SUY NIỆM CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH

02-01-2020 385 lượt xem

[Is 60,1-6; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12]

Mục Lục

NHẬN BIẾT VÀ THỜ LẠY CHÚA  - + ĐTGM. GIUSE VŨ VĂN THIÊN

THIÊN CHÚA – MỘT HUYỀN NHIỆMLm. JB. Nguyễn Minh Hùng

THIÊN CHÚA TỎ MÌNH RA CHO DÂN NGOẠIJM. Lam Thy ĐVD

CÚI MÌNH XUỐNGLm. Giuse Nguyễn Hữu An

ĐI TÌM SỰ THẬT VÀ NIỀM VUIBs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

HÃY LÀM CHO ÁNH SÁNG TỎA SÁNG RALm. Antôn Nguyễn Văn Độ

TẦM NHÌN SIÊU PHÀMTrầm Thiên Thu

TÌM CHÚA - Viễn Dzu Tử

CHÚA TỎ MÌNH CHO DÂN NGOẠI - Thế Kiên Dominic

NHẬN BIẾT VÀ THỜ LẠY CHÚA

+ ĐTGM. GIUSE VŨ VĂN THIÊN

THIÊN CHÚA – MỘT HUYỀN NHIỆM 

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Khi dạy giáo lý cho người lớn, nhất là các đôi bạn chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân, tôi hay đặt câu hỏi: 

- Yêu nhau lắm, phải không? Yêu đến mức lỡ ngày nào không gặp nhau, ta nhớ nhau như có ai xé lòng mình, đúng không? 

- Yêu nhau lắm, tưởng như người này hòa trộn trong người kia, nhưng người kia nghĩ gì, bạn có biết không?

Mỗi người là một huyền nhiệm. Huyền nhiệm này lớn cho đến mức, dẫu là tình yêu lứa đôi, một thứ tình yêu tưởng như nên một trong nhau, vậy mà hai người vẫn cứ là hai thế giới xa nhau diệu vợi.

Đó mới thật là bí ẩn, là sự độc đáo của công trình tạo dựng. Đó mới thật là huyền nhiệm: không ai có thể lồng trong ai. Không bao giờ người này lại có thể hòa trộn trong người kia. Dù chúng ta đang yêu nhau đắm đuối, dù có khi được gọi là "nên một", cũng không bao giờ lại có thể có bất cứ ai ở trong nhau đúng nghĩa.

Mỗi người là một huyền nhiệm. Huyền nhiệm này lớn cho đến mức, dẫu là tình yêu lứa đôi, một thứ tình yêu tưởng như nên một trong nhau, vậy mà hai người vẫn cứ  là hai thế giới xa nhau diệu vợi.

Con người đối với nhau đã là huyền nhiệm, thì càng không lạ gì khi Thiên Chúa luôn luôn là huyền nhiệm của con người. Đó là chân lý. Đó là điều hiển nhiên.

Lễ Hiển Linh tức là lễ Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại. Đại diện cho dân ngoại là ba nhà đạo sĩ phương Đông. Ba ông nhận ra ánh sao trên bầu trời và vội vã lên đường đi tìm Con Thiên Chúa vừa giáng sinh. 

Gọi là Thiên Chúa tỏ mình, nhưng sự  tỏ mình qua một ánh sao vẫn cho thấy Thiên Chúa là một huyền nhiệm lớn lao vô cùng. 

Dẫu ngôi sao trên bầu trời có lạ thường đến đâu, có sáng chói đến mức độ nào, thì sự tỏ mình ấy vẫn mù mờ, vẫn xa xăm đối với nhận thức của con người. 

Bởi đó, chỉ có ai thao thức tìm kiếm Thiên Chúa, chỉ có ai trung thành sống đức tin mới có thể nhận ra Thiên Chúa đang tỏ mình với cuộc đời nói chung và cuộc đời của chính mình nói riêng. 

Thiên Chúa đã tỏ mình, nhưng tự  bản chất, Người là một huyền nhiệm. Để nhận ra sự tỏ mình của Thiên Chúa, mãi mãi vẫn cần một điều kiện. Điều kiện đó là lòng thao thức tìm kiếm Thiên Chúa và sống đức tin trung thành. 

Có như thế, ta mới có thể nhận ra Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời ta dẫu là sướng vui hay hạnh phúc.

Nói đơn giản: Thiên Chúa vẫn đang hiện diện và luôn luôn tỏ mình, chỉ cần bạn thao thức tìm kiếm Người và trung thành sống đức tin, bạn sẽ nhận ra Người. 

Ba nhà đạo sĩ đã lên đường tìm kiếm và đã tin. Bạn cũng sẽ nhận ra Thiên Chúa tỏ mình bằng đời sống đức tin, bằng sự cầu nguyện, bằng tình yêu mà bạn hiến dâng cho Người. mục lục

THIÊN CHÚA TỎ MÌNH RA CHO DÂN NGOẠI

JM. Lam Thy ĐVD

Từ khi nguyên tổ phạm tội, loài người trở thành xa lạ với Thiên Chúa, không muốn nhận biết Người là Chủ Tể của tạo vật mà chính Người đã dựng nên. Mối thâm tình giữa Thiên Chúa với nguyên tổ A-đam và E-va nhạt phai, nếu không nói là con người đã trở thành thù địch với Thiên Chúa. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn mong muốn cứu vãn mối tương quan đứt đoạn ấy và nhận lại con người làm con cái. Kế hoạch ân sủng khởi đầu bằng việc Chúa tỏ mình ra để con người nhận biết Người và những gì Người đang thực hiện. Người tỏ mình ra như ánh sáng đến phá tan bóng đêm tội lỗi đã bao trùm trên trái đất (bài đọc 1). Người cho chúng ta thấy gia nghiệp Người ban không chỉ dành riêng cho dân Do Thái, mà cho hết mọi người (bài đọc 2). Để đáp lại sự mạc khải của Thiên Chúa, các nhà chiêm tinh từ phương Đông đã đón nhận bằng cách đến Giu-đê để thờ lạy Thiên Chúa giáng trần (bài Tin Mừng).

Ngôn sứ I-sai-a đã thấy trước một tương lai sáng lạn của Ít-ra-en sau khi họ được trở về từ cuộc lưu đày. Có thể hình dung khung cảnh tưng bừng nhộn nhịp khi dân chúng trở về tái thiết đất nước và xây dựng lại Giê-ru-sa-lem. Đất nước trước kia chìm trong bóng tối của ách nô lệ ngoại bang, giờ đây bừng sáng nhờ vinh quang Thiên Chúa. Thánh đô Giê-ru-sa-lem trở thành nơi hội tụ của muôn dân nước kéo đến chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa. Tuy nhiên, tất cả hình ảnh tươi đẹp của ngày trở về cố hương là để báo trước về số phận mới của nhân loại khi Chúa đến cứu thoát họ khỏi tội lỗi và đưa họ về làm con cái Thiên Chúa. Sự sung túc giàu có của Giê-ru-sa-lem là hình ảnh nói lên một nhân loại mới được đón nhận ơn cứu độ. Như vậy, sự thay đổi toàn bộ của nhân loại được thực hiện là nhờ Con Thiên Chúa, Đấng đã đích thân đến như ánh sáng của bình minh phá tan màn đêm tội lỗi. 

Dưới những triều đại phong kiến, thường thì các đời vua nối tiếp nhau theo kiểu “cha truyền con nối”. Có trường hợp vua cha băng hà, truyền ngôi cho con (hoàng tử) mà con còn nhỏ tuổi thì Hoàng hậu phải đứng ra nhiếp chính và được tôn là Hoàng Thái hậu (như trường hợp vua Quang Trung mất, hoàng tử Nguyễn Quang Toản mới 10 tuổi lên nối ngôi. Bà Bùi thị Nhạn – mẹ của Quang Toản – được tôn xưng là Hoàng Thái Hậu). Cũng có trường hợp thấy hoàng tử đã trưởng thành có đủ sức hoạt động, vua cha truyền ngôi cho con để mình lên làm Thái Thượng hoàng. Nhưng tuyệt nhiên không có ai mới sinh đã làm vua. Vậy mà “Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, và hỏi: "Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người." (Mt 2, 1-2). Thật là một chuyện hi hữu.

Đến hỏi một ông vua bằng xương bằng thịt đang trị vì Do Thái về một ông Vua Do Thái mới sinh, kể ra cũng quá đường đột, nếu không muốn nói rằng đã bạo gan chọc tức Hê-rô-đê. Sao vậy? Vì nếu hài nhi mới sinh ấy là con của Hê-rô-đê, thì cũng chưa thể gọi là vua được, vì chưa được truyền ngôi, chưa lên ngôi. Vậy thì ai, ai mà mới lọt lòng mẹ đã được làm vua? Cho dù là ai đi chăng nữa, thì Hê-rô-đê cũng tức lộn ruột (“mình là vua sờ sờ ra đây nó chẳng bái lạy, lại còn đi tìm vua con nít nào nữa?”). Tất nhiên trận lôi đình của kẻ “hét ra lửa, mửa ra khói” này sẽ khủng khiếp vô cùng. Và điều đó đã thực sự xảy ra: hàng loạt hài nhi vô tội đã bị thảm sát!

Ba vị đạo sĩ với tâm địa ngay thẳng, bộc trực, đã vô tình chọc giận hung thần Hê-rô-đê; nhưng mặt khác lại chứng tỏ cho thiên hạ (kể cả Hê-rô-đê) biết thực sự đã có một vị Con Trời và là Ông Trời thật, giáng trần. Nếu không thế thì làm gì có chuyện “Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao.” (Mt 2, 3). Ngày xưa vẫn gọi vua là Thiên tử (con trời), mà vị Vua ấy sinh tại Do Thái nên mới gọi là Vua Do Thái, chớ thực ra vị Vua ấy không phải là Vua Do Thái theo cách hiểu hạn hẹp của Hê-rô-đê, nói chung là của loài người. Người là Vua, mà còn là Vua trên hết các vua trần gian nữa, bởi "Nước tôi không thuộc về thế gian này" (Ga 18, 36). Chắc 3 chiêm tinh gia sẽ nghĩ: “Chúng tôi đã tìm hiểu, đã biết, và chỉ có như thế thì chúng tôi mới cất công lặn lội từ phương Đông tới để được triều bái Người”. 

Ba vị đạo sĩ biết được sự kiện trọng đại này chính là nhờ các ngài là những chiêm tinh gia được Thiên Chúa mạc khải mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể và cho ngôi sao dẫn đường. Có một điểm đặc biệt là Đức Vua Giê-su sinh ra tại Do Thái, nơi vùng đất được tuyển chọn, nhưng ngôi sao Bê-lem lại xuất hiện tại phương Đông, nơi chưa hề biết Thiên Chúa là ai. Đó chính là mầu nhiệm “Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại” như lời Thánh Phao-lô gửi tín hữu Ê-phê-sô: “Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mạc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Người. Mầu nhiệm đó là: trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.” (Ep 3, 5-6)

Rõ ràng ngôi sao Bê-lem đã báo Tin Mừng về mầu nhiệm Tinh Yêu được thực hiên khi “Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại” và đó chính là dấu chỉ mầu nhiệm Giáo hội trong tương lai. Thiên Chúa Tình Yêu đã tiền định từ trước vô cùng, sai Con Một xuống thế làm người thực hiện chương trình yêu thương, bằng cách hy sinh cả mạng sống mình để cứu độ nhân loại thoát khỏi tội lỗi. Người đã dùng ngôi sao Bê-lem để báo cho loài người biết mầu nhiệm Tình Yêu xuất phát từ Thiên Chúa đã được thực hiện: Vua Tình Yêu đã giáng sinh nơi hang đá Bê-lem. Không những thế, Ngôi sao Tình Yêu Bê-lem còn là một dấu chỉ biểu lộ 3 đặc tính tiêu biểu của Giáo hội Ki-tô Giáo (Mầu nhiệm + Hiệp thông + Sứ vụ) được chính vị Vua Tình Yêu – là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật – thiết lập. 

Chỉ cần lướt qua ít trang Thánh Kinh, đã đủ thấy mầu nhiệm Giáng Sinh là nền tảng thần học mở ra một sáng tạo mới của Thiên Chúa Tình Yêu: E-và Mới hạ sinh một A-đam Mới – A-đam cuối cùng – xây dựng một Giáo hội mà Đầu là Trưởng Tử Giê-su cùng với thân mình là toàn thể Dân Chúa. Vâng, khởi đi từ Thánh Gia Thất nơi hang đá Bê-lem, Vua Tình Yêu thiết lập Giáo hội, coi như hiền thê của Người và Người chính là vị Hôn phu trong Giao ước Tình yêu này. Vì thế, Giáo hội được gọi là "thành Giê-ru-sa-lem trên trời" là "mẹ chúng ta" (Gl 4, 26; Kh 12, 17); Được mô tả như hiền thê tinh tuyền của Con Chiên không tì ố (Kh 19, 7-8 ; 21, 2); Được Hôn phu yêu mến "và hiến thân để thánh hóa" (Ep 5,25-26); Được Người kết hợp bằng một giao ước bất khả phân ly, được "nuôi dưỡng và săn sóc" không ngừng (Ep 5, 29). Sau khi thanh tẩy Hiền thê, Đức Hôn phu Giê-su Ki-tô muốn hiền thê ấy kết hợp và vâng phục trong tình yêu và trung tín (Ep 5, 24). 

Đó là tất cả lý do vì sao gọi Hội Thánh là Nhiệm Thể Chúa Ki-tô. Một cách cụ thể là: “Khi Con Thiên Chúa chiến thắng sự chết bằng cái chết và phục sinh, trong nhân tính mà Người kết hợp, Người đã cứu chuộc và biến con người thành một tạo vật mới (x. Gl 6,15; 2Cr 5,17). Thực vậy, Người tạo lập cách mầu nhiệm các con em của Người, tụ họp từ muôn nước thành thân thể Người, bằng cách thông truyền Thánh Thần cho họ. Chúa Ki-tô là Ðầu của Thân Thể này. Chính Người là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, và trong Người mọi vật được tác thành. Người có trước mọi người và mọi sự được bền vững trong Người. Người là Ðầu của Thân Thể là Giáo hội. Người là nguyên lý, là anh cả của những kẻ phải chết, hầu nắm quyền thủ lãnh mọi sự (x. Cl 1,15-18), Người thống trị mọi vật trên trời dưới đất bằng thần lực lớn lao, và ban dư tràn sự vinh hiển phong phú của Người cho toàn thân thể nhờ sự toàn thiện và hoạt động siêu đẳng của Người (Eph 1,18-23).” (Hiến chế “Tín Lý về Giáo Hội – Lumen Gentium”, số 7).

Vì là Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, nên đặc tính của Giáo hội là hiệp thông – hiệp thông trong Lời Chúa, trong các nhiệm tích, trong một Giáo hội duy nhất, thánh thiện, Công giáo và tông truyền; nói cách khác là hiệp thông trong cuộc sống với mọi mặt hoạt động của Giáo hội. Hiệp thông giữa các thành phần, các nhân tố trong Giáo hội (từ Đức Giáo hoàng, đến các Giám mục, Linh mục, tu sĩ và cộng đồng giáo dân, cùng tham gia và đồng trách nhiệm), hiệp thông đại kết với các cộng đồng Ki-tô ngoài Công Giáo. Chưa hết, còn hiệp thông với cộng đồng dân nước xây dựng quốc gia, hiệp thông với cộng đồng quốc tế trong xây dựng hoà bình và an lạc cho nhân loại, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc. Hiệp thông không phải là những khẩu hiệu hô to, những biểu ngữ hoành tráng, mà phải là thực hành cho kỳ được Lời dạy của chính Con Người đã tuôn đổ ơn thông hiệp của Ba Ngôi Thiên Chúa xuống trên Giáo hội: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12), tức là phải sống và cầu chúc cho nhau luôn được “đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần.” (2Cr 13, 13). 

Giáo hội đã được Chúa Ki-tô thiết lập để thông dự vào sự sống, bác ái và chân lý, được Người sử dụng như khí cụ cứu rỗi cho mọi người, và được sai đi khắp thế giới như “ánh sáng trần gian và muối đất” (Mt 5, 13-16). Chính vị Hôn phu nhân lành đích thân trao sứ vụ cho Hiền thê Giáo hội: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16, 15). Một cách cụ thể, Giáo hội được sai đi (sứ) làm công việc (vụ) loan báo Tin Mừng, mở mang Nước Chúa, nên có thể khẳng định: Sứ vụ duy nhất của Giáo hội là “Truyền giáo”. Trong khi "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian" (Mt 5, 14) thì như trên đã nói, mỗi thành viên, mỗi nhân tố trong Giáo hội phải là một vì sao soi dẫn cho người khác biết chân lý Cứu Độ và nhất là chân lý Nước Chúa đã đến gần, thật gần. Tất nhiên, những vì sao Ki-tô hữu ấy phải là bản sao trung thực nhất của vì sao Bê-lem: Sao Tình Yêu.

Tóm lại, Sao Tình Yêu Bê-lem đã hiển dương Tình Yêu vô tận, khởi từ mầu nhiệm “Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại”, mầu nhiệm Giáo hội hiệp thông được thiết lập để đem Tin Mừng đến cho muôn dân nước. Một cách cụ thể thì sứ vụ duy nhất của Giáo hội chỉ có thể là Truyền Giáo như Sắc lệnh Truyền Giáo (Lời mở đầu) đã khẳng định: “Ðược Thiên Chúa sai đến muôn dân để nên “bí tích cứu độ phổ quát”, Giáo hội, vì những đòi hỏi căn bản của Công Giáo tính và vì mệnh lệnh của Ðấng Sáng Lập, kiên quyết loan báo Phúc Âm cho hết mọi người. Thực vậy, chính các Tông Ðồ, nền tảng của Giáo hội, đã theo chân Chúa Ki-tô, “rao giảng lời chân lý và khai sinh các giáo đoàn”. Do đó, những người kế vị các Tông Ðồ có nhiệm vụ tiếp tục công việc này, để “Lời Chúa được lan tràn và sáng tỏ” (2 Th 3,1), nước Chúa được công bố và thiết lập khắp trần gian. Nhưng tình trạng thế giới hiện nay đặt nhân loại trong một hoàn cảnh mới, vì thế Giáo hội, là muối đất và ánh sáng trần gian, càng được kêu mời khẩn thiết hơn để cứu rỗi và canh tân mọi loài, hầu mọi sự được tái lập trong Chúa Ki-tô, và nơi Ngài mọi người họp thành một gia đình và một Dân Chúa duy nhất.” 

Ôi! Lạy Chúa Hài Đồng! Con ước ao được là một vì sao thật nhỏ bé (nhưng là bản sao trung thực nhất của Sao Bê-lem) ở ngay trong gia đình con, để dẫn đường chỉ lối cho con cháu của con biết tìm về Chính lộ: nơi đang sáng tỏ mầu nhiệm Giáng Sinh trong mầu nhiệm Giáo hội. Và nếu con còn một chút sức lực nào đó, xin cho con được làm một vì sao bé nhỏ trong khu xóm, trong giáo xứ của con nữa. Xin Chúa thương ban Thần Khí cho con để con có thể làm tròn trách vụ một vì sao Ki-tô hữu trong thời buổi nhiễu nhương, vàng thau lẫn lộn này. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen. mục lục

CÚI MÌNH XUỐNG

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang đứng và ngoài trời

Hành hương Đất Thánh, khi đến Bêlem thăm Vương cung Thánh đường Giáng sinh, ai cũng trầm trồ và ngạc nhiên.
Thánh đường nguy nga đồ sộ nhưng cửa chính lại rất thấp và hẹp, chiều cao chừng 1mét, chiều rộng chừng 80 phân nên chỉ đủ chỗ cho một người “chui” vào. Có lẽ khi xây dựng, tác giả muốn nói đến ý nghĩa tâm linh. Muốn bước vào bên trong Thánh đường nơi Chúa Giáng Sinh, thì dù là ai đi nữa, thuộc màu da, chủng tộc, tôn giáo nào, dù là đấng bậc nào trong xã hội, tất cả đều phải cúi mình xuống thấp mà đi vào. Đó là một cử chỉ khiêm nhường, cúi mình để thờ lạy Thiên Chúa.

Thiên Chúa làm người, làm một Hài Nhi nằm trong máng cỏ.Thiên Chúa hạ mình và Ngài thật gần gũi con người.

Lễ Giáng Sinh, Thiên Chúa tỏ mình cho dân Do-thái.Từ nay, con người có thể gặp Thiên Chúa không chỉ trong đền thờ Giêrusalem mà còn nơi máng cỏ nghèo hèn. Từ nay gặp gỡ Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho tư tế mà còn cho những người bình thường như các mục đồng.

Lễ Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại.Gặp gỡ Thiên Chúa không dành riêng cho dân tuyển chọn nhưng còn cho các đạo sĩ, những người từ phương Đông, những người không thuộc dân riêng của Thiên Chúa.

Như vậy, lễ Hiển linh là lễ Giáng sinh trọn vẹn, Thiên Chúa đến với con người, đến với tất cả mọi người.

Gaspar, Melchior và Balthasar là ba nhà Đạo Sĩ nổi tiếng ở Đông Phương được mệnh danh là con của các vì sao sáng, huyền phái của khoa học vũ trụ. Họ đã theo ngôi sao lạ đến Bê-lem, xứ Giu-đê để thờ lạy Đấng Cứu Thế. Họ đã dâng cho Hài Nhi vàng, nhũ hương và mộc dược.

“Thấy” và “đến” là hai động từ diễn tả cuộc hành trình của ba nhà Đạo Sĩ. “Thấy ngôi sao”, hành vi không chỉ đơn thuần là những xung động của giác quan mà còn bao hàm cả một quá trình suy tư, phân định để đi tới nhận thức: đây chính là “ngôi sao của Ngài”. Lời trần tình của các nhà đạo sĩ “chúng tôi thấy” và “chúng tôi đến”- nghe thật giản đơn và dễ dàng; thế nhưng, trong thực tế, họ đã phải trải qua biết bao gian nan, nguy hiểm, có lúc đã tưởng chừng như tuyệt vọng, mới có thể “đến để thờ lạy” Vị Vua mới sinh này.

Chúng ta cùng dừng lại nơi Hang đá Bê-lem có Hài Nhi Giêsu để suy niệm về sự lạ lùng của cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa các Mục Đồng, các Đạo Sĩ với Đấng Cứu Thế. Chỉ có các Mục Đồng, các Đạo Sĩ tìm gặp được Chúa. Có các Thiên thần, có một ngôi sao rực rỡ trong ánh sáng thần linh chiếu sáng cho họ. Đức Cha Fulton Sheen, nhà giảng thuyết lừng danh đã gọi họ những người đơn sơ và những người thông thái.

Khi các Mục Đồng canh giữ chiên ở ngọn đồi Bê-lem, họ bỡ ngỡ vì vẻ đẹp của Thiên Thần: Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành của vua Đa-vít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa (Lc 2, 10-12). Còn các Đạo Sĩ ở bên kia xứ Ma-đi-an và Ba-tư nghiên cứu bầu trời đã thấy một ngôi sao chiếu sáng như chiếc đèn của nhà tạm vũ trụ, điện thờ của Thiên Chúa. Họ theo ánh sao tìm đến Hang đá tìm gặp Hài Nhi.

Như những cánh bướm bị thu hút bởi ngọn lửa, các Mục Đồng và các Đạo Sĩ tiến đến ngai vàng chỉ là một Hang đá, đến với Thiên Chúa chỉ là một Hài Nhi. Thiên Chúa Hài Nhi ngước nhìn từ Máng cỏ chỉ thấy hai hạng người tìm gặp Ngài và chỉ duy họ tìm gặp Ngài cho đến tận cùng thời gian. Đó là các Mục Đồng và các Đạo Sĩ, những người đơn sơ và những người thông thái.

Các Mục Đồng là những người đơn sơ. Họ chẳng biết gì tới chính trị, văn chương, nghệ thuật. Họ chỉ biết hai điều quan trong là Thiên Chúa ở trên họ và họ ở giữa đoàn chiên. Đêm hôm đó bầu trời rộng mở để loan báo Tin mừng. Thiên Thần cho biết Đấng họ nóng lòng chờ đợi vừa sinh ra trong Hang đá Bê-lem nhỏ bé. Họ đã tìm và gặp Đấng Chăn Chiên của họ.

Các Đạo Sĩ tìm gặp Đấng Cứu Thế là những người thông thái. Họ không là những vua chúa. Họ không phải là những người nghiên cứu nông cạn mà là những bậc thầy hoàng vương, những nhà tinh thông về vũ trụ và họ đã khám phá ra một ngôi sao lạ. Đối với khoa học và tôn giáo họ được liệt vào hàng đầu trong nước của họ. Các vua chúa bàn hỏi với họ trước khi xuất chinh. Các nông dân hỏi ý kiến họ trước khi trồng tỉa. Hàng ngàn người đã thấy ngôi sao, nhưng sự uyên bác của ba Đạo Sĩ làm cho họ lên đường khám phá.

Chính nhà bác học Newton đã thốt lên khi quan sát vũ trụ: Tôi thấy Thiên Chúa đi qua kính viễn vọng của tôi. Đối với kẻ kiêu ngạo, tự phụ, ngôi sao chỉ là ngôi sao, nhưng đối với người thông thái đó là một dấu chỉ thời đại, một tác phẩm của Thiên Chúa. Thế nên các Đạo Sĩ đã đi theo ánh sáng ngôi sao với bao gian lao, đầy mạo hiểm. Đến nơi, mặc phẩm phục và quỳ trên nệm rơm, các Đạo Sĩ chiêm ngắm một trẻ sơ sinh chưa thể hỏi han hay đối đáp được điều gì. Họ tiến dâng Ngài tặng phẩm và tâm hồn để chứng tỏ sự thần phục của thế gian. Tặng phẩm là vàng, nhũ hương, mộc dược. Vàng, vì Hài Nhi sẽ là vua. Nhũ hương, vì Ngài sẽ là Tư Tế. Mộc dược, vì Ngài sẽ chết như mọi người. Các Đạo Sĩ đã tìm gặp được Đấng Khôn Ngoan.

Chỉ có các Mục Đồng và các Đạo Sĩ đã tìm gặp được Đấng Cứu Thế. Trong khi đó các người nổi nang trong đạo Do thái không gặp được Ngài. Bởi lẽ: “Các Luật sĩ chỉ thao thức về lề luật. Các Thượng tế chỉ nhạy bén về đền thờ. Các Kỳ lão chỉ lo lắng về truyền thống. Hêrôđê cũng là con người tìm tòi, ông đã cặn kẽ điều tra nơi Hài Nhi ở, không phải để đến thờ lạy mà tìm cách hủy diệt. Loại người nào cũng tự mãn trong những cơ chế phức tạp cứng nhắc” (Đức Cha Bùi Tuần).

Thời nay cũng thế, đầy dẫy những triết gia, những nhà khoa học, những người vô thần theo thuyết bất khả tri... nhưng không ai trong họ đã nhìn thấy một thiên thần hay ánh sáng một ngôi sao. Dòng dõi của những Hê-rô-đê kiêu ngạo cho tới thời nay đã không tìm thấy Thiên Chúa vì họ muốn dùng lý trí để nắm bắt siêu việt. Họ quá phức tạp nên không hiểu lời xác quyết đơn sơ của các Mục Đồng, quá đầy kiến thức khoa học để lãnh hội chân lý do các Đạo Sĩ đem đến. Dòng dõi này che đậy tính kiêu ngạo và đi tới chỗ coi Giáo Hội là một thể chế đã lỗi thời cần loại bỏ.

Điều kiện tiên quyết để gặp được Thiên Chúa, đó là lòng khiêm nhường, chung cho cả người đơn sơ lẫn người thông thái. Những tâm hồn đơn sơ như các Mục Đồng mới gặp được Thiên Chúa bởi họ ý thức mình không biết gì cả. Những người thông thái đích thực như các Đạo Sĩ gặp được Thiên Chúa bởi vì họ ý thức mình không biết gì cả.

Chúa Giêsu không sinh ra ở giữa trời, nơi người ta có thể đứng thẳng. Ngài đã Giáng sinh trong Hang đá, nơi người ta phải cúi mình để đi vào. Đó là một cử chỉ khiêm nhường. Các Mục Đồng và các Đạo Sĩ đủ đơn sơ để nghiêng mình xuống. Khi làm như vậy, họ thấy mình ở trong Hang đá. Tại đó, một người nữ diễm lệ, đầu đội mặt trời, chân đạp mặt trăng và đôi tay ẵm lấy Hài Nhi, Đấng dùng những ngón tay bé nhỏ của mình nâng đỡ trái đất. Khi các Mục Đồng và các Đạo Sĩ quỳ gối, có lẽ các Đạo Sĩ ghen với các Mục Đồng vì con đường của các Mục Đồng ngắn hơn, họ tìm thấy sự khôn ngoan là chính Thiên Chúa mau hơn.

Các Thượng Tế, các Kinh Sư thông hiểu Thánh Kinh, họ cắt nghĩa cho Hê-rô-đê rất hay nhưng họ vẫn ngồi yên tại chỗ. Họ tìm Đấng Thiên Sai trong Thánh Kinh, nhưng không nhận ra Người trong thực tế vì Người không phù hợp với những quan điểm cố định của họ. Những tâm hồn đơn sơ như các Mục Đồng, những tâm hồn cởi mở khao khát chân lý như các Đạo Sĩ lại được hạnh phúc nhận biết Người.

Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình cho thế giới qua các dấu chỉ tự nhiên của trời đất, của lịch sử, qua Thánh Kinh, qua Giáo Hội, qua các Bí Tích, qua cuộc sống hàng ngày. Để gặp Ngài, chúng ta cần có lòng khiêm nhường. Nhờ sự gặp gỡ này, mỗi người sẽ trở nên ánh sao dẫn lối cho nhiều người nhận biết và yêu mến Chúa.

Lễ Hiển linh cho thấy niềm vui lớn lao của Giáo Hội sơ khai khi thấy dân ngoại sẵn sàng đón nhận Tin Mừng qua ánh sao, qua lời rao giảng của các Tông đồ, của những người làm chứng. Lời nói của các vị đạo sĩ gợi lên cho chúng ta một trách nhiệm: "Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở phương Đông và chúng tôi đến để triều bái Người"(Mt 2,2). Trách nhiệm ở đây chính là Kitô hữu có trở nên là ngôi sao sáng cho thế giới hôm nay chưa? Nếu xưa kia, Chúa dùng ngôi sao để dẫn đường cho những người thiện tâm biết đến thờ lạy Chúa thì ngày nay, không thiếu gì người đến được với Chúa là nhờ những ngôi sao sống động của các Kitô hữu. Đời sống, gương lành, nhân đức của các Kitô hữu làm cho họ trở nên những ngôi sao sáng. Ánh sáng đó tỏa ra qua những công việc hằng ngày, nhờ vậy người ta nhận biết Thiên Chúa hiện diện trong các Kitô hữu.

Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi bản thân nó có ánh sáng. Người Kitô hữu cũng chỉ chiếu sáng khi chính cuộc sống của mình có ánh sáng, phản chiếu ánh sáng đón nhận từ ơn Chúa ban và từ việc thực hành Lời Chúa trong đời sống hằng ngày. mục lục

ĐI TÌM SỰ THẬT VÀ NIỀM VUI

Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Chúa Nhật thứ hai sau lễ Chúa Giêsu Giáng Sinh là lễ Hiển Linh. Từ “Hiển Linh” là dịch từ tiếng “Epiphany” có nghĩa là “tỏ lộ ra”. Hồi xưa lễ này gọi là lễ Ba Vua. Từ Hiển Linh có vẻ đắc địa hơn vì nói lên được ý nghĩa của ngày lễ hơn là từ Ba Vua. Lễ Hiển Linh là một lễ quan trọng, nói lên tính “phổ quát” của Tin Mừng Phúc Âm. Tuy nhiên việc chia sẻ ý nghĩa của ngày lễ này cũng chỉ nói lên được một khía cạnh nào đó mà người viết ưa thích

GIÊSU LÀ ĐẤNG THIÊN SAI, LÀ THIÊN CHÚA TỪ KHỞI THỦY 

Ý chính của câu chuyện Phúc Âm lễ Hiển Linh hôm nay là Đức Giêsu Kitô tỏ mình là Đấng Thiên sai, Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu Thế. Giáo Hội mừng lễ Chúa Giêsu tỏ mình cho những nhà đạo sĩ đến từ phương Đông, đồng thời cũng để ghi nhớ hai biến cố quan trọng khác mà Chúa Giêsu đã công khai biểu lộ cho thế giới biết là Bí tích Thanh Tẩy tại sông Jordan và tiệc cưới Cana ở Galilee. 

Câu chuyện ba nhà đạo sĩ hoàn toàn đượm màu sắc Kitô giáo. Họ là dân ngoại, những người ngoại quốc đã làm nổi bật tính phổ quát của Tin mừng về “Vua dân Do Thái”. Họ là những người thiện ý, luôn luôn cởi mở với Chúa, sẵn sàng lắng nghe tiếng Chúa gọi. Họ là những người biết đi theo ánh sao trời hướng dẫn. Họ là những người đơn sơ, không mưu sĩ, không dễ gì bị mê hoặc bởi những vị tư tế chỉ biết tư lợi và các ông vua ác độc muốn giết người. Họ là con người mạo hiểm nhưng lãng mạn, đáng yêu, theo đuổi sự thật và tìm kiếm niềm vui đích thực và vĩnh cửu.

CÂU CHUYỆN ĐẦY BI THẢM CỦA NGƯỜI LỚN

Đọc cẩn thận bài Tin Mừng Mátthêu hôm nay (Mt 2:1-12), chúng ta sẽ thấy câu chuyện trẻ sơ sinh lại trở thành câu chuyện người lớn đầy bi thảm. Mátthêu cho thấy ngay từ đầu câu chuyện - mọi người dù là dân thường hay những vị lãnh đạo Israel - thì cũng phải vui cái vui chung của mọi người, nhưng lại có người vì những nỗi niềm riêng tư lại hốt hoảng sợ hãi. Như sau này Mátthêu kể lại, dân Israel chối bỏ Chúa Giêsu, nhưng dân ngoại lại vui mừng đón chào Chúa. 

Đây là câu chuyện ba nhà đạo sĩ: “Vào thời vua Hêrôđê… (Mt 2:1-12). Hêrôđê trị vì từ năm 37 đến 4 trước cn. Các nhà đạo sĩ nguồn gốc thuộc giai cấp tư tế ở nước Ba Tư. Danh xưng đạo sĩ sau này cũng được dùng để chỉ những người có kiến thức hiểu biết hơn người. Theo Mátthêu thì họ là những nhà thiên văn chuyên nghiên cứu những bí ẩn thể hiện qua những dấu lạ của sao trời. 

Mátthêu đã lấy câu chuyện của Balaam trong Cựu Ước, nói về một vì sao sẽ xuất hiện từ nhà Jacob (Ds 24:17). Ngôi Sao này ám chỉ một vị vua. Không như những mục đồng nghèo hèn, các nhà đạo sĩ là những người giàu sang, trí thức, có địa vị cao sang trong xã hội, đã làm một cuộc hành trình dài dù phải đối đầu với bao nghịch cảnh nguy hiểm để đạt cho được mục đích. Đây không phải là cuộc hành hương bình thường mà là một cuộc hành hương đầy thơ mộng và lãng mạn. Nào là ngắm cảnh sao trời lấp lánh thiên thần ca hát…. ,dưới đất thì có bò lừa và chiên với mục đồng đang rảo bước tới hang đá thờ lạy Thiên Chúa hài nhi.

Các nhà đạo sĩ tới Bethlehem là để tỏ lòng tôn kính vua dân Do Thái mà họ đang tìm kiếm ở Israel, dưới ánh sáng sao nhà David. “Sao” này sẽ là vua muôn dân. Sự xuất hiện của Đức Giêsu được dân ngoại nhận ra và thờ lạy Người là Con Thiên Chúa, là đấng cứu chuộc nhân loại. Khi họ trở về họ sẽ cùng với người Do Thái chấp nhận lời hứa thiên sứ ghi trong Cựu Ước.

CÂU CHUYỆN GIÁNG SINH VÀ CHÚNG TA 

Biến cố Giáng Sinh của Chúa Giêsu đã làm xáo trộn cuộc sống của Mẹ Maria, của ông Giuse, của các nhà đạo sĩ, của vua Hêrôđê, của toàn thể dân thành Jerusalem và tất cả những trẻ sơ sinh lúc đó ở Bethlehem (Mt 2:1-18). Phải chăng khi Đức Kitô lớn lên cũng sẽ lôi kéo chúng ta vào cùng cảnh ngộ như vậy? Quan sát quang cảnh mục đồng trong đêm lạnh hoang vắng có thiên thần ca hát, chúng ta tự hỏi làm sao Chúa có thể đến với chúng ta như vậy? Để sống với các thiên thần ca hát trong đêm Đức Giêsu sinh ra, bức màn vô hình ngăn cách chúng ta với thế giới thiêng liêng cần phải hủy bỏ. Nhìn hành động của các nhà đạo sĩ, chúng ta thấy nếu cố công đi tìm sự thật thì cuối cùng cũng sẽ được toại nguyện dù có gặp nhiều gian nan, vì có Chúa là sao trời hướng dẫn, thay đổi phương thức làm việc như các nhà đạo sĩ đã đổi hướng không đi theo đường cũ trở về quê hương. Khi chúng ta bắt gặp được Đức Kitô và biết Người là ai thì chúng ta sẽ không bao giờ còn là con người cũ nữa và lúc đó, chúng ta chỉ có một ước vọng là thực hiện sứ mệnh của mình và chia sẻ với mọi người những gì đã học hỏi được về Chúa Giêsu Kitô.

NIỀM VUI ĐÍCH THỰC 

Niềm vui Giáng Sinh thì không bút mực nào có thể diễn tả đầy đủ và trọn vẹn, nhất là niềm vui linh thiêng, niềm vui Thiên Chúa. Nhà văn Kitô giáo, C.S.Lewis đã vận động mọi khả năng, phối hợp mọi văn từ để diển tả hai chữ ‘Niềm Vui’. Ông rất thích dùng tiếng này, nhất là khi diễn tả cảm nghĩ của mình về Thiên Chúa vĩnh cửu và lòng ao ước Thiên Chúa. Câu chuyện ba nhà đạo sĩ và ánh sao sáng trên trời cho chúng ta khá nhiều cảm nghĩ, nhưng thực tế còn có biết bao dấu hiệu lạ kỳ khác cũng ở trên trời, mà chúng ta không nhận ra ý nghĩa của nó. Chính ngôi sao mà chúng ta chiêm ngưỡng nơi máng cỏ lại nhắc nhở chúng ta cần phải suy nghĩ. Cuộc hành trình của ba nhà đạo sĩ và ngôi sao trời cũng biểu hiện nền văn hóa trần thế của chúng ta; nó buộc chúng ta phải tỉnh thức và nhớ lại những điều kiện phải có cho cuộc hành hương của chúng ta đi tìm sự thật và niềm vui vĩnh cửu. 

ĐTC Biển Đức XVI cũng nói về “Niềm Vui” ở đoạn #123 trong Tông huấn Lời Chúa / Verbum Domini:

- “Trong Lời Chúa, chúng ta cũng nghe, cũng nhìn và chạm vào Lời sự sống. Nhờ hồng ân Thiên Chúa, chúng ta tuyên xưng Lời hằng sống đã tỏ lộ, vậy chúng ta đến để cùng nhau nhận biết chúng ta là bạn với nhau, với những người đã ra đi trước chúng ta có dấu ấn niềm tin, và với tất cả mọi người trên khắp địa cầu này đã được nghe lời Chúa, thờ kính Mình Thánh Chúa và là chứng nhân bác ái suốt đời mình. Lời tuyên bố này đã được chia sẻ với chúng ta –như thánh Gioan tông đồ đã từng nhắc nhở chúng ta- đến độ niềm vui của chúng ta đã được trọn vẹn” (1Ga 1:4). 

- “Thượng Hội Đồng đã giúp chúng ta cảm nghiệm được tất cả những điều mà thánh Gioan đã nói: Sự tuyên xưng Lời đã tạo nên sự hiệp thông và mang lại niềm vui. Đây là một niềm vui sâu xa đã bắt nguồn từ chính trái tim của đời sống Thiên Chúa Ba Ngôi và hiệp thông với chúng ta trong Con Một của Người. Niềm vui này là một tặng vật khôn tả xiết mà trần thế không thể có mà cho được. Mừng lễ thì có thể tổ chức được, nhưng niềm vui thì không. Theo Kinh Thánh, niềm vui là hoa trái của Chúa Thánh Thần (Gl 5:22) khả dĩ đưa chúng ta đi vào Lời và đưa Lời Thiên Chúa đi vào chúng ta để sinh hoa trái cho đời sống vĩnh cửu. Nhờ tuyên xưng Lời Chúa trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, chúng ta cũng ước mong chia sẻ niềm vui ấy, không phải hời hợt bề ngoài và chóng qua, mà là niềm vui sinh ra do ỳ thức được chỉ một mình Chúa Giêsu mới có Lời của đời sống vĩnh cửu (Ga 6:68).”

LỜI KẾT: LỜI THẬT VÀ NIỀM VUI GIÁNG SINH 

Cuối cùng, ba nhà đạo sĩ theo đường riêng của mình để về nhà vì họ không muốn bị mê hoặc bởi mưu kế bất chính của Hêrôđê. Họ quá đỗi ngạc nhiên vì niềm vui vĩ đại họ có được. Ngôi sao dẫn đường họ lúc đầu nay lại xuất hiện. Ở đây không chỉ nói về thời gian lúc Chúa Giêsu sinh ra mà còn nói tới thời đại chúng ta. Khi đã tìm ra được niềm vui vĩnh cửu ở giữa cái vòng tròn lẩn quẩn đầy bóng đêm sầu muộn, đa nghi, thất vọng, vô cảm, dửng dưng và vô nghĩa thì chỉ có một điều duy nhất phải làm là chúng ta quì gối và thờ lạy như những nhà đạo sĩ ngoại quốc và ngoại giáo đã làm ở Bethlehem hơn 2.000 năm trước. 

Nếu chúng ta thực sự khôn ngoan thì hãy hành động như những nhà đạo sĩ. Khi chúng ta nghe biết ông vua già đã chết cùng với nỗi sợ hãi, đa nghi thì hãy can đảm đi theo con đường riêng của mình là con đường NIỀM VUI MỚI. Ngôi sao trời sẽ dẫn chúng ta hướng về phía trước, bằng lối đi mới, tới trước Hài Nhi Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô, Hoàng Tử của Hòa Bình, đấng đã hoàn thành niềm vui hy vọng và ước nguyện sâu xa nhất của loài người về ánh sáng, công lý, tình thương, bác ái và hòa bình. 

Hôm nay, tất cả chúng ta có quyền tuyên xưng với niềm vui sâu thẳm và bất giệt đó: Lạy Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa, mọi quốc gia trên mặt đất này sẽ quì gối thờ lạy Chúa. 

Bài thơ dưới đây lấy từ The Skaker tradition. Tôi thấy tuy đơn giản nhưng mang đầy đủ ý nghĩa Lễ Giáng Sinh, xin trích ra đây để chúng ta cùng suy niệm: 

When the song of the angels is stilled,
When the star in the sky is gone,
When the kings are back home,
When the shepherds are once more with their flocks,
When Simeon and Anna have gone to their Master in peace,
Then the work of Christmas begins:
To find the lost, to heal the broken,
To release the prisoners, to rebuild nations,
To bring peace to all people,
To make music in the heart. Amen.

Tạm dịch: 

Khi tiếng hát thiên thần mờ nhạt

Sao trên trời biến mất

Các vua chúa trở lại quê nhà

Mục đồng về với chiên cừu

Simeon và Anna ra đi an bình về với Thầy mình

Từ đây công tác Giáng Sinh bắt đầu:

Tìm kẻ thất lạc,

Chữa lành kẻ yếu đuối bệnh hoạn,

Giải phóng kẻ tù tội

Xây dựng lại quê hương

Mang lại hòa bình cho muôn dân

Âm vang tiếng hát trong mọi tâm hồn. Amen. mục lục

HÃY LÀM CHO ÁNH SÁNG TỎA SÁNG RA

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Tiếp liền sau Đại lễ Giáng Sinh, Giáo hội cử hành lễ Chúa Hiển Linh hay còn gọi là lễ Chúa Tỏ Mình. Theo một truyền thống rất xa xưa từ thế kỷ thứ II, Thánh Giustinô đã nói tới là Chúa Giêsu đã sinh ra trong một chuồng bò lừa tại Belem. 40 ngày sau, Thánh Giuse và Đức Maria đem Hài Nhi lên Đền thờ Giêrusalem để dâng cho Thiên Chúa như luật dạy. Phúc Âm Thánh Matthêô cho biết: sau khi dâng Chúa trong Đền Thánh, Thánh Gia không trở về Nagiarét ngay. Trong khoảng thời gian này đã xảy ra nhiều việc liên quan với nhau. Từ Đền Thờ, Thánh Gia lại trở về Belem. Chính nơi đây, các đạo sĩ, do một ngôi sao dẫn đường từ Phương Đông tới thờ lạy Chúa Giêsu và dâng cho Ngài lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Hêrôđê thấy các đạo sĩ không trở lại Giêrusalem báo tin như lời mình dặn, sợ ngai vàng của mình bị đe dạo, ông ra lệnh truyền giết các trẻ em ở Belem và các miền phụ cận từ 2 tuổi trở xuống. Thánh Giuse được Thiên thần báo tin, đã đem Chúa Giêsu và Đức Mẹ sang Ai-Cập và ở đó cho tới khi Hêrôđê băng hà. 

Như thế, chúng ta thấy Lễ Chúa Hiển Linh trước hết có nghĩa là lễ Chúa tỏ mình ra cho các dân tộc, mà Ba Nhà Đạo sĩ là những đại diện. 

"Epiphaino" có nghĩa là Thiên Chúa tự mặc khải trong nhân tính của Ðức Kitô, khiến người khác có thể trông thấy mình được được. Cụ thể như dùng ánh sao đêm biểu lộ cho Ba Ðạo Sĩ biết, dẫn họ lên đường đến nơi Hài Nhi vừa mới sinh để nhận ra Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Thế. Nếu lễ Giáng Sinh người ta nêu bật sự dấu ẩn của Thiên Chúa trong sự khiêm hạ với điều kiện là người, trong Trẻ Thơ Belem. Thì trong lễ Hiển Linh lại nêu bật việc Thiên Chúa tự tỏ mình, xuất hiện qua chính nhân tính.

Việc các Ðạo Sĩ đến tôn thờ Chúa Hài Nhi đã sớm được nhìn nhận như là ứng nghiệm những lời tiên tri trong Kinh Thánh. Isaia viết như sau: "Các dân tộc sẽ bước đi theo ánh sáng của ngươi, và các vua chúa tiến bước theo nguồn sáng của ngươi đang mọc lên" (Is 60,3.6). Ánh sáng của Chúa Kitô, khi xưa như được chiếu tỏa trong hang Bêlem, nay tỏa sáng trên khắp địa cầu.

Trong lễ Chúa Tỏ Mình, Giáo Hội đề nghị một văn bản rất ý nghĩa của ngôn sứ Isaia : " Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi. Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi." (Is 66,1-3). Ðây là một lời mời hướng tới Giáo Hội Chúa Kitô và hướng tới từng người Kitô hữu, mời gọi chúng ta ý thức hơn về sứ mệnh và trách nhiệm truyền giáo của mình đối với thế giới trong việc làm chứng và chiếu sáng Tin Mừng khắp thế gian. 

Trong số mở đầu Hiến chế về Giáo Hội có viết: "Ánh sáng muôn dân là chính Chúa Kitô, nên Thánh Công Ðồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Chúa phản chiếu trên dung nhan Giáo Hội bằng việc rao truyền Phúc âm cho mọi tạo vật" (LG, 1). Tin Mừng là ánh sáng không được dấu đi, nhưng để trên giá. Giáo Hội không phải là ánh sáng, nhưng nhận Ánh Sáng Chúa Kitô, tiếp nhận để được soi chiếu, và phổ biến Ánh Sáng đó ra với tất cả sự rạng ngời của nó. Và đây là điều cũng phải xảy ra trong cuộc sống cá nhân...

Các thượng tế tại Giêrusalem được Hêrôđê triệu tập để tư vấn cho ông về nơi Đấng Cứu Thế đã được sinh ra, cũng như cung cấp cho nhà vua các thông tin mà họ đã thu thập được trong truyền thống Kinh Thánh. Tuy nhiên, ý Chúa nhiệm mầu, vì ý định của Hêrôđê không trong sạch, ý định đó các nhà đạo sĩ là sứ giả cho những người tìm kiếm Thiên Chúa đã được mộng báo. Việc các nhà đạo sĩ đến kính viếng Chúa Hài Nhi cho ta thấy, sứ mạng của Đức Giêsu không chỉ dành cho Dân được tuyển chọn, nhưng cho cả nhân loại. Việc Ba Nhà Đạo Sĩ đến Giêrusalem hỏi đường, cho thấy mối liên lạc giữa sự khôn ngoan ngoại giáo và mạc khải Kitô Giáo thể hiện nơi con người của Chúa Giêsu thành Nazareth mà nhân loại khát đang mong tìm kiếm. Sứ vụ phổ quát của Chúa Kitô được Thánh Phaolô gọi là sự mặc khải của mầu nhiệm : " Ấy vì dân ngoại, cùng (với Israel) là kẻ thừa tự, là Thân mình, và là đồng hưởng lời hứa trong Ðức Yêsu Kitô, nhờ bởi Tin Mừng" (Ep 3, 2). Ơn cứu chuộc  sẽ mở ra cho muôn người thuộc mọi quốc gia, và các dân ngoại đã trở thành người đồng thừa tự, cùng được chia sẻ lời hứa trong Chúa Giêsu Kitô  (Ep 3, 6). Sự gặp gỡ giữa sự khôn ngoan của những người sống bên ngoài mạc khải ( là các đạo sĩ, dân ngoại) , và những người hiển nhiên thừa hưởng lời hứa (Dân Do Thái) từ sự ra đời của Chúa Kitô sẽ cho thấy sứ mệnh của Chúa Giêsu trong sứ vụ công khai của mình, và bản chất của Giáo Hội mà Chúa Giêsu sẽ xây dựng. 

Giáo Hội với sứ mạng phổ quát của mình, phải là nơi đáp ứng những khát vọng sâu xa của con người mọi nơi, mọi thời đại về Thiên Chúa. Giống như Chúa Kitô, Ngài đã chiếu tỏa vinh quang cho dân ngoại. Giáo Hội cũng mời gọi chúng ta dõi theo ánh sao cùng ba nhà Đạo Sĩ đến chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu, Thiên Chúa làm người trong khiêm hạ và nghèo khó, nhất là đón nhận chính Hài Nhi ấy là Ánh Sáng và là Chúa Kitô vào trong chúng ta, để chúng ta có sống là sống chính sự sống của Người, và lấy các tâm tình, tư tưởmg và hành động của Người làm tâm tình, tư tưởng và hành động của chúng ta. Như thế, mừng Giáng Sinh là biểu lộ niềm vui, sự mới mẻ, ánh sáng mà biến cố Giáng Sinh này đã đem lại trong toàn cuộc sống chúng ta, để chúng ta cũng là những người đem niềm vui, sự mới mẻ đích thật, và ánh sáng của Thiên Chúa đến cho mọi người. Amen. mục lục

TẦM NHÌN SIÊU PHÀM

Trầm Thiên Thu

Một Ngôi Sao Soi Rạng Ngời Hang Đá

Ba Đạo Sĩ Đến Thờ Lạy Chúa Con.

Sách Tôbia cho biết: “Một ánh sáng rạng ngời sẽ chiếu soi khắp mười phương đất; từ viễn xứ, người trăm họ kéo đến với ngươi. Và dân cư tận chân trời góc biển sẽ tới hát mừng danh thánh Chúa, tay bưng lễ vật dâng tiến Vua Trời. Muôn thế hệ sẽ làm cho ngươi hoan hỷ, và tên ngươi, thành được Chúa chọn, sẽ lưu truyền hậu thế đến ngàn năm.” (Tb 13:13)

Bê-lem thuộc Giuđê, bé nhỏ, nhưng chợt hóa thành nơi tràn ngập ánh sáng kỳ diệu – ánh sáng của Hồng Ân, của Đức Tin, của Yêu Thương, của Lòng Thương Xót, của Hòa Bình, của Chân Lý, của Hạnh Phúc, của Sự Sống, của Vĩnh Cửu, của Công Lý, của Tự Do,... Bê-lem bé nhỏ mà vĩ đại vì là nơi Thiên Chúa chọn để Đấng Thiên Sai giáng sinh làm người.

TẦM NHÌN TỪ XA

Ánh Sao Lạ là dấu Thiên Chúa dùng để tỏ cho mọi người nhận biết, cụ thể là các nhà chiêm tinh. Họ không chỉ thông thạo khoa học trần gian, mà họ còn có khả năng siêu phàm với tầm nhìn tâm linh. Có nhiều ngôi sao, nhưng họ nhận thấy có một ngôi sao lạ lùng, rất đặc biệt hơn các ngôi sao khác, với loại ánh sáng khác thường. Họ đã đi tìm và đã gặp được Đấng mà họ muốn biết, Đấng ấy chính là “ánh sáng cho nhân loại” và “chiếu soi mọi người.” (Ga 1:4 và 9)

Ánh Sáng Ngôi Lời đã chiếu sáng và tỏa lan khắp nơi. Ngôn sứ Isaia hân hoan mời gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.” (Is 60:1-2) Ánh bình minh xua tan bóng đêm đen, ánh sáng tiêu diệt bóng tối. Đó là ánh sáng vĩnh cửu, ánh sáng đến từ Thiên Chúa.

Đấng Thiên Sai là Chúa Cứu Thế Giêsu. Ngài đã giáng sinh làm người, và Con Người đó là Ánh Sáng, là Ngôi Lời, là Thiên Chúa tạo thành muôn vật hữu hình và vô hình. Ánh sáng Chúa chiếu vào cái gì thì cái đó cũng sáng lên, và phải trở thành “ánh sáng cho thế gian.” (Mt 5:14) Nhờ đó, “chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước,” đồng thời “đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi: con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông.” (Is 60:3-4) Thật là kỳ diệu!

Thật khổ sở khi ở trong bóng tối, mất tầm nhìn. Những người chỉ bị đau mắt mà khỏi thì cũng vui lắm rồi, huống chi người mù, họ mà được khỏi mù thì hẳn là rất hạnh phúc. Vì chúng ta chưa bị mù nên không thể cảm nhận trọn vẹn niềm vui sướng của người-mù-được-sáng-mắt, chỉ cảm nhận phần nào. Ngôn sứ Isaia nói: “Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ, vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha: tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.” (Is 60:5-6) Ở trong bóng tối tội lỗi thì thật đáng sợ, thoát khỏi bóng tối đó thì thật tuyệt vời.

Với lòng khiêm cung kính cẩn, Thánh Vịnh gia đại diện chúng ta mà cầu xin qua lời thân thưa: “Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương, trao công lý Ngài vào tay Thái Tử, để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.” (Tv 72:1-2) Ai chân thành tin tưởng cầu xin thì sẽ được, chắc chắn Ngài đại lượng ban cho.

Quả thật, và đúng y như vậy, bởi vì Ngài là Vua Công Lý đến để thi hành Thánh Luật của Đức Chúa một cách triệt để, không sai một chi tiết nhỏ nào. Thánh Vịnh xác định: “Triều đại Người, đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn. Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ, từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất. Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ, từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất.” (Tv 72:7-8) Chỉ một mình Thiên Chúa làm chủ mọi thứ – vô hình và hữu hình.

Từ xa tới gần, từ thôn quê tới thành thị, khắp nơi đều được hưởng bình an. Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Xơ-va, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự. Khắp nơi đều rộn rã tiếng reo vui, vì từ nay mọi người được sống trong hòa bình và công lý, được phục hồi cả nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, được Thiên Chúa giành lại những gì đã mất: “Người giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, giải thoát cho khỏi áp bức bạo tàn, từng giọt máu họ, Người đều coi là quý.” (Tv 72:12-13)

Mỗi người có công việc riêng theo kế hoạch tiền định của Thiên Chúa, tất cả đều quy về Ngài. Thánh Phaolô cho biết: “Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô như tôi vừa trình bày vắn tắt trên đây.” (Ep 3:2-3) Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đã được khởi đầu thực hiện từ khi Đấng Emmanuel đến ở cùng và chia sẻ gian lao với kiếp người của chúng ta. Tuy là phàm nhân nhưng chúng ta vẫn thực sự diễm phúc, vì được Thiên Chúa xót thương vô cùng.

Với kinh nghiệm “xương máu” về tình trạng mù-được-sáng-mắt và hạnh phúc khi được cứu độ, Thánh Phaolô giải thích rõ ràng: “Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Người. Mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được CÙNG THỪA KẾ GIA NGHIỆP với người Do-thái, CÙNG LÀM THÀNH MỘT THÂN THỂ và CÙNG CHIA SẺ điều Thiên Chúa hứa.” (Ep 3:5-6) Ba thứ “cùng hưởng” đó thực sự là hạnh phúc lớn lao đối với chúng ta.

Quả thật, đang là người bị “mất trắng”, đang ở trong tình trạng không mà lại có, đang là tội nhân mà thành con cái, lại còn được chia sẻ và thừa kế mọi thứ thì đúng là niềm vui mừng quá lớn lao, niềm hạnh phúc khôn tả xiết. Điều không dám ước mơ mà có thật, được thật.

THẤY RÕ ĐIỀU GẦN

Các nhà chiêm tinh có khả năng nhìn từ xa mà thấy rõ như ở gần. Tầm hiểu biết xuyên thấu kỳ lạ. Đó là tầm nhìn của niềm tin. So với các nơi khác, miền Bê-lem chỉ nhỏ bé thôi, thế nhưng lại quan trọng, vùng Bê-lem tối tăm mà chợt sáng ngời, chốn Bê-lem tầm thường mà bỗng trở nên Ngai Tòa của Chúa Tể Càn Khôn. Thực sự lạ lùng quá đỗi, không thể tưởng tượng nổi!

Trình thuật theo Thánh sử Mát-thêu cho biết sự kiện khác, sau sự kiện Con Chúa giáng sinh: Khi Đức Giêsu ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi thăm: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” (Mt 2:2) Họ hỏi rất chân thành chứ không hề có ý gì khác.

Thế nhưng chỉ mới nghe hỏi vậy thôi mà vua Hê-rô-đê đã bối rối, hồn xiêu phách lạc, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Kẻ nhát đảm thì hay sợ hãi, nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời y như những gì họ đã biết: “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.” (Mt 2:5-6) Lúc đó có lẽ con cáo già Hê-rô-đê bạt vía kinh hồn vì hoảng sợ. Kẻ giá áo túi cơm thì thường tham quyền cố vị, vì thế mà lo sợ người khác hơn mình, rồi tính toán mưu thâm kế độc.

Thật thế, bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” (Mt 2:8) Đúng là cáo già, miệng nam-mô mà bụng một bồ dao găm, ra vẻ nhân từ mà xảo quyệt, bằng mặt chứ không bằng lòng!

Kẻ ngu dốt mà thâm độc và có quyền thì vô cùng nguy hiểm. Lão Hê-rô-đê mưu mô vì sợ người khác “chạm” đến cái ngai vàng của mình, vì cái ghế đó liên quan quyền lực và lợi lộc. Thời nay cũng chẳng thiếu những dạng người hoặc bóng dáng như gã Hê-rô-đê. Họ là ai? Có lẽ ai cũng có thể trả lời. Họ là những kẻ có mặt người mà dạ thú, chỉ sợ mất chức, mất quyền, tìm mọi cách “cố thủ” để bảo vệ “chiếc ghế” chứ chẳng vì ý tốt lành là phục vụ người khác. Loại người Hê-rô-đê ngày nay còn độc ác và nguy hiểm hơn chính Hê-rô-đê ngày xưa. Thế nên luôn phải tỉnh táo để có thể nhận biết chân tướng của họ mà tránh cho xa. Câu nói của tiền nhân thật chí lý: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào.” Biết mà làm như không biết trước những kẻ khoác lác, đó là khôn.

Khi nghe nhà vua nói thế, có lẽ các nhà chiêm tinh cũng tưởng nhà vua thật lòng nên ra đi tìm kiếm điều họ muốn biết tỏ tường. Lạ thay, ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi rồi mới dừng lại. Họ rất vui mừng khi trông thấy ngôi sao. Và rồi khi đến nơi cần đến, họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là Cô Maria, và họ liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. Các ông này thành kính quá, con mắt đức tin của họ “sáng” quá, thế nên họ mới tin nhận Hài Nhi Giêsu là Ánh Sáng Thật, là Thiên Chúa Thật. Đúng vậy, Hài Nhi Giêsu chính là Vị Cứu Tinh duy nhất của nhân loại chúng ta.

Cuối cùng, Thánh Mát-thêu cho biết rõ ràng: “Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.” (Mt 2:12) Cách mô tả đơn giản nhưng vẫn cho thấy sự khôn ngoan và sự mau mắn của mấy nhà chiêm tinh khi họ tuân theo gợi ý của Chúa. Hê-rô-đê mưu mô, nhưng các nhà chiêm tinh vẫn có đủ mưu lược để đối phó.

Lạy Thiên Chúa, xin mở con mắt đức tin để chúng con có được tầm nhìn tâm linh đúng Thánh Ý Ngài, để chúng con có thể nhận ra Ngài nơi tha nhân, nhất là nơi những con người hèn mọn nhất. Xin giúp chúng con thanh lọc tâm trí để thanh sạch từ trong tư tưởng, không nhiễm độc ác ý như Hê-rô-đê, để chúng con đủ miễn nhiễm với sự dữ và được gặp Chúa nơi Hang Đá của cuộc đời này. Chúng con cầu xin nhân danh Chúa Giêsu Hài Đồng, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

TÌM CHÚA
[Chúa Hiển Linh – thi hóa Mt 2,1-12]

Khi Đức Chúa Giêsu
Sinh tại Bê-lem đó
Thuộc về miền Giu-đê
Hê-rô-đê cai trị
Có mấy nhà chiêm tinh
Từ phương Đông tìm đến
Thành Giê-ru-sa-lem
Cố tìm và dọ hỏi:
“Đức Vua dân Do thái
Vừa mới sinh ở đâu?
Chúng tôi thấy ánh sao
Ở phương Đông xuất hiện
Nên chúng tôi tìm đến
Để cùng bái lạy Người”
Nghe tin ấy thấy lạ
Hê-rô-đê rối bời

Giê-ru-sa-lem đó
Cũng xôn xao cả thành
Vua triệu tập thượng tế
Và kinh sư trong dân
Rồi hỏi cho biết rõ
Đấng Kitô ở đâu
Họ nói: “Bê-lem đó
Thuộc về miền Giu-đê”
Vì trong sách ngôn sứ
Có chép rằng: “Phần ngươi
Này này Bê-lem ơi,
Ngươi đâu là nhỏ nhất
Trong Giu-đa khu vực
Bởi vì ngươi là nơi
Vị lãnh tụ chăn dắt
Của dân Ta ra đời”

Bấy giờ Hê-rô-đê
Vời các chiêm tinh đến
Hỏi cặn kẽ ngày giờ
Ngôi sao lạ xuất hiện
Vua phái họ ra đi
Đến Bê-lem và dặn:
“Xin dò hỏi tường tận
Về gốc gác Hài Nhi
Khi thấy, xin báo lại
Tôi đến bái lạy Người”
Nghe nhà vua nói vậy
Họ vội lên đường ngay

Ngôi sao họ đã thấy
Lại dẫn đường họ đi
Đến tận nơi Hài Nhi
Rồi ngôi sao dừng lại
Họ trông thấy ngôi sao
Lòng vô cùng mừng rỡ
Họ vào nhìn thấy rõ
Nằm đó là Hài Nhi
Với Mẹ Maria
Họ sấp mình thờ lạy

Họ liền mở bảo tráp
Này đây là vàng ròng
Nhũ hương và mộc dược
Họ thành tâm tiến dâng
Rồi họ được báo mộng
Đừng trở lại lối xưa
Gặp vua Hê-rô-đê
Nên họ đi lối khác
Để cùng trở về quê

Lạy Thiên Chúa nhân hậu
Luôn đại lượng, thương yêu
Xin giúp con bền chí
Tìm Chúa suốt sớm chiều. 
mục lục

MIỆT MÀI

Miệt mài tìm kiếm Chúa Con

Đi theo ánh sáng đức tin soi đường

Gian nan cuộc sống đời thường

Lên ghềnh, xuống thác, gió sương bốn mùa

Thế mà các đạo sĩ xưa

Kiên trì tìm Chúa, đường xa miệt mài

Ai tìm thì được gặp Ngài

Được Ơn Cứu Độ, sống vui an bình

Miệt mài theo ánh đức tin

Cầu xin được thấy Tôn Nhan Chúa Trời

Gặp Ngài qua những con người

Bình dị giữa đời là mỗi tha nhân

Miệt mài yêu mến thành tâm

Dù người xa lạ, chẳng quen biết gì

Yêu thương như Chúa nhân từ

Quyết tâm hoàn thiện cho vừa lòng Cha [*]

Viễn Dzu Tử

[*] Mt 5:48 – “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”

CHÚA TỎ MÌNH CHO DÂN NGOẠI

(Cảm nhận và suy niệm từ Mt 2,1-12)

Ba đạo sĩ Đông Phương nhìn sao lạ

Cùng ngắm suy tìm hiểu ý nhiệm mầu

Họ được ơn linh ứng đã từ lâu:

Chúa Cứu Thế giáng sinh từ Do Thái.

Cả ba vị theo sao lạ dẫn lối,

Tới Gia Liêm - vua Hê Rốt trị vì

Họ kính chào, thăm hỏi rồi ra đi

Tới hang đá Bét Lem sao dừng lại.

Trước máng cỏ bò lừa qùy thở ấm,

Ấu Chúa, Phụ Mẫu, Thiên sứ, mục đồng

Ánh sáng linh thiêng như lúc rạng đông

Đêm cực thánh sáng soi vùng cô tịch.

Quỳ, sụp lạy, tôn thờ, dâng lễ vật

Là nhũ hương, mộc dược, vàng tinh nguyên

Ý chỉ: nhân, thiên tính và vương quyền

Ôi! Mầu nhiệm Hiển Linh ai suy thấu!.. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan