SUY NIỆM MÙNG HAI TẾT - CHÚA NHẬT III TN_A

22-01-2020 104 lượt xem

Lời Chúa:  Hc 44,1.10-15;  Ep 6,1-4.18-23;  Mt 15,1-6

Mục Lục

KÍNH NHỚ TỔ TIÊN VÀ ÔNG BÀ CHA MẸ+ ĐGM. Mátthêu Nguyễn Văn Khôi

VỀ VỚI GIA ĐÌNHLm. Giuse Nguyễn Hữu An

UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN Trầm Thiên Thu

ĐÁP NGHĨA ĐỀN ƠNLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

KHÔNG CÓ HIẾU LÀ VẤT ĐIJos. Vinct. Ngọc Biển, S.S.P

GIÊSU THÀNH NAZARETH VÀ ÁNH SÁNG ISAIAHBác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIANJM. Lam Thy ĐVD

KÍNH NHỚ TỔ TIÊN VÀ ÔNG BÀ CHA MẸ

+ ĐGM. Mátthêu Nguyễn Văn Khôi

Tết âm lịch là ngày lễ hội của gia đình. Cho dù có đi làm ăn xa, mỗi người đều cố gắng trở về đoàn tụ với gia đình ít ra trong ba ngày Tết. Ngôi nhà ông bà cha mẹ phút chốc trở nên chật chội nhưng ấm cúng, khi con cháu từ phương xa kéo nhau về, tay bắt mặt mừng, nói cười rộn rã. Nụ cười sung sướng cũng bừng nở trên những khuôn mặt nhăn nheo vì tuổi tác, như cây khô đâm chồi trong nắng ấm xuân sang. Con cháu nghiêng mình trước bàn thờ tiên tổ thắp nén hương tưởng nhớ công đức cao dày, bày tỏ với các ngài những tâm tình thành kính tri ân và thì thầm với các ngài những điều nguyện ước. Tiếp đến, con cháu quây quần chung quanh ông bà cha mẹ còn đang sống để chúc thọ, bày tỏ lòng hiếu thảo kính yêu và để đón nhận từ các ngài những lời giáo huấn đầu năm. Tất cả đều nhằm thể hiện đạo lý dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn”, nói lên lòng biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Đó cũng là điều mà phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ.

Người Do-thái ngày xưa cũng thường tưởng nhớ đến công đức của các vị tiền nhân qua các thế hệ trong lịch sử dân tộc. Trong bài đọc thứ I trích sách Huấn Ca, tác giả đã nêu đích danh từ các vị tổ phụ của nhân loại như ông Ađam, ông Khanốc, ông Sêm, ông Sết và ông Noê, đến các tổ phụ của dân tộc như ông Ápraham, ông Isaac, ông Giacóp; các vị lãnh đạo thời lập quốc như ông Môsê, ông Aharon, ông Giosuê, ông Samuel; các vị vua nổi tiếng như Đavit và Salomon; các ngôn sứ tuyệt vời như Êlia và Êlisa. Người Viêt Nam chúng ta cũng thường nhắc nhở cho nhau nhớ đến nguồn cội của mình là các tiền nhân của dân tộc, các tổ tiên của dòng họ và ông bà cha mẹ trong gia đình. Vì thế có câu:

Người ta có tổ có tông

Như cây có cội như sông có nguồn.

Ta do cha mẹ ta sinh ra. Cha mẹ ta do ông bà ta sinh ra. Và nếu cứ phăng ngược lên cái cây gia phả thì chúng ta sẽ gặp một cái gốc là tổ tiên của dân tộc. Vì vậy, người Việt Nam chúng ta với cái nhìn đầy tình anh em đã quan niệm tất cả mọi người đang sinh sống trên giải đất uốn cong hình chư S này đều phát xuất từ một tổ tiên chung: đó là cụ Lạc Long Quân và bà Âu Cơ. Tất cả dù là người Kinh, người Thái, người Nùng, người Tày, người Thổ, người Mường, người Mán, người Mèo, người Chăm, người Cơ Ho, người Bana hay Giarai, vv, đều phát xuất từ một bọc trứng duy nhất của tổ mẫu là bà Âu Cơ. Truyền thuyết kể lại rằng bà Âu Cơ sinh 100 trứng, nở ra 100 đứa con. Lạc Long Quân là Rồng, Âu Cơ là Tiên, nên tất cả trăm con đều thuộc giống nòi rồng tiên. Thời gian trôi qua, 50 con theo cha ra biển Đông, 50 con theo mẹ lên núi cao, lập nên một giải đất Việt Nam oai hùng.

Rồi cũng trong cái thời dã sử mờ xa ấy tổ tiên chúng ta đã bắt đầu định cư, đóng đô dựng nước, khai sông lấp trũng, canh tác ruộng đồng: đó là thời kỳ các vua Hùng Vương. Rồi tiếp đến đã xuất hiện trên trang sử xanh biết bao anh hùng liệt nữ có công bảo vệ non sông chống ngoại xâm như Phù Đổng Thiên Vương, hai bà Trưng, bà Triệu, Bố Cái Đại Vương, mà ngày nay đã trở thành huyền thoại của dân tộc.

Trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần và những vương triều tiếp nối, đất nước Việt Nam chúng ta ngày càng được tô bồi vững chắc. Nhiều vị anh hùng mà chiến công và tài thao lược của các ngài đến nay vẫn còn sống mãi không riêng gì trong những trang sử xanh, mà còn trong lòng từng người dân Việt. Không ai trong chúng ta có thể quên được những chiến công hiển hách của Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên, của Lê Lợi và Nguyễn Trãi chống quân Minh, và nhất là trận đánh thần tốc của người anh hùng áo vải đất Tây Sơn, Bình Định, chúng ta là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, khiến cho 10 vạn quân Thanh tan tành manh giáp trong chính dịp Tết như hôm nay, đem lại sự thống nhất cho giang sơn sau nhiều thế kỷ dài chia cắt dưới thời Trịnh – Nguyễn phân tranh.

Làm sao chúng ta có thể quên ơn các bậc tổ tiên như thế khi mà ngày hôm nay chúng ta có một non song gấm vóc như thế này. Làm sao chúng ta có thể quên các ngài trong lời cầu nguyện và thánh lễ hôm nay. Mặc dù các ngài chưa biết Chúa, nhưng các ngài là những dụng cụ Chúa dùng để đem lại sự tồn tại và niềm vinh dự cho chúng ta. Chắc chắn những công nghiệp của các ngài cũng nằm trong chương trìnhcủa Thiên Chúa.

Chúng ta nhớ ơn và cầu nguyện cho các ngài, điều đó là công bình và phải đạo, bởi vì theo đức tin công giáo, sau khi chết mỗi người sẽ được Chúa phán xét tùy theo ánh sáng mà họ đã nhận được. Thiên Chúa vừa là Đấng công bình vô cùng, lại vừa từ bi nhân hậu, Người muốn tất cả mọi người đều được cứu rỗi. Vì vậy chúng ta cầu nguyện cho các ngài, vì chúng ta tin rằng các ngài đã đáp lại tiếng Chúa trong mức độ ánh sáng mà các ngài đã nhận đuợc. Chúng ta được biết Chúa nhiều thì bị đòi hỏi nhiều, còn nếu các ngài nhận được ánh sáng ít hơn chúng ta, thì các ngài bị đòi hỏi ít hơn.

Có thể nói ông bà tổ tiên của chúng ta cách đây năm sáu đời đa số đều là người lương. Chẳng lẽ ngày nay chúng ta được may mắn biết Chúa, chúng ta lại không cầu nguyện cho những ông bà cao của chúng ta ấy sao? Nếu chỉ vì ông bà cao của chúng ta là người lương mà hôm nay chúng ta không nhớ cầu nguyện cho các ngài, thì đó quả là một điều thiếu sót và bất hiếu. Về phần các thế hệ ông bà gần đây và cha mẹ đã qua đời hay đang còn sống, các ngài đã có công sinh thành dưỡng dục chúng ta cho nên người, đã vun xới, tô bồi và trao lại cho chúng ta gia sản vật chất cũng như tinh thần của tổ tiên, trong số đó phải kể đến gia tài đức tin. Chúng ta được sinh ra làm người từ máu huyết của các ngài và chúng ta được sinh ra làm con Thiên Chúa từ lời tuyên xưng đức tin của các ngài. Ơn sâu nghĩa nặng của các ngài chỉ có thể sánh ví: cao thì như núi Thái sơn, mà rộng thì như biển Thái Bình.

Việc đáp đền công ơn của cha mẹ và ông bà tổ tiên là một bổn phận không thể lãng quên đối với tất cả mọi người, vì nó xuất phát từ giới luật của Đấng Tạo Hóa được khắc ghi sâu đậm không thể phai nhòa trong lương tri của mỗi người và đã được chính Đức Giêsu long trọng khẳng định trong đoạn Tin Mừng hôm nay.

Tóm lại, về vấn đề tôn kính tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thánh Phaolô dạy rằng có một liên hệ hữu cơ giữa hạnh phúc hiện tại của mỗi người với sự hiếu thảo của họ. Điều này thật đúng, bởi vì nếu con nguời tỏ ra hiếu thảo biết ơn ông bà cha mẹ, thì cũng chứng tỏ mình hiếu thảo biết ơn Thiên Chúa. Nếu con người không biết ơn cha mẹ vì đã ban cho mình tấm hình hài và sự lo lắng dưỡng dục, không biết ơn các bậc tiền nhân đã đổ xương máu để gầy dựng giang sơn, thì làm sao con người có thể biết ơn Đấng Tạo Hóa được.

Khi con người biết ơn đời, thì họ cũng sẽ biết ơn Trời. Ngày hôm nay, nhìn lại tất cả gia sản vật chất và tinh thần mà tổ tiên đã trang trọng trao lại cho chúng ta, từ giang sơn đất nước, văn hóa ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục, chứng từ đức tin…, chúng ta thấy mình thật hạnh phúc vì được kế thừa bao điều thiện hảo. Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa vì Người đã và đang tạo lịch sử cứu độ của Người qua tổ tiên ngày xưa và qua chúng ta ngày hôm nay, để mọi người cùng được vui hưởng hạnh phúc trong Nước Trời mai sau. mục lục

VỀ VỚI GIA ĐÌNH

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Những ngày giáp Tết, dọc dài Quốc lộ I, xe cộ nối đuôi nhau tấp nập ngược xuôi Nam Bắc. Ai cũng hối hả, nôn nao mong sớm về với gia đình.

Tết là dịp mọi người về sum họp mái ấm tình thương. Con cháu sum vầy bên cha mẹ và anh chị em hòa hợp bên nhau. Anh chị em công nhân đi chuyến xe cuối năm chấp nhận bị nhồi nhét miễn là về đến nhà.

“Ngày đầu xuân bao người đi xa, cũng về với gia đình”. Về với mẹ cha nguồn cội gia đình hay về nhà tự thắp nén hương bày tỏ tấm lòng thành của con cháu với ông bà tổ tiên.

Tết là lễ hội của gia đình. Nhà cha mẹ trở nên ấm cúng thân thương. Con cháu quy tụ về vui mừng nói cười rộn rã. Con cháu thắp nén hương trước bàn thờ tiên tổ với tâm tình thành kính tri ân rồi thì thầm với các ngài những điều nguyện ước. Quây quần quanh ông bà cha mẹ để chúc thọ tỏ lòng thảo kính và đón nhận lời giáo huấn đầu năm.Tết còn liên kết người sống với người chết, hiệp thông con cháu với tổ tiên ông bà cha mẹ đã qua đời. Nhiều người có thói quen đi tảo mộ những ngày trước Tết. Nhiều giáo xứ tổ chức Thánh lễ tại nghĩa trang để cầu nguyện cho những người thân yêu đã an nghĩ. Người ta tin rằng dịp đầu năm ông bà tổ tiên về sum họp với con cháu. Niềm tin đó có tác dụng tích cực giúp người sống luôn nhớ tới cội nguồn, sống hiếu thảo, ăn ở xứng đáng với dòng tộc của mình. Đạo lý ngày Tết tuyệt đẹp: “Uống nước nhớ nguồn”, con cháu tỏ lòng biết ơn đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.

Người Việt rất trọng lễ giáo, coi trọng sự bền vững gia đình với những tôn ti trật tự.Trong lễ giáo thì ân nghĩa là đầu tiên.Tôn kính tổ tiên là cách tỏ ân nghĩa đối với các vị tiên nhân,ông bà cha mẹ.Lúc các ngài còn sống,con cháu phải kính mến phụng dưỡng,vâng lời chiều ăn ở sao cho các ngài hài lòng. Khi các ngài qua đời, lo an táng tử tế, con cháu thờ kính, giỗ chạp hàng năm.Việc thờ cúng tổ tiên là mạch nước ngầm trong mát vẫn mãi nuôi sống và nối kết những tâm hồn Việt giàu tình trọng nghĩa.

Mỗi người Việt đều có một đạo rất gần gũi. Đó là Đạo Ông Bà hay Đạo Hiếu.

Đạo Hiếu là cốt tuỷ của nền văn hoá Việt Nam. Hiếu là gốc của Đức. Người ta có một trăm nết nhưng hàng đầu vẫn là Hiếu.Chưa từng có người nào hiếu thảo lại bất trung,cũng như chưa từng có người hiếu thảo nào lại bất nhân.

Cốt lõi của Hiếu bắt đầu bằng: tôn kính cha mẹ lúc còn sống,thờ phượng cha mẹ lúc qua đời. Biết ơn cha mẹ phải được nói lên bằng đạo hạnh,bằng thờ cúng giỗ chạp.Đó là nhiệm vụ thiêng liêng,là phẩm chất tối cao của con người.

Việc hiếu lễ từ ngàn xưa đã in sâu vào tâm linh mỗi người. Dân tộc Việt từ Nam chí Bắc, dù ai theo tín ngưỡng nào, dù có bài bác thần linh nhưng với ý niệm “Cây có cội,nước có nguồn”, đều coi trọng gia lễ.

Ca dao đã đúc kết lòng hiếu nghĩa ấy:

Cây có gốc mới nở ngành sanh ngọn

Nước có nguốn mới bể rộng sông sâu

Người ta có gốc từ đâu

Có cha có mẹ rồi sau có mình.

Biết ơn là sống tâm tình tri ân tình cha nghĩa mẹ. Cha mẹ đã hy sinh cả đời mưa nắng cho con. Cha mẹ đã sống vì hạnh phúc của con. Lòng hiếu thảo hơn mọi lễ vật mà con cái dâng cho các ngài.

Đạo Hiếu chính là đạo của lòng biết ơn.Biết ơn trời đất,biết ơn tổ tiên ông bà cha mẹ.Ơn cha nghĩa mẹ sinh thành, ơn chín chữ, đức cù lao, ơn võng cực biển trời “Ai ai phụ, mẫu sinh ngã cù lao,dục báo chi đức,hạo thiên võng cực”. Cha mẹ sinh ra ta, nâng đỡ ta từ cung lòng,vỗ về âu yếm, nuôi dưỡng bú mớm, bồi bổ cho lớn khôn, dạy ta điều hay lẽ phải, dõi theo mỗi bước đường đời của ta, tuỳ tính tình mỗi đứa con mà khuyên dạy, che chở bảo vệ con. Ơn đức cha mẹ như trời biển: “Công cha như núi thái sơn,nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Đạo Hiếu là nền tảng văn hoá gia đình. Người Việt yêu chuộng những gì là tình, là nghĩa, coi tình nghĩa hơn lý sự “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”; chấp nhận “bán anh em xa mua láng giềng gần”; thích “dĩ hoà vi quý”, độ lượng “chín bỏ làm mười”; quý trọng con người, không tôn thờ của cải “người là vàng, của là ngãi; người làm ra của chứ của không làm ra người”; mong muốn anh em bốn biển một nhà “tứ hải giai huynh đệ”; đề cao tinh thần khoan dung “đánh kẻ chạy đi, ai đánh người chạy lại”. Đỉnh cao của lòng nhân ái là “thương người như thể thương thân”.

Gia đình Việt Nam có nhiều thế hệ sống với nhau “tứ đại đồng đường”. Cha mẹ già không còn lo việc đồng áng, ở nhà chăm nom giữ cháu. Bầu khí gia đình luôn ấm cúng. Tuổi thơ con trẻ được ươm đầy tiếng ầu ơ của bà, câu chuyện cổ tích của ông.Từ lúc chưa rời vành nôi, trẻ thơ đã được trau dồi cái nhân cái nghĩa. Khi lớn lên, con cái lập gia thất, cha mẹ cho miếng đất dựng căn nhà, con cháu sum vầy bên ông bà cha mẹ, tối lửa tắt đèn có nhau. Chính gia sản tinh thần gia đình là chất keo nối kết tầm hồn con người lại để rồi ai ai cũng cảm thấy “quê hương mỗi người chỉ một ….đi đâu cũng phải nhớ về” (Quê hương,Đỗ Trung Quân). Dù đi học xa, đi làm xa, đi đâu xa cũng phải về với gia đình sum họp những ngày cuối năm, ngày đầu năm.Tết là những ngày thiêng liêng ấm áp tình gia đình.

Gia đình là môi trường đào tạo con người toàn diện, tỉ mỉ và hiệu lực nhất.Dưới mái trường này, con người được đào tạo cả về kiến thức, tâm hồn, tư duy, nhân cách, lối sống để rồi có đủ bản lãnh và khả năng bước vào đời sống xã hội.Gia đình là nơi đào tạo căn bản nhất lòng đạo đức, giúp phát triển cái tài, nhân rộng cái đức cho con cái vào đời.

Đạo Hiếu chính là sợi chỉ vàng nối kết mọi người, mọi sinh hoạt gia đình. Đạo Hiếu làm nên bản sắc văn hoá người Việt. Như thế, tâm thức dân Việt rất gần với Tin mừng Đạo Chúa.

Điều răn thứ bốn dạy thảo kính cha mẹ được đặt ngay sau ba điều răn về Thiên Chúa đủ nói lên tính cách quan trọng của lòng hiếu thảo.

Sách Giảng Viên dạy: “Thảo kính cha mẹ là thảo kính Chúa,tôn kính cha mẹ là tôn kính Chúa”.

Sách Huấn ca dạy : “Hỡi các con hãy nghe cha đây.Hãy xử sự sao để được độ sinh.Vì Chúa đặt vinh quang cha trên con cái,quyền lợi mẹ, Ngài củng cố nơi đàn con.

Kẻ tôn kính cha thì bù đắp lỗi lầm và trọng kính mẹ khác gì tích trữ kho tàng.Kẻ tôn kính cha sẽ hoan lạc nơi con cái, khi khẩn nguyện, sẽ được nhậm lời.Kẻ tôn vinh cha sẽ được trường thọ, người an ủi mẹ sẽ được công nơi Chúa.Kẻ kính sợ Chúa sẽ tôn kính cha,nó sẽ phục vụ các bậc sinh thành như chủ của mình.

Hãy thảo kính cha con bằng lời nói việc làm, ngõ hầu mọi phúc lành đổ xuống trên con, vì chúc lành của cha làm cho rễ chắc, còn chúc dữ của mẹ thì nhổ cả cây.

Con đừng vênh vang về việc cha con bị nhục,vì vẻ vang gì cho con, cái nhục của cha con!

Quả thế, người ta chỉ được vẻ vang lúc cha mình được tôn kính, và con cái phải ô nhục khi mẹ mình bị khinh bỉ.

Con ơi! Hãy săn sóc cha con lúc tuổi già. Sinh thời người, chớ làm người sầu tủi. Trí khôn người có suy giảm, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người.Vì lòng hiếu thảo đối với cha sẽ không bị quên lãng, nó sẽ đền bù tội lỗi cho con.

Thiên Chúa sẽ nhớ đến con, ngày con gặp khốn khó, và các tội con sẽ biến tan, như sương muối biến ta lúc đẹp trời.Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, Kẻ khinh rể mẹ, chọc giận Đấng tạo thành ra nó” (Hc 3,1-16).

Thiên Chúa muốn con cái phải hết lòng tôn kính và thảo hiếu, đặc biệt nhấn mạnh đến công ơn sinh thành của người mẹ: “Hết lòng tôn trọng cha con và đừng quên những cơn đau đớn của mẹ. Hãy nhớ rằng nhờ họ, con đã sinh ra. Làm sao con báo đền được điều họ cho con?” (Hc 7,27-28).

Sách Tôbia cũng dạy rằng :“Hãy thảo kính mẹ con. Đừng bỏ người ngày nào trong suốt đời người. Con hãy ăn ở đẹp lòng người và đừng làm điều chi phiền lòng người cả. Hỡi con, con hãy nhớ là người đã phải trải qua bao nỗi gian lao hiểm nguy vì con khi con còn trong lòng dạ người” (Tob 4,3-4).

Thánh Phaolô khẳng định, hiếu thảo là việc làm đẹp lòng Thiên Chúa: “Con cái hãy vâng phục cha mẹ trong mọi sự, vì là điều đẹp lòng Thiên Chúa” (Col 3,20).

Chính Chúa Giêsu là mẫu mực hiếu thảo với Cha, yêu mến Cha, vâng ý Cha, luôn làm đẹp lòng Cha. Là Ngôi Hai Thiên Chúa và với thân phận con người, trong vai trò làm con, Ngài đã thực hành đạo hiếu qua đời sống vâng phục cha mẹ của mình. Thánh Kinh ghi lại rằng sau khi hoàn tất công việc của Thiên Chúa tại đền thờ Giêrusalem: “Ngài theo ông bà trở về Nazareth, và vâng phục các ngài” (Lc 2,51).

Đạo Chúa cũng là Đạo Hiếu. Hiếu với cha mẹ, đấng bậc sinh thành dưỡng dục. Hiếu với Thiên Chúa và thờ phượng Ngài, Đấng sáng tạo muôn loài, dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Như vậy Đạo Chúa cũng chỉ gồm chữ Hiếu.Thờ lạy Thiên Chúa là chân nhận Ngài chủ tể muôn loài, con người có bổn phận tôn vinh thờ phượng tỏ bày lòng hiếu thảo. Đối với tha nhân, Đạo Chúa dạy phải sống hiếu, phải thể hiện hiếu. Điều răn trọng nhất “kính Chúa,yêu người” là điều răn của Đạo Hiếu. Không một tôn giáo nào khai triển Đạo Hiếu cho bằng Đạo Chúa. Hiếu với Chúa, hiếu với tha nhân, đặc biệt hiếu với tổ tiên ông bà cha mẹ.Vì hiếu với Chúa nên phải tu thân tích đức để làm vui lòng Chúa, xứng đáng làm con cái của Ngài.Vì hiếu với ông bà cha mẹ nên phải sống đạo làm con, giữ nề nếp gia phong lễ nghĩa, làm vinh dự cho gia đình, gia tộc. Nếu một người con không thảo kính cha mẹ, người đó không phải là một Kitô hữu đúng nghĩa. Bởi lẽ, người ấy đã không giữ luật Thiên Chúa. Giới luật Thứ Tư còn được gọi là giới răn hiếu thảo: “Thứ bốn thảo kính cha mẹ.”. Mỗi Kitô hữu đều biết hiểu và thực hành giới răn này.

Chính từ tổ tiên ông bà cha mẹ mà người Việt có thể tìm đến với Đấng là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất. Đạo Hiếu là một điểm tựa, một bước đi khởi đầu thuận lợi, một lối đi dễ dàng, gần gũi, một mãnh đất phì nhiêu để đưa con người vào Đạo Chúa. Loan báo Tin mừng của Đạo Chúa chính là làm sáng lên những nét tinh tuý tiềm tàng trong mỗi nền văn hoá. Đối với môi trường gia đình Việt Nam, đó chính là “minh minh đức”, làm sáng cái đức sáng trong môi trường gia đình. Tin Mừng chính là nguồn nước thẩm thấu qua mọi lớp ngăn văn hóa và tôn giáo. Tin Mừng là ánh sáng các dân tộc (LG), là ánh sáng trần gian (Ga 8,12). Tin Mừng và văn hóa giao thoa và hoà điệu với nhau.

Phụng vụ Giáo hội dành ngày Mồng Hai Tết để cầu cho tổ tiên. Hằng ngày trong mọi thánh lễ, Giáo hội đều có lời cầu nguyện cho ông bà tổ tiên.

Đạo Chúa dạy, có một Cha trên trời mà con người phải tôn kính hiếu thảo; dạy yêu thương nhau “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”; dạy sống chan hoà, bình dị  “anh em hãy học cùng tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”, dạy yêu quý sự sống “Tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào”.Tin Mừng làm sáng lên những giá trị sáng ngời có sẵn trong môi trường văn hoá Việt Nam, mang đến cho các giá trị văn hoá ấy chiều kích siêu việt, chiều kích cứu độ.

Tinh thần hiếu hoà, lòng thảo hiếu của người Việt là điểm son đậm đà bản sắc dân tộc.Tin Mừng bén rễ sâu vào nền văn hoá ấy làm xanh lên chồi lộc sự sống tình yêu rồi kết thành hoa trái tốt lành cho con người và cuộc đời.

Dưới ánh sáng đức tin, Đạo Hiếu không chỉ là một hành động luân lý, đạo đức xã hội mà còn là một giới luật được Thiên Chúa truyền dạy, một giới răn chỉ đứng sau ba giới răn dành riêng cho Thiên Chúa. Người Công Giáo thảo hiếu, kính trọng cha mẹ không chỉ theo ảnh hưởng của văn hóa, xã hội, tâm lý, mà còn đặt trên niềm tin tôn giáo. Thảo kính cha mẹ là điều làm đẹp lòng Thiên Chúa.

Lạy Chúa là Cha rất nhân từ,Chúa dạy chúng con phải giữ lòng hiếu thảo.

Hôm nay nhân dịp đầu năm mới

Chúng con họp nhau để kính nhớ tổ tiên và ông bà cha mẹ.

Xin Chúa trả công bội hậu cho những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con,và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các ngài. Amen (Lời nguyện nhập lễ, Mồng Hai Tết). mục lục

UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN

Trầm Thiên Thu

Mồng Hai Tết là ngày cầu cho tiền nhân, những người đã “ra đi” trước chúng ta, mang tính cách cầu hồn. Tuy nhiên, dù cầu nguyện cho những người đã khuất bóng, nhưng lại vẫn liên quan chuyện hiếu nghĩa – tức là liên quan những người thân còn sống với chúng ta dịp Xuân này. Hãy nghe Thánh Phaolô nói: “Ai không chăm sóc người thân, nhất là người sống trong cùng một nhà, thì đã chối bỏ đức tin, và còn tệ hơn người không có đức tin” (1 Tm 5:8). Cách so sánh thật “mạnh” khiến chúng ta phải “giật mình”.

Nói đến hiếu nghĩa, nhiều người ngoại giáo thường nghĩ rằng đạo Công giáo không cho thờ kính tổ tiên. Đúng và sai. Đúng vì “không ai được thờ kính (tôn thờ) bất kỳ thụ tạo nào” (Xh 20:3; Xh 34:14; Đnl 4:35; Đnl 4:39; Đnl 5:7; Đnl 32:39), kể cả tổ tiên, nhưng họ nghĩ sai vì Công giáo không chỉ “cho phép” (được) mà còn “bắt buộc” (phải) kính nhớ tổ tiên, các thân nhân và người có công trạng. Đúng như tục ngữ Việt Nam nói: “Uống nước nhớ nguồn”. Như vậy, đừng vội “kết án” Công giáo khi chưa hiểu rõ!

Cổ thư nói về đạo hiếu rất hay, tất nhiên cũng phù hợp với tinh thần Kitô giáo: “Hiếu hữu tam: Đại hiếu tôn thân, kỳ thứ phất nhục, kỳ thứ năng dưỡng”. Nghĩa là “Đạo hiếu có ba điều: Hiếu lớn nhất là tôn vinh cha mẹ, hai là không làm nhục cha mẹ, ba là có thể phụng dưỡng cha mẹ”.

Liên quan đạo hiếu vào dịp Tết, chúng ta nhớ tới chuyện An Tiêm: Vào đời Hùng Vương, ở một vùng quê cách xa kinh đô Phong Châu, có một cậu bé mồ côi thường theo người lớn đi săn thú và đánh cá. Năm tám tuổi, cậu được lên kinh đô gặp vua Hùng. Thấy cậu thông minh, nhà vua nhận làm con nuôi và đặt tên là Mai An Tiêm.

Vua Hùng cưới vợ cho An Tiêm và cho cả hai vợ chồng đi phá rừng, làm rẫy trồng trọt. Chỉ ít lâu sau, An Tiêm đã dựng được nhà cửa và gặt được nhiều thóc lúa chứa đầy kho. Thấy thế, bọn người ghen tị tâu nịnh với vua vì cho rằng An Tiêm coi thường ơn vua. Vua Hùng giận lắm, không cần tìm hiểu thực hư ra sao, và đày hai vợ chồng ra hoang đảo.

Cây ngay không sợ chết đứng, vì “người công chính được Chúa độ trì” (Tv 37:17). Ở hoang đảo, có con chim trắng bay tới làm rơi hạt đen xuống bãi cát trắng. An Tiêm đem trồng thử hạt này. Chúng mọc thành những dây bò lan trên mặt cát. Cây có nhiều trái màu xanh thẫm to bằng đầu người. An Tiêm hái một trái đem về cho cả nhà ăn thấy ruột đỏ mà ngọt, lại có nhiều nước. Loại trái “xanh vỏ, đỏ lòng” đó chính là trái dưa hấu.

Bài học về chữ hiếu: Dù bị Phụ vương đày ra hoang đảo, nhưng An Tiêm vẫn giữ trọn đạo hiếu với cha, không hề trách hờn ai. Về sau, vua Hùng hối hận và phục chức cho An Tiêm.

Và chắc hẳn nhiều người (tuổi trung niên trở lên) còn nhớ sách “Nhị Thập Tứ Hiếu”, tác phẩm văn học của tác giả Quách Cư Nghiệp, kể lại gương hiếu thảo của 24 người con đời nhà Nguyên (Trung Hoa). Chính tác giả cũng là người con chí hiếu.

Sách Huấn Ca dạy: “Hãy ca ngợi những vị danh nhân, cũng là cha ông của chúng ta qua các thế hệ” (Hc 44:1). Đồng thời xác nhận: “Dòng dõi các ngài luôn được hưởng một gia tài quý báu đó là lũ cháu đàn con. Dòng dõi các ngài giữ vững các điều giao ước; nhờ các ngài, con cháu cũng một mực trung thành. Dòng dõi các ngài sẽ muôn đời tồn tại, vinh quang các ngài sẽ chẳng phai mờ. Các ngài được mồ yên mả đẹp và danh thơm mãi lưu truyền hậu thế” (Hc 44:10-14). Do đó, nhân dân sẽ “kể lại đức khôn ngoan của họ và cộng đoàn vang tiếng ngợi khen họ” (Hc 44:15).

Thánh Vịnh ca tụng những thành quả của gia đình: “Hạnh phúc thay bạn nào kính sợ Chúa, ăn ở theo đường lối của Người. Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng, bạn quả là lắm phúc nhiều may. Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn” (Tv 128:1-3). Tuy nhiên, phúc lộc đó không phải ai cũng có được: “Đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” (Tv 128:4). Đúng nhu Chúa Giêsu đã nói chắc: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).

Thánh Phaolô phân tích lý do mà con cái phải tuân giữ đạo hiếu: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6:1-3). Tuy nhiên, không phải là làm lớn thì có thể làm láo, là cha mẹ thì có thể độc đoán, muốn làm gì thì làm, mà cũng phải tuân giữ nghiêm luật và thể hiện tình yêu thương đúng nghĩa: “Những bậc làm cha mẹ, đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6:4).

Cuộc sống đời thường và tâm linh đều có những điều phức tạp, cần phải biết kết hợp và cân bằng. Thánh Phaolô nói: “Theo Thần Khí hướng dẫn, anh em hãy dùng mọi lời kinh và mọi tiếng van nài mà cầu nguyện luôn mãi. Để được như vậy, anh em hãy chuyên cần tỉnh thức và cầu xin cho toàn thể dân thánh. Anh em cũng hãy cầu xin cho tôi nữa, để khi tôi mở miệng nói, thì Thiên Chúa ban lời cho tôi, hầu tôi mạnh dạn loan báo mầu nhiệm của Tin Mừng; tôi là sứ giả của Tin Mừng này cả khi tôi đang bị xiềng xích. Anh em hãy cầu xin cho tôi để khi rao giảng Tin Mừng, tôi nói năng mạnh dạn, như bổn phận tôi phải nói” (Ep 6:18-20).

Về đạo hiếu, sách Huấn Ca nhắc nhở những người con: “Cha con, con hãy hết lòng tôn kính, và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau. Hãy luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, công ơn ấy, con sẽ lấy chi đáp đền cho cân xứng?” (Hc 7:27-28). Và Công đồng Vatican II dạy: “Con cái sẽ đáp lại công ơn cha mẹ với lòng biết ơn, tâm tình hiếu thảo và tin cậy, sẽ theo đạo làm con mà phụng dưỡng cha mẹ trong nghịch cảnh cũng như trong tuổi già cô quạnh” (Hiến chế Gaudium et Spes – Mục vụ về Giáo hội trong Thế giới Ngày nay, số 48).

Hãy ghi nhớ và noi theo tấm gương tột đỉnh: Dù là Ngôi Hai Thiên Chúa, nhưng khi mặc xác phàm và làm con trong một gia đình, Chúa Giêsu đã chu toàn bổn phận làm con với cha mẹ trong suốt 30 năm (x. Lc 2:51-52).

Không chỉ vậy, Chúa Giêsu còn có phong cách hoàn toàn không giống ai khác. (Mt 15:1-6

Một hôm, có mấy người Pha-ri-sêu và mấy kinh sư từ Giêrusalem đến gặp Đức Giêsu và nói: “Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa?” (Mt 15:2). Đúng là lũ người xấu bụng, chuyên thọc gậy bánh xe, thích phá rối, ưa gài bẫy, chuyên gia sử dụng loại phần mềm về “dấu trừ” và “dấu chia”, chứ không rành (hoặc không thích) sử dụng “dấu cộng” và “dấu nhân”.

Chọc vào ổ kiến lửa thì sẽ “đỏ người”, chọc tổ ong vò vẽ thì “sáng mắt” ngay thôi. Họ vừa hỏi xong, Chúa Giêsu liền trả lời một hơi: “Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa? Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: ‘Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa’. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa” (Mt 15:4-6).

Tất nhiên là họ chỉ có nước ngậm bồ hòn và im như thóc thối. Ai bảo ngu dốt mà lại chảnh, dám vênh váo “ta đây”, muốn chứng tỏ mình là “ngon” lắm! Thùng càng rỗng càng kêu to, kêu càng to càng mau… xẹp. Phải thế mới đáng đời bè lũ Pha-ri-sêu hèn nhát!

Lạy Thiên Chúa, chúng con chúc tụng Ngài là Chúa Tể càn khôn! Chúng con xin lỗi Chúa về mọi lỗi lầm năm cũ, xin ban Thánh Linh để chúng con biến đổi nên giống Ngài mỗi ngày mỗi hơn. Chúng con xin tán dương Ba Ngôi Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết một lòng hướng về Mùa Xuân Vĩnh Hằng trên Thiên quốc; xin Chúa lì xì nhiều Hồng Ân để chúng con sống trọn vẹn năm mới; và chúng con cũng xin lì xì cả cuộc đời của chúng con cho Chúa, xin Ngài thương thánh hóa và hướng dẫn chúng con đi đúng Đường Chân Lý của Ngài.

Xin Đức Mẹ Maria, Đức Thánh Giuse, chư Thần và chư Thánh nguyện giúp cầu thay cho chúng con luôn, để mai đây chúng con cũng được hợp đoàn và chung lời với các ngài mà ca tụng Thiên Chúa muôn đời. Nguyện xin Chúa thương cho mọi người đã hoàn tất đường lữ hành trần gian được niềm vui Xuân Trường Sinh nơi Thiên Quốc.

Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người và cứu độ chúng con, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen. mục lục

ĐÁP NGHĨA ĐỀN ƠN

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Ngày Tết chúng ta sắm mặc, sửa ăn, ngày đầu năm chúng ta đi chúc tết nhau, con cháu tết ông bà cha mẹ, người dưới chúc tết người trên, với biết bao nhiêu lời chúc tốt đẹp, kèm theo những món quà thơm thảo bày tỏ lòng biết ơn, kính quí, thảo hiếu với người trên, anh em nâng chén chúc tụng nhau.

Ngày Mồng Hai Tết, Giáo hội dạy chúng ta dâng tấm lòng thành, kính nhớ tổ tiên: “Ca tụng các bậc cha ông của chúng ta đã sống qua các thời đại” (Hc 44, 1, 10-15). Quả thật, có được ngày đầu năm hoan hỷ vui xuân, làm sao chúng ta lại quên công, bỏ nghĩa các bậc tiền nhân được, chúng ta là phận cháu con đã và đang thừa hưởng gia tài ân đức các ngài để lại, nên phải ‘kể lại sự khôn ngoan của các ngài’ để noi theo, các ngài đã giữ các Điều Răn của Chúa, cháu con cũng phải một mực trung thành. Như thế, dòng dõi các ngài mới trường tồn vạn đại. (x. Hc 44, 1, 10-15 )

Chúa truyền phải thảo kính mẹ cha

Thụ ơn ắt phải báo đền, mẹ cha là hình ảnh của Thiên Chúa : ngoài việc sinh thành, dưỡng dục, các ngài còn là người đại diện Chúa, là hình ảnh của Thiên Chúa tình thương hằng bao bọc, che chở và nuôi dưỡng chúng ta nên người. Chính trong bậc sống gia đình, cha mẹ được Thiên Chúa mời gọi để cộng tác vào chương trình tạo dựng của Ngài,  để cho ra đời những người con, mang hình ảnh Chúa, và tô điểm thêm cho trái đất nhiều người ca ngợi và kính sợ Chúa.Vì thế, trong bổn phận thảo hiếu, ngoài việc con cái phải phụ dưỡng, giúp đỡ cha mẹ khi già yếu, còn phải hằng ngày cầu nguyện cho cha mẹ : luôn sống xứng bậc mình, sẵn sàng hy sinh để nuôi dưỡng và giáo dục cho tròn bổn phận mình. Thiên Chúa dạy chúng ta : “Hãy thảo kính cha mẹ” (Mc.7, 8-13). Phụng dưỡng mẹ cha theo đúng lời Chúa truyền dạy, chớ dựa vào : “truyền thống của cha ông mà hủy bỏ lời Thiên Chúa”. (Mt 13, 6) Nhớ đến công ơn sinh thành, dưỡng dục, tất cả chúng ta đều phải biết sống hiếu thảo, vâng lời, giúp đỡ cha mẹ lúc sinh thời cũng như khi đã khuất bóng.

Việc “đền ơn đáp nghĩa” là một nghĩa vụ thiêng liêng để được phần phúc và sống lâu dài trên địa cầu này, đó là những ước mơ và lời cấu chúc trên cửa miệng của chúng ta trong ngày đầu năm mới như hạnh phúc, khang an và trường thọ.  Vậy đâu là bí quyết để những lời chúc đó trở thành hiện thực ? Thưa là áp dụng lời Chúa dạy : “Hãy thảo kính mẹ cha”; “Ai thảo kính cha sẽ được sống lâu dài” (Hc 3, 6). Thánh Phaolô Tông đồ khuyên chúng ta “Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ, theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa : Để ngươi được hạnh phúc và trường thọ trên mặt đất này” (Ep 6,1).

Thực hành chữ hiếu là thể hiện đạo lý dân tộc

Thật phù hợp với đạo lý dân tộc Việt Nam, chiếc bánh chưng, một sản phẩm cổ truyền, một chứng tích của đạo lý, chúng ta làm để ăn ngày Tết nhắc nhớ chúng ta mang nặng nghĩa mẹ tình cha. Bởi Lang Liêu, vị hoàng tử thứ mười tám, con người hiền lành, hiếu thảo đã dâng lên vua cha thứ bánh chưng tượng trưng cho đất, bánh dầy tượng trưng cho trời; với ý nghĩa xem công cha nghĩa mẹ to lớn như trời cao đất rộng, che chở cho con cái sống an vui giữa đời.

Vì cha nên mới có mình,

Mẹ cha đối đáp công trình biết bao

Ơn này sách với trời cao

Trong lòng con dám lúc nào lãng quên.

Ngày Tết, cầm bánh chưng lên ăn, làm chúng ta nhớ đến tổ tiên để tỏ lòng hiếu thảo như : thăm viếng, chúc tết, giúp đỡ là một lẽ, chúng ta còn phải xin lễ cầu nguyện cho những người đã khuất. Tất cả đều là những nghĩa cử cần thiết, không thể thiếu được.

“Cây có cội, nước có nguồn, con người có tổ có tông: có cha có me,  có ông có bà”. Ai trong chúng ta cũng đều thuộc nằm lòng những câu ca dao tục ngữ của người xưa răn dạy về đạo hiếu đối với mẹ cha.

Tôn kính

Công cha nghĩa mẹ cao dày,

Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ.

Nuôi con khó nhọc đến giờ,

Trưởng thành con phải biết thờ song thân.”

Phụng dưỡng

Còn nữa, phận làm con đối với cha mẹ:

“Khi ấm lạnh ta hầu săn sóc

Xem cháo cơm thay thế mọi bề

Ra vào thăm hỏi từng khi

Người đà vô sự ta thì an tâm.”

          (Nguyễn Trãi, Gia Huấn Ca)

Vâng lời

Dạy sao cho được con hiền

Để cho cha mẹ khỏi phiền về con

Một niềm phép tắc nết na

Biết sống biết kính mới là khôn ngoan.

Có một số người, không biết sống đạo gì mà lại đối xử nhất trọng nhất khinh. Bởi vì đối với người Việt Nam, tương quan với họ hàng gia tộc là điều quan trọng. Lấy vợ, lấy chồng không chỉ là lấy một người mà “lấy” cả họ hàng nhà chồng, nhà vợ. Cách cư xử với họ hàng bên chồng hay bên vợ không chỉ liên quan đến bản thân mà còn liên quan đến cả họ hàng bên mình.

Trong tác phẩm “Gia Huấn Ca” Nguyễn Trãi đã đề cao đạo đức, và chữ hiếu được nhấn mạnh rất rõ:

“Dù nội ngoại bên nào cũng vậy,

Đừng tranh dành bên ấy, bên này,

Cù lao đội đức cao dày,

Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.”

(Nguyễn Trãi, Gia Huấn Ca)

Khi cha mẹ qua đời

Con cái tỏ lòng hiếu kính bằng cách lo an táng chu đáo, cầu nguyện và xin lễ cho cha mẹ. Không những cầu nguyện cho cha mẹ, con cái còn xin cha mẹ cầu nguyện cho mình trước mặt Chúa, như khi còn sống, các ngài vẫn cầu nguyện cho mình.

Hội Thánh Công giáo nhìn nhận đó là một hình thức tốt đẹp để bày tỏ lòng tưởng nhớ công ơn tiền nhân. Hội Thánh khuyến khích các tín hữu phát huy những tinh hoa trong văn hoá dân tộc.

Thực hành chữ hiếu

Trong ngày Mồng Hai Tết năm nay chúng ta hãy nhìn qua lại lòng hiếu thảo của chúng ta đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ để mà yêu mến, biết ơn, vâng lời và giúp đỡ các ngài khi còn sống và đã qua đời. Đồng thời Lời Chúa nhắc cho chúng ta phải thi hành bổn phận thảo hiếu của chúng ta.

Ai mà phụ nghĩa quên công

Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm (Ca dao).

Xin Chúa trả công bội hậu đời này và đời sau cho những bậc đã sinh thành dưỡng dục chúng con, và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các Ngài. Amen. mục lục

KHÔNG CÓ HIẾU LÀ VẤT ĐI

Jos. Vinct. Ngọc Biển, S.S.P

Tôn kính tổ tiên và hiếu nghĩa với ông bà cha mẹ là truyền thống và gia sản tốt đẹp của cha ông ta từ bao đời nay.

Đây là nghĩa cử cao quý mà bất cứ ai, đã sinh ra làm người thì khi đến tuổi khôn đều phải được dạy cho biết gia sản quý báu của dân tộc, đồng thời mỗi người phải coi đây là bổn phận, nghĩa vụ trong lòng mến chứ không chỉ đơn thuần là tình cảm tự nhiên.

Ngược lại, nếu ai sống một cuộc đời bất hiếu, thì có thể kể hạng người đó vào số những người vô giáo dục, hay không phải là con người đúng nghĩa!

Hôm nay, Giáo Hội dành riêng ngày mồng hai tết cổ truyền của dân tộc để mời gọi con cái mình hướng về cội nguồn để cầu nguyện cho các bậc sinh thành, và noi gương sáng của các ngài để lại, hầu có thể làm sáng danh Thiên Chúa, rạng rỡ gia phong và vẻ vang dân tộc… đây chính là: “Của lễ làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Cl 3,20).

1. Đạo hiếu ngày xưa 

Ngày xưa, cha ông ta rất coi trọng chữ hiếu. Chữ hiếu được đưa lên hàng đầu vì: ”Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết, thời suy ra trăm nết đều nên”.

Vì thế, khi đánh giá một người nào, các cụ ta thường hay xem họ có hiếu nghĩa với ông bà, cha mẹ, sống có tình nghĩa với anh chị em trong gia đình và làng xóm không?

Còn khi chọn ai đó làm quan, nhà vua thường dựa trên quy luật: “Tướng – Hàm –Hiếu”. Tức là phải có tướng mạo, học hành giỏi giang và có hiếu với bậc sinh thành. Tuy nhiên, hiếu nghĩa quyết định người đó đậu hay không.

Khi người xưa coi trọng chữ hiếu như vậy, các bậc tiền bối của chúng ta coi chữ hiếu là căn cốt, là bản lề, là cột trụ trong việc hình thành nhân cách cũng như nền tảng xây dựng xã hội và nghề nghiệp.

Theo truyền thống Nho giáo, trong các tội người ta phạm thì tội bất hiếu là tội nặng nhất, bởi lẽ: “Người ta có cha có mẹ, không ai ở chỗ nẻ chui lên”, nên: “Người ta có cố có ông, như cây có cội như sông có nguồn”.

Vì thế, người thời xưa, sáng ngày mồng một, con cháu quy tụ về nhà tổ để làm lễ gia tiên với người đã khuất, sau đó đến phần bày tỏ hiếu nghĩa với người còn sống.

2. Đạo hiếu ngày nay

Trên đây là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta khi nói và sống chữ hiếu. Còn ngày nay thì sao?

Nếu ngày xưa, nhà nhà, người người coi lễ giáo gia phong, tôn ty trật tự, hiếu nghĩa thảo hiền là điều quan trọng không thể thiếu trong các mối tương quan, thì ngày nay, có khi: “Mò kim đáy biển”.

Vì thế, trong những ngày giáp tết vừa qua, trên các trang mạng xã hội có đăng tải những tấm hình gây nhiều chú ý, bức xúc kèm theo những lời kết án gắt gao, đó là: hình ảnh một bà cụ già trạc 90 tuổi, bị nhốt dưới bếp và khóa trái cửa, cụ đẩy cửa và nhìn hé ra ngoài, bên dưới là lời nói: “Con ơi, mở cửa cho mẹ, mẹ không lên phòng khách đâu!!!”. Rồi hình ảnh khác, một bà cụ ngồi vệ đường với bát cơm trộn. Cụ vừa ăn vừa khóc! Bên dưới có lời bình: “Cuộc đời vất vả nuôi con, cầu mong con lớn, nhờ con về già! Vậy mà khi tuổi xế tà, sức lực cạn kiệt thân già ốm đau. Con cái thì lại ganh nhau, chăm được ba bữa càu nhàu rên la. Mẹ già cay đắng lệ xa, bát cơm chan lệ như là chan canh”. Ôi đọc mà đau nhói con tim, tê tái tâm hồn!

Rồi nhìn chung quanh, có khi không chừng, ngay cả trong nhà thờ này, vẫn còn đó những đứa con bất hiếu, vô giáo dục khi đối xử với thậm tệ với cha mẹ!

Vì thế, vẫn thấy đây đó nhiều bậc cha mẹ phải bỏ nhà ra đi hay bị đuổi ra khỏi nhà vì cảnh con dâu quá láo, con trai phụ bạc, các cháu hỗn hào… Ôi thật đau xót biết chừng nào!!!

Những hạng người bất hiếu trên, có lẽ họ quên mất một quy luật tất yếu, đó là: “Sóng trước vỗ đâu, sóng sau vỗ đó”.

Có một câu chuyện kể rằng: một hôm, anh con trai mua một cái sọt, rồi nhốt cha già trong đó và mang vào rừng bỏ đói cho chết. Thấy vậy, con trai anh tuy còn nhỏ, nhưng đã ý thức và đau xót nên nói với cha mình rằng: “Ba đem ông vào rừng rồi sau đó mang sọt về cho con nhé”. Người cha liền hỏi: “Mang về làm gì?” Người con đáp: “Để sau này có cái mà nhốt cha!”. Đây quả là quy luật tất yếu dành cho kẻ bất hiếu.

3.  Đạo hiếu trong truyền thống Công Giáo

Đối với người Công Giáo, đạo hiếu không chỉ là một bổn phận phải có đối với các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ, mà còn là đòi hỏi, là lệnh truyền, là giới răn của chính Thiên Chúa.

Trong thập giới, Thiên Chúa dành ra giới răn thứ tư để truyền phải giữ, đó là: “Thảo kính cha mẹ”. Giới răn này chỉ đứng sau những giới răn tôn thờ Thiên Chúa. Như vậy, ngoài bổn phận với Thiên Chúa, người Công Giáo phải trung thành tuân giữ lòng hiếu nghĩa với tổ tiên.

Khi hiếu kính với tổ tiên, chúng ta sẽ được Thiên Chúa chúc phúc và tha thứ lỗi lầm, vì: “Ai tôn thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu” (Hc 3,3-4). Thánh Phaolô thêm: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6,1-3); vì: “Ai vâng lời cha mẹ trong mọi sự sẽ đẹp lòng Chúa” (Cl 3,20) và sẽ được Thiên Chúa sẽ nhận lời người hiếu nghĩa cầu xin (x. Hc 3,8).

Còn với Đức Giêsu, ngài nhắc lại và kèm theo cảnh báo: “Ngươi hãy thờ kính cha mẹ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử” (Mt 15,4).

4. Thi hành việc hiếu nghĩa

Như những gì đã chia sẻ ở trên, chúng ta thấy chữ hiếu đối với người Công Giáo thật là quan trọng, nó kéo theo việc được chúc lành hay chúc dữ tùy vào thái độ của chúng ta.

Thiết nghĩ, ngay trong giây phút này, mỗi người hãy làm mới lại tinh thần hiếu nghĩa đối với tổ tiên, ông bà cha mẹ.

Trước tiên, chúng ta hãy cầu nguyện, kết hợp với những hy sinh để cầu cho linh hồn các bậc tổ tiên đã ra đi, đồng thời cầu nguyện cho những bậc còn sống được bình an. Hãy nhớ nằm lòng câu ca dao sau: “Cây có gốc mới nở ngành sinh ngọn. Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu. Người ta có gốc từ đâu! Có cha có mẹ rồi sau có mình”.

Thứ đến, hãy vui vẻ lễ phép, chăm lo cơm cháo, đồng quà tấm bánh, nhất là lo thuốc thang khi các ngài ốm đau bênh tật. Sống yêu thương, kính trọng như lời Kinh Thánh dạy: “Con ơi, hãy săn sóc cha con khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người.  Vì lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi con” (Hc 3,12-14).

Cuối cùng, nếu ai đã hỗn sược, lếu láo với bậc sinh thành, ngay lập tức, sau thánh lễ này, hãy xin lỗi các ngài và quyết tâm sửa sai. Nên nhớ rằng, đây là điều kiện để được Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cho mình hay không.

Ước gì, trong dịp tết năm nay, nhất là trong ngày cầu cho tổ tiên, cũng như hằng ngày trong đời sống, mỗi người chúng ta phải thực sự là tấm gương cho con cháu về lòng hiếu nghĩa với các bậc tổ tiên, để như một quy luật tất yếu, con cái sẽ noi gương và báo đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của chúng ta hôm nay và ngày mai. Amen. mục lục

GIÊSU THÀNH NADARÉT VÀ ÁNH SÁNG ISAIA

CHÚA NHẬT III-A THƯỜNG NIÊN

Is 9:1-4; 1Cr: 10-13,17-18; Mt 4:12-23

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Bài đọc 1 sách tiên tri Isaia (Is 8:23-9:3) và đoạn Phúc Âm Mátthêu hôm nay (Mt 4:12-23) đưa chúng ta trở lại quang cảnh Giáng Sinh. “Những người đi trong bóng tối nhìn thấy ánh sáng; những người sống trên mảnh đất tối tăm dày đặc đã được ánh sáng chiếu rọi chan hòa.” Lời các thiên thần loan báo cho các mục đồng về một con trẻ vừa mới sinh ra: Tuyệt vời, Vinh quang Thiên Chúa uy quyền, Bình an vô tận… (Is 9:6). Chúng ta cũng được nghe lời tiên tri Isaia ở bài đoc 1 trong Lễ Nửa Đêm Vọng Giáng Sinh.

Những kẻ đang đau khổ buồn phiền vì phải sống trong bóng tối dày đặc và miền Galile trong vùng Zebulun và Naphtali (những vùng nằm giữa Biển Galile và biển Địa Trung Hải) nay được an ủi khuyến khích. Trong bài Phúc Âm, lời tiên tri Isaia nói tới ánh sáng chiếu rọi trên Zebulun và Naphtali (Is 8:22-9:1) đã ứng nghiệm nơi Đức Giêsu ngụ tại Capharnaum. Phần lớn miền Galile và quanh vùng biển này là nơi Chúa Giêsu thực hiện muc vụ, cũng được nói đến trong Cựu Ước.

MIỀN ĐẤT DÀY ĐẶC BÓNG TỐI 

Ngay trước chương 9, Isaia đã diễn tả bóng tối và cảnh sầu thảm đổ lên xứ Juda và vương quốc phương Bắc như một bức tranh rất ghê sợ. Điều đó có ý nghĩa gì và tại sao? Sau khi vua Ahaz và thần dân của ông đã từ chối Lời Chúa (Is 7:10-12; 8:6a) thì Chúa tuyên bố sẽ dấu mặt khỏi nhà Jacob (Is 8:17) là dấu hiệu Chúa nổi giận. Vào lúc Thiên Chúa buồn bực và nổi giận thì dân chúng lại chạy đi cậy nhờ cô đồng bà bóng và phù thủy (Is 8:19). Theo Isaia thì quả là kỳ cục vì người sống lại đi cậy nhờ người chết. Những câu (Is 8:16-22) cho thấy số phận thê thảm có thể xẩy ra cho dân chúng là: “Không có bình minh” (Is 8:22), và chỉ toàn là đói khát khổ ải. Họ thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần. Tâm trí thì đen tối, tinh thần thì rối loạn. Họ nổi khùng và oán trách cả ông vua tội lỗi của họ lẫn Thiên Chúa. Họ sống không hy vọng, không ủi an. Ngẩng mặt lên trời hay đưa mắt nhìn xuống đất, họ cũng chỉ thấy toàn  là bóng tối dày đặc và sầu thảm, nhưng buồn thay họ lại tin tưởng vào cái bóng tối âm u ấy (Xh 10:22; Tl 28:29).

Bóng tối ấy xâm nhập vào tâm trí và linh hồn họ, làm cho cuộc sống của họ thành vô nghĩa. Tuy nhiên bóng tối và nỗi sầu buồn đó không phải là những lời buộc tội cuối cùng của Isaiah, chính trên miền đất đó vẫn có một ánh sáng vĩ đại đang chiếu rọi. Ánh sáng hy vọng đó sẽ xẩy ra trong một khung cảnh và địa danh, vào một thời điểm và theo một cung cách hoàn toàn bất ngờ. Con Thiên Chúa xuống thế làm người.

HY VỌNG CỦA ISAIA DÀNH CHO DÂN PHƯƠNG BẮC 

Chương 9 sách Isaia lại hoàn toàn khác với chương 8. Câu đầu tiên (9:1) là câu chuyển tiếp từ bóng tối (8:22), Isaia tuyên bố sứ điệp Hy Vọng và An Ủi. Bóng tối âm u sầu khổ ra đi nhường bước cho Ánh Sáng vĩ đại và vui mừng. Dân chúng không còn phải than khóc vì nghi hoặc và trống rỗng, bạo động và áp bức. Sứ điệp ở những câu (Is 9:1-7) ám chỉ những kẻ đang đau khổ sầu muộn, bóng tối trên miền đất này đã làm cho cuộc sống của con người thành bất khả dụng, tràn ngập bong tử thần, nhưng nó phải tiêu tan vì Ánh Sáng Hy vọng và An ủi đã đến 

Kết quả tiên khởi của ánh sáng vĩ đại ấy là kẻ độc tài áp bức Assyri phải ra đi vì bị đánh bại như Midan vậy (Thp 6). Chỉ sau cuộc thất bại như thế mới có cuộc giải giới và hòa bình thực sự. Những hình thức áp bức dưới chế độ Assyri sẽ không còn, như ách nặng đè trên vai, roi trượng của tên đốc công bị bẻ gẫy (Is 9:3-4), chiến bào dùng làm mồi lửa (Is 9:5). Sự phá hủy những chiến cụ báo hiệu thời đại hòa bình đã đến, được diễn tả một cách tượng hình như “Kiếm gươm sẽ bị bẻ gẫy để đúc lưỡi cày, giáo mác thành giao quắm để làm rẫy tỉa cây; các quốc gia không còn chiến tranh, hận thù chống đối nhau nữa.” (Is 2:4). 

MỤC VỤ CỦA CHÚA GIÊSU TRÊN BIỂN GALILE VÀ VIỆC KÊU GỌI CÁC TÔNG ĐỒ.

Để việc chúa Giesu di chuyển đến sống tại Capharnaum phù hợp với lời tiên tri Isaia, Mátthêu đã nói thành phố này “ở trong vùng Zebulun và Naphtali” (Mt 4:13), nhưng thực ra nó nằm trong phần đất của Naphtali; và tiên tri nói là biển Địa Trung Hải, thì Mátthêu hiểu là biển Galile. Khi Chúa Giêsu di chuyển dọc theo miền duyên hải Galile, và trên mặt biển Galile, ánh sáng Chúa đả chiếu tỏa trên nhiều người đã từng chứng kiến cảnh xâm lăng, chiếm đóng, bạo động và tàn phá của chiến tranh trên toàn vùng Zebulun và Naphtali. 

Trong Tin Mừng Máccô và Mátthêu, cuộc gặp gỡ đầu tiên của Chúa Giêsu với các môn đệ được kể lại rất vắn gọn (Mc 1:16-20; Mt 4:18-22). Khi đi dọc theo ven biển Galile, Chúa Giêsu gặp Simon và anh của ông là Anrê, là dân thuyền chài đang thả lưới bắt cá, Chúa bèn nói : “Hãy theo ta, ta sẽ làm cho các ngươi trở thành kẻ bắt cá người”. Ngay lập tức, họ bỏ lại thuyền lưới và mọi sự rồi đi theo Chúa. Một lúc sau, Chúa gặp Giacôbê và Gioan, con ông Dêbêđê đang ngồi trên thuyền vá lưới. Chúa Giêsu cũng kêu gọi họ cùng một cách thức như vậy và các ông đã bỏ cha mẹ, bạn bè và cả gia nghiệp đi theo Chúa. Đối với Chúa Giêsu và những người Chúa gọi, thì Biển là nơi và cơ hội để họ trở lại. Cũng dọc theo bờ biển, Chúa Giêsu đã kêu gọi nhiều người khác theo Chúa để làm mục vụ và đến với những người nghèo khó bệnh hoạn như lời tiên tri nói. Sứ vụ tông đồ là một công tác chính danh và có tính ngôn sứ, nó đi vào những nơi đầy dẫy xung đột, tranh chấp, đau khổ, phiền muộn, hận thù, bạo động và chiến tranh, nó luôn luôn mở lòng, giang hai tay rộng để đón chào và giúp đỡ kêu gọi mọi người đến với mình. 

LỚI GIOAN TIỀN HÔ ĐÃ ĐƯỢC ỨNG NGHIỆM NƠI ĐỨC GIÊSU. 

Khi bắt đầu sứ vụ rao giảng (Mt 4:17), Chúa Giêsu đã dùng lời của Gioan Tiền Hô (Mt 3:2) nhưng với một ý nghĩa khác. Trong công tác mục vụ của Chúa, chúng ta thấy vương quốc nước trời đã bắt đầu hiện diện (Mt 12:28). Khi kêu gọi các môn đệ đầu tiên (Mt 4:18-22), Chúa Giêsu đã hứa chia sẻ với họ sứ vụ của Chúa là phải lìa bỏ gia đình và cuộc sống cũ. Ba trong bốn người là Simon, Giacôbê và Gioan là những môn đệ đặc biệt đã sống cận kề và sát ý nhất với Chúa Giêsu (Mt 17:1; 26: 37). Theo Mátthêu (Mt 4:20-22) và Máccô (Mc 1:16-20), họ được Chúa gọi trực tiếp, nhưng theo Luca thì khác (Lc 5:1-11), đáp ứng của họ được thúc đẩy bởi một sức mạnh đầy huyền bí của Chúa Giêsu. Nó luôn luôn có trước, trong và sau cuộc sống của những người được Chúa gọi. Việc trở lại thường là một tiến trình từ từ, đòi hỏi thời gian. Nhưng cũng có khi việc trở lại thật bất ngờ như sét đánh. 

Được Chúa gọi là một đặc ân vượt sức tưởng tượng của con người. Những người được Chúa gọi cũng không phải là những người đặc biệt, xuất chúng. Họ là những người rất bình thường, cũng yếu đuối, cũng từng làm hỏng việc của Chúa, ngay cả hiểu sai Lời Chúa, họ cũng từng chối từ Chúa và sa ngã. Các môn đệ được mô tả trong Tin Mừng thường là những người đầy lòng trắc ẩn thương người, bởi vì Tin Mừng là môi trường để cho những người muốn phấn đấu cho những ước mơ của mình, cũng như cho những người có khi quên cả lời kêu gọi để làm những việc cao cả. Đó là những người như chúng ta. Theo Chúa Giêsu là một mạo hiểm, cũng như thay đổi cách sống vậy. Mỗi người chúng ta đều được kêu gọi để giảng dạy Lời Chúa và chữa lành ‘con bệnh’ một cách can đảm và thương người như Chúa đã làm.

LIÊN HỆ GIỮA CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC 

 Hôm nay chúng ta lại suy ngẫm về Tông thư Lời Chúa / Verbum Domini của ĐGH Biển Đức XVI nói về “Lời Chúa trong cuộc sống và sứ mệnh của thế giới”, đồng thời quan sát mối tương quan giữa Cựu Ước và Tân Ước (# 40-41). 

# 40- “….Ngoài ra, chính Tân Ước tự nó đã phù hợp với Cựu Uớc và cho thấy Kinh Thánh của người Do Thái đã được ứng nghiệm hoàn toàn qua màu nhiệm sự sống, cái chết và phục sinh của Chúa Kitô. Tuy nhiên, quan niệm về sự ứng nghiệm của Kinh Thánh là một quan niệm phức tạp, vì nó có ba chiều kích: dạng thức căn bản của sự nối tiếp với tính khải huyền trong cựu ước, dạng thức đứt đoạn, dạng thức ứng nghiệm và tính siêu việt. Màu nhiệm Chúa Kitô có giá trị nối tiếp nghi thức thánh của Cựu Ước, nhưng nó hình thành một cách rất khác lạ, tương ứng với một số lời tiên tri, do đó nó đạt tới mức hoàn hảo mà trước kia chưa bao giờ có được. Cựu Ước tự nó đã đủ cân bằng giữa những dạng thức tổ chức và ngôn sứ. Mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô dù dưới một hình thức khác mà ta không thể đoán trước được là để cho phù hợp với những lời tiên tri và những tượng hình nói trong Kinh Thánh. Tuy nhiên nó cũng cho thấy có sự đứt đoạn rõ ràng giữa những tổ chức của Cựu Ước. 

# 41- “Những nhận định này giúp người Kitô hữu hiểu được sự quan trọng duy nhất của Cựu Ước, đồng thời đưa ra một cách cắt nghĩa mới về Kitô học. Từ thời các thánh Tông đồ và Thánh Truyền, Giáo Hội đã nhấn mạnh đến tính hiệp nhất của kế hoạch của Thiên Chúa trong hai Giao Ước qua cách dùng tượng hình học; phương pháp này không có gì làm tiêu chuẩn cả, nhưng những biến cố đó tự bản chất nó có liên hệ đến bản văn thánh và vì vậy nó liên quan đến toàn thể Kinh Thánh. Tượng hình học “phân biệt những công trình của Thiên Chúa trong Giao Ước cũ được tượng hình qua công việc Người hoàn thành trong thời gian đầy đủ nơi Con Một người nhập thế.” Vì vậy, người Kitô hữu đọc cựu ước dưới ánh sáng Chúa Kitô chịu chết và sống lại. 

Đứng trên quan điểm của Tân Ước, cách cắt nghĩa kiểu tượng hình cho thấy nội dung của cựu ước vô cùng phong phú, nhưng cũng đừng quên rằng Cựu Ước vẫn giữ giá trị cố hữu của nó về tính khải huyền, như chính Chúa đã quả quyết (Mc 12:29-31). Vì vậy, Tân Ước phải được đọc dưới ánh sáng của Cựu Ước. Sách Giáo lý dành cho những Kitô hữu thời sơ khai luôn luôn là Cựu Ước (1 Cr 5:6-; 1Cr 10: 1-11)”. Vì lý do này, thượng hội đồng các Giáo phụ đã đưa ra nhận định: “Sự hiểu biết kinh thánh của người Do Thái có thể giúp người Kito hữu hiểu và tự  nghiên cứu Kinh Thánh”. 

“Tân Ước dấu mình trong Cựu Ước, và Cựu Ước biểu hiện mình trong Tân Ước” như thánh Augustinô đã nhân định. Do đó, thật là quan trọng, về cả hai phương diện mục vụ và nghiên cứu, sự liện hệ mật thiết giữa hai giao ước đã được sáng tỏ như lời quả quyết của thánh Grêgôriô Cả là “Điều mà Cựu Ước hứa thì Tân Ước biểu hiện cho thấy; điều mà cựu ước thầm kín loan báo thì Tân Ước tuyên bố công khai. Vì vậy Cựu Ước là lời Tiên tri về Tân Ước. Bình luận về  Cựu Ước tuyệt hảo nhất chính là Tân Ước.”

ĐÔI LỜI KẾT: ÍT VẤN NẠN VỀ SUY TƯ TRONG TUẦN 

Tuần này, dưới ánh sáng Kinh Thánh, chúng ta nên dành ra ít phút để tự vấn mình: Những giây phút trở lại của chúng ta là gì? Những kinh nghiệm nào hay người nào trong cuộc sống của chúng ta đã là khí cụ giúp cho niềm tin mình trở nên thâm trầm vững mạnh hơn? Ai là khí cụ, nhân vật chính trong cuộc trở lại của chúng ta? Chúng ta đã hành động cụ thể ra sao khi trở lại? Chúng ta có mời gọi hay khuyên nhủ ai trở lại không? Là môn đệ Chúa Kitô, chúng ta có thể chia sẻ sứ mệnh giảng huấn và chữa lành của Chúa bằng phương cách nào ở thời đại ngày nay? mục lục

ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN

JM. Lam Thy ĐVD

Phụng vụ Lời Chúa trong những Chúa Nhật trước đã làm công việc giới thiệu Chúa Giê-su và sứ vụ của Người. Tin Mừng hôm nay (Mùng hai Tết Canh Tý 2020 – CN III/TN-A – Mt 4, 12-23) trình thuật Người bắt đầu thi hành sứ mệnh Chúa Cha trao phó. Việc Chúa Giê-su khởi đầu sứ vụ đưa tín hữu đến một viễn tượng mới, hay nói đúng hơn, tới một cuộc tạo dựng mới, và mời gọi mọi người hãy để cho lời giảng dạy và những việc làm của Chúa từ từ biến đổi bản thân người tín hữu thành thụ tạo mới theo khuôn mẫu là Đức Giê-su Ki-tô. Đúng là tinh thần Năm Mới Hồng Ân.

Khung cảnh khởi đầu sứ vụ của Chúa Giê-su là bối cảnh miền đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, “vùng đất của dân ngoại” và “dân đang lần bước giữa tối tăm” (bài đọc 1 – Is 8, 23b –9,3). Đó cũng là hình ảnh ngôn sứ I-sai-a dùng để ám chỉ thế giới tội lỗi và u tối này sẽ được ánh sáng Tin Mừng Chúa Ki-tô chiếu rọi. Nơi ấy, Chúa Giê-su sẽ thi hành một sứ mệnh quan trọng: phá tan bóng tối tội lỗi và đem lại niềm vui, bẻ gãy cái ách tội lỗi đã khoác lên vai con người.  

Mở đầu bài Tin Mừng hôm nay, Thánh sử Mat-thêu viết: “Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a nói: Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.” (Mt 4, 12-16).  

Nước Do Thái có ba miền: Ga-li-lê (miền bắc), Sa-ma-ri (miền trung) và Giu-đa (miền nam). Giáo đô của Do Thái giáo là Giê-ru-sa-lem thuộc xứ Giu-đa, xứ này là vùng đông người có đạo Do Thái nhất. Xứ Sa-ma-ri là miền tạp chủng, tuy cũng có người theo Do Thái giáo, nhưng đa phần bị pha trộn với tôn giáo khác, nên bị người Giu-đa khinh thường và coi như dân ngoại. Còn xứ Ga-li-lê là “miền đất của dân ngoại” (Mt 4, 15) hoàn toàn. Ga-li-lê thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, là vùng đất mà “Thời đầu, Người đã hạ nhục đất Dơ-vu-lun và đất Náp-ta-li, nhưng thời sau, Người sẽ làm vẻ vang cho con đường ra biển, miền bên kia sông Gio-đan, vùng đất của dân ngoại.” (Is 8, 23). Vậy mà Đức Giê-su lại là người sinh trưởng tại Na-da-rét thuộc xứ Ga-li-lê. Các tông đồ mà Người tuyển chọn, hầu hết đều là dân Ga-li-lê. Một vấn nạn nảy sinh: Tại sao Thiên Chúa không để Đức Giê-su và các tông đồ của Người xuất thân ở vùng đất Giu-đa là vùng của đạo Do Thái, mà lại xuất thân từ vùng Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại?

Thực ra, chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã được tiền định từ trước vô cùng. Đấng Thiên Sai Con Một Thiên Chúa là Đấng phải đến và Người đã đến với những người bệnh hoạn, tật nguyền, tội lỗi ("Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: "Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." – Mt 9, 12-13). Và vì thế, ngôn sứ I-sai-a mới tiên báo: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.” (Is 9, 1). Cũng chính Đấng Cứu Độ đã khẳng định: “Chính tôi là ánh sáng cho trần gian.  Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” (Ga 8, 12). Người là Ánh Sáng, mà ánh sáng chỉ có tác dụng với bóng tối, nên Người đến với bóng tối để chiếu tỏa ánh sáng huy hoàng. Đó là lý do giải thích vì sao Đức Giê-su xuất thân từ vùng dân ngoại Ga-li-lê (dân ngoại còn sống trong bóng tối sự chết, rất cần ánh sáng đem lại sự sống, đó là điều tất nhiên).

Quả thật, ánh sáng là những gì tốt đẹp quang minh, đối nghịch với bóng tối là những gì u ám, tối tăm. Bản chất của bóng tối không phải là xấu, một cuộc đời sống trong đêm đen cũng chưa có gì đáng chê trách (còn đáng thương nữa là khác), nếu chưa làm điều gì xấu, mà chỉ vì chưa tìm được ánh sáng thôi. Tuy nhiên, nó sẽ trở nên thật tồi tệ, nếu con người sống trong đêm đen lại lợi dụng bóng tối để làm chuyện mờ ám. Thật thế, chỉ những người chuyên làm điều xấu mới thích bóng tối vì nó có thể giúp che giấu được những hành động hắc ám. Họ rất ghét ánh sáng vì ánh sáng sẽ lột trần dã tâm của họ (“Ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách.” – Ga 3,20-21). Đức Giê-su Ki-tô chính là ánh sáng không những đã được tiên tri từ 5 thế kỷ trước (Is 49, 6), mà ngay người môn đệ ưu ái của Người là Gio-an thánh sử – một nhân chứng sống động, thực tế nhất – cũng khẳng định về Ngưới: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3, 19). Quả thật, bóng tối không xấu mà chỉ có hành động xấu được thực hiện trong bóng tối. Người ta chuộng bóng tối hơn ánh sáng chính là vì vậy. 

Nước Trời là nơi sáng láng tốt đep, chan hoà ánh sáng. Nếu được sống trong Nước Trời, chắc chắn sẽ vô cùng hạnh phúc, sung sướng. Đáng lẽ phải hân hoan vui mừng khi thấy Nước Trời đã đến gần, chớ lẽ đâu lại ăn năn khóc lóc (sám hối) như lời Thánh Gio-an Tẩy Giả ("Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần." – Mt 3, 2) ? Mấu chốt vấn đề chính ở điểm này: Nước Trời đến gần cũng có nghĩa là ngày cánh chung đã cận kề, mà ngày cánh chung là ngày phải trả lẽ “vàng ra vàng, thau ra thau” chớ không thể vàng thau lẫn lộn. Muốn được vậy, phải thử lửa. Chỉ có lửa mới xác định được đâu là vàng thật, đâu là vàng giả (“Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa” – 1Pr 1, 7). Nhưng nếu đợi đến lúc ngày cánh chung đã tới thực sự, thì liệu còn kịp để thử lửa không? Vì thế mới cần phải nhìn lại mình trước, thử lửa trước, để xác định được bao nhiêu phần trăm con người của mình là vàng, bao nhiêu là thau, rồi tôi luyện cho thật chín, đúng với chất lượng của vàng ròng. Việc thử lửa, tôi luyện ấy, chính là sám hối. 

Vả lại, Lời dạy của Đức Ki-tô: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” cho thấy Người là ánh sáng thật, nên Người cũng muốn tất cả những môn đệ của Người phải là ánh sáng. Mới thoạt nghe Lời dạy của Người, thì có vẻ sung sướng hãnh diện, nhưng nghĩ cho kỹ, suy cho cùng, sẽ thấy không dễ gì trở nên ánh sáng thật sự được. Người Ki-tô hữu chỉ có thể là một tấm gương trung thực phản chiếu Ánh Sáng Chúa Ki-tô như trong đêm vọng Phục Sinh vẫn thường được tuyên xưng và chia sẻ cho mọi người. Mà muốn là tấm gương trung thực phản chiếu “Ánh Sáng Chúa Ki-tô”, thì điều kiện tiên quyết vẫn phải là một tấm gương trong sạch, không bụi bẩn, không tì vết. Một cách cụ thể, để phản chiếu trung thực Nguồn Ánh Sáng Cứu Độ, anh cần phải sống đủ, sống đúng vai trò một Ki-tô hữu trong cộng đồng, để mọi người nhìn anh và nhận ra đó là môn đệ chính tông (tông đồ) của Vua Ánh Sáng Giê-su Ki-tô ("Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau." – Ga 13, 35). 

Nói cách khác, anh hãy sống làm sao để thật sự là một “chứng nhân sống” cho ánh sáng chân lý Tin Mừng Cứu Độ, bởi sống chứng nhân chính là một phương cách rao giảng hiệu quả nhất, như Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu (số 3) viết: “Không thể nào có công bố Tin Mừng thực sự, nếu các Ki-tô hữu không đồng thời lấy đời sống mình làm chứng, đi đôi với sứ điệp mà mình rao giảng …”, hoặc như Sắc lệnh về hoat động Truyền Giáo của Giáo Hội (số 36) viết: “Tuy nhiên, mọi người phải biết rằng bổn phận đầu tiên và quan trọng nhất đối với việc truyền bá đức tin là sống sâu xa đời sống Ki-tô hữu. Vì chính khi nhiệt thành phụng sự Thiên Chúa và bác ái đối với tha nhân, họ mang lại cho toàn thể Giáo Hội một cảm hứng tinh thần mới và làm cho Giáo Hội xuất hiện như một dấu chỉ nổi lên giữa các dân, là “ánh sáng thế gian” (Mt 5,14) và là “muối đất” (Mt 5,13).” 

Tóm lại, người Ki-tô hữu phải làm sao cho mình thực sự xứng đáng là “muối cho đời”, là “ánh sáng cho trần gian”, như Lời của Đấng là Ánh Sáng đã chúc phúc: “ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 6, 16). Thật thế, “Lịch sử cứu rỗi càng diễn tiến, ta càng thấy rõ Thiên Chúa muốn làm cho mọi người được chung chia sự chúc phúc này như anh chị em, một chúc phúc đạt tới viên mãn nơi Chúa Giê-su, để mọi người trở nên một. Tình yêu vô bờ của Chúa Cha cũng đến với ta, trong Chúa Giê-su, qua anh chị em ta. Đức tin dạy ta biết nhìn ra rằng mọi người nam nữ đều tượng trưng cho một chúc phúc đối với tôi, rằng ánh sáng gương mặt Chúa chiếu sáng lên tôi qua gương mặt của anh chị em tôi.” (Tông thư Ánh sáng Đức Tin “Porta Fidei”, số 54).

Vâng, và vì thế nên mới cần, rất cần nhìn lại mình, xem mình đã là một Ki-tô hữu gương mẫu chưa? Chắc chắn là chưa, bởi anh vẫn chỉ là con người, chưa phải là thánh. Nên chi anh phải tự sám hối trước. Sám hối vì những tì ố, nhơ uế, nhưng còn phải canh tân cho đời sống ngày càng tốt đẹp hơn. Sám hối và canh tân như Thánh GH Gio-an Phao-lô II hằng kêu gọi trong suốt triều đại của ngài. Chỉ có như thế, anh mới có thể vui mừng vì được làm “ánh sáng cho trần gian” (“Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục? Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông.” – Is 58, 7-8). 

Chúa nhật III thường niên năm A nhằm đúng ngày Mùng Hai Tết Canh Tý “Kính nhớ Tổ tiên”. Chính đây là dịp để người Ki-tô hữu Việt Nam nhìn lại mình xem thử mình đã xứng đáng là con cháu của Tổ tiên chưa? Nhiên hậu hãy tôi luyện như vàng thử lửa. “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Lửa là sức nóng thiêu cháy những mờ ám đen tối, lửa còn là sức mạnh hun đúc tâm can, sưởi ấm cõi lòng, tăng cường dũng khí, đồng thời lửa cũng tự thân phát ra ánh sáng. Ngọn lửa đó chính là Thần Khí Chúa. Người Ki-tô hữu ngày hôm nay còn chần chờ gì nữa mà không biết cầu nguyện xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, để cậy nhờ Thần Khí Chúa biến đổi con người của mình thực sự trở nên “muối cho đời và ánh sáng cho trần gian”. Ước được như vậy. mục lục

ĐIỀU CON ƯỚC NGUYỆN

Chúa đã đến trong con, Ngài phán hỏi:

“Mùa Xuân này con ước nguyện điều chi?”

(Ôi ! Lạy Chúa, con vô cùng bối rối,

Biết trả lời sao khi ngấn lệ tràn mi!).

Cũng bởi vì con lo điều ước nguyện,

Quá to lớn so với tấm lòng con,

Nhưng giờ đây vững lòng Tin + Cậy + Mến,

Xin giãi bày, lạy Thiên Chúa của con!

Vâng, lạy Chúa, con dâng lời kính cẩn

Để thân thưa: Chúa thấu suốt mọi điều

Cả nhân  loại đang lâm cơn địa chấn

Trái đất này chẳng khác một lò thiêu.

Tội lỗi ngập tràn, lòng người điên dại

Mãi quay cuồng trong cơn lốc vô nhân,

Lạy Chúa! Lạy Chúa! Hồn con tê tái,

Ước nguyện chi cho khắp cả gian trần?

Ôi! Lạy Chúa, xin đổ mưa nhân ái,

Gió an bình và nắng ấm hồng ân,

Cho con người thắm nhuần tình thân ái,

Vũ trụ này mãi mãi là mùa Xuân.

JM. Lam Thy ĐVD

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan