SUY NIỆM CHÚA NHẬT 19 TN_C

09-08-2019 65 lượt xem

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN - NĂM C
(Kn 18,6-9; Dt 11,1-2.8-19; Lc 12,32-48)

Nguồn ảnh:https://www.manadelcieloguatemala.com/predica-siervos-fieles/

Mục lục

SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

TRUNG TÍN VÀ TỈNH THỨCLm. Giuse Nguyễn Hữu An

HẠNH PHÚC LÀ BIẾT CHIA SẺ JM. Lam Thy ĐVD

HÃY LÀ ĐẦY TỚ TRUNG THÀNHLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

MUỐN ĐƯỢC CỨU ĐỘ: “HÃY TỈNH THỨC” Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, S.S.P

CHỜ ĐỢITrầm Thiên Thu

NƯỚC TRỜI CHA HỨA BANThế Kiên Dominic

SỨC MẠNH CỦA ĐỨC TIN

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Mỗi chúng ta, khi nghiêm túc nhìn lại quá khứ, sẽ cảm nhận những điều kỳ diệu xảy đến trong đời mình. Người vô tín có thể coi đó là một chuỗi những ngẫu nhiên. Trái lại, những ai tin vào Chúa lại nhận ra cánh tay dẫn dắt của Ngài. Khi nhận ra những điều lạ lùng Chúa đã làm cho mình, người tín hữu được mời gọi ca tụng quyền năng của Chúa và dâng lời cảm tạ tình thương của Ngài. Họ cũng nhận ra sức mạnh của Đức tin. Bởi lẽ tin vào Chúa mang lại cho con người những ân huệ lớn lao mà con người không ngờ tới.

Tác giả sách Khôn ngoan đã suy tư về những điều đã xảy ra trong lịch sử dân Do Thái. Với lăng kính đức tin, ông nhận ra biến cố dân Do Thái ra khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ là nhờ sức mạnh siêu nhiên và hồng ân lớn lao Chúa đã thực hiện vì yêu thương Dân Ngài. Trong khi Chúa trừng phạt người Ai Cập và nhấn chìm họ dưới biển sâu, thì Ngài lại thương dân Do Thái, cho họ được bình an vô sự. Trước biến cố kỳ diệu này, những người được chứng kiến vừa sững sờ ngạc nhiên trước quyền năng Thiên Chúa, vừa mạnh mẽ tín thác vào tình thương của Ngài. Họ đã cùng với ông Môisen hát vang bài ca tụng Thiên Chúa. Bài ca ấy còn được nhắc mãi tới ngày nay.

Như thế, trên đời này, chẳng có gì là ngẫu nhiên cả, nhưng hết thảy đều nằm trong kế hoạch yêu thương của Chúa. Lịch sử chứng minh: những ai tin vào Chúa, dù trải qua nhiều nguy hiểm gian nan hay chông gai khốn khó, Thiên Chúa vẫn ra tay cứu vớt và gìn giữ họ an toàn. Tác giả thư Do Thái đã liệt kê các Tổ phụ và những nhân vật quan trọng trong Cựu ước. Hầu hết người Do Thái đều biết đến tên tuổi của những nhân vật này, vì họ có liên quan đến những sự kiện lớn lao trong lịch sử. Khi trưng dẫn những nhân vật này, tác giả muốn minh chứng cho chúng ta về sức mạnh kỳ diệu của Đức tin. Quả vậy, Đức tin làm cho cái không có thành có, nhưng trường hợp ông Abraham và bà Sara sinh con vào lúc tuổi già. Đức tin biến khổ đau thành hạnh phúc và làm cho thất bại hóa nên thành công. Đoạn thư được đọc trong Phụng vụ hôm nay chỉ là một phần trong danh sách những nhân vật được nhắc tới trong suốt chương 11 của thư gửi người Do Thái. Họ là những người trải qua thử thách, nhưng vẫn kiên trung cậy dựa vào Chúa, và nhờ đó họ được Ngài xót thương.

Giữa biển đời đầy gian nan sóng gió, chúng ta không biết bến bờ ở nơi đâu. Giữa xã hội nhiều khuynh hướng trái chiều, chúng ta không biết phải cậy dựa vào chốn nào. Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay khẳng định với chúng ta: cứ yêu mến Chúa. Ngài là Cha và là ông Chủ của đời ta. Ngài thấu hiểu nỗi lòng của mỗi người và ra tay cứu giúp. Hình ảnh người đầy tớ chuyên cần tỉnh thức và trung tín với bổn phận được trao, là mẫu mực cho các tín hữu. Đó cũng là một mẫu mực về đời sống Đức tin và lòng trung thành. Sống trên đời, chúng ta cũng giống như những người quản lý. Chúa trao cho chúng ta thời giờ, con cái, sức khỏe, kiến thức, nghề nghiệp và biết bao điều kiện tốt lành. Nhờ những vốn liếng Chúa trao, mà chúng ta có thể sống xứng với phẩm giá con người và thành đạt vươn lên trong cuộc sống. Chúng ta đã và đang sử dụng những gì Chúa ban thế nào? Đến giờ phán xét, chúng ta phải trả lời trước mặt Chúa về những gì chúng ta đã nhận từ nơi Ngài.

Tiếp nối tư tưởng Chúa nhật trước, Chúa Giêsu dạy chúng ta cần có thái độ đúng mức đối với của cải vật chất. Cùng với những lo toan bận rộn để có đời sống vật chất ổn định, chúng ta cần tích trữ cho mình của cải thiêng liêng, là của cải không hao mòn, không bị mối mọt và cũng chẳng lo bị người khác lấy mất.

“Dù mắt ngủ nhưng lòng vẫn thức, vẫn tin yêu một mực chân tình”. Lời kinh cầu nguyện này cho thấy người tỉnh thức vẫn yêu mến Chúa kể cả khi mình đang ngủ, đang làm việc và đang vui chơi. Bởi lẽ tâm hồn họ luôn hướng về Chúa và thao thức làm những gì đẹp lòng Ngài.

“Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều. Còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt, thì sẽ bị đòn ít. Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn.” Câu kết của bài Tin Mừng cũng là một nguyên tắc và một phương châm sống cho chúng ta. Lời này cũng giúp chúng ta tự vấn lương tâm, để biết mình đang ở đâu và trong tình trạng nào trước mặt Chúa và đối với anh chị em. Hạnh phúc hay đau khổ, được thưởng hay bị phạt... đó là kết quả đến từ thái độ sống và từ những hành vi của chúng ta. mục lục

TRUNG TÍN VÀ TỈNH THỨC

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Ngày nay, “Mạnh Thường Quân” là một cụm từ khái niệm hóa, hiểu như một danh từ chung để chỉ một mẫu người hào phóng và nhân ái.

Mạnh Thường Quân tên thật là Điền Văn, người nước Tề thời Chiến Quốc. Ông là một người giàu sang, có lòng nghĩa hiệp, thích chiêu hiền đãi sĩ, văn cũng như võ trong nhà lúc nào cũng tiếp đãi đến vài nghìn tân khách. Tiếng tốt đồn vang khắp các nước chư hầu thời bấy giờ.

Một hôm Mạnh Thường Quân nhìn vào sổ nợ, biết dân đất Tiết, một nước nhỏ bị Tề diệt, vua Tề tặng Mạnh Thường Quân làm phong ấp (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) còn nợ mình nhiều, thuộc loại “nợ xấu khó đòi” nhưng nhất thiết chỉ dãn mà không cho xóa. Ông sai Phùng Huyên sang đất Tiết đòi nợ. Trước khi đi, Phùng Huyên hỏi: “Ngài có muốn mua gì không?”. Mạnh Thường Quân trả lời: “Ngươi xem thứ gì nhà chưa có thì mua”. Khi đến đất Tiết, Phùng Huyên cho gọi dân tới bảo rằng: “Các ngươi nợ bao nhiêu, Mạnh Thường Quân đều cho cả”. Rồi chẳng tính vốn lời, đem văn tự ra đốt sạch. Khi trở về, Phùng Huyên nói với Mạnh Thường Quân: “Nhà ngài không thiếu gì, có lẽ chỉ thiếu ơn nghĩa. Tôi đã trộm mua ở đất Tiết cho ngài rồi. Tôi chắc là đẹp ý ngài”. Về sau Mạnh Thường Quân bị bãi quan, về ở đất Tiết. Dân ở đó nhớ ơn xưa ra đón rước đầy đường. Mạnh Thường Quân ngoảnh lại bảo Phùng Huyên: “Đó hẳn là cái ơn nghĩa mà ông đã mua cho tôi ngày trước”.

Phùng Huyên thực là người quản lý trung thành và khôn ngoan. Trung thành vì đã biết cách làm lợi cho chủ. Khôn ngoan vì biết nhìn xa trông rộng, đầu tư vào những chương trình có ích lợi lâu dài. Nhờ sự khôn ngoan của Phùng Huyên, Mạnh Thường Quân đã vượt qua khó khăn, được ơn nghĩa với dân chúng.

1. Trung tín

Trong bài Phúc Âm hôm nay nói đến dụ ngôn người quản lý “trung tín” và “khôn ngoan”, khác với người quản lý “bất lương” trong dụ ngôn sau này (16,1-10).

Người quản lý được giao hai trách nhiệm: coi sóc gia nhân và tài sản.

Trung tín từ việc nhỏ trước khi đến việc lớn, trung tín với của cải riêng trước khi đến của cải người khác. Người quản lý ở đây được giao cho chăm sóc gia nhân của chủ, và ông sẽ được cắt đặt coi sóc tải sản khi chủ thấy người này đã trung tín với việc trước.

Khôn ngoan, người quản lý sẽ được tuyên bố là “có phúc” và được cắt đặt coi sóc gia sản của chủ nếu chủ về và gặp thấy đang làm như vậy.

Người quản lý bất trung với hai khía cạnh tiêu biểu là đánh đập tớ trai tớ gái thay vì coi sóc họ cách chu đáo, và ăn uống say sưa hay vì phân phát phần thực phẩm cho gia nhân. Người quản lý này bị chủ cho nghỉ việc vì đã không làm đúng chức năng quản lý mà chủ đã giao cho anh.

Khi khen người quản lý khôn khéo, Chúa Giêsu không khen ngợi tính gian giảo, thiếu trung thực của ông. Người chỉ khen ngợi sự thông minh nhạy bén của ông. Người ước mong con cái sự sáng cũng biết thông minh nhạy bén trong việc tìm kiếm Nước Trời.

Chúng ta chỉ là những người quản lý của Thiên Chúa. Tất cả những gì ta có đều là của Chúa. Sự sống, sức khỏe, tài năng, tiền bạc… đều không phải của ta. Ta chỉ quản lý chúng thôi. Mọi sự chúng ta có đều do nhận lãnh. Chúng ta nhận lãnh từ nơi vòng tay yêu thương của cha mẹ rồi công lao dưỡng dục mỗi ngày “chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm”. Lớn lên, tiếp tục nhận được từ nơi nhà trường và xã hội một vốn tri thức của nhân loại đã được tích góp từ hàng ngàn năm qua bao thế hệ. Và còn nhận được một gia sản đức tin từ bao thế hệ cha anh trong Giáo Hội để lại cho chúng ta.Tất cả những điều đó, cho thấy tất cả những gì chúng ta có đều do người khác trao ban.

Hai đức tính quý ở người quản lý là trung thành và khôn ngoan.Người quản lý trung thành gìn giữ nguyên vẹn tài sản của chủ. Không phung phí, không làm mất mát hao hụt. Người quản lý khôn ngoan sẽ tìm cách sinh lợi cho chủ, làm cho tài sản ngày càng gia tăng.

2. Tỉnh thức

Chúa Giêsu lưu ý về của cải đích thực các môn đệ cần thu tích. Đó là của cải “chẳng bao giờ cũ rách” và “chẳng thể hao hụt”. Của cải trên trời, kho tàng trên trời hoàn toàn khác với của cải nơi trần gian. Của cải trần thế càng nhiều, lòng người càng nặng trĩu. Nặng trĩu lo âu. Kho tàng trên trời càng nhiều, lòng người càng thanh thoát. Bởi kho tàng trên trời là chính Chúa. Càng đến gần Chúa, được Chúa ở cùng, con người càng thoát khỏi những trói buộc của trần gian,trở nên nhẹ bổng, tự do.Tạo lập gia sản trên trời khác với tạo lập gia sản nơi trần gian. Gia sản nơi trần gian được tạo lập bằng tích lũy. Gia sản trên trời được tạo lập bằng cho đi. Để tích lũy tài sản nơi trần gian, ta phải tiện tặt, chắt bóp, nghĩ đến lợi nhuận của bản thân hơn đến người khác. Để tích lũy gia sản trên trời, ta phải rộng rãi, hào phóng nghĩ đến người khác hơn bản thân mình. Càng cho đi ở đời này, ta càng giàu có ở trên trời. Càng nuôi lòng khao khát, lòng dạ hướng về kho tàng của Chúa nên tâm hồn phong phú bởi chính của cải tràn trề chất đầy kho tàng. Đó là của cải tình yêu như Chúa đã nói: “Kho tàng anh em em ở đâu, lòng anh em cũng ở đó”.

Để luôn hướng lòng về Chúa là kho tàng đích thực, con người phải tỉnh thức luôn. Chúa Giêsu kể dụ ngôn người đầy tớ đợi chủ về. Người tôi tớ đợi chủ đi ăn cưới về không thể biết đích xác giờ phút của chủ. Thời giờ hoàn toàn tùy thuộc chủ. Tôi tớ không can dự việc riêng của chủ. Phận tôi tớ là làm theo ý chủ. Người chủ muốn tôi tớ trung thành. Lòng trung thành thể hiện qua sự trung tín trong mọi việc được chủ trao phó. Trung thành chờ đợi giờ phút chủ trở về nên luôn tỉnh thức và sẵn sàng.

Tại các ngã ba ngã tư của đường phố đều có đèn đỏ đèn xanh rõ ràng, nhắc hướng cần đi vào và cấm vượt ranh giới. Trong lương tâm, chúng ta không thấy rõ hệ thống đèn đỏ đèn xanh. Mình phải tự phán đoán, chọn lựa. Không tỉnh thức là đôi khi mình tự cho phép mình vượt đèn đỏ vô hình, và cũng không đi theo hướng đèn xanh chỉ dẫn. Vài lần thấy quen. Rồi thấy xung quanh vô số người cũng làm như vậy. Thế là thành thói quen phạm lỗi trên hành trình cuộc đời.

Không bao giờ được quên ngày Chúa đến trong thời gian kết thúc của thế giới và đến trong ngày cuối cùng của đời ta. Tích cực dùng thời gian hiện tại để chuẩn bị cho tương lai vĩnh cữu của mình. Tỉnh thức như người đầy tớ đợi chủ đi ăn cưới không biết về lúc nào. Thái độ tỉnh thức là “thắt lưng cho gọn” và “thắp đèn cho sẵn”. Luôn sẵn sàng để khi chủ về thì mở cửa và ân cần phục vụ. Như thế, tỉnh thức đi kèm với sẵn sàng và nhanh nhẹn. Tỉnh thức để “đợi chủ về”. Người Kitô hữu chờ đợi Chúa đến trong vinh quang ngày quang lâm, chờ đợi Chúa đến trong giờ sau hết đời mình. Vì thế, người Kitô hữu sống cuộc đời hiện tại một cách rất nghiêm chỉnh, họ cố gắng làm phận sự ở đời một cách hết sức tích cực vì biết rằng đó là Thánh ý của Chúa và vì biết rằng hạnh phúc đời đời của mình đang được chuẩn bị ngay bây giờ.

Tỉnh thức là thái độ của một gia nhân trung thành. Tỉnh thức và đợi chờ với niềm hy vọng là chủ sẽ trở về.

Tỉnh thức là tâm trạng của một con người luôn bình an, thư thái. Thái độ sống này giúp người Kitô hữu luôn làm cho mọi công việc hàng ngày trở thành lời nguyện tạ ơn chân thành.

Người tỉnh thức là người luôn cố gắng và nhiệt thành, biết thực thi những gì là chân thật, ngay chính và đáng quý chuộng.

Người tỉnh thức sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau. Thời gian hiện tại là thời gian quyết định đối với số phận đời đời của con người. Mỗi giây phút qua đi là không bao giờ trở lại. Thời giờ Chúa cho ta sống ở trần gian là vô cùng quý báu, đây là lúc gieo mầm cho đời vĩnh cữu.

Ngày Chúa đến sẽ khủng khiếp hoặc vui mừng là tùy cách sống hiện tại của mỗi người. Mọi hành động, mọi tư tưởng đều được phơi bày ra trước ánh sáng của công lý, không ai có thể che dấu một chi tiết nào.

Ngày Chúa đến trong vinh quang để xét xử muôn dân sẽ là ngày cứu độ cho những ai tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng, nhưng sẽ là ngày kinh hoàng cho những ai đang mê ngủ trong đam mê tội lỗi.

Xin Chúa cho chúng con như ngọn đèn chầu bên Nhà Tạm, thức luôn và sáng luôn trước nhan Chúa. Amen. mục lục

HẠNH PHÚC LÀ BIẾT CHIA SẺ

JM. Lam Thy ĐVD

Sự chia sẻ – hay đơn giản là những suy nghĩ tích cực – khi giúp đỡ một ai đó thực sự đáng quý vô cùng. Cho thì quý hơn là nhận; thật vậy, khi chia sẻ cho người khác, bản thân người chia sẻ mới là người nhận lại nhiều điều tuyệt vời nhất. Nhân loại không thể tồn tại mà không hỗ trợ lẫn nhau; loài người sẽ diệt vong nếu con người không còn biết giúp đỡ lẫn nhau. Do đó, tất cả những người cần trợ giúp có quyền đi tìm sự giúp đỡ từ người khác; và không ai có khả năng giúp đỡ lại có thể từ chối mà không thấy lương tâm cắn rứt, trăn trở. Quả thực “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20, 35). Đây không chỉ đơn giản là một lời khuyên đạo đức, hay một lệnh truyền đến từ bên ngoài. Khuynh hướng trao ban đã nằm sâu trong tâm thức con người: mọi người đều ước muốn tương giao với kẻ khác. Ấy cũng bởi vì “Hạnh phúc là biết chia sẻ”. 

Mở đầu bài Tin Mừng hôm nay (CN XIX/TN-C – Lc 12, 32-48) Đức Giê-su dạy: "Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá." (Lc 12, 33). Biết rõ tâm địa con người luôn luôn tiềm ẩn cái kho tài sản vật chất mình tạo dựng được, coi như một kho báu và lòng luôn hướng về nó để mong xây những kho lẫm kiên cố mà tàng trữ; vì thế nên Đức Ki-tô mới dạy hãy bán hết tài sản ấy đi mà làm việc thiện, một cách đầu tư mua sắm lấy một kho tàng vĩnh cửu trên trời. Khi nào cái kho lẫm tài sản trần thế đã bán đi hết thì lòng dạ con người mới thật sự không còn vương vấn tới nó nữa, mà hướng về cái kho tàng tâm linh mình đang đầu tư. Chỉ đến lúc thấu hiểu được cái kho báu vô tận là cuộc sống vĩnh cửu mai sau, thì tất cả lòng dạ sẽ tập trung vào kho báu đó. Và chỉ có như thế, thì mới đem hết tâm lực ra mà chiếm hữu cho kỳ được “Vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó” (Lc 12, 34). 

Cần phải ý thức được kho tàng không bao giờ hư nát ấy tất nhiên không phải là những thứ đang trông thấy nhãn tiền, những thứ “sớm nở tối tàn” (phù dung), những thứ sống nhờ, sống gửi (phù sinh, phù thế), kể cả cuộc sống cũng chỉ là “bức tranh vân cẩu”. Vâng, “tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát” (Gv 2, 11). Nói khác hơn, cuộc sống trần gian dù có vàng bạc châu báu đầy kho thì cũng chỉ là tạm bợ, chóng qua, và cho đến lúc “trở về với cát bụi” thì những thứ đó cũng trở thành vô nghĩa (“Vua Ngô ba mươi sáu cái tàn vàng, Chết xuống âm phủ cũng chẳng mang được gì” – ca dao VN). Vì thế, mới có quan niệm coi cuộc đời trần thế là cõi phù sinh, cõi tạm và con người sống trên trần thế chỉ là những khách lữ hành, khách qua đường mà thôi. Sống chỉ là sống tạm, sống gửi, chết rồi mới thực sự trở về sự sống thật (“sống gửi thác về”).

Thời Cựu Ước, các tổ phụ đã tự coi mình là lữ khách, là ngoại kiều nơi trần thế, để luôn ở trong tư thế tỉnh thức và sẵn sàng hướng về, tiến về quê hương đích thực (“Tất cả các ngài đã chết, lúc vẫn còn tin như vậy, mặc dù chưa được hưởng các điều Thiên Chúa hứa; nhưng từ xa các ngài đã thấy và đón chào các điều ấy, cùng xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất. Những người nói như vậy cho thấy là họ đang đi tìm một quê hương. Và nếu quả thật họ còn nhớ tới quê hương mình đã bỏ ra đi, thì họ vẫn có cơ hội trở về. Nhưng thực ra các ngài mong ước một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời.” – Dt 11, 13-16). Mà muốn đạt được cái mong ước tìm thấy quê hương đích thực thì cần phải tỉnh thức và sẵn sàng, luôn “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn” như người đầy tớ chờ ông chủ đi ăn cưới về (Lc 12, 35).

Như vậy, sẵn sàng làm theo ý chủ thì phải như ông A-ben, ông Kha-nốc, ông Nô-ê đã làm đẹp lòng Thiên Chúa, biết dâng lên Thiên Chúa những hy lễ cao qúy; đặc biệt nhất là tổ phụ Áp-ra-ham đã dám hiến tế chính con một của mình là I-xa-ác (Dt 11, 3-17). Hãy tỉnh thức và sẵn sàng. Tỉnh thức không phải là thụ động ngồi đó khoanh tay chờ chủ về, mà là phải sẵn sàng tích cực làm việc. Thắt lưng vào, thắp đèn lên để làm việc, để phục vụ không bao giờ ngưng nghỉ. Và khi trở về, thấy đầy tớ đã hiểu ý chủ mà làm việc hết mình, thì Ông Chủ sẽ thắt lưng, đưa đầy tớ vào bàn ăn và đến bên phục vụ từng người (Lc 12, 37). Ông chủ mà lại phục vụ đầy tớ ư? Chuyện thật khó tin nhưng đã thật sự xảy ra khi Con Người phục vụ và hiến dâng cả mạng sống làm giá chuộc muôn người. 

Tóm lại, biết được ý chủ thì phải làm theo ý chủ, mà ý chủ ở đây là muốn các đầy tớ đều sẽ trở nên những quản gia trung tín và khôn ngoan, biết quản lý tài sản, biết sử dụng tiền của, ý thức sâu sắc sự “cho đi tức là nhận về” (“bán tài sản đi mà bố thí”). Người quản gia phải là người một lòng một dạ tin tưởng vào Ông Chủ. Vâng, có tin mới hy vọng. Một cách rất trần tục: Có tin khi trúng số độc đắc sẽ có được cuộc sống dư dả về vật chất, thì mới bỏ tiền mua vé số để hy vọng mình sẽ trúng độc đắc. Dám bỏ tiền ra mua một cái hy vọng ảo, thế thì tại sao lại không bỏ hết tâm lực ra để hy vọng đạt được phần thưởng đích thực nơi Thiên Quốc? Chỉ lo tích trữ kho tàng vật chất, tại sao không biết tích trữ kho tàng tinh thần mà đầu tư vào ngân hàng Nước Trời?

Vâng, “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, nơi kẻ trộm khoét vách và lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được.” (Mt 6, 19-20), muốn được vậy thì “anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ!" (Mt 25, 27). Nói thì đơn giản, nhưng chỉ đến khi “bán tài sản” đã tich trữ được nơi trần thế để “gởi số bạc đó vào ngân hàng” bằng cách bố thí, mới thấy là khó khăn. Phải chăng đó chính là những thử thách nhằm tinh luyện đức tin của những người dám bán của cải phù vân mà gừi vào ngân hàng “không lo mối mọt, cũng chẳng có trộm cắp”? Thật thế, “đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, - vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự.” (1Pr 1, 7).

Ôi! Lạy Chúa! Con luôn miệng lặp đi lặp lại lời nhắc nhở “của cải chỉ là phù vân”, nhưng khốn nỗi trong lòng con vẫn không tin, bởi những của cải ấy sờ sờ trước mắt, có thể cầm nắm, tích trữ được, trong khi những của cải Nước Trời thì lại không nhìn thấy và đòi hỏi phải có một đức tin vững vàng mới có thể chiếm hữu được. Cúi xin Chúa ban Thần Khí soi sáng cho con biết được đâu là “kho tàng không thể hao hụt” để con luôn biết tỉnh thức và sẵn sàng dốc hết sức mình ra chiếm hữu cho kỳ được. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen. mục lục

HÃY LÀ ĐẦY TỚ TRUNG THÀNH

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chúa nhật thứ XIX thường niên C hôm nay, như một sự nối dài của Chúa nhật tuần trước, vì nếu kết thúc đoạn Tin Mừng tuần trước, Đức Giêsu nói : “Kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giầu trước mặt Chúa” (Lc 12, 21). Vậy để trở nên giầu có trước mặt Thiên Chúa ta phải làm gì? Đức Giêsu mời gọi chúng ta : “Hãy sắm cho các con những túi không hư nát, và kho tàng không hao mòn trên Trời, là nơi trộm cướp không lai vãng và mối mọt không làm hư nát”. Tiên vàn, hãy tỉnh thức, trung tín và khôn ngoan. (x. Lc 12,32-48)

Vậy tỉnh thức như thế nào, có phải rằng cứ thức suốt không ngủ sao? Đức Giêsu khuyên chúng ta : “Các con hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, và hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ về gõ cửa, thì mở ngay cho chủ. Các con hãy sẵn sàng”. (x. Lc 12, 36).

Đây không phải thức suốt không ngủ, càng không phải là chờ đợi cách thụ động: “Đầy tớ trung tính và khôn ngoan” là đầy tớ “khi chủ về còn thấy làm việc”, nghĩa là đang hăng say làm nhiệm vụ ông chủ đã trao phó cho, không gì khác là phục vụ trong yêu thương, theo gương của chủ mình . Vậy, “Ai là người quản lý trung tín khôn ngoan mà chủ đã đặt coi sóc gia nhân mình, để đến giờ phân phát phần lúa thóc cho họ? Phúc cho đầy tớ đó, khi chủ về, thấy nó đang làm như vậy” (x. Lc 12, 42-43).

Trong câu nói của Chúa Giêsu có hai người, ông chủ và người đầy tớ. Trước hết chúng ta tự hỏi, ai là chủ nhà ở đây? Chắc chắn là Đức Kitô rồi, vì Ngài đã chẳng nói với các môn đệ mình rằng: “Anh em gọi Ta là Thầy và là Chúa thì thật là phải, vì Ta đúng như thế” (Ga 13,13). Và gia đình này là gia đình nào? Hiển nhiên là gia đình đã được Chúa cứu chuộc. Gia đình Thánh này là Giáo hội Công giáo trải rộng trên toàn thế giới nhờ sự phong phú lớn mạnh của nó, và cả những ai lấy làm vinh dự đã được cứu chuộc nhờ máu châu báu của Chúa Giêsu. Vì chính Chúa Giêsu đã nói về chính mình rằng : “Con Người không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và trao ban mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mc 10,45). Người cũng là Mục Tử nhân lành, đã “trao ban mạng sống cho đoàn chiên” (Ga 10,11).

Thế còn người quản lý này là ai, mà phải vừa trung tín và khôn ngoan? Thánh Phaolô Tông đồ chỉ cho chúng ta khi nói cùng lúc về chính mình và các bạn hữu của ngài : “Chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Ðức Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Mà người ta chỉ đòi hỏi ở người quản lý một điều, là phải chứng tỏ lòng trung thành” (1Co 4,1-2). Nhưng ai trong chúng ta nghĩ rằng chỉ có các Tông Đồ mới là những người lãnh nhận trách nhiệm quản lý này ; những người kế vị các thánh Tông Đồ cũng là những người quản lý, như Thánh Phaolô nói : “Thật vậy, giám quản, với tư cách là quản lý của Thiên Chúa, phải là người không chê trách được, không ngạo mạn, không nóng tính, không nghiện rượu, không hiếu chiến, không tìm kiếm lợi lộc thấp hèn” (Tt 1,7).

Những người Chúa chọn và đặt là những người tôi tớ của ông chủ nhà này, những quản gia của Thiên Chúa, những người lãnh nhận nhiệm vụ phân phát thóc lúa cho tha nhân.

Thật hợp tình hợp lý với Nước Trời do Đức Kitô loan báo: “Vua của các dân thì lấy quyền mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Anh em thì không như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22, 25-27).

Với hình ảnh Ông Chủ, người Kitô hữu được mời gọi trở nên người đầy tớ trong đức ái, khi phục vụ anh em mình với lòng biết ơn và bằng tình yêu vô vị lợi, không tìm kiếm gì khác ngoài việc vâng lời Chúa làm cho triều đại Nước Thiên Chúa mau đến. Để giữ gìn lý tưởng sống giữa những lời mời gọi của thế gian, cần phải “hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (x.Col 3,1) ; “Vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian” (1 Ga 2, 16)

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết luôn tỉnh thức nội tâm; để chúng con có thể chờ đợi Chúa với sự kiên trì thánh thiện, như người ta mong đợi con cái, bè bạn, hôn phu trở về. Xin đốt lên trong lòng chúng con chính ngọn lửa hy vọng đang đợi Chúa không hề tắt, để chúng con tỉnh thức trong niềm tin, và nhiệt thành phục vụ anh em. Amen. mục lục

 MUỐN ĐƯỢC CỨU ĐỘ: “HÃY TỈNH THỨC”

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, S.S.P

Trên các trang mạng truyền thông, chúng ta thấy: đêm ngày 14 tháng 7 năm 2016 vừa qua, nhân lễ quốc khánh của đất nước Pháp, tại thành phố Nice đã xảy ra một cuộc khủng bố bất ngờ nhắm vào người dân vô tội. Tên khủng bố đã lái xe cách điên cuồng khi đâm vào những người đang lưu thông trên đường. Không dừng lại ở đó, hắn còn dùng súng và bắn vào đám đông, khiến cho 84 người chết và nhiều người khác bị thương, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em.

Xa hơn một chút, trận động đất và sóng thần tại Nhật Bản ngày 11/3/2011 đã cướp đi sinh mạng của hơn 16.000 người. Không ai biết trước nên chẳng chuẩn bị gì. Khi sóng thần ập tới, nó quét sạch mọi sự. Sau trận động đất đó, chỉ còn lại một đống đổ nát và hoang tàn.

Như vậy, sự sống, sự chết của mỗi người không ai biết trước. Cái chết nó đến với bất cứ ai, vào bất cứ lứa tuổi nào. Vì thế, nhà thơ Nguyễn Khuyến khi nghĩ về thân phận mỏng manh của kiếp người, ông đã thốt lên: “Ôi nhân sinh là thế ấy! Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao”.

Hôm nay, Đức Giêsu cũng dạy cho các môn đệ của mình bài học: “Hãy tỉnh thức! Hãy sẵn sàng” để được cứu độ.

1. Tỉnh thức, sẵn sàng là thái độ cần của người môn đệ

Nếu Chúa Nhật tuần trước, Đức Giêsu khiển trách nhà phú hộ giàu có là “đồ ngốc”, vì ông ta đã cảm thấy an tâm và cậy dựa vào tiền bạc thái quá mà quên đi phần hồn của mình. Bởi lẽ, ông cũng không biết sử dụng tiền bạc bất chính để mua lấy Nước Trời. Sang Chúa Nhật hôm nay, Đức Giêsu đi xa hơn để dạy cho các môn đệ bài học “sẵn sàng”; “tỉnh thức” để đón đợi Chúa đến trong ngày Quang Lâm.

Hãy “thắt lưng cho gọn”, là hình ảnh của những người trong tư thế sẵn sàng. Thật vậy, khi xưa, người Do Thái thường hay may áo với những tua dài, khi đi nhanh hoặc chạy, họ phải vận tua áo vào thắt lưng để cho gọn gàng, như thế, khi di chuyển mới không bị vướng. Đức Giêsu bảo các môn đệ “thắt lưng cho gọn”, là Ngài muốn dạy các ông phải trong tư thế sẵn sàng, để khi cần hành động thì được thanh thoát, nhẹ nhàng, không bị vướng bận vào những chuyện phụ thuộc.

Hãy “thắp đèn cho sẵn”, là hình ảnh của những người trong tư thế chuẩn bị. Họ phải chuẩn bị đèn, dầu, để khi cần phải thắp sáng lúc đêm khuya là có ngay, tránh tình trạng đến nơi rồi mới đi tìm, e rằng quá trễ như 5 cô trinh nữ khờ dại.

Qua lời dạy trên, Đức Giêsu muốn nhắc cho chúng ta một sự thật, đó là: ngày Chúa đến không ai biết. Ngài đến như kẻ trộm lúc đêm khua. Ngày đó chính là ngày chết của mỗi người. Vì thế, Đức Giêsu đã mời gọi: “hãy tỉnh thức”; “hãy sẵn sàng” như người đầy tớ chuyên cần: "Các con hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, và hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ về gõ cửa, thì mở ngay cho chủ. Phúc cho những đầy tớ nào khi chủ về còn thấy tỉnh thức”.

2. Thái độ tỉnh thức của mỗi người chúng ta

Có một câu chuyện giả tưởng kể về một cuộc họp kín của hội đồng Satan, rất nhiều kế sách được đưa ra… nhưng đều bị bãi bỏ hết, chỉ có một ý kiến được tất cả hội đồng nhất trí, đó là sáng kiến của một quỷ già. Quỷ này đưa ra một chiêu thức cám dỗ con người như sau:

“Còn lâu mới chết. Cuộc sống còn dài. Vì thế, không vội gì phải gấp rút. Cứ ăn chơi thỏa thích cho bõ một đời. Đợi khi gần chết rồi ăn năn trở lại!”.

Thật thế, không ít người đã vấp phải cạm bẫy này. Họ vẫn cứ ăn chơi trác táng, cờ bạc, rượu chè, trai gái… vẫn sống bất chính, tham ô, bóc lột, thờ ơ trước nỗi khổ của anh em… Họ viện vào lý do là mình còn trẻ, khỏe nên chưa thể chết được, vì thế, để đến khi về già mới hay, đâu có muộn! Thế nhưng trong thực tế đời thường, có biết bao người chết khi tuổi mới đang độ thanh xuân… Có những người chết vì thiên tai, tai nạn, bệnh tật, hay chỉ một cơn gió độc ập đến đã đủ để cướp đi sinh mạng …  Chính vì thế, phải “sẵn sàng” trong tư thế “tỉnh thức”.

Tuy nhiên, tỉnh thức ở đây không có nghĩa là không ngủ, cũng không phải là cứ ngồi ì ra đó và chờ đợi, đôi khi cũng không hẳn là đọc nhiều kinh, xem nhiều sách, hoặc chỉ giữ đạo vì luật... Nhưng tỉnh thức ở đây chính là hãy lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa bằng những việc bác ái, yêu thương; là sám hối, canh tân; là sống đạo và đáp lại lời mời gọi của Tin Mừng cách trung thành.  Mặt khác, khi tỉnh thức là chúng ta phải chuẩn bị để can đảm đối diện với cái chết. Nói như thánh Phaolô: “mỗi ngày tôi phải đối diện với cái chết”. Hay như câu ngạn ngữ sau: “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”. 

Đối diện với nó để đón đợi nó. Cái chết đối với người có tinh thần chuẩn bị được ví như một cuộc hẹn của tình yêu. Khi chuẩn bị sẵn sàng như thế, ta thấy cái chết đến với mình bất cứ lúc nào, ở đâu…ta đều thấy an vui, thanh thoát vì đã chuẩn bị.

Như vậy, cái chết đối với người tỉnh thức thì chẳng khác gì một “cõi đi về” .

Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn trợ lực cho chúng con, để chúng con can đảm vượt qua những cám dỗ và chuẩn bị cho tốt ngày Chúa đến với mỗi người chúng con khi Chúa Quang Lâm. Xin cũng ban cho chúng con một tấm lòng rộng mở, một tinh thần sẵn sàng, để ngày Chúa đến với mỗi người chúng con như một ngày hội của tin yêu và phó thác. Amen. mục lục

CHỜ ĐỢI

Trầm Thiên Thu

Chờ đợi là điều không thoải mái chút nào. Khoảng “chờ đợi” (hoặc đợi chờ, mong chờ, trông đợi, ngóng chờ,...) cũng có nhiều phiền phức chứ không hề đơn giản – bởi vì sống trong “khoảng” ấy cũng giống như ở giữa “chợ đời” vậy. Nhiêu khê lắm!

Nhà phát minh “siêu đẳng” Thomas Edison (1847-1931, Mỹ) nói: “Tất cả mọi thứ sẽ đến với người biết hối hả trong khi chờ đợi. Tôi chưa thất bại, mà chỉ là tôi đã tìm ra mười ngàn cách không hoạt động. Thiên tài là 1% cảm hứng và 99% mồ hôi”. Văn sĩ Alexandre Dumas (1802-1870, Pháp) nói: “Tất cả sự khôn ngoan của con người được tóm gọn trong hai điều: chờ đợi và hy vọng”. Có hy vọng là có mọi thứ.

Còn chờ đợi là còn hy vọng, mà hy vọng chính là Đức Cậy – một trong ba nhân đức đối thần. Chắc hẳn rằng ai cũng đã và đang có những khoảng chờ đợi – dù chung hay riêng, lâu hay mau, chờ đợi ai đó hoặc điều gì đó. Đó là miền sa mạc của tâm hồn. Khoảng chờ đợi nào cũng đều có nỗi trăn trở đặc thù, dù “khoảng” đó rộng hay hẹp, và có tính liên kết: có TIN TƯỞNG mới CHỜ ĐỢI, mà đã chờ đợi thì phải SẴN SÀNG. Chính Chúa Giêsu cũng đã có nỗi chờ đợi cháy bỏng nên Ngài phải thốt lên: “Tôi khát” (Ga 19:28). Ngài khát tình mến của các linh hồn, của mỗi chúng ta.

Thật vậy, trong một lần tham dự Thánh lễ, Thánh Faustina đã thị kiến Chúa Giêsu bị đóng đinh trên Thập Giá, và nghe thấy tiếng kêu than phát ra từ Thánh Tâm Chúa: “Ta khát. Ta khao khát cứu độ các linh hồn. Hỡi ái nữ của Ta, hãy giúp Ta cứu các linh hồn. Hãy kết hiệp những nỗi đau khổ của con với Cuộc Khổ Nạn của Ta và dâng mọi đau khổ lên Chúa Cha để cứu các tội nhân” (Nhật Ký Thánh Faustina, số 1032). Thế nhưng nhân loại vẫn hờ hững và lạnh nhạt với Ngài lắm. Có lần Chúa Giêsu đã đặt vấn đề: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18:8).

Chúng ta càng cứng lòng thì khoảng chờ đợi của Chúa Giêsu càng lớn. Thật đáng quan ngại về lời của Thánh Phêrô: “Nếu người công chính còn khó được cứu độ, thì người vô đạo, kẻ tội lỗi sẽ ở đâu?” (1 Pr 4:18). Khó lắm, do đó mà phải cố gắng không ngừng, không thể cứ “tỉnh bơ” hoặc “chờ sung rụng”, tới đâu hay tới đó. Phải thực sự SỐNG ĐẠO chứ không chỉ GIỮ ĐẠO. Sống đạo thì phải phải tích cực chứ không thể “mơ màng” rồi “yêu sách” với Chúa đủ thứ. Cái khó đó không phải Thiên Chúa “hạn chế” ơn cứu độ, mà vì chúng ta chưa thực sự chấp nhận Thiên Chúa là cứu cánh tối hậu. Chắc hẳn cũng cần tái xác tín để biết mình đang làm gì và đi hướng nào.

Là tín nhân, ai cũng miệt mài chờ ngày đợi đêm – chờ đợi được yêu Chúa hết lòng, được cứu độ, và được tận hưởng vĩnh phúc trường sinh trên Thiên Quốc – nơi Chúa Giêsu hằng chờ đợi những người thực sự yêu mến Ngài. Sách Khôn Ngoan cho biết: “Đêm ấy đã được báo trước cho cha ông chúng con, để khi biết chắc lời hứa mình tin là lời hứa nào các ngài thêm can đảm. Dân Chúa đã trông đợi đêm ấy như đêm cứu thoát người chính trực và tiêu diệt kẻ địch thù” (Kn 18:6-7). Thánh Vịnh gia so sánh nỗi khao khát Chúa bằng hình ảnh người lính canh mong đợi hừng đông (Tv 130:6).

Cái gì cũng có cái giá nhất định, sung có rụng vô miệng thì cũng vẫn phải nhai và nuốt. Sách Khôn Ngoan cho biết thêm: “Chúa dùng hình phạt giáng xuống đối phương để làm cho chúng con được rạng rỡ và kêu gọi chúng con đến với Ngài. Con lành, cháu thánh của những người lương thiện âm thầm dâng lễ tế trong nhà. Họ đồng tâm nhất trí về luật sau đây của Thiên Chúa, là trong dân thánh, có phúc cùng hưởng, có hoạ cùng chia. Và ngay từ bấy giờ, họ đã xướng lên những bài ca do cha ông truyền lại” (Kn 18:8-9). Không thể mong chờ đợi bằng động thái thụ động, mà phải tích cực hành động cụ thể để chứng tỏ tha thiết chờ đợi và thánh hóa nỗi niềm đó, nhờ vậy và với đức tin vào Đức Giêsu Kitô, ai đã hết lòng chờ đợi sẽ được công chính hóa (x. Gl 2:16).

Thật hạnh phúc khi được nên công chính. Thánh Vịnh gia kêu gọi: “Người công chính, hãy reo hò mừng Chúa, kẻ ngay lành, nào cất tiếng ngợi khen” (Tv 33:1). Tại sao? Bởi vì người công chính là người thuộc về Chúa: “Hạnh phúc thay quốc gia được Chúa làm Chúa Tể, hạnh phúc thay dân nào Người chọn làm gia nghiệp” (Tv 33:12).

Những người hết lòng kính sợ Chúa và trông cậy vào lòng Chúa yêu thương thì luôn được Ngài để mắt trông nom, được cứu khỏi tay thần chết và được nuôi sống trong buổi cơ hàn (Tv 33:18-19). Chắc chắn chúng ta phải chứng tỏ được sự thật minh nhiên này: “Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi Người luôn che chở phù trì. Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:20). Thiên Chúa rất vui có những người như vậy, và họ thực sự là người diễm phúc lắm.

Đức tin quan trọng vì là một mối phúc: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Và Thánh Phaolô xác định: “Đức tin là BẢO ĐẢM cho những điều ta hy vọng, là BẰNG CHỨNG cho những điều ta không thấy. Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám” (Dt 11:1-2). Vì TIN mà CẬY (trông) – tức là hy vọng, và cũng vì TIN mà YÊU (mến). Đó là bộ ba quan yếu cho đời sống tâm linh, gọi là ba nhân đức đối thần (nhân đức thần học). Mối liên kết rất lô-gích và chặt chẽ, giống như “chiếc kiềng ba chân” vững vàng (theo cách nói của người Việt).

Về mối liên quan giữa đức tin và sự công chính, Thánh Phaolô dẫn chứng: “Nhờ đức tin, ông Ápraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, ông đã tới cư ngụ tại Đất Hứa như tại một nơi đất khách, ông sống trong lều cũng như ông Isaac và ông Giacóp là những người đồng thừa kế cũng một lời hứa, vì ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng. Nhờ đức tin, cả bà Sara vốn hiếm muộn, cũng đã có thể thụ thai và sinh con nối dòng vào lúc tuổi đã cao, vì bà tin rằng Đấng đã hứa là Đấng trung tín” (Dt 11:8-11). Đó là những người có Đức Tin chân chính, thuần túy và tuyệt đối. Tin tưởng chứ không ảo tưởng. Thật vậy, TIN được Chúa yêu thì không là kiêu ngạo, nhưng TƯỞNG được Chúa yêu thì lại là kiêu ngạo. Ranh giới rất mong manh, vì vậy mà phải luôn thận trọng. Đúng là “cẩn tắc vô ưu”, tiền nhân dạy chí lý.

Và rồi Thánh Phaolô còn giải thích thêm: “Vì thế, do một người duy nhất, một người kể như chết rồi mà đã sinh ra một dòng dõi nhiều như sao trời cát biển, không tài nào đếm được. Tất cả các ngài đã chết, lúc vẫn còn tin như vậy, mặc dù chưa được hưởng các điều Thiên Chúa hứa; nhưng từ xa các ngài đã thấy và đón chào các điều ấy, cùng xưng mình là ngoại kiều, là lữ khách trên mặt đất. Những người nói như vậy cho thấy là họ đang đi tìm một quê hương. Và nếu quả thật họ còn nhớ tới quê hương mình đã bỏ ra đi, thì họ vẫn có cơ hội trở về. Nhưng thực ra các ngài mong ước một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời. Bởi vậy, Thiên Chúa đã không hổ thẹn để cho các ngài gọi mình là Thiên Chúa của các ngài, vì Người đã chuẩn bị một thành cho các ngài” (Dt 11:12-16). Cách nói có vẻ “dài hơi” một chút, nhưng cần phải vậy để chúng ta có thể hiểu rõ, không còn mơ hồ trên hành trình Đức Tin trong cuộc trần ai này.

Chưa hết, Thánh Phaolô tiếp tục dẫn chứng: “Nhờ đức tin, khi bị thử thách, ông Ápraham đã hiến tế Isaac; dù đã nhận được lời hứa, ông vẫn hiến tế người con một. Về người con này, Thiên Chúa đã phán bảo: Chính do Isaac mà sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi. Quả thật, ông Ápraham nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy. Rốt cuộc, ông đã nhận lại người con ấy như là một biểu tượng” (Dt 11:17-19). Vì tin vô điều kiện, tin đến mức sẵn sàng hy sinh chính đứa con yêu của mình, ông Ápraham trở thành tổ phụ của những người tin – tín nhân hoặc tín hữu. Đó là niềm tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa, tuyệt đối tín thác nơi Lòng Thương Xót của Ngài.

Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng chí nhân và chí thiện, là Thiên Chúa duy nhất, Ngài chỉ muốn chúng ta được hưởng những điều tốt lành của Ngài. Nhưng để được vậy thì chúng ta phải hết lòng tín thác và yêu mến Ngài, cũng là để được Ngài hết mực yêu thương, như chính Chúa Giêsu đã từng động viên và nhắn nhủ: “Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12:32). Chúa Cha đã yêu thương trao ban, nhưng có được thừa hưởng hay không còn tùy thuộc vào cách sống của chúng ta.

Với nỗi niềm mong mỏi, Chúa Giêsu đã căn dặn: “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá. Vì kho tàng của anh em ở đâu thì lòng anh em ở đó” (Lc 12:33-34 ≈ Mt 6:19-21). Đó là lời khuyên cho mọi người, không dành riêng cho bất cứ ai. Tài sản có thể theo nghĩa đen – như Thánh Phanxicô Assisi đã áp dụng sát nghĩa, và cũng có thể theo nghĩa bóng – khó nhất là “cái tôi”, loại tài sản “quý” này ai cũng có. Tương tự, một lần khác Chúa Giêsu cũng đã so sánh: “Xác chết nằm đâu, diều hâu tụ đó” (Mt 24:28; Lc 17:37). Rất thực tế, chẳng có gì khó hiểu.

Dùng cách nói cụ thể, Chúa Giêsu xác định: “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em: chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ. Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã không để nó khoét vách nhà mình đâu. Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ thì Con Người sẽ đến” (Lc 12:35-40). Ngài không có ý chơi trò ú tim, hù dọa hoặc “gài bẫy” chúng ta, mà Ngài muốn như vậy để công trạng của chúng ta được tăng lên. Khi chờ đợi thì đâu ai biết điều gì đó có xảy đến hay không, hoặc người đó có đến hay không. Nếu có hẹn trước thì miễn bàn, chẳng có gì thú vị. Vả lại, thời điểm đó chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (Mt 24:36; Mc 13:32).

Nghe Chúa Giêsu nói vậy, ông Phêrô thắc mắc: “Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?” (Lc 12:41). Xem chừng Phêrô nhà ta chân chất thật thà quá cỡ thợ mộc, cứ như trẻ em hồn nhiên ngây ngô vậy. Chúa Giêsu nói: “Vậy thì ai là người quản gia trung tín, khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát phần thóc gạo đúng giờ đúng lúc? Khi chủ về mà thấy đầy tớ ấy đang làm như vậy, thì thật là phúc cho anh ta. Thầy bảo thật anh em, ông sẽ đặt anh ta lên coi sóc tất cả tài sản của mình. Nhưng nếu người đầy tớ ấy nghĩ bụng: ‘Chủ ta còn lâu mới về’, và bắt đầu đánh đập tôi trai tớ gái và chè chén say sưa, chủ của tên đầy tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không ngờ, vào giờ hắn không biết, và ông sẽ loại hắn ra, bắt phải chung số phận với những tên thất tín” (Lc 12:43-46). Có thể chúng ta không đến nỗi “chè chén say sưa”, “chén thù chén tạc” hoặc “chén chú chén anh”, nhưng cách sống của chúng ta đã “tố giác” như vậy: Còn trẻ, còn khỏe, còn thở,... chưa chết đâu mà lo. Nhưng người Việt có câu cảnh báo: “Nước đến chân mới nhảy”. Thế thì thua thật!

Đúng vậy, thế thì tiêu! Chúa Giêsu thẳng thắn nói: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà KHÔNG chuẩn bị sẵn sàng, hoặc KHÔNG làm theo ý chủ thì sẽ BỊ đòn nhiều. Còn kẻ KHÔNG biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt thì sẽ BỊ đòn ít” (Lc 12:47-48a). Cái sự “không biết” ở đây không phải là “giả nai” rồi tìm cách biện hộ, mà là chủ ý, cứng lòng, cố chấp.

Cuối cùng, Chúa Giêsu nói một câu khiến chúng ta phải giật mình: “Ai đã ĐƯỢC CHO nhiều thì sẽ BỊ ĐÒI nhiều, và ai ĐƯỢC GIAO PHÓ nhiều thì sẽ BỊ ĐÒI HỎI nhiều hơn” (Lc 12:48b). Đó là luật công bằng, bởi vì Thiên Chúa rất mực công minh chính trực (Dcr 9:9b; Hc 5:3; Br 2:6; Br 2:9; Đn 9:14; Tv 7:18; Tv 9:9; Tv 11:7; Tv 25:8; Tv 67:5; Tv 146:7), không thiên vị bất kỳ ai (Đnl 10:17-18; Hc 35:12; Lc 20:21; Cv 10:34; Rm 2:11; Gl 2:6; Ep 6:9).

Lạy Thánh Phụ chí thánh chí lành, xin ban ơn giúp chúng con luôn tích cực sống đức tin trong thời gian chờ đợi Đức Giêsu Kitô tái lâm, dù lâu hay mau, đồng thời cũng biết kiên trì và kiên cường trong mọi hoàn cảnh. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

NƯỚC TRỜI CHA HỨA BAN

(Cảm nhận và suy niệm Lc 12,32-34)

* Lời Chúa phán: Hỡi đoàn chiên bé nhỏ,

Cha các con đã hứa ban Nước Trời.

Các con đừng khinh suất buông lơi,

Hãy bán hết của cải mà bố thí.

* Hãy tìm, sắm kho tàng thật đáng quí

Không hao mòn, hư nát ở trên trời,

Nơi đây các con sẽ sống muôn đời,

Hãy luôn nhớ: của cải ở đâu, lòng ở đó.

* Và hãy nhớ: cậy trông ơn cứu độ,

Vì ngày giờ Chúa gọi lúc chẳng ngờ,

Phải sẵn sàng, can đảm mà đợi chờ,

Không nản chí dù gặp cơn thử thách. 

* Lời Chúa hứa và dạy rất rành mạch 

Xin ban thêm ơn sức mạnh trường kỳ

Ơn vững tin, cậy, mến, chẳng suy vi,

Đoàn tín hữu  nên công dân Nước Chúa… mục lục

Thế Kiên Dominic

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan