gương mặt và đôi mắt ấy nhuộm nắng, pha sương theo năm tháng mà hốc hác, sâu thẳm. Hàm râu chơm chởm và mái tóc rối bù càng làm cho tôi khó mà nhận ra thằng bạn của mình ngay tức khắc. Sau giây phút ngỡ ngàng, tôi trả lời N mà chưa hết thản thốt:

- À, mình đi Đà Lạt về. Trời ơi, Bạn đạp xích lô à, lâu chưa?

- Hơn ba năm...

Rồi N nói thật tự nhiên:

- Lên xe đi, mình chở về cho.

Tôi thoáng ngập ngừng, nhưng sợ bạn nghĩ ngợi, vội bước lên xe...

Bạn ạ, có bao giờ bạn nhìn cuộc sống của anh chị em xung quanh, rồi tự nhận ra mình chưa? Riêng lương tâm của tôi đã từng bị đánh động như thế. Nhìn anh chị em để thấy ơn Chúa ban cho mình lớn lắm, lòng thương xót của Chúa dành cho mình dào dạt. Có nhận ra như thế, bản thân mới có thể luôn luôn mang lấy lòng biết ơn Thiên Chúa, để đừng bao giờ quyên cảm tạ Người.

Hôm nay bài Tin Mừng cho biết có đến ba người xin theo làm môn đệ của Chúa. Ơn gọi của ba người mang ba màu sắc khác nhau. “Con chồn có hang, con chim có tổ, Con Người không có nơi gối đầu” là câu Chúa trả lời cho người đầu tiên xin theo Chúa. Tôi chỉ dừng lại nơi câu trả lời này để suy nghĩ về chính mình.

Suy niệm Lời Chúa Giêsu: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có nơi gối đầu”, một lần nữa, tôi được đánh động. Lời Chúa thúc giục tôi đừng bao giờ phụ ơn Người. 

Nếu Chúa Giêsu là Thiên Chúa đã trở nên nghèo khó đến nỗi phải sống một cuộc sống long đong, thiếu thốn, thì trong hoàng cảnh hiện tại, vẫn còn đó nhiều anh chị em đang họa lại khuôn mặt của Người bằng chính lối sống nghèo hèn, thiếu thốn của họ. Nỗi nghèo của Chúa Giêsu đã bắt đầu từ lúc mới sinh, trải dài đến hết cả cuộc đời của Người. Hành trình từ hang đá Bêlem đến đồi Canvê phải là cả một lẽ sống quý báu cho chúng ta khi dấn bước theo Chúa. Và nếu Người là lẽ sống của tôi, như bao nhiêu anh chị em khác, muốn họa lại khuôn mặt của Chúa Kitô, tôi phải học lấy hành trình Bêlem tiến về Canvê như Người.

Bởi vậy, chính Lời của Chúa Giêsu “Con chồn có hang, con chim có tổ, Con Người không có nơi gối đầu”, làm tôi nhớ lại cuộc gặp gỡ với thằng bạn cũ trên bến xe hôm nào. Một thoáng suy tư ban đầu, tôi chợt nhận ra, bạn tôi giống Chúa Giêsu hơn tôi. Không biết có bao giờ anh nhận ra cái nghèo của anh là cái nghèo mà Chúa đã từng sống? Có lẽ anh cũng không hề biết, trong cái nghèo ấy, anh giống Chúa của mình? Bởi thế, lời khẳng định “bạn của tôi giống Chúa Giêsu hơn tôi”, chỉ là sự sám hối đến từ suy tư chủ quan mà thôi. Đó là cái nhìn trực giác của tôi nơi anh chị em để khám phá ra tình yêu của Chúa dành cho tôi.

Người ta thường nghĩ rằng, linh mục đó là người can đảm, dám từ bỏ, dám hiến thân cho Nước Trời và thế giới. Trong ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, cũng là ngày cầu xin ơn Chúa thánh hóa linh mục, tôi đã lặp lại hình ảnh về ơn gọi hiến thân này để giúp anh chị em giáo dân suy niệm về ơn gọi tận hiến. Cũng trong chiều hướng suy tư về sự tận hiến, tôi đã mời gọi anh chị em giáo dân cầu nguyện cho các linh mục.

Đúng! Làm linh mục của Chúa, tôi đã có sự từ bỏ: Từ bỏ một mái gia đình riêng tư để gắn mình vào một gia đình rộng lớn là cộng đoàn dân Chúa. Tôi đã từ bỏ khi cố gắng vươn lên trong sự khiết tịnh mà Hội Thánh đòi hỏi. Trong lối sống hằng ngày, tôi phải mực thước, không sa đà trong tự do, không ăn nói thô tục, luôn tỏ ra xứng đáng là người lãnh đạo tinh thần cho anh chị em của mình... Tôi hiểu điều mà ai đó đã từng nói: “Linh mục là tấm bánh cho người ta ăn”. Tất cả những điều đó, cho thấy sự từ bỏ nơi tôi, linh mục của Chúa.

Tôi hiểu, bước theo Chúa, Người mời gọi tôi hãy sống nghèo khó. Có thể sự nghèo khó của tôi không đến mức thiếu thốn cả “nơi gối đầu”, nhưng ít nhất mỗi một ngày, tôi phải cố nên giống Chúa của mình hơn. Ai đó ví von: “Linh mục ban của thánh và nhận của phàm”. Không biết lời ví von ấy đúng? Nhưng nếu ít nhiều có sự thật, đó không còn là lời nói cho vui, mà trở thành lời bậc thốt từ nỗi xót xa.

Tôi biết, mình đã có sự từ bỏ. Nhưng thẳm sâu nơi thân phận loài người, chắc đã không ít lần, tôi yếu lòng và muốn nhận cho mình, thậm chí muốn nhận nhiều, hơn muốn từ bỏ. Vì thế, theo Tin Mừng, trước lời mời gọi của Chúa, dành cho ai đó đã từng muốn làm môn đệ Chúa: “Con chồn có hang, con chim có tổ, Con Người không có nơi gối đầu”, tôi cần phải sám hối nhiều hơn. Vì chỉ có ý thức mình, tôi mới có thể giúp anh chị em của mình sống hoàn hảo cách hiệu quả nhất.

Sống tinh thần nghèo khó, Tôi sẽ rao giảng Lời Chúa để anh chị em của tôi biết từ bỏ, biết sống tinh thần nghèo khó như Chúa dạy. Tôi sẽ mạnh dạn chỉ cho những ai gặp phải hoàn cảnh khó khăn, đau khổ, lam lũ..., hãy hiến dâng những lao nhọc của bản thân để được đi trên chính nẻo đường mà Chúa đã đi, nhờ đó nên giống Chúa. 

Nguyện xin Chúa giúp tôi thành chứng tá cho giáo huấn của Người. Amen. Mục lục.

GIỮA BẦY SÓI

Trầm Thiên Thu

Ngày xưa, khi Thiên Chúa kêu gọi ông Giêrêmia làm sứ giả, ông lo sợ vì tự thấy mình “còn quá trẻ và không biết ăn nói” (Gr 1:6). Nhưng Thiên Chúa bảo ông đừng có nói như thế và đừng sợ vì Ngài luôn ở với ông (Gr 1:7-8). Và Ngài nói thẳng: “Hãy chỗi dậy! Hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi. Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ; nếu không, trước mặt chúng, chính Ta sẽ làm cho ngươi run sợ luôn” (Gr 1:17). Cái “nếu không” đó thực sự rất đáng quan ngại!

Theo Chúa là điều khó, càng khó hơn khi vâng lời Ngài đến bất cứ nơi nào, nhất là những nơi “không an toàn” – không an toàn về mọi phương diện: kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị,... Thật “căng”, bởi vì đôi khi gặp phải những con người mà cứ tưởng gặp bầy thú hoang. Không hề dễ dấn thân chút nào, vì dấn thân là từ bỏ mình, là dám hy sinh, chấp nhận thiệt thòi, bất chấp nguy hiểm, hành động vì lý tưởng Đức Kitô và vì ích lợi của tha nhân chứ không vì tư lợi hoặc tư danh. Dấn thân nhân danh Đức Kitô để phục vụ người nghèo và bảo vệ dân tộc. Đó là dấn thân theo nghĩa tốt. Dấn thân cũng có nghĩa xấu: Dấn thân vào con đường tội lỗi. Chữ “dám” thật là thâm thúy theo nghĩa tích cực!

Dấn thân đòi hỏi phải có sức mạnh ý chí. Có nhiều con đường dấn thân, với cách thức và mức độ khác nhau. Tri thức nhằm phục vụ xã hội cũng là một cách dấn thân. Nhưng với các Kitô hữu, có một con đường dấn thân đặc biệt, một trong ba thiên chức (vương đế, tư tế, ngôn sứ) được Thiên Chúa trao ban từ khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, đồng thời cũng là trách nhiệm thực hiện lệnh truyền phổ quát của Đức Kitô: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15). Được sai đi mà lại đòi điều kiện, theo ý muốn của mình, không chịu dấn thân, thế thì vô ích, và Chúa cũng “chịu thua” luôn!

Dấn thân ở dạng nào cũng khó nhọc, vất vả, dù tích cực hay tiêu cực, và thậm chí còn nguy hiểm, thế nên rất cần lòng can đảm và nỗ lực: “Con ơi, nếu con muốn dấn thân phụng sự Đức Chúa, con hãy chuẩn bị tâm hồn để đón chịu thử thách” (Hc 2:1). Thiên Chúa không hứa ngon hứa ngọt như kiểu quảng cáo của người đời.

Trong những ngày hạ tuần tháng 6-2019, chúng ta được biết đến một tấm gương sáng về việc dấn thân truyền giáo – một chứng nhân sống động. Đó là Linh mục Phaolô Nguyễn Chí Thiện, thuộc giáo phận Hà Tĩnh (tỉnh Quảng Bình). Lm. Thiện sinh năm 1970, thụ phong linh mục ngày 19-6-2010, nhận được bài sai về quản xứ Sen Bàng, nhưng khi đi ngang qua làng quê Thánh Tôma Thiện bị bỏ mặc suốt nửa thế kỷ, nhìn cây Thánh Giá đã hiện diện trầm mặc rêu phong còn khắc ghi danh xưng vị anh hùng trùng tên với mình, tân linh mục đã cảm khái nhận ra thiên ý nhiệm mầu về nơi mình phải đến và ở lại. Sau đó, cha Thiện đã xin đổi bài sai về xứ Trung Quán để bắt đầu công việc truyền giáo và tái truyền giáo, sống nghèo khó cùng với bao trăn trở, lo toan,... Sau 9 năm tái truyền giáo, Lm. Thiện đã vực dậy được đời sống đức tin tại 4 giáo xứ: Trung Quán, Hoành Phổ, Phúc Tín, và Bình Thôn. Nhưng ý Chúa nhiệm mầu, Lm. Thiện được Chúa truyền “bài sai tuyệt đối” vào ngày 20-6-2019: Về Quê Trời.

Thuở xưa, ngôn sứ Isaia đã vâng lời Thiên Chúa và lên tiếng động viên: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô! Hãy cùng Giêrusalem khấp khởi mừng, hỡi tất cả những người đã than khóc Thành Đô, để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ” (Is 66:10-11). Tại sao như vậy? Bởi vì chính Đức Chúa đã tuyên phán: “Này Ta tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ. Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về” (Is 66:12-13). Tình yêu thương được Thiên Chúa thể hiện bằng nhiều cách, rõ ràng và cụ thể. Thật tuyệt vời!

Giêrusalem là Thánh Đô, nơi có Đền Thờ Thiên Chúa, hình ảnh Nước Trời, và Thánh Vịnh gia đã thốt lên: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: ‘Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa!’. Và giờ đây, Giêrusalem hỡi, cửa nội thành, ta đã dừng chân” (Tv 122:1-2). Và rồi ngôn sứ Isaia đã “bật mí” cho chúng ta biết: “Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết, và nổi cơn thịnh nộ với các kẻ thù” (Is 66:14). Vàng và thau rạch ròi, không thể lẫn lộn.

Duy nhất chỉ có một Thiên Chúa, Đấng cao cả muôn trùng, còn chúng ta chỉ là thụ tạo, bụi cát, hoàn toàn bất xứng, nhưng Ngài vẫn bảo vệ chúng ta như con người trong mắt Ngài (x. Đnl 32:10). Vì thế, chúng ta càng phải nghe lời kêu gọi của Thánh Vịnh gia: “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh! Hãy thưa cùng Thiên Chúa: Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm” (Tv 66:1-3). Và đừng quên cầu xin Thiên Chúa: “Xin giữ gìn con như thể con ngươi, dưới bóng Ngài, xin thương che chở” (Tv 17:8).

Luật trừ không được áp dụng cho bất cứ loài nào, mà “toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh” (Tv 66:4). Cứ nhìn xem công trình của Thiên Chúa là thiên nhiên thì không ai có thể bác bỏ ơn Ngài: “Hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ! Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông; việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ” (Tv 66:5-6). Kinh Thánh phân tích: “Hết những ai không chịu nhìn nhận Thiên Chúa, tự bản chất là những kẻ ngu si. Từ những vật hữu hình tốt đẹp, chúng không đủ khả năng nhận ra Đấng hiện hữu, và khi chiêm ngắm bao công trình, chúng cũng không nhận biết Đấng Hoá Công. Thế mà, lửa với gió, hay làn khí thoảng qua, hay tinh tú bầu trời, hay nước chảy cuồn cuộn, hay đèn trời thắp sáng, chúng lại coi là thần, là những bậc quản cai hoàn vũ” (Kn 13:1-2). Đúng là ngu si thật!

Thật hạnh phúc khi chúng ta có thể nhận biết và tôn thờ một Thiên Chúa mà thôi. Nhưng vì tài hèn, sức mọn, chúng ta chỉ còn biết cúi đầu tin kính, thờ lạy, tôn vinh và dâng lời cảm mến: “Xin chúc tụng Thiên Chúa đã chẳng bác lời thỉnh nguyện con dâng, lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình” (Tv 66:20). Và còn hơn thế nữa, như Thánh Vịnh gia xác định: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có Chúa đón nhận con” (Tv 27:10). Ôi, hồng ân bao la, tình yêu vô biên và lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa! Chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Có nhận biết được như vậy thì người ta mới khả dĩ vui vẻ dấn thân vì công ích một cách vô điều kiện. Nói theo Giáo huấn Xã hội Công giáo, cuộc sống luôn có tính bổ trợ và liên đới với nhau. Thật vậy, ngay cả tội lỗi cũng có tính liên đới.

Tiền nhân nói rằng “biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng”. Kinh nghiệm của cổ nhân truyền lại hẳn là không sai. Y như rằng, Thánh Phaolô đã biết mình yếu đuối và khốn nạn, nên ngài đã đủ sức vượt qua chính mình và mọi trở lực, để rồi lại có mơ ước chẳng giống ai cả: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6:14). Tương tự, ĐGM Lambert de la Motte cũng dám “ngược đời” nên mới sáng lập Hội Dòng Mến Thánh Giá – chứ không ưa, không thích, không yêu, không mến thứ gì khác.

Để giải thích lý do, Thánh Phaolô cho biết: “Cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới” (Gl 6:15). Cắt bì là một dạng luật Cựu Ước. Tân Ước không còn. Tất nhiên ngày nay lại càng cảm thấy xa lạ hơn. Nhưng vấn đề là cách nói rất rõ ràng, rất thẳng thắn. Cái “hay” là như vậy. Chính điều đó là điều chúng ta phải hết sức lưu ý khi chấp nhận vì Chúa mà dấn thân (hoặc cứ cho là thế). Dấn thân được thể hiện đa dạng: Sống đức ái Kitô giáo, tham gia các hội đoàn, làm việc tông đồ, làm từ thiện,… Nhưng không khéo thì chúng ta dễ so đo theo cách trần tục – tức là chúng ta là “chính” mà Chúa là “phụ”, nghĩa là Chúa chỉ như bức bình phong “che chắn” chúng ta mà thôi. Ôi chao, thế thì nguy hiểm quá!

Thánh Phaolô chúc mọi người được hưởng bình an và lòng thương xót của Chúa, nhưng ngài nghiêm túc đề nghị: “Xin đừng có ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Đức Giêsu” (Gl 6:17). Sự “gây phiền toái” rất đáng lưu ý, bởi vì có khi không là gì theo ý mình nhưng lại phiền phức đối với người khác. Đừng ảo tưởng hoặc độc đoán mà “suy bụng ta ra bụng người”.

Như chúng ta đã biết, ngoài Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu còn chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Ngài sẽ đến. Rồi Ngài căn dặn họ: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như CHIÊN CON đi vào giữa BẦY SÓI. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: ‘Bình an cho nhà này!’. Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em” (Lc 10:2-8). Đi tới nơi “không thoải mái” mà lại không được mang thứ chi cả. Tất nhiên Ngài không “chơi ép” ai, mà Ngài chỉ muốn các đệ tử KHÔNG ĐƯỢC vương “mùi đời” hoặc dính líu vật chất.

Diễm phúc khi được Thiên Chúa sai đi, nhưng người-được-sai-đi PHẢI biết dứt khoát buông bỏ để dấn thân, nếu không thì “hư bột, hư đường hết trơn”. Từ bỏ và dấn thân không dễ chút nào, vì đó là “cuộc gian khổ” thật chứ không là lý thuyết: Như chiên con vào giữa bầy sói, KHÔNG mang tiền bạc, KHÔNG mang hành lý. Như “chiên con” chứ không như “chiên lớn”, và giữa “bầy sói” chứ không là bầy thú hiền lành. Thật là “căng” quá đi! Có lẽ vì “căng” vậy nên một số người áp dụng “phương pháp” này: “Cờ đến tay ai thì người đó phất”. Thay vì chúng ta “run rẩy” trong tay Chúa thì chính Chúa lại chịu “run rẩy” trong tay chúng ta. Run rẩy vì “lạnh”, vì “sợ”, và nhiều cái VÌ, BỞI, TẠI, NHƯNG, NẾU, GIÁ,… Rất đáng quan ngại!

Có nhiều hệ lụy trong cuộc sống – cả đạo và đời. Một trong các “nguy cơ” đó có liên quan vấn đề vật chất, nói thẳng ra là tiền bạc, nên Thánh Phaolô đã xác định rạch ròi: “CỘI RỄ sinh ra mọi điều ác là LÒNG HAM MUỐN TIỀN BẠC, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã LẠC XA đức tin và CHUỐC LẤY bao nỗi đớn đau xâu xé” (1 Tm 6:10).

Năm 2013, trong buổi lễ thuộc khuôn khổ Năm Đức Tin để tất cả các giám mục (gần 300 giám mục uy tín của 221 giáo phận) long trọng tuyên xưng đức tin tại lễ bế mạc Hội đồng Giám mục Ý khóa 65, ĐGH Phanxicô đã thẳng thắn tấn công trực tiếp vào SỰ LƯỜI BIẾNG, TINH THẦN NGHỀ NGHIỆP (quan liêu), THÓI ƯA THÍCH TIỀN BẠC và NGẠO MẠN của các giám mục Ý. ĐGH Phanxicô đã dành cho họ một bài diễn văn “nảy lửa” theo dạng “bom tấn” (bombard). Không hề rào trước đón sau, ĐGH Phanxicô yêu cầu các giám mục PHẢI TRẢ LỜI THẲNG THẮN câu hỏi mà Chúa Kitô đã đặt ra với Phêrô: “Con có yêu thầy không?”. Mọi chủ chăn phải tự đặt cho mình câu hỏi đó, bởi vì mục vụ xây dựng trên nền tảng “thân mật với Chúa, sống với Chúa là thước đo sự phục vụ Giáo Hội, diễn tả lòng sẵn sàng vâng phục, hạ mình và tận hiến”. Ai cảm thấy “nhột” hay “khó chịu”?

Hôm đó, ĐGH Phanxicô đã nhìn thẳng vào các giám mục và công tố nặng nề chưa từng có tại Đề Thờ Thánh Phêrô, đặc biệt đề cập việc tự kiểm điểm Giáo Hội: “Chúng ta không phải là thể hiện của một cơ cấu hay một sự cần thiết được tổ chức, nhưng là dấu chỉ sự hiện diện hành động của Chúa Phục Sinh. Vì thế, phải có SỰ TỈNH TÁO THIÊNG LIÊNG, thiếu nó thì chủ chăn, trước hết là giám mục, sẽ nguội lạnh, vô tâm, quên lãng và trở thành vô cảm, bị lôi cuốn theo viễn tượng chức quyền, tiền bạc và thỏa hiệp với tinh thần thế tục. Những cái đó làm họ trở nên LƯỜI BIẾNG, thành một dạng CÔNG CHỨC, một NHA LẠI của nhà nước CHỈ BIẾT LO CHO BẢN THÂN, cho tổ chức và các cơ cấu, thay vì lo cho lợi ích đích thực của dân Chúa. Làm thế họ dễ bị rơi vào tình trạng nguy hiểm như Tông đồ Phêrô đã chối Chúa, mặc dù trên hình thức họ TỰ XƯNG và rao giảng nhân danh Thiên Chúa, nhưng họ đã LÀM TỔN THƯƠNG đến sự Thánh thiện của Mẹ Giáo hội bằng cách làm cho Giáo hội ít sinh hoa kết quả. Câu hỏi dai dẳng của Chúa có thể đem lại nỗi cay đắng, cụt hứng và có khi mất cả lòng tin. Nhưng đó không phải là những tâm tình mà câu hỏi của Chúa muốn gợi lên, trái lại, những tâm tình đó làm lợi cho kẻ thù, khiến qủy dữ phải co rúm lại trong sự chua cay, rên xiết và tuyệt vọng. Chúa Giêsu không nhục mạ ai, mà Người giúp lấy lại can đảm”.

Và rồi ĐGH Phanxicô nói thêm: “Như thế chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui của một Giáo Hội phục vụ, khiêm tốn và trong tình huynh đệ”. Và đó là điều mà chắc hẳn ai cũng đều mong ước và khao khát đêm ngày. Thấy người mà chạnh nghĩ đến Giáo Hội tại Việt Nam!

Khi sai Nhóm Bảy Mươi Hai ra đi, vào đời, dấn thân và chữa lành những người đau yếu trong thành, và nói với họ về Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần (Lc 10:9), Chúa Giêsu đã căn dặn rõ ràng: “Khi vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón thì anh em ra các quảng trường mà nói: Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại quý vị. Tuy nhiên quý vị phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần” (Lc 10:10-11). Và Ngài cho biết điều rất quan trọng: “Trong ngày ấy, thành Xơđôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó” (Lc 10:12). Có sự khác nhau giữa hai tình trạng Biết và Không Biết, Tin và Không Tin.

Một thời gian sau, Nhóm Bảy Mươi Hai trở về và hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con” (Lc 10:17). Nhưng Đức Giêsu cho biết: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em” (Lc 10:18-19). Đó cũng là lời cảnh báo, và Ngài còn cảnh báo về vấn đề liên quan tính kiêu ngạo: “Anh em CHỚ MỪNG vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng HÃY MỪNG vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10:20). Thật vậy, Thánh Abba Dorotheus cảnh báo: “Bản chất phàm nhân luôn phải cảnh giác cao độ, bởi vì Satan biết rõ nhược điểm (điểm yếu) đó nên nó tấn công mạnh lắm. Chúng ta hãy canh giữ lương tâm, đừng để lương tâm tố cáo chúng ta về bất kỳ điều gì, nhưng cũng đừng coi thường nó trong bất cứ điều gì, cho dù nhỏ mọn. Nếu ai bắt đầu nói, ‘Tôi ăn miếng này thì có hệ gì? Tôi nhìn xem cái kia thì có can chi?. Sau đó, từ ‘cái này không hề gì, điều kia chẳng can chi’, người ấy sẽ sa vào một TẬP QUÁN XẤU và bắt đầu COI THƯỜNG cả những điều to lớn và quan trọng, rồi CHÀ ĐẠP chính lương tâm của họ”.

Thật đáng sợ, và cũng thấy rùng mình khi nghe lời Thánh Phaolô nhắc nhở: “Không có loài thọ tạo nào mà không HIỆN RÕ trước Lời Chúa, tất cả đều TRẦN TRỤI và PHƠI BÀY trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ” (Dt 4:13). Vì thế mà phải luôn tỉnh thức với lời cảnh báo của Thánh Phêrô: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8). Là ma quỷ nên bản chất của nó rất ma mãnh và quỷ quyệt.

Điều kiện để được Thiên Chúa phù trợ là trung tín với Lề Luật. Chính Ngài đã từng động viên dân xưa: “Mạnh bạo lên, can đảm lên! Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới” (Gs 1:6-9). Đó cũng là lời động viên dành cho chúng ta ngày nay.

Lạy Thiên Chúa, xin cho chúng con đủ can đảm để buông bỏ những gì thuộc trần tục, vững tin và hành động vì Ngài; xin ban Thần Khí biến đổi Giáo Hội theo Thánh Ý Ngài, biết cầu nguyện và sám hối, thoát khỏi mọi thứ ngẫu tượng, có những chủ chăn thoát vòng kim cô của lười biếng, ích kỷ, hèn nhát, buồn thảm, xơ cứng,... nhưng luôn năng động và hội nhập, thể hiện lòng thương xót của Ngài, nhất là đối với những con chiên yếu đuối, dơ bẩn, ghẻ lở,... Chúng con cầu xin nhân danh Mục Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. Mục lục.

ĐƯỢC GHI TÊN TRÊN TRỜI

(Phỏng theo Lc 10,1-12-17-20)

Bảy hai (72) môn đệ tuyển xong,

Chúa sai tất cả các ông lên đường.

Từng đôi đôi một dễ thương,

Chúa khai trí họ đủ đường tương giao,

Chuyển lời Chúa sẽ đến sau,

Lời Ngài rao giảng nhiệm màu cứu tinh.

Dặn rằng: chớ có coi khinh,

Các con ở giữa yêu tinh, sói rừng.

Áo quần, giầy dép, dây lưng

Đơn sơ, sạch sẽ mà không túi tiền.

Vào nhà chào hỏi ưu tiên:

Bình an Thiên Chúa tới trên nhà này.

Uống ăn với họ thường ngày,

Không nên đòi hòi điều này, điều kia.

Khi vào thành nọ, sớm khuya,

Cùng chung simh hoạt, sẻ chia đỡ đần.

Trông nom cứu chữa bệnh nhân,

Nhắc đi nhắc lại tinh thần thiêng liêng.

Nhắn lời: Nước Chúa thánh thiêng

Đang tràn tới khắp mọi miền chúng ta.

Khi vào thành khác, họ la

Họ không đón tiếp thì ta chớ phiền.

Giữa trời ta đứng thản nhiên

Phủi chân, cát bụi sạch liền mới ra.

Nhớ lời căn dặn người ta

Dặn rằng: Nước Chúa lập ra cứu đời.   

Trong ngày Chúa sẽ tới nơi

Thành này bị xử kém người Sô Đôm.

Ngày về, môn đệ rất vui,

Tâu trình lên Chúa: mọi người bình an,

Nhân danh Chúa, quỷ Sa tan

Cũng đành vâng phục cả đoàn con chiên.

Chúa rằng: nay được bình yên

Hãy mừng vỉ được ghi tên trên Trời. Mục lục. 

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.