SUY NIỆM CHÚA NHẬT 21 TN_C

22-08-2019 58 lượt xem

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN - NĂM C

(Is 66,18-21; Dt 12,5-7.11-13; Lc 13,22-30)

Mục Lục

CỬA HẸP+ ĐTGM.  Giuse Vũ Văn Thiên

HÃY CHIẾN ĐẤU ĐỂ QUA ĐƯỢC CỬA HẸP MÀ VÀOLm. Giuse Nguyễn Hữu An

CHIẾN ĐẤU ĐỂ QUA ĐƯỢC CỬA HẸPJM. Lam Thy ĐVD

CHÚA MUỐN CỨU ĐỘ HẾT MỌI NGƯỜILm. Antôn Nguyễn Văn Độ

HÃY VÀO CỬA CỦA SỰ SỐNGJos. Vinct. Ngọc Biển

NỖ LỰCTrầm Thiên Thu

HÃY VÀO QUA CỬA HẸP - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

QUA CỬA HẸP - (Thế Kiên Dominic) 

CỬA HẸP

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Người Việt chúng ta thường nói: “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Tác giả thư Do Thái lại khẳng định: “Chúa thương ai thì mới sửa dạy người ấy và có nhận ai làm con thì mới cho roi cho vọt”. Như thế, điểm gặp gỡ giữa văn hóa Việt Nam và truyền thống Thánh Kinh ở quan niệm rằng, việc sửa dạy khiển trách là cần thiết để giúp con người trưởng thành. Lửa thử vàng, gian nan thử đức. Những khó khăn thất bại chúng ta gặp trên đường đời cũng giống như những bài học quý giá, nếu biết chân thành đón nhận sẽ giúp ta thành công trong tương lai. Như cây nho cần được cắt tỉa để có nhiều trái hơn, con người cũng cần được sửa dạy để nên hoàn thiện. Một văn sĩ người Pháp đã viết: “Con người không được giáo dục, như thú hoang được thả vào đô thị, gặp ai nó cắn người đó”.

“Hãy vào qua cửa hẹp!”. Đó là lời mời gọi của Chúa Giêsu. Ai trong chúng ta cũng hiểu Chúa Giêsu muốn ám chỉ một cuộc sống có kỷ luật và tuân theo giáo huấn của Người. Thông thường, người ta học điều xấu thì rất nhanh và rất dễ, nhưng học điều tốt thì rất chậm và rất khó. “Cửa hẹp” mà Chúa Giêsu muốn nói ở đây chính là sự kiên nhẫn và chuyên tâm thực hiện Lời Chúa. Để thực thi Lời Chúa, chúng ta phải trải qua những cố gắng hy sinh. Như những vận động viên muốn đạt giải quán quân phải khổ chế tập luyện, những ai muốn nên thánh phải chấp nhận tuân giữ những kỷ luật khắt khe. Một lối sống giả tạo bề ngoài sẽ bị kết án là “đồ bất chính”. Giáo huấn Tin Mừng cần được thấm nhuần và trở nên nguồn động lực cho cuộc sống chúng ta, chứ không chỉ hời hợt bề ngoài. Chúa lên án những ai chỉ giữ Đạo bằng môi miệng, còn thực tế thì đủ mọi mưu mô tính toán và gian lận.

Lời Chúa không chỉ bao gồm sự ngọt ngào, mà còn sự cay đắng; không chỉ có những lời khen ngợi mà còn những lời trách móc. Người có đức tin trưởng thành biết đón nhận cả sự ngọt ngào và cay đắng của Lời Chúa để tự ngẫm và sửa mình, nhờ đó nên hoàn thiện.

“Cửa hẹp”, theo tác giả thư Do Thái, đó là sự kiên nhẫn trong thử thách. “Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy?” Những gian khó mà chúng ta gặp phải trên đường đời, nếu được đón nhận bằng cái nhìn đức tin, sẽ được coi như sự sửa dạy của Chúa để chúng ta nên con người hoàn thiện. Mà nếu Chúa sửa dạy ai, là vì Ngài yêu thương người đó và muốn kéo người đó lên kẻo chìm sâu trong bùn lầy.

Giáo huấn của Chúa cũng nhằm phê phán lối suy nghĩ mang tính “tự tôn” của khá nhiều người Do Thái đương thời, nhất là giới Pharisiêu và Luật sĩ. Họ coi trọng những chức danh, những tước hiệu cùng với trang phục bề ngoài và coi đó là những lý do để tự hào và coi thường người khác. Họ nghĩ mình thuộc về dân Chúa chọn, được ưu tuyển và có nhiều lợi thế, chắc chắn họ được Chúa yêu thương hơn. Những người đợi ở cửa phòng tiệc sau khi cửa đã đóng lại cố tìm cách trưng dẫn những bằng chứng cho thấy mối thân thiện của họ với ông chủ, nhưng ông  đã tuyên bố dứt khoát: “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khỏi mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính”. Trong bối cảnh này, việc gợi lại những bữa ăn uống với ông chủ hay những kỷ niệm đẹp với ông chỉ là sự che đậy một lối sống bất nhân.

Cuộc sống có một định hướng và một mục đích trong tương lai. Trong khi hưởng thụ cuộc sống hiện tại, chúng ta không quên mục đích và định hướng ấy, dù cuộc đời đau khổ hay hạnh phúc, dù cuộc sống ngắn hay dài. Ngôn sứ Isaia nói đến ngày mà muôn dân sẽ quy tụ để tôn vinh Thiên Chúa. Lúc đó, những người công chính sẽ được hưởng vinh quang và phần thưởng Chúa hứa ban cho người trung thành. Đó cũng là lúc mà Chúa Giêsu gọi là “từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa”. Tiếc thay, những người vẫn tự hào cho mình là “con dòng cháu giống” lại bị đuổi ra ngoài, nơi chỉ có khóc lóc nghiến răng, tức là chỉ có đau khổ và thù hận.

Hãy sống thật trước mặt Chúa và trước mặt anh em. Điều ưu tiên đối với người tín hữu là làm sao để sống tốt giữa một cuộc đời đầy biến động, “tâm bất biến giữa cuộc đời vạn biến”. Như đóa sen vươn lên giữa bùn lầy mà vẫn thanh tao và tỏa hương thơm ngát, chúng ta được mời gọi kiên trì và vững tin. Đó là mối ưu tư hàng đầu chi phối mọi suy nghĩ và hành động của chúng ta. Ai chấp nhận đi qua cửa hẹp sẽ gặt được hoa trái là bình an và công chính, như Thánh Phaolô khẳng định với chúng ta. mục lục.

HÃY CHIẾN ĐẤU ĐỂ QUA ĐƯỢC CỬA HẸP MÀ VÀO

 Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Tin Mừng hôm nay nói đến hình ảnh cửa hẹp. Cửa hẹp là cửa khó đi qua, chỉ dành cho ít người. Kinh Thánh dùng hình ảnh cửa hẹp để chỉ những đòi hỏi của Nước Trời.

Hẹp ở đây không có nghĩa là hẹp hòi hay kém giá trị. Tính từ hẹp chỉ sự thách đố, chông gai, đòi hỏi nỗ lực để kiên vững bước đi. Hẹp chỉ sự khó khăn, vất vả, từ bỏ, cần phải “chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào”.

Các bài đọc Thánh Kinh hôm nay nói về cửa vào Nước Trời tuy hẹp nhưng không chật mà vẫn rộng thênh thang.

1. Cửa hẹp mà không chật

Trong bài đọc 1, Tiên tri Isaia trình bày ý định của Thiên Chúa là muốn qui tụ mọi dân tộc, mọi quốc gia thành một dân duy nhất tin vào Ngài, đến với Ngài và hưởng hạnh phúc muôn đời với Ngài. Điều kiện phải có là lễ phẩm tiến dâng Đức Chúa.

Tác giả thư Do thái trong bài đọc 2 viết rằng: vì những ai được Chúa thương thì Ngài sẽ nhận làm con. Chúa thương ai thì mới sửa dạy người ấy và có nhận ai làm con mới cho roi cho vọt. Điều kiện là vâng nghe Lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Ngài khiển trách.

Bài Tin Mừng nói đến sự nỗ lực suốt hành trình đức tin. Vì tất cả mọi người đều được mời gọi vào nhà Chúa Cha và được tham dự Bàn tiệc Thiên quốc. Không phải ai muốn vào cũng được. Cửa hẹp, muốn vào cần phải nỗ lực. Nỗ lực sống thực thi ý Chúa, nỗ lực trung thành với niềm tin của mình, nỗ lực sống tình bác ái yêu thương.

Bất luận là ai cũng có thể được vào Nước Trời, miễn là phải cố gắng. Người ta sẽ từ Đông sang Tây, từ Bắc chí Nam vào dự tiệc Nước Trời. Tất cả là do nỗ lực và thành tâm thiện chí của mỗi cá nhân; không do định mệnh, không do đặc quyền đặc lợi, cũng không có chế độ ưu tiên nào, chỉ có sự tự do và quyết tâm đi vào của mỗi người trong đức tin mà thôi.

 2. Nước Trời rộng, muốn vào phải có điều kiện

“Hãy chiến đấu để vào qua cửa hẹp” (Lc 13,24), vì “cửa hẹp dẫn đến sự sống đời đời” (Mt 7,14). Chiến đấu ở đây là chiến đấu với chính mình, với cái tôi cồng kềnh của mình, cái tôi nặng nề vì những thu tích cá nhân, cái tôi phình to vì tự hào và kiêu căng đầy tham vọng.

Thật ra cửa vào Nước Trời rộng thênh thang, không phải là cửa hẹp, nhưng hẹp vì “cái tôi” của ta quá to lớn cồng kềnh. Cửa hẹp không phải vì Nước Trời chật hẹp. Nước Trời rộng mênh mông, có thể đón tiếp tất cả mọi người. Nhưng không phải tất cả mọi người có thể vào được, vì vào Nước Trời cần phải có những điều kiện cần thiết. Cửa hẹp chính là để tuyển lựa những người có phẩm chất thích hợp với Nước Trời. Ai muốn vào Nước Trời phải phấn đấu. Cần nỗ lực liên tục để cắt xén “cái tôi” của mình, để giữ cho “cái tôi” của mình trở nên bé nhỏ, khiêm hạ trước Thiên Chúa và cởi mở trước anh em.

Cái tôi của ta luôn có khuynh hướng phình to vì những thu tích cho chính mình: tri thức, tiền bạc, khả năng... Cả những kinh nghiệm, tuổi tác, đạo đức, chức vụ… cũng có thể làm cho “cái tôi” của ta trở nên xơ cứng và phình to.

Phải trở nên nhỏ bé như trẻ thơ thì mới được vào Nước Trời (Mt 18,3). Cần phải biến đổi và tự hạ để có thể vào được Nước Thiên Chúa (Mt 18,3-4). Quả thật, đời sống người Kitô là một cuộc chiến đấu không ngưng nghỉ, một cuộc chiến đấu liên lỉ với chính mình. Khi ta cắt xén “cái tôi” của mình, khi ta tự hủy thân phận của mình, ta sẽ dễ dàng đi qua cửa hẹp, để bước vào cuộc sống hạnh phúc đời đời trong Nước Thiên Chúa.

Đức Giêsu cũng chính là “Cửa” để ta bước vào Nước Trời. 

Cửa vào Nước Trời hẹp vì được làm theo kích thước của Chúa Giêsu:

Cửa này thấp vì Chúa Giêsu đã hạ mình sâu thẳm: Là Thiên Chúa, Người đã tự nguyện trở nên người phàm. Từ trời cao, Người đã tự nguyện xuống nơi đất thấp. Là Thầy, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phục vụ. Vô cùng thánh thiện nhưng Người đã tự nguyện để bị đối xử như một tội nhân.

Cửa này bé vì Chúa Giêsu đã trở nên bé nhỏ: Người đã sinh ra nghèo, sống nghèo và chết nghèo. Trong cuộc tử nạn, Người đã bị bóc lột hết, không phải chỉ quần áo mà cả uy tín và danh dự.

Chúa Giêsu đã khai mở con đường về Nước Trời. Muốn vào Nước Trời chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi. Chẳng có cửa nào khác ngoài khung cửa hẹp mà Chúa Giêsu đã bước qua. Ai muốn qua đó cũng phải noi gương Người, phải phấn đấu để khiêm tốn hạ mình, phải từ bỏ cái tôi cồng kềnh ích kỷ mới qua được khung cửa hẹp mà vào Nước Thiên Chúa (theo Radio Veritas).

3. Cửa hẹp dẫn vào Nước Trời mênh mông

Thiên Chúa đến với con người qua khung cửa hẹp. Thiên Chúa sai Con Một xuống thế làm người hiến thân chịu chết khổ đau trên thập giá vì loài người và để cứu rỗi muôn người. Thiên Chúa chọn con đường hẹp để mở lối vào khung trời bao la của tình thương. Tình thương cao cả cúi xuống với thân phận thấp hèn của con người. Sau cửa hẹp là tình thương rộng lớn của Thiên Chúa.

Đức Giêsu đã mở đường về Nước Trời. Muốn vào Nước Trời chẳng có con đường nào khác ngoài con đường Đức Giêsu đã đi. Chẳng có cửa nào khác ngoài khung cửa hẹp mà Đức Giêsu đã qua. Con người đến với Thiên Chúa cũng phải qua khung cửa hẹp. Ai muốn qua đó cũng phải noi gương Đức Giêsu hạ mình xuống và bé nhỏ đi. Chỉ những ai hạ mình khiêm tốn và từ bỏ hết cái tôi cồng kềnh ích kỷ mới qua được khung cửa hẹp mà vào Nước Thiên Chúa.

Vấn đề không phải là khung cửa hẹp mà chính là bản thân mình quá cồng kềnh với những thứ danh vọng chức quyền tiền bạc. Chấp nhận thanh tẩy cần thiết, trút bỏ vướng víu để nhẹ nhàng qua khung cửa hẹp mà đến với sự sống đời đời. Sau khung cửa hẹp là tình thương đẹp ngời Thiên Chúa mở ra cho vận mệnh con người.

Cửa Nước Trời không làm bằng vật chất, nhưng là Lề Luật và các phương tiện nên thánh. Nước Trời vừa mang tính hữu hình, vừa mang tính thần thiêng. Sự khó khăn chật hẹp khi đi qua cửa là đời sống kỷ luật.Vào cửa hẹp phải đi qua một mình, từng người một. Bước qua cửa hẹp là giữ và sống lời Đức Giêsu và giáo huấn của Giáo hội một cách nghiêm chỉnh suốt cuộc hành trình trần gian. Cửa hẹp để qua phải hy sinh, vất vả. Đứng trước cửa hẹp, ai lại không ngần ngại, ai dám khẳng định con đường cứu độ thật dễ dàng, ai dám tự hào về thành công bản thân?

“Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào”. Lối vào dẫn tới nguồn vui vẻ và hạnh phúc đời đời.

“Cửa” dẫn đến hạnh phúc thì “hẹp” vì để đi tới đó chỉ có một Con Đường là Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất (x. Cv 4,12) và vì con đường Chúa đã đi qua để cứu độ nhân loại chính là con đường thập giá. Đi con đường thập giá với Chúa Kitô chắc chắn không phải là một cuộc dạo chơi, mà là một cuộc chiến đấu, cuộc chiến đến giọt máu cuối cùng.

Đường vào Nước Trời không rộng thênh thang để người ta tha hồ thoả mãn những đam mê tội lỗi. Trái lại đó là cả một cuộc chiến đấu thiêng liêng chống lại cái tôi kiêu ngạo, ích kỷ, tham lam. Để đạt chiến thắng cuối cùng trong ngày cánh chung, phải chiến đấu từ bây giờ trong cuộc sống hiện sinh này.

Hãy lấy Lời Chúa làm vũ khí để chiến đấu chống lại ma quỷ: “…binh giáp vũ khí của Thiên Chúa,… lưng thắt đai là chân lý,… mang áo giáp là sự công chính,.. chân đi giày là lòng hăng say loan báo Tin Mừng,… cầm khiên mộc là đức tin,… đội mũ chiến là ơn cứu độ,… tay cầm gươm của Thần Khi, tức là Lời Thiên Chúa” (x. Ep 6,10 17). 

Lạy Chúa, xin cho con biết nỗ lực chiến đấu không ngừng để quyết đi qua cửa hẹp là hy sinh, thương xót, phục vụ và sẻ chia hầu đem lại cho con hạnh phúc, bình an và Nước Chúa ngay đời này và đời sau. Amen. mục lục.

CHIẾN ĐẤU ĐỂ QUA ĐƯỢC CỬA HẸP

JM. Lam Thy ĐVD

Bài đọc 1 (CN.XXI/TN-C – Is 66, 18-21) trình thuật Lời Đức Chúa hứa ban ơn cứu độ xuống cho Dân Người (“Ta sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ; họ sẽ đến và được thấy vinh quang của Ta. Ðức Chúa phán: giống như con cái Ít-ra-en mang lễ phẩm trên chén dĩa thanh sạch đến Nhà Ðức Chúa, người ta cũng sẽ đưa tất cả những anh em các ngươi thuộc mọi dân tộc về làm lễ phẩm tiến dâng Ðức Chúa - đưa bằng ngựa, xe, võng cáng, lừa và lạc đà - về trên núi thánh của Ta là Giê-ru-sa-lem. Và cả trong bọn họ, Ta sẽ chọn lấy một số làm tư tế, làm thầy Lê-vi - Ðức Chúa phán như vậy.”). Suy niệm bài đọc 1 sẽ thấy con đường cứu độ tưởng chừng như rộng thênh thang; số đông người được đón tiếp và đưa bằng “ngựa, xe, võng cáng, lừa và lạc đà”. 

Đến bài Tin Mừng (Lc 13, 22-30) thì sự thể khác hẳn. Mở đầu bài Tin Mừng, Thánh sử Lu-ca viết: “Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy. Có kẻ hỏi Người: "Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?" Người bảo họ: "Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được.” (Lc 13, 22-24). Tâm trạng chung của con người khi đi theo một nhân vật quan trọng – thứ nhất đây lại là nhân vật tầm cỡ Đấng Cứu Độ – có thể cứu giúp mình thoát khỏi cảnh khổ cực; thường hay thắc mắc không hiểu có đông người được Đấng ấy cứu thoát hay không? Nếu là số đông được cứu thoát, thì người thắc mắc sẽ vui mừng vì cho là mình đã làm đúng, còn nếu là số ít thì người ấy sẽ thất vọng và có thể quay ngược 180 độ, bỏ đi một nước.  

Thay vì trả lời thẳng vào thắc mắc của kẻ đặt câu hỏi, Đức Giê-su lại trả lời: "Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được.” (Lc 13, 24). Như vậy thì Đức Giê-su đã gián tiếp cho biết số người được cứu thì ít mà số đông lại là những kẻ không được cứu (vì không qua được cửa hẹp). Chủ ý của Lời dạy là muốn cho mọi người hiểu rằng: Được cứu hay không là do chính bản thân người xin cứu, chớ không phải ở nơi Đấng Cứu Độ. Đúng vậy, "Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài." (Thánh Au-gus-ti-nô). Biết bao nhiêu lần Đức Giê-su Thiên Chúa đã chữa lành cho những kẻ đui mù, câm điếc, phong hủi, què quặt, nhưng lần nào Người cũng nói: “Đức tin của anh em đã chữa lành anh em”. 

Còn một điểm nữa là: Muốn được cứu thì phải chiến đấu. Một cách cụ thể, nếu biết toàn tâm toàn ý dốc hết sức mình để chiến thắng cái tôi vị kỷ, tội lỗi với những dục vọng thấp hèn bất chính, thì sẽ được cứu. Còn nếu cứ tìm cách dùng những âm mưu bất chính với tấm lòng bất trung thì chắc chắn sẽ bị “đuổi ra ngoài”. Cũng bởi vì con đường cứu chuộc là con đường gian nan khó nhọc, phải chấp nhận mọi thử thách nghiệt ngã, mọi hy sinh mất mát kể cả mạng sống mình – như chính Đấng Cứu Độ đã kinh qua – thì mới mong gặt hái chiến thắng. Vì thế, cánh cửa hạnh phúc đích thực luôn luôn là “cửa hẹp và đường chật”, còn “cửa rộng và đường xá thênh thang” chỉ đưa đến diệt vong mà thôi. Cái hình ảnh cửa hẹp khiến người nghe khó hình dung được, vì nói về Nước Thiên Chúa ai cũng nghĩ rằng đó là một Nước, một Vương Quốc mênh mông không biên giới, vô hạn định. Đã không có giới hạn rõ rệt thì tại sao lại có cửa hẹp? 

Một lần nữa, Đức Giê-su lại dùng dụ ngôn với những Lời dạy “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) trái ngược nhau nhằm gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người nghe. Trong Tin Mừng theo Thánh Mat-thêu, Lời dạy trên được diễn tả rõ hơn: "Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.” (Mt 7, 13-14). Cùng một ý như vậy, có lần Đức Giê-su còn dạy các môn đệ: "Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. Thầy còn nói cho anh em biết: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa." (Mt 19, 23-26). Con lạc đà chui qua lỗ kim là một chuyện không tưởng, vậy mà còn dễ hơn người giàu có vào được Nước Thiên Chúa. Phải chăng cái lỗ kim ấy chính là cửa hẹp?

Cửa hẹp là cửa khó vào. Muốn vượt qua được cửa hẹp phải biết thu nhỏ mình lại, mà thu nhỏ mình lại thì tức là phải ăn kiêng để giảm béo, bớt cân, còn phải trui rèn ý chí, tập luyện thể lực. Nói cách cụ thể là phải hãm mình ép xác, khiêm tốn, hy sinh. Thu nhỏ mình là khiêm nhường chịu lụy, là “ai muốn đoạt áo trong của mình thì hãy cho họ luôn cả áo ngoài”, là “ai vả má bên trái thì hãy đưa cả má phải cho họ vả tiếp” (Mt 5, 38-44); nhưng đồng thời còn phải biết xoay cái nhìn ra khỏi cái tôi hẹp hòi, ích kỷ, phải biết mở rộng trái tim, thực hành bác ái. Chính vì thế, nên cửa hẹp chẳng ai muốn vào dù đã được mách bảo qua được cửa hẹp là vào được cõi phúc. Người ta chỉ thích đi tìm những cửa rộng, bởi đó là lối đi có những mời gọi ngọt ngào, những cuốn hút mê đắm.

Quả thật số người vào được cửa hẹp chỉ là thiểu số, còn đa số vẫn là những kẻ không vào được. Họ là ai? Đó là những người ở trước mặt Chúa và đã thấy Người đi lại giảng dạy nơi phố xá của họ, nhưng vẫn làm điều phi nhân bạc nghĩa. Ðó là những người Na-da-ret đồng hương, những người Do Thái đồng thời với Ðức Giê-su – nhất là những kinh sư, luật sĩ, tư tế chỉ thích “ngồi trên toà ông Mô-sê” mà giảng dạy – đã không tin thì chớ, mà còn âm mưu giết hại cả Đấng Cứu Độ. Họ sẽ bị xua đuổi ra khỏi nơi đang có các tổ phụ và các tiên tri vui hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa. Họ sẽ bị tống vào nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng; trong khi có nhiều người từ khắp nơi Ðông, Tây, Nam, Bắc (tức là dân ngoại) lại được vào dự tiệc Nước Trời. Tiêu đề bài Tin Mừng hôm nay đã nói lên tất cả: “Cửa hẹp. Thiên Chúa ruồng bỏ người Do Thái bất trung và kêu mời dân ngoại” (Lc 13, 22-30).

Dân chính hiệu (được tuyển chọn) là những người đứng hàng đầu thì bị tống ra ngoài, để dân ngoại là những kẻ tới sau đứng ở hàng cuối lại được vào dự tiệc Nước Trời. Chuyện khó tin nhưng có thật 100% ("Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót." – Lc 13, 30). Vậy đó! Cũng cần nói rõ Đức Giê-su chỉ nói “Có những kẻ…”, chớ không phải tất cả. Vậy thì không phải tất cả những kẻ “đứng hàng đầu” đều xuống cuối và tất cả những kẻ “đứng hàng cuối” sẽ được lên hàng đầu. Chung quy thì chỉ có những ai tin nghe và sốt sắng hành động theo Lời dạy của Đấng Cứu Thế, thì dù có tới sau, đứng cuối, cũng sẽ được lên hàng đầu. Và chỉ những kẻ bất lương mới bị tống ra ngoài mà thôi.

Như vậy là đã rõ: Để qua được cửa hẹp, vào được Nước Thiên Chúa, để chiếm hữu được Nước Trời, không phải chuyện dễ dàng. Nó đòi hỏi quyết tâm đã đành, nhưng còn phải có được đức khiêm nhường, đức nhẫn nại, vượt khó, dám hy sinh, chấp nhận gian khổ thử thách, và nhất là phải bền lòng với Đức ÁI, kiên trung với Đức TIN, dốc lòng trông CẬY vảo Thần Khí của Đấng Cứu Độ đến sửa dạy cho nên người môn đệ đích thực. Tục ngữ Việt Nam có câu “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”, người Ki-tô hữu hôm nay hãy coi lời khuyên gửi tín hữu Do Thái như một liều thuốc chữa căn bệnh bất trị của mình: “Anh em đã quên lời khuyên nhủ được nói với anh em như với những người con: Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con.” (Dt 12, 5-7). Ước được như vậy. 

Ôi! “Lạy Chúa, chỉ có Chúa mới làm cho chúng con nên một lòng một ý; xin cho tất cả chúng con biết yêu luật Chúa truyền và mong điều Chúa hứa, để dầu sống giữa cảnh thế sự thăng trầm, chúng con vẫn một lòng thiết tha với cõi phúc chân thật. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN XXI.TN-C). mục lục.

CHÚA MUỐN CỨU ĐỘ HẾT MỌI NGƯỜI

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

"Ta đến quy tụ mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ: chúng sẽ đến và nhìn thấy vinh quang của Ta". (Is 66,18). Những lời trên của tiên tri Isaia, được vang lên trong phụng vụ, làm nổi bật chủ đề về ơn cứu độ phổ quát. Quả thật, bước vào Chúa nhật thứ XXI thường niên C, Phụng vụ Lời Chúa mời gọi chúng ta can đảm đi vào cửa hẹp là cửa dẫn tới ơn cứu độ phổ quát đời đời, đúng như Tin Mừng Luca loan báo: "Và người ta sẽ từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc trong nước Thiên Chúa" ( Lc 13, 30)

Hiến chế Ánh sáng muôn dân số 1-2 của Công Đồng Vaticanô II khẳng định: Ánh sáng muôn dân chính là Chúa Kitô, nên Thánh Công Ðồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Chúa phản chiếu trên dung nhan Giáo Hội, bằng việc rao truyền Phúc Âm cho mọi tạo vật (x. Mc 16,15). Vì Giáo hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại... Những hoàn cảnh hiện tại làm cho nhiệm vụ của Giáo Hội thêm khẩn thiết hơn, để ngày nay mọi người liên hệ chặt chẽ hơn bởi nhiều ràng buộc xã hội, kỹ thuật, văn hóa, cũng được hiệp nhất trọn vẹn trong Chúa Kitô.

Bởi ý định khôn ngoan nhân lành, hoàn toàn tự do và mầu nhiệm, Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng vũ trụ; Ngài đã quyết định nâng loài người lên tham dự đời sống thần linh, và Ngài đã không từ bỏ con người sa ngã trong Adam, nhưng luôn ban sự trợ giúp để họ được cứu rỗi, nhờ Chúa Kitô, Ðấng Cứu Thế, "là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, Con đầu lòng của tạo vật" (Col 1,15). Thực vậy, từ muôn thuở tất cả mọi người được tuyển chọn, Chúa Cha "đó được trở nên Trưởng Tử trong nhiều anh em" (Rm 8,29). Thế nên Chúa Cha muốn qui tụ những ai tin kính Chúa Kitô vào trong Giáo Hội. Từ nguyên thủy, Giáo Hội được phác thảo bằng hình bóng, được chuẩn bị kỳ diệu trong lịch sử dân Israel và trong giao ước cũ, được thành lập trong thời cuối cùng, và được biểu hiện lúc Chúa Thánh Thần ngự xuống, rồi đến ngày tận thế sẽ kết thúc trong vinh quang. Bấy giờ, như chúng ta đọc thấy nơi thánh Grêrôriô I, mọi người công chính từ Adam, "từ Abel công chính đến người được tuyển chọn cuối cùng" sẽ được tập họp trong Giáo Hội phổ quát bên Chúa Cha. Hiến chế Giáo hội "Lumen Gentium", 1-2

Bài đọc I, Isaia khuyến khích dân chúng lưu đầy trở về, đây là điều cần thiết. Trên đường hồi hương, phải nhiệt thành không trễ nải, vì Đền thờ bị phá hủy, vua bị truất ngôi, đất đai bị người ngoài chiếm đóng. Giữa lúc đó, dân ngoại sống trà trộn với dân Do thái không đi đày, và dân Do thai tự hỏi nhau : Thiên Chúa mà cha ông họ ở Giêrusalem tin có còn không ? Isaia cho biết Thiên Chúa vẫn giữ với lời hứa: "Ta đến quy tụ mọi dân tộc...sẽ dẫn tất cả anh em các ngươi từ mọi dân tộc đến như của lễ dâng cho Chúa, họ cưỡi ngựa, đi xe, đi võng, cưỡi la, cưỡi lạc đà, đến núi thánh của Ta là Giêrusalem". (Is 66, 18-21)

Về phần mình, Thiên Chúa sẽ hoàn tất lời hứa. Trên thực tế, kiểu nói, "sẽ dẫn tất cả anh em các ngươi từ mọi dân tộc" dân ngoại, nhưng cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng là lời hứa tất cả mọi dân trên toàn cõi địa cầu. Ở đây, lời hứa : ơn cứu độ phổ quát cho toàn dân. Từ nay, anh em sẽ được hiểu là dân ở giữa dân ngoại. Quả thật, Thiên Chúa loan báo: "Ta đến quy tụ mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ", và Ngài kết luận: "Trong những dân đó, Ta sẽ chọn các tư tế, các thầy Lêvi".

Vậy là Thiên Chúa tự mạc khải mình là Đấng trung thành, giữ trọn điều đã loan báo. "Vì tình thương Chúa dành cho chúng tôi thực là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời" (Tv 116,2).

Thư gửi tín hữu Do thái nói với chúng ta rằng "Khi Thiên Chúa yêu ai, thì Ngài sửa dạy người ấy, vì Chúa sửa dạy ai là kẻ Người yêu mến, và đánh đòn kẻ mà Người chọn làm con. Trong khi được sửa dạy, anh em hãy bền chí. Thiên Chúa xử sự với anh em như con cái: vì có người con nào mà cha không sửa phạt" (Dt 12, 5-7.11-13).

Thiên Chúa không muốn cứu chúng ta mà không cần chúng ta! Và đây chính là lý do Đức Giêsu mời gọi chúng ta đi vào cửa hẹp. Các bản văn Chúa nhật tuần này gợi lên câu hỏi về tương quan giữa ta với Thiên Chúa. Nghe lời Đức Giêsu dạy mà thôi chưa đủ, cần phải sẻ chia cùng tấm bánh là chính Đức Giêsu, để được cứu chuộc. Chúng ta cam kết với nhau hoán cái, không ngừng đào sâu tương quan của chúng ta với Thiên Chúa khi đổi mới cách nghĩ của chúng ta và từ bỏ gắn bó với những thứ không cần thiết ở thế giới chóng qua này. Nói cách khác, chúng ta ngoảnh mặt trước cái tôi vụ lợi, lôi kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa. Chính Ngài là cửa hẹp (x. Ga 10). Chỉ có nơi Thiên Chúa, chúng ta mới có thể được cứu độ và được phục sinh, vượt qua cái chết với tất cả những quan niệm hạ giới để bước vào thượng giới của Thiên Chúa.

Lạy Chúa là Thiên Chúa trung thành, xin ban ơn sức mạnh cho chúng con, để với ơn Chúa, chúng con có được Chúa là Đấng mang lại cho chúng con gia nghiệp muôn đời Chúa hứa. Amen. mục lục.

HÃY VÀO CỬA CỦA SỰ SỐNG 

Jos. Vinct. Ngọc Biển

Thiên Chúa là Cha yêu thương hết mọi người, vì thế, Người không loại trừ ai. Khi đến trong trần gian, Đức Giêsu đã thi hành sứ mạng ấy và không ngừng loan báo về lòng thương xót của Thiên Chúa cho mọi người. Nhưng, sứ mạng này đã không làm cho người Dothái hài lòng, bởi lẽ họ luôn nghĩ chỉ mình dân tộc Israel mới được Thiên Chúa thương và cứu chuộc, còn các dân tộc khác chỉ là dân ngoại.

Chính vì lý do này, mà hôm nay, một người đã đứng lên hỏi Đức Giêsu: "Thưa Thầy, những người được cứu thoát thì ít, phải không Thầy"?

Tuy nhiên, Đức Giêsu đã không trả lời cho biết số lượng và thành phần được cứu, mà nhân cơ hội này, Ngài đã vạch ra cho họ một con đường để được cứu chuộc, đó là: "Hãy chiến đấu qua cửa hẹp mà vào" (Lc 13,24).

1. Bối cảnh tạo nên lời giáo huấn

Thánh sử Luca trình thuật cho chúng ta thấy câu chuyện được đặt vào giai đoạn Đức Giêsu tiến về thành Giêrusalem nhân dịp lễ Cung hiến Đền thờ.

Trên hành trình này, Đức Giêsu đã rảo qua các làng mạc, thị trấn để giảng dạy cho dân chúng. Ngài dạy họ phải sám hối, cầu nguyện và từ bỏ những thứ trái ngược với đức tin và đạo lý Tin Mừng để được cứu chuộc.

Khi nghe Đức Giêsu giảng, có một người đã cất tiếng hỏi Ngài: "Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít được cứu rỗi?" (Lc 13, 23).

Câu hỏi này mang tính tập thể, bởi vì nó được khởi đi từ quan niệm độc tôn chủng tộc của người Dothái. Bởi vì người Dothái luôn nghĩ rằng: chỉ có những người thuộc dòng dõi con cháu Apraham, và phải ở trên phần đất mà cha ông truyền lại, hay ít ra là phải nói tiếng Dothái, vì đây là Tiếng Thánh, rồi phải sớm tối đọc kinh Shema thì mới được cứu độ.

Khi quan niệm như thế, họ đã loại bỏ hết những thành phần của các dân tộc khác và không chấp nhận lời rao giảng của Đức Giêsu về ơn cứu độ phổ quát cho mọi dân tộc.

Thừa hiểu được tâm trạng tự kiêu, tự đại, độc tôn, đặc lợi mà những người Dothái tự nhận cho mình, Đức Giêsu đã dạy cho họ một bài học.

Tuy nhiên, Ngài đã không trực tiếp trả lời câu hỏi được đưa ra. Bởi lẽ Đức Giêsu đến không phải để thỏa mãn tính tò mò của con người. Vì thế, Ngài từ chối trả lời các câu hỏi phụ thuộc.

Thật vậy, nếu trả lời là: "Chỉ có một số ít được vào", thì phải chăng lại khơi lên tính tự mãn nơi dân tộc vốn có cái nhìn ích kỷ và hẹp hòi này, và lẽ đương nhiên, họ không cần cố gắng nữa vì nghĩ rằng: số ít ấy chính là dân tộc Dothái. Còn nếu Đức Giêus nói là: "Số người được cứu sẽ rất đông", thì cũng sẽ làm cho mọi người thờ ơ, ỷ lại và cũng không cần cố gắng làm chi, vì đàng nào thì ơn cứu chuộc cũng sẽ đến với mình.

Chính vì lý do trên, mà Đức Giêsu đã không trả lời theo số lượng, nhưng Ngài nhắm tới phẩm chất. Bởi vì: ơn cứu chuộc là của Thiên Chúa, và Ngài ban cho hết mọi người, moi nơi và mọi thời, miễn sao những người muốn được cứu phải đi theo con đường của Thiên Chúa.

Chính thánh Phaolô cũng đã xác quyết rằng: "Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta muốn cho mọi người được cứu độ" (1Tm 2,4). Và Đức Giêsu thì nói: "Cha các con Đấng ngự trên trời, không hề có ý để hư đi một người nào trong những kẻ bé mọn này" (Mt 18,14).

Nói như thế, không có nghĩa là cứ muốn vào là được, hay cứ ngồi lỳ và ỷ nại vào ơn Chúa, lại càng không phải cậy dựa vào uy thế của bản thân, hay dân tộc... Điều này cũng được Gioan Tẩy Giả nhắc nhở những người Pharisêu và Sađucêu: "Đừng ỷ mình là con cháu tổ phụAbraham..." (Mt 3,7t).

Vì thế, muốn được cứu, phải chiến đấu để mà vào. Không cố gắng sẽ chẳng được vào, vì con đường đưa tới ơn cứu chuộc là con đường hẹp.

2. Muốn vào được Nước Trời, phải đi qua cửa hẹp

Khi nói đến vấn đề cửa hẹp, chúng ta cần hiểu biết thêm rằng:

Ở đất nước Dothái thời Đức Giêsu, dân chúng sống trong các thành phố và làng mạc được bao bọc bởi những bức tường thành. Thời đó không có đèn điện. Vì thế, khi trời tối, các cổng dẫn vào thành phải được đóng cẩn thận và các cửa vào nhà cũng được đóng kín để tránh nguy cơ trộm cướp ban đêm.

Chính vì thế, mà những người đi ra khỏi thành, nếu về trễ thì không thể vào được cổng chính, vì các cổng chính đã đóng chặt và không ai dám mở cửa cho vì sợ kẻ thù tấn công...

Họ chỉ có thể lách vào các cổng phụ, còn gọi là cửa hẹp. Người Dothái cũng gọi cửa này là: "Mắt của cái kim". Vì thế, chúng ta mới hiểu tại sao thánh sử Luca có nhắc đến ở chương 18, câu 25: "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào Nước Thiên Chúa". "Lỗ kim" ở đây chính là "cửa hẹp". Thời đó người đi buôn thường chất đầy hành lý trên lưng lạc đà, muốn qua cửa hẹp thì phải vứt bỏ hết tất cả, và con lạc đà phải khom mình, quỳ gối thì mới mong lọt qua cửa này.

Khi Đức Giêsu lên tiếng mời gọi bước qua cửa hẹp, ấy là Ngài muốn mời gọi người đương thời phải từ bỏ những thứ không cần thiết và sẵn lòng bước qua cửa hẹp. Lời mời gọi ấy chính là biết sống chừng mực, thực thi huấn lệnh của Thiên Chúa cách trung thành và biết hy sinh cũng như chấp nhận mọi khó khăn... phải sống tự chủ và sống có trách nhiệm.

Tuy nhiên, không phải dửng dưng và nghĩ rằng: muốn vào lúc nào thì vào, không! Phải bước vào đúng lúc, đúng nơi, đúng giờ, vì: "Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khóa cửa lại" (Lc 13,25).

Như vậy, lời mời gọi phấn đấu để vào qua cửa hẹp, ấy chính là sự hoãn cải thường xuyên.

Dựa theo tư tưởng của thánh Phaolô, chúng ta có thể hiểu "qua cửa hẹp" là phải chiến đấu, cuộc chiến đấu cho đến cùng đường, phải đi vào con đường hẹp của Thập giá, phải can đảm chống lại sự lôi cuốn của ba thù, không thỏa hiệp, không nhân nhượng với chúng.

3. Sứ điệp Lời Chúa

Con người thời nay thường chịu ảnh hưởng bởi nền văn minh hưởng thụ. Họ có khuynh hướng ăn sổi ở thì, chụp giật chớp nhoáng...

Lựa chọn này không chỉ dừng lại ở ngoài xã hội, nhưng nó còn ảnh hưởng và chi phối ngay cả đến đời sống đạo của nhiều người tín hữu. Vì thế, dù có đạo hay không có đạo, dù là Công Giáo hay tôn giáo khác, người ta thường chọn cho mình một sự thoải mái dễ chịu, không muốn gò bó.

Chẳng hạn như: theo đạo nhưng không muốn thực thi Lời Chúa, vì Lời Chúa làm ta phải dẹp bỏ nhiều thứ không phù hợp. Đi lễ phải lựa chọn cha. Cha nào giảng ngắn, giảng hay thì đi... Ít khi đi sớm, đến cận kề giờ lễ mới tới. Đến rồi thì viện đủ mọi lý do để ở ngoài theo kiểu đi lễ "ôm" và đi lễ "lòng vòng". Lại có người thích giữ đạo theo kiểu "gốc cây". Họ cũng chọn nhà thờ, nào là nhà thờ đẹp, rộng thoáng mát, và có ghế nệm êm, máy lạnh...

Khi tham dự thánh lễ, nếu cha giảng những giáo huấn của Giáo Hội mà đụng chạm đến cuộc sống của ta là khùng lên và tỏ vẻ khó chịu...

Lại có những người thường ưa nói hành, nói xấu người khác hơn là nhận ra và đón nhận điều tốt nơi anh chị em. Hay vẫn còn những người dùng tiền của công khó của cha mẹ, bản thân hay của người khác vào những chuyện bất chính... Rồi cũng không thiếu những bạn trẻ lao mình vào rượu chè, cờ bạc, trai gái, hút chích...

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy cố gắng "đi qua cửa hẹp", tức là phải từ bỏ những thứ không cần thiết và hãy cố gắng để  thay đổi cách sống cho phù hợp với đạo lý Tin Mừng. hãy biết cẩn trọng trong việc lựa chọn, bởi vì, cửa hẹp sẽ đẫn đến sự sống, còn cửa rộng và lối thênh thang như tiền của, sắc dục, và sự dễ dãi sẽ dẫn đến cái chết trầm luân muôn kiếp. Mặt khác, Lời Chúa còn nhắc cho chúng ta biết vào đúng lúc, đúng giờ, bởi vì: hãy sám hối khi ta còn có thể và có cơ hội, kẻo lỡ quá muộn, chúng ta sẽ không còn cơ hội nữa, lúc đó không ai cho vào và như một lẽ tất yếu, chúng ta sẽ bị quăng vào nơi khóc lóc và nghiến răng.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết đi trên con đường của Chúa đã đi, đó là con đường hẹp. Xin cho chúng con luôn biết khước từ những con đường thênh thang rộng rãi, vì con đường này sẽ dẫn đến diệt vong. Amen. mục lục.

NỖ LỰC

Trầm Thiên Thu

Nỗ lực là rán sức, cố gắng tối đa khi thực hiện điều gì đó. Văn sĩ Triết gia Elbert Green Hubbard (1856-1915, Hoa Kỳ) nói: “Không biết đã bao nhiêu lần con người buông tay từ bỏ khi mà chỉ một chút nỗ lực, một chút kiên trì nữa thôi thì người ta sẽ đạt được thành công”. Người ta luôn phải tự khó với chính mình, nhưng phải thoải mái với người khác. Đó là dạng nỗ lực cơ bản nhất.

Nói đến nỗ lực là nói đến những việc khó, càng khó càng phải nỗ lực nhiều. Ví dụ như lách mình cho lọt vào khe hở để vào bên trong khi cửa bị đóng, hoặc đi vào những ngõ ngách nào đó. Ai đã tới Hà Nội thì biết thế nào là “ngách”, đúng là phải “lách” thật. Và còn rất nhiều thứ khác phải sử dụng đến nỗ lực.

Người Việt có câu: “Ở rộng người cười, ở hẹp người chê”. Thật là khó, kiểu nào cũng khổ, bởi vì “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, chẳng làm sao có thể sống vừa lòng hết mọi người, dù là người tốt lành nhất. Thật vậy, không ai tốt lành như Chúa Giêsu, thế mà Ngài vẫn bị người ta ghen ghét. Thế nhưng, nhân chi sơ tính bổn thiện, vì lương thiện là căn tính của con người được Thiên Chúa tạo dựng. Do đó, bổn phận của chúng ta luôn phải sống tốt lành theo lương-tâm-chính-đáng, theo công lý của Chúa, chứ không thể lấy cớ và tự biện hộ: “Chỉ đâu mà buộc ngang trời, tay đâu mà bụm miệng người thế gian”. Văn hào Victor Hugo (Pháp) xác định: “Lương tâm là Thiên Chúa trong mỗi con người”. Thật là tuyệt vời!

Theo bản năng nhân loại, không ai thích “tù túng”, nghĩa là ai cũng thích có khoảng rộng cho thoải mái: Phòng ốc khang trang, nhà to, cổng lớn, lối rộng,… chứ không ai muốn “ép mình” ở trong khoảng chật hẹp, gò bó. Về lĩnh vực tinh thần cũng tương tự. Thế nhưng sự dễ dàng dẫn tới dễ dãi, dễ dãi quá hóa hư thân, mất nết. Sự thiếu thốn có thể khiến người ta phải hy sinh và chịu đựng nhiều thứ, nhưng chính sự nghèo khó lại có thể giúp người ta thành nhân – thực sự và đúng nghĩa.

Sự thật vẫn là sự thật, vừa mặc nhiên vừa minh nhiên, và thường có sự đối lập. Chính Chúa Giêsu đã thẳng thắn giải thích: “Cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà NHIỀU NGƯỜI lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ÍT NGƯỜI tìm được lối ấy” (Mt 7:13-14). Theo lẽ tự nhiên, cái gì nhiều thì bình thường, còn cái gì hiếm thì quý giá. Nhưng sự bình thường vẫn có thể khác thường. Là một tín nhân, đại văn hào Victor Hugo cũng đã cảm nghiệm sâu sắc: “Đau khổ là hoa quả, Chúa không khiến nó sinh ra trên những cành quá yếu ớt mà không chịu nổi”. Thánh Phaolô xác định: “Không một thử thách nào đã xảy ra cho anh em mà lại vượt quá sức loài người. Thiên Chúa là Đấng trung tín: Người sẽ không để anh em bị thử thách quá sức; nhưng khi để anh em bị thử thách, Người sẽ cho kết thúc tốt đẹp, để anh em có sức chịu đựng” (1 Cr 10:13).

Chữ Khôn và chữ Khốn chỉ khác nhau cái “dấu sắc”. Với người này thì có thể là “cái khó BÓ cái khôn”, nhưng với người kia thì có thể là “cái khó LÓ cái khôn”. Cùng một tình huống, một hoàn cảnh, một vấn đề,… nhưng kết quả khác nhau – xấu hoặc tốt, hại hoặc lợi.

Ngày xưa, Thiên Chúa đã dùng miệng lưỡi của ngôn sứ Isaia để tuyên phán: “Còn Ta, Ta BIẾT RÕ việc làm và ý định của chúng, Ta sẽ đến tập họp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ; họ sẽ đến và được thấy vinh quang của Ta. Ta sẽ đặt giữa họ một dấu hiệu và sai những kẻ sống sót của họ đến các dân tộc: Tác-sít, Pút, Lút, là những dân thạo nghề cung nỏ, đến dân Tuvan, Giavan, đến những hải đảo xa xăm chưa hề được nghe nói đến Ta và chưa hề thấy vinh quang của Ta. Họ sẽ loan báo vinh quang của Ta giữa các dân tộc” (Is 66:18-19). Cách nói của Cựu Ước có vẻ “xa lạ” với chúng ta ngày nay, nhưng không phải vậy. Có phải vì cách nói ngày xưa đơn giản và bình dị, còn chúng ta ngày nay phức tạp quá nên hóa “xa lạ” và cảm thấy nhiêu khê chăng? Rất có thể là như thế.

Và rồi Đức Chúa tiếp tục tuyên ngôn: “Giống như con cái Ít-ra-en mang lễ phẩm trên chén dĩa thanh sạch đến Nhà Đức Chúa, người ta cũng sẽ đưa tất cả những anh em các ngươi thuộc mọi dân tộc về làm lễ phẩm tiến dâng Đức Chúa – đưa bằng ngựa, xe, võng cáng, lừa và lạc đà – về trên núi thánh của Ta là Giêrusalem. Và cả trong bọn họ, Ta sẽ chọn lấy một số làm tư tế, làm thầy Lêvi” (Is 66:20-21). Thiên Chúa luôn dùng những hình ảnh gần gũi với đời sống con người để họ có thể hiểu được ý Ngài.

Với trí óc phàm phu tục tử, con người không thể hiểu hết ý Thiên Chúa vì Ngài là Đấng toàn năng, chí minh và chí thánh. Nhưng cảm tạ và chúc tụng Ngài là bổn phận tuyệt đối của chúng ta. Nhận biết được điều tối quan trọng như vậy, Thánh Vịnh gia tha thiết mời gọi: “Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa, ngàn dân ơi, hãy chúc tụng Người!” (Tv 117:1). Lý do? Thật đơn giản nhưng vô cùng chính đáng: “Vì tình Chúa thương ta thật là mãnh liệt, lòng thành tín của Người bền vững muôn năm” (Tv 117:2). Vả lại, “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4:19).

Quả thật, đó là khối tình mầu nhiệm của Thiên Chúa, sâu thẳm và khôn dò, cũng chính là Lòng Thương Xót bao la vô tận của Ngài. Từ ngàn xưa, chính Đức Mẹ cũng đã đề cập Lòng Chúa Thương Xót khi Mẹ dâng lời tán tụng Thiên Chúa qua thánh ca Magnificat: “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng THƯƠNG XÓT những ai kính sợ Người. Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại LÒNG THƯƠNG XÓT dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời” (Lc 1:50, 54-55).

Đối với con người trong cuộc sống đời thường, đứa con nào có cuộc sống khó khăn, khổ sở, chắc chắn vẫn được cha mẹ quan tâm hơn – thế mới là “nước mắt chảy xuôi”. Cha mẹ vì thương con, muốn con nên người nên cũng sửa dạy đứa con nào ngỗ nghịch, như tục ngữ Việt Nam nói: “Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi”. Thiên Chúa dựng nên chúng ta nên Ngài vẫn luôn tôn trọng quy luật Ngài đã tạo nên, vì Ngài không muốn “lập dị”. Ngài cho chúng ta được quyền tự do nhưng Ngài cũng sửa trị vì yêu thương chúng ta. Nước mắt không bao giờ chảy ngược!

Cũng với tinh thần đó, Thánh Phaolô đã khuyến cáo: “Anh em đã quên lời khuyên nhủ được nói với anh em như với những người con: Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt” (Dt 12:5-6). Và rồi ông còn nhấn mạnh: “Anh em hãy KIÊN TRÌ để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy?” (Dt 12:7). Ai không bị nói tới là coi như “đồ bỏ” rồi. Vì thế, đừng tự ái mà để cho “cái tôi” vùng lên và nổi loạn.

Thánh Phaolô đề cập một sự thật rất hiển nhiên theo bản tính nhân loại: “Ngay lúc bị sửa dạy thì chẳng ai lấy làm vui thú mà chỉ thấy buồn phiền. Nhưng sau đó, những người chịu rèn luyện như thế sẽ gặt được hoa trái là bình an và công chính. Bởi vậy, hãy làm cho những bàn tay bủn rủn, những đầu gối rã rời, nên mạnh mẽ. Hãy sửa đường cho thẳng mà đi, để người què khỏi trật bước và hơn nữa, còn được chữa lành” (Dt 12:11-13). Rất rõ ràng, rất thực tế, và cũng rất đời thường.

Có Khó mới nên Khôn, nhờ Khôn mà bớt Khổ và khỏi Khốn – “ca hát” hay “khờ” còn tùy người (cả nghĩa đen và nghĩa bóng đối với KH). Chí sĩ Phan Bội Châu (1867-1940) đã có cách so sánh thú vị: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Và chí sĩ Nguyễn Thái Học (1902-1930) cũng đã dõng dạc minh định: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Chứng tỏ rằng sự gian khó là thứ “xa xỉ phẩm” cần thiết để người ta khả dĩ thành nhân và sống có ý nghĩa hơn. Theo cách nói của Chúa Giêsu, đó là cách ĐI QUA CỬA HẸP để có thể vào được Nước Trời.

Quả thật, lịch sử đã cho thấy rằng chính gian khổ đã tạo nên những vĩ nhân lừng danh thế giới, khiến chúng ta phải tâm phục khẩu phục, trong Công giáo cũng rất nhiều vị thánh lớn là nhờ “đi đường hẹp” dẹp “đường rộng”. Vấn đề của chúng ta là có DÁM hay KHÔNG DÁM hành động như vậy mà thôi! Đừng bao giờ viện cớ với mấy liên từ “khó chịu” này: Vì, tại, bởi, nếu, giá mà, ước gì, phải chi,… Chỉ có nguy thôi!

Ngày xửa ngày xưa, trên đường lên Giêrusalem, Chúa Giêsu đã đi ngang qua các thành thị và làng mạc mà giảng dạy. Rồi có kẻ thắc mắc nên phải hỏi: “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?” (Lc 13:23). Ngài ôn tồn bảo họ: “Hãy CHIẾN ĐẤU để qua được CỬA HẸP mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được” (Lc 13:24). Có lẽ người hỏi không thỏa mãn chút nào với câu trả lời của Chúa như vậy. Thế nhưng, dù họ không phản ngôn thì chắc hẳn họ cũng cảm thấy có gì đó “khác lạ” và “ngược đời” lắm. Họ im lặng. Có thể họ chưa đồng ý nhưng cũng đã cân nhắc, mà cân nhắc thì phải suy nghĩ. Đêm đó, họ về nhà và phải suy tư nhiều về những “lời lạ” của Chúa Giêsu, rất có thể họ phải trằn trọc và khó ngủ. Biết đắn đó là có tín hiệu tốt rồi.

Dĩ nhiên Chúa Giêsu biết thừa là họ đang “đâu cái điền” lắm. Kệ, Ngài vẫn tỉnh queo và nói tiếp: Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khoá cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: “Thưa ngài, xin mở cho chúng tôi vào”, thì ông sẽ bảo anh em: “Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến!”. Bấy giờ anh em mới nói: “Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi”. Nhưng ông sẽ đáp lại: “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!” (Lc 13:22-27). Chúa Giêsu luôn thích giản dị, thẳng thắn, nghiêm túc, nên những điều Ngài nói cũng luôn bình dị, thiết thực và gần gũi với đời sống dân chúng. Hầu như ai cũng có thể hiểu, trừ những người câu nệ hoặc cố chấp. Có tai mà không muốn nghe, có nghe cũng không muốn hiểu, lời vào tai này liền luồn sang tai kia mà bay theo gió…

Không ngập ngừng, không úp mở, không bóng gió, Chúa Giêsu nói rõ ràng: “Bấy giờ anh em sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy các ông Ápraham, Isaac và Giacóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa” (Lc 13:28-29). Người Việt cũng có câu: “Khi vui chẳng nhớ đến ai, đến khi nóng cứ trái tai mà sờ”. Cái “trái tai” bị chúng ta lợi dụng nhiều quá!

Tương tự, khi chúng ta thấy ai đó được hãnh diện về điều gì đó (ví dụ: người đạt giải trong một cuộc thi nào đó), có người bắt khao, có người ganh tỵ, có người làm ngơ, có người bĩu môi,… Thậm chí mua chiếc xe cũng bị đòi “rửa xe”, làm được cái nhà cũng phải “mừng tân gia”. Đủ dạng, đủ kiểu, đủ mức. Nhưng chúng ta đâu biết rằng người đó đã nỗ lực và khổ luyện như thế nào mới được vậy, và cũng chẳng thiếu sự mất mát nào đó. Gian khổ càng dày, hạnh phúc càng cao. Thiên Chúa tuyệt đối chí công. Vả lại, Chúa Giêsu đã xác định: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Thánh Vịnh cũng nói rõ ràng: “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 127:1). Bao nhiêu nỗ lực cũng vô ích mà thôi!

Quá trình vào Nước Trời cũng vậy. Nếu cứ thảnh thơi, sống khơi khơi, chơi tà tà trong lúc hành trình thì chẳng có gì đáng nói, đáng công, đáng thưởng. Những người chịu thiệt thòi ở cuộc đời này, nếu biết kết hợp với cuộc khổ nạn và tử nạn của Đức Kitô thì sẽ lợi ích lắm. Chắc chắn Thiên Chúa có kế hoạch độc đáo của Ngài. Những người đó không chỉ chịu thiệt thòi mọi thứ ở cuộc đời tạm này, mà thậm chí họ còn bị chúng ta khinh khi, miệt thị, ruồng rẫy. Nếu họ chịu khổ đủ thứ mà “tương lai” không xán lạn thì hóa ra Thiên Chúa bất công. Thế nhưng không phải vậy! Và Ngài tuyên bố thẳng thắn: “Những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót” (Lc 13:30). Một dạng hoán vị vô cùng thú vị – khốn đốn cho người nọ và ngạc nhiên cho người kia. Giờ G đã điểm. Không thể thay đổi được gì nữa!

Câu kết luận của Chúa Giêsu là lời “nhắc khéo” với những ai đang an nhàn hưởng thụ cuộc sống, đang ung dung tự tại, đang vinh thân phì da ở đời này. Thánh Phaolô cũng đã có lần cảnh báo: “Ai tưởng mình đang đứng vững thì hãy coi chừng kẻo ngã” (1 Cr 10:12).

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con tỉnh thức, can đảm và khôn ngoan “lách mình” vào những lối hẹp của cuộc sống đời này để tôi luyện chính mình có thể nên hoàn thiện và nên giống Con Một Yêu Dấu của Ngài. Xin Ngài ban ơn cho mọi người sống đúng trách nhiệm và bổn phận của mình, xin nâng đỡ những người đau khổ để họ biết dùng chính đau khổ làm bậc thang lên Nước Trời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục.

HÃY VÀO QUA CỬA HẸP

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Tổng thống Washington, lúc sinh thời, từng phát biểu: “Không nên chỉ đánh giá thành công qua địa vị mà con người đạt được trong cuộc sống, nên đánh giá sự thành công qua những trở ngại mà người đó khắc phục được”. 

Trải nghiệm nhiều trên đường đời, trong sự tiến thân, nhất là trên con đường chánh trị vừa phải khéo léo, vừa phải khôn ngoan, mà Washington đã đưa ra nhận định  xác thực gần như là “chân lý” về lối sống ở đời.

Thói thường, ai mà không thích đi con đường rộng. Nhưng không có bất cứ ai nhờ lối sống dễ dãi, buông thả, thoải mái…, lại có thể thành thân, thành nhân. Vì thế, lời Chúa Giêsu: “Hãy chiến đấu để vào qua cửa hẹp” là lời dạy chúng ta, ngày nào còn sống trên đời, thì ngày ấy đồng nghĩa với việc chúng ta phải tự đào tạo mình, rèn giũa mình. 

Nếu sống ở đời, thành công sẽ không bao giờ là kết quả của ươn lười, thiếu trách nhiệm với bản thân, với tương lai đời mình…, thì đời sống thiêng liêng, sự thánh thiện cũng sẽ không bao giờ mở ra với bất cứ ai không tập tành nhân đức, không khổ luyện đêm ngày, không chấp nhận hy sinh gian khổ, không chuyên chăm cầu nguyện, không biết đặt Chúa ở trước mặt mình, không đặt Chúa làm trung tâm sự nghiệp của mình, không lo tuân hành giới răn Chúa…

Chiến đấu ở đây còn là chiến đấu với chính mình, với cái tôi cồng kềnh của mình. Nó nặng nề vì những vun vén cá nhân, phình to vì tự hào và tham vọng… Thật ra, cửa vào sự sống không hẹp nhưng hẹp vì cái tôi của tôi to quá. 

Cần có một cái tôi như trẻ thơ, một cái tôi bé nhỏ, một cái tôi nhu mì mới được vào Nước Trời (Mt 18,3). Cái tôi của chúng ta luôn có khuynh hướng bành trướng nhờ thu tích nơi mình tri thức, tiền bạc, khả năng. Cả kinh nghiệm, tuổi tác, đạo đức, chức vụ, cũng có thể làm cái tôi xơ cứng và khép lại. 

Như viên đá cuội, trải qua nhiều thời gian, được sóng biển mài giũa thành viên đã nhẵn nhụi, tôi cần nỗ lực liên tục trong thời gian, để giữ cho cái tôi nhỏ lại, khiêm hạ trước Thiên Chúa, cởi mở trước anh em.

Khi chúng ta tập tành nhân đức, khổ luyện bản thân, hy sinh và từ bỏ, hủy mình ra không, giữ luật Chúa, trung thành sống theo lời Chúa dạy…, đó là cách chúng ta nép mình qua cánh cửa hẹp, là cách chúng ta thao luyện bản thân để đạt tới ơn cứu độ đời đời.

Thánh Phaolô ví cuộc hành trình tiến về bến bờ hạnh phúc ấy như một cuộc chạy đua, như người lực sĩ, trước khi ra thao trường thi đấu, họ cần phải thao luyện, tập dược thường xuyên, mới có thể hy vọng đạt huy chương. 

Thánh Phaolô còn nói về chính sự khổ luyện của bản thân: “Tôi đã chiến đấu trong cuộc sống chính nghĩa; đã chạy đến cùng đường; kiên vững trong lòng tin. Giờ đây, triều thiên công chính được dành sẵn cho tôi, và Thiên Chúa, Đấng phán xét chí công, sẽ hoàn lại cho tôi trong ngày ấy, không chỉ cho tôi mà thôi, nhưng còn cho hết mọi người đã đầy lòng mến yêu trông đợi Ngài xuất hiện” (2Tm 4, 6-8).

Cuộc đời có biết bao nhiêu cám dỗ và lôi cuốn, đòi ta phải chiến đấu cam go. Chỉ khi can đảm, không thỏa hiệp hay nhân nhượng với kẻ thù, không để mình sa vào lôi cuốn của bóng tối, ta mới có thể hoàn thành xuất sắc cuộc đời mình như thánh Phaolô.

Ta đừng để đến ngày kia, khi trình diện trước tòa Chúa, lại bị Chúa chối rằng: “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!” (Lc 13, 27). 

Bởi dù hôm nay chúng ta vẫn dự lễ, rước lễ, nghe giảng, tĩnh tâm... nhưng chúng ta vẫn cứ trơ trơ, xơ cứng và không thay đổi, không để Chúa đi vào đời mình. 

Vì thế, dù ta có thực hành nhiều việc đạo đức, Chúa vẫn không quen biết ta, và ta vẫn xa lạ trong mắt Chúa. 

Tóm lại, Ðời sống Kitô hữu là một cuộc chiến đấu liên tục. Chiến đấu để qua cửa hẹp nhờ bỏ cái tôi ích kỷ, và luôn ý thức để thắng cám dỗm, để tiến về phía thiêng liêng, luôn biết hăng hái đi về phía trước trong sự khiêm nhu và cậy dựa vào sức mạnh của ơn Chúa ban.

Ước gì một ngày kia, từng người chúng ta được gọi về trình diện trước tôn nhan Chúa, đều được Chúa vui mừng khen ngợi: “Ðây là đầy tớ tốt lành và trung tín… hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi” (Mt 25, 21).  mục lục.

QUA CỬA HẸP 

(Phỏng theo Lc 13,22-30)

“Hãy cố gắng vào qua cửa hẹp”

 Chúa dạy con học biết lối vào

Thiên đường vĩnh phúc thanh cao

Tin Mừng Chúa hứa con nào dám quên…

Ý cửa hẹp là nền công phúc,

Hãy khôn ngoan tỉnh thức trông chờ

Chờ ngày Chúa gọi bất ngờ

Vượt qua cửa Tử tới bờ Tình Thương…

Có những kẻ theo đường tục hoá

Ngã gục ngay trước cửa Thiên Đình,

Vì mang tội lỗi đầy mình,

Phải đày tới chốn ngục hình thảm thương.

Có những kẻ sống đời tiêu cực,

Nghĩ rằng ta, chính thức hữu danh,

Chẳng lo sống đạo thiệt tình

Làm sao xứng đáng hiển vinh muôn đời.

Chúa cho biết: người thời Cựu Ước

Ápraham, I sắc, Tiên Tri

Biết bao vị thánh xưa kia

Mọi người có mặt chẳng hề thiếu ai...

Vinh quang Nước Chúa muôn đời… mục lục.

(Thế Kiên Dominic) 

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan