SUY NIỆM LỄ NẾN - CHÚA NHẬT IV TN_A

31-01-2020 505 lượt xem

Ml 3:1-4; Dt 2:14-18; Lc 2:22-40/2:22-32

Mục Lục

ÁNH SÁNG MUÔN DÂN+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

TUÂN HÀNH Ý CHÚA Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

CÂY NẾN SÁNGJM. Lam Thy ĐVD

CHÚA GIÊSU LÀ ÁNH SÁNG CHIẾU SOI MUÔN DÂN Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

ĐỌC LẠI NHỮNG ĐIỀU KỲ DIỆULm. JB. Nguyễn Minh Hùng

LỄ DÂNG ĐỨC GIÊSU TRONG ĐỀN THÁNHBác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

CỬA THÁNHTrầm Thiên Thu

CĂN CƯỚC CỦA KI-TÔ HỮUJM. Lam Thy ĐVD

TUYÊN NGÔN TÂM LINHTrầm Thiên Thu

DÂNG CON CHO CHÚA Viễn Dzu Tử

HIẾN CHƯƠNG NƯỚC TRỜI (Thế Kiên Dominic)

Ý NGHĨA CÂY NÊN TRONG ĐẠO CÔNG GIÁO - Phêrô Nguyễn Đình Diễn dịch 

ÁNH SÁNG MUÔN DÂN 

+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

Từ truyền thống xa xưa, ngày lễ được cử hành vào ngày 2-2 dương lịch được gọi là “Lễ Nến”, bởi trong thánh lễ có nghi thức làm phép Nến. Có một thời, người ta coi ngày lễ này là lễ kính Đức Maria, dựa trên trình thuật của Thánh Luca về việc Đức Maria mang lễ vật dâng vào đền thờ, để được thanh tẩy như luật định. Từ năm 1969 lễ này không còn thuần ý nghĩa lễ dành kính Đức Maria, nhưng được đổi thành lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thờ, với mục đích quy hướng chúng ta về Chúa Giêsu, Đấng Thiên sai đã đến trần gian để cứu độ nhân loại

Khi gọi ngày lễ này là lễ “Dâng Chúa Giêsu vào Đền thờ”, phụng vụ muốn nhắc tới sự kiện Đức Mẹ và Thánh Giuse thực hiện điều được quy định trong luật Môi-sen. Đây là những quy định chúng ta có thể đọc thấy trong sách Xuất Hành, sách Lêvi và sách ngôn sứ Isaia ( Xh 13,11-16; Lv 12,1-8; Is 88,14f;42,6). Nội dung những khoản Luật này nói về nghi thức dâng con đầu lòng cho Chúa vào thời điểm khoảng 40 ngày sau khi con trẻ được sinh ra. Nghi thức này vừa khẳng định những trẻ nam đầu lòng thuộc về Chúa, vừa là nghi thức thanh tẩy đối với người phụ nữ sau khi sinh. Bởi lẽ, theo quan niệm Do Thái xưa kia, sau khi sinh con, người phụ nữ trở thành “ô uế”.

Đức Mẹ và Thánh Giuse cũng làm theo luật đã ghi chép, tức là đem Hài Nhi Giêsu dâng cho Chúa. Theo Thánh Luca, nghi thức dâng Chúa Giêsu trong đền thờ Giêrusalem theo luật định lại trở nên cuộc gặp gỡ kỳ diệu: Hai người đạo đức Ông già Simêon và Bà Anna được hạnh phúc bồng bế hài nhi Giêsu trên tay mình. Họ là những người từ nhiều năm hằng trông đợi Đấng Cứu Thế mà Thiên Chúa đã hứa. Qua cuộc gặp gỡ này họ đã nhận ra hài nhi Giêsu là “ánh sáng cho mọi dân tộc” (Lc 2,22-40). Phụng vụ Kitô giáo diễn tả nghi lễ này như một cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với Dân của Người. Lần đầu tiên, Chúa Giêsu hiện diện trong Đền thờ, là trung tâm của Do Thái giáo, biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa giữa Dân Ngài. Việc Chúa đến mở ra một giai đoạn mới trong chương trình cứu độ. Ngài sẽ trở nên ánh sáng muôn dân và thánh hóa con người. Người cũng làm cho những hy lễ dâng tôn thờ Thiên Chúa Cha mang một ý nghĩa mới. Đây cũng là điều chúng ta đọc trong Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Isaia. Vị ngôn sứ đã thông báo: “Này đây Người đến. Khi Người đến, Người sẽ thanh tẩy con cái Lêvi và làm cho chúng thanh sạch như vàng bạc. Chúng sẽ hiến dâng lễ tế cho Chúa trong công bình”. Chúa Giêsu xuất hiện trong Đền thờ để thân thưa với Chúa Cha: “Này con đến để thực thi ý Chúa”. Sau này, Người còn đến Đền thờ nhiều lần, không phải để thi hành công việc tế tự, nhưng để thanh tẩy Đền thờ. Trong giáo huấn của Người, Chúa cũng kịch liệt lên án một thứ phụng tự chuộng hình thức, xa rời tình yêu và thiếu vắng thương xót, để kêu gọi mọi người hãy tôn thờ Chúa trong tinh thần và Chân lý.

Qua nghi lễ dâng Hài Nhi Giêsu dâng trong Đền thờ, Đức Maria và Thánh Giuse đã chu toàn những điều Luật dạy. Phụng vụ Kitô giáo cũng nhìn thấy ở đây sự hạ mình của Con Thiên Chúa. Đức Giêsu mang lấy thân phận con người và sống như chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Tác giả thư Do Thái khẳng định: Chúa Giêsu trở nên giống như anh em mình mọi đàng, nhờ đó, Người trở thành vị Đại Giáo trưởng nhân lành và trung tín với Chúa. Vì là người như chúng ta, Đức Giêsu cảm thông với chúng ta, chia sẻ những tâm tư của phận người, nâng đỡ những ai chịu thử thách và đem cho họ ơn niềm vui ơn cứu độ (Bài đọc II).

“Ánh sáng chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israen Dân Chúa”. Đó là lời ca tụng của cụ già Simêôn. Lời ca tụng này diễn tả chủ đề chính yếu của Phụng vụ hôm nay. Chủ đề “Ánh Sáng” được nhấn mạnh trong phụng vụ lễ Giáng Sinh, Lễ Hiển Linh và Lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa. Ngày hôm nay, một lần nữa, chủ để này lại được nhắc tới. Chúa Giêsu là ánh sáng trần gian. Người đến để chiếu soi đêm tối nơi lòng người. Đó là đêm tối của hận thù, chia rẽ, tội lỗi và sự chết. Tác giả Tin Mừng thứ bốn giới thiệu với chúng ta: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9). Chính Chúa Giêsu khẳng định: “Chính tôi là ánh sáng cho trần gian, ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” (Ga 8,12). Người đã chữa cho người mù từ khi mới sinh, không chỉ con mắt thể lý, mà còn con mắt tâm hồn. Nhờ đó anh trở nên sáng mắt và sáng suốt nhận ra Người là Đấng Thiên sai và Đấng Cứu độ trần gian.

Năm 1997, thánh Gioan Phaolô II Giáo Hoàng đã thiết lập lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thờ là ngày Quốc tế của đời sống thánh hiến, với ước nguyện những ai dấn thân sống đời tu trì trở nên giống Chúa Giêsu và trở thành ánh sáng cho trần gian.

Trở nên ánh sáng là ơn gọi của các Kitô hữu, như Chúa đã nói. Tuy vậy, những người sống đời thánh hiến lại tình nguyện sống triệt để lời gọi này qua việc khấn giữ ba nhân đức Phúc âm, đó là Khó nghèo, Khiết tịnh và Vâng lời. Đức Thánh Cha Phanxicô mong ước, ở đâu có tu sĩ, ở đó có niềm vui. Ngài cũng khích lệ các tu sĩ nam nữ: anh chị em hãy đánh thức thế giới bằng đời sống thánh thiện và hy sinh của mình. Chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai sống đời sống thánh hiến, biết tỏa sáng xung quanh bằng sự thánh thiện đơn sơ, với lòng yêu mến chân thành và nhiệt huyết tông đồ. Chúa Giêsu đã dạy: “Anh em là ánh sáng thế gian...Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ nhìn thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).

Một câu chuyện do chính Mẹ Têrêxa kể lại: một ngày kia tại Melbourne, Úc, Mẹ đến thăm viếng một người đàn ông nghèo nàn không được một ai quan tâm đến. Ông ta sinh sống dưới tầng hầm, trong một căn phòng dơ dáy, hôi tanh, không có ánh sáng. Mẹ bắt đầu bằng việc thu dọn và sắp xếp lại căn phòng. Ban đầu, ông ta cự tuyệt:

- “Bà cứ để mọi sự như cũ. Tôi quen như vậy rồi”.

Dù thế, Mẹ vẫn cứ xúc tiến công việc dọn dẹp và gợi chuyện để nói với ông. Tình cờ, dưới một đống rác, Mẹ phát hiện ra một cây đèn dầu phủ đầy bụi bặm. Mẹ lấy cây đèn ra lau chùi, và nhận thấy nó khá đẹp. Mẹ nói với ông ta:

- “Ở đây, ông có một cây đèn rất đẹp. Sao ông không bao giờ thắp sáng nó lên vậy?”.

Người đàn ông này đáp:

- “Tôi không bao giờ thắp sáng cây đèn đó vì có ai đến thăm tôi đâu!”

Hai trong số các nữ tu của Mẹ Têrêxa bắt đầu thường xuyên đến thăm ông. Mọi sự dần dần được cải thiện đối với ông ta. Mỗi lần các nữ tu đến thăm, thì ông ta đều thắp đèn lên. Thế rồi một ngày kia, ông nói với các nữ tu:

- “Thưa các Sơ, kể từ nay, tôi có thể tự xoay sở được rồi. Xin nói dùm với người nữ tu đầu tiên đến thăm tôi rằng, ánh sáng mà bà đã thắp lên trong cuộc đời tôi hiện vẫn còn đang cháy sáng”.

Cây đèn bên ngoài đã được thắp lên, vì ngọn đèn trong tim ông đã sáng lên. Ánh sáng đó được truyền qua nhờ lòng nhân ái của Mẹ Têrêxa và các nữ tu của Mẹ.

Lạy Chúa Giêsu là Ánh Sáng trần gian, xin cho chúng con tiếp nhận từ nơi Chúa ánh sáng thiêng liêng, để chúng con biết đường đi đến Chân Lý, đồng thời trở nên ánh sáng cho những người xung quanh. Amen. mục lục

TUÂN HÀNH Ý CHÚA

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Lễ dâng Chúa Giêsu trong Đền thờ bao gồm hai sự kiện khác nhau: một là Đức Mẹ dâng con trai cho Thiên Chúa, và hai là Đức Mẹ 40 ngày sau khi sinh được thanh tẩy. Mỗi sự kiện đều có ý nghĩa riêng, nhưng từ thuở nào đến giờ, trong phụng vụ, cả hai đã được nối kết thành một. Đây là lễ “vừa tôn vinh Chúa vừa mừng kính Đức Maria”.

Sau khi sinh hạ Chúa Giêsu được 40 ngày, Mẹ Maria và Thánh Giuse đưa Hài Nhi lên đền thánh Giêrusalem và hiến dâng lên Thiên Chúa đúng theo Lề luật của Môisen. Mẹ Maria cũng được làm phép thanh tẩy như tập tục của người Do thái sau khi sinh con.

Lễ Mẹ dâng Chúa Giêsu vào đền thờ cũng gọi là Lễ Nến, vì cây nến cháy tượng trưng Chúa Kitô là "Ánh Sáng muôn dân". Cha chủ tế làm phép nến và cùng cộng đoàn rước nến vào Nhà thờ. Giáo dân dùng nến đã làm phép để thắp sáng trên bàn thờ gia đình và trong những trường hợp khó khăn hay bệnh tật.

Hôm nay chỉ đơn sơ chiêm ngưỡng như trong mầu nhiệm Mân Côi thứ bốn Mùa Vui “Đức Bà dâng Đức Chúa Giêsu trong đền thánh, ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy”. Trong lễ dâng đặc biệt này, ta gặp thấy những góc cạnh khác nhau của sự “tuân phục”.

1. Tuân giữ luật lệ

Biết rõ Hài nhi Giêsu là Thiên Chúa làm người, nhưng hai ông bà xem trọng việc tuân giữ luật lệ, vốn được quy định trong truyền thống tôn giáo Do Thái. Hai ông bà chu toàn việc lên đền thờ như luật Môsê truyền dạy (Xh 13): dâng con trai đầu lòng lên Thiên Chúa để nhớ về ơn giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập.

Chuyện dâng con chỉ có vậy, nhưng được liên kết với việc Đức Maria được thanh tẩy sau khi sinh, theo quy định từ sách Lêvi, khiến cho ngày lễ bừng lên ánh sáng mới. Nếu theo nhãn giới của Thánh Vịnh, người ta chỉ dám dâng của lễ thanh khiết với tay sạch lòng thanh, thì với Đức Maria, được nên tinh sạch sau việc sinh nở chính là việc cần làm trước khi có thể xuất hiện trước tôn nhan mà trình dâng người con của mình cũng là Con Thiên Chúa làm người. Thành thử, trong cùng một bước lên đền thờ, thánh Giuse và Mẹ Maria đã nêu cao tấm gương tuân giữ khít khao lề luật.

2. Tuân hành ý Chúa

Hai nhân vật lớn tuổi quen thuộc với đền thờ bỗng dưng được Thánh Thần thúc đẩy đến đúng lúc nghi thức được cử hành cho trẻ Giêsu. Niềm vui của bậc lão thành sau nhiều năm chờ đợi ơn cứu độ cho Israel, giờ đây đã mãn nguyện, không chỉ nghe kể lại như trong lịch sử, mà chính mắt trần đã mở rộng thấy tường, chính đôi tay đã bồng ẵm nâng niu, chính miệng lưỡi đã hát lên ca tụng và công bố cho mọi người biết trẻ Giêsu là “ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel dân Người”. Và còn có niềm vui của chính thánh gia, dù âm thầm không thành lời nhưng thật đậm đà thẳm sâu, đầy vinh quang thánh thiện trong thái độ tuân hành.

Nhưng ơn Chúa thường đi kèm với ý Chúa. Giữa lưng chừng niềm vui đang độ tràn trề, cụ Simêon đã hướng đến Đức Maria bằng lời tiên đoán vận mệnh “một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà”. Như sét đánh ngang tai. Nhưng Đức Maria đã hết dạ tuân hành, cho dẫu trái tim có phải rướm máu. Và đó cũng là bóng thập giá của ngày dâng Con trong đền thờ. Thế mới biết thánh ý cũng gần gũi với thánh giá, và tiến dâng cũng đồng nghĩa với hiến dâng, một lễ dâng sẽ còn phải lập lại dài dài trong đời của Đức Maria và của cả thánh gia.

3. Tuân theo nề nếp gia phong

Kết thúc lễ dâng, thánh gia trở lại quê nhà và trẻ Giêsu lớn lên cả về tinh thần và thể chất, trước mặt Thiên Chúa và mọi người. Phúc Âm chỉ kế lại vắn gọn như thế, nhưng chừng đó thôi cũng đủ để hình dung hiệu quả tích cực nối dài của dịp lên đền. “Trẻ em như búp trên cành, biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”. Trẻ Giêsu cũng thế, phó thác đời mình trong tay cha mẹ, thể hiện từng ngày sự tuân phục, vừa theo định luật tăng trưởng tự nhiên, vừa theo nếp sống tôn giáo giữa mái ấm gia đình. Ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay.

Nếu khi được ẵm bồng trên tay, trong Thánh Thần, trẻ Giêsu đã được cụ Simêon ca tụng là “Thiên Chúa viếng thăm dân Người và trở nên Ánh sáng muôn dân”, thì cả quãng đời ẩn danh khiêm tốn, thánh gia đã là khuôn nôi hạnh phúc, thành điểm sáng cho mọi gia đình soi chung. Không có những phép lạ ngoạn mục kiểu Phúc Âm ngụy tác, như lấy đất nặn thành chim rồi thổi hơi vào là biến thành chim thật bay xa; nhưng chắc chắn luôn có những ơn lạ đậm đà bình an dành cho những ai sống tuân theo nề nếp gia phong và yêu thương vâng phục. Không có những công trình hoành tráng được thực hiện hay những việc vĩ đại người người biết đến, nhưng luôn có những việc không tên được làm với trái tim rộng mở cho tình yêu mỗi ngày mỗi thêm lớn mãi.

Ngày Mẹ dâng Con trong đền thánh cũng là ngày trẻ Giêsu trở thành người con hiếu thảo nơi mái ấm Nadaret, trở nên thành viên tốt nơi môi trường xã hội và rất đẹp lòng Thiên Chúa: “Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa” (Lc 2,40).

Theo truyền thống Giáo hội, vào dịp lễ này, người mẹ đem con nhỏ đến Nhà thờ để dâng cho Chúa. Cha chủ tế đặt tay chúc lành và tặng quà cho các cháu nhỏ.

Trong tông huấn “Marialis Cultus”, bàn về lòng tôn sùng kính mến Mẹ, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã gọi Mẹ là “Trinh nữ hiến dâng”. Từ năm 1997, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đặt ngày lễ dâng Chúa Giêsu trong đền thờ làm ngày của Đời Sống Thánh Hiến. Chúa Giêsu được dâng hiến cho Chúa Cha nên trọn vẹn thuộc về Cha. Suốt đời, Ngài sống cho Cha, thi hành thánh ý Cha, vâng lời Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết thập giá. "Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha", đây là một hiến dâng trọn vẹn nhất. Những người sống đời thánh hiến muốn noi gương Chúa Giêsu, dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa.Theo lời khuyên của Phúc âm, các Tu sĩ tự nguyện sống đời trong sạch, nghèo khó và vâng lời.

Huấn thị “Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô” của ĐTC Gioan Phaolô II viết cho các Tu sĩ, được đúc kết lại trong ba chữ S: Say mê Đức Kitô, Sống hiệp thông và Sẵn sàng lên đường cho sứ vụ.

Tu sĩ là người cảm nhận tình yêu sâu xa của Thiên Chúa và muốn đáp trả lại. Đó là tình yêu hy sinh, quên mình, phục vụ, tình yêu thể hiện bằng việc làm, bằng chính bản thân. Tu sĩ dâng hiến cả cuộc đời mình cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Chính tình yêu đã khiến các Tu sĩ muốn nên giống Chúa Giêsu. Ba lời khấn chỉ có giá trị với tình yêu trọn vẹn. Ba lời khấn chính là ba khía cạnh biểu lộ một tình yêu. Thiếu tình yêu, những lời khấn trở thành hình thức, nặng nề, trói buộc.

Khi trung thành với lời khuyên của Phúc âm, các Tu sĩ trở nên ánh sáng của Thiên Chúa giữa trần gian. Ánh sáng siêu thoát trên của cải vật chất. Ánh sáng trao ban quảng đại. Ánh sáng tự chế ngự bản thân. Ánh sáng quên mình vì hạnh phúc của người khác. Ánh sáng lý tưởng, nâng tâm hồn lên những chân trời cao thượng. Ánh sáng của một tình yêu dâng hiến.

Hiệp thông cầu nguyện đặc biệt cho các Tu Sĩ Nam Nữ luôn là người say mê Đức Kitô trong đời sống tâm linh, sống hiệp thông trong tình huynh đệ và luôn sẵn sàng lên đường thực thi sứ vụ để trở nên ánh sáng giữa cuộc đời hôm nay. mục lục

CÂY NẾN SÁNG 

JM. Lam Thy ĐVD

Ngày lễ hôm nay có hai ý nghĩa: thanh tẩy Đức Maria và dâng Chúa Giê-su vào đền thánh theo luật Mô-sê dạy. Theo luật này, người nữ sau khi sinh con thì bị nhơ uế. Trong thời gian bị ô uế như thế, họ không được phép vào đền thờ, cũng chẳng được chạm đến vật thánh. Sau thời gian đó (Nếu sinh con trai thì khi nó được 40 ngày, hoặc nếu sinh con gái thì khi nó được 80 ngày), họ phải đến đền thờ để được thanh tẩy. Khi đi, họ phải mang theo một con chiên nếu là nhà giàu, còn nhà nghèo thì một cặp chim gáy hay bồ câu non để làm của lễ. Ngoài ra, để ghi nhớ ngày vượt qua khỏi nước Ai Cập: các con đầu lòng của người Ai Cập bị giết chết, còn các con của người Do Thái được cứu sống, luật này còn dạy các con đầu lòng của loài người cũng như của loài vật phải dâng hiến cho Thiên Chúa như Lời Người dạy: “Hãy dâng cho Ta tất cả các con đầu lòng cả của người cả của vật trong dân Israel. Hết thảy chúng thuộc về Ta.”

Đức Mẹ và thánh Giu-se tiến dâng Đức Giê-su cho Thiên Chúa theo luật Mô-sê: Mọi con trai đầu lòng phải được thánh hiến, dành riêng cho Chúa. Nghi lễ này gợi nhớ sự kiện ngày xưa khi Mô-sê xin vua Pha-ra-ôn thả cho dân Israel ra khỏi Ai Cập, vua đã không nghe. Đức Chúa đã cho xảy ra những tai ương để cho vua Pha-ra-ôn tỉnh ngộ, nhận ra bàn tay Đức Chúa can thiệp, mà thả cho dân Israel ra đi, nhưng Pha-ra-ôn vẫn cứng lòng. Cuối cùng, Đức Chúa dùng hình phạt là mọi con trai đầu lòng của người Ai Cập bị giết, còn con trai đầu lòng của người Israel thì được sống.

Với sự kiện này, sau khi ra khỏi Ai Cập, Mô-sê truyền cho dân hãy tạ ơn Chúa và tưởng niệm biến cố xuất hành ra khỏi Ai Cập bằng nghi lễ dâng hiến con trai đầu lòng. Ông Si-mê-on được Tin Mừng gọi là người công chính, chắc chắn ông đã lên đền thờ nhiều lần và nhiều lần được chứng kiến việc dâng hiến như thế. Tuy nhiên, ngày Đức Maria và Thánh Giu-se dâng Đức Giê-su vào đền thánh, ông nhận thấy một sự lạ lùng xảy ra nơi ông cũng như nơi trẻ Giê-su. Nơi ông, ông được Thánh Thần thúc đẩy lên đền thờ. Nơi trẻ Giê-su, ông nhận thấy đó là Đấng tỏa ra một thứ ánh sáng cứu độ, vì thế ông mở miệng chúc tụng Thiên Chúa: “Chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel dân Ngài.” (Lc 2, 30-32).  

Lễ Dâng Đức Giê-su Vào Đền Thánh còn được gọi là Lễ Nến. Gọi là Lễ Nến thật thích hợp, không chỉ vì đầu lễ có nghi thức làm phép nến và thắp nến, mà còn vì trong lời chúc tụng, ông Si-mê-on gọi Đức Giê-su là “ánh sáng”. Đức Mẹ bế Đức Giê-su vào đền thánh và Đức Giê-su tỏa ra ánh sáng thần linh, nên chúng ta cũng có thể nói là Đức Mẹ bế “cây nến sáng” là Đức Giê-su. Chính thánh Gio-an trong Lời tựa sách Tin Mừng của ngài đã gọi Đức Giê-su là Ngôi Lời, và Ngôi Lời là sự sống, là ánh sáng cho nhân loại (Ga 1, 1-3). 

Đức Maria và thánh Giu-se đã đem Đức Giê-su lên đền thờ Giê-ru-sa-lem để tiến dâng cho Thiên Chúa. Mỗi người Ki-tô hữu cũng được đưa đến nhà thờ tiến dâng cho Chúa qua bí tích Thánh Tẩy. Hôm ấy, nếu là đứa bé lãnh nhận bí tích, cha mẹ hay người đỡ đầu cầm cây nến được thắp sáng và nói lời tuyên xưng đức tin thay cho đứa bé; nếu là người lớn lãnh nhận bí tích thì chính họ cầm cây nến được thắp sáng và nói lời tuyên xưng đức tin. Cây nến sáng trong ngày lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy cũng gợi nhớ nhiệm vụ tỏa chiếu ánh sáng của Đức Giê-su.

Với lời mời gọi của Chúa và với ý thức, một số người muốn sống trọn vẹn hơn những đòi hỏi của bí tích Thánh Tẩy, nên dâng hiến cuộc đời mình qua việc thánh hiến (khấn dòng). Trong nghi thức khấn dòng người tu sĩ không cầm cây nến khi đọc lời khấn, nhưng chính nội dung lời khấn mà họ công khai đọc cũng nói lên rằng con người mình là cây nến tự nguyện dâng hiến, chấp nhận tiêu hao vì tình yêu đối với Chúa và đối với tha nhân. Bởi lẽ sống nội dung của các lời khấn không gì khác hơn là sống những đòi hỏi của tình yêu: “Yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” (Đnl 6, 5; Mt 22, 37). Yêu đến mức độ ấy chính là tiêu hao con người của mình như cây nến sáp cháy càng lúc càng tiêu hao đi. 

Yêu hết mức độ, tiêu hao hết con người của mình thì cuộc đời dâng hiến của mình mới thật là dâng hiến trọn vẹn. Và cái mà chúng ta gọi là hy sinh vì yêu, hy sinh chấp nhận tiêu hao mới mang lại niềm vui to lớn và cuộc đời dâng hiến của mình mới thực sự có giá trị. Người tham dự lễ nến, tay cầm nến cháy sáng trong tay. Chắc chắn không ai muốn cầm cây nến cứ thắp lên lại tắt, hay cầm cây nến để nguyên xi vậy không thắp sáng. Trái lại, mong muốn cho cây nến của mình cháy sáng không bị tắt, dù có bị gió thổi.

Khi Đức Giê-su được hiến dâng, ông Si-mê-on đã nói tiên tri về hài nhi Giê-su rằng: “Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng.” (Lc 2, 34) Rồi ông nói với Đức Maria: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” (Lc 2, 35). Lời tiên tri ấy đã hiện thực qua cuộc thương khó và cái chết của Đức Giê-su. Nay những người thánh hiến qua ơn gọi linh mục và tu sĩ cũng đã và sẽ tiếp tục bị chống báng hay bị “lưỡi gươm” nào đó đâm thâu, làm cho con người của mình tiêu hao trong Chúa. Có như thế con người dâng hiến mới thật là cây nến sáng. Và cây nến mà mình cầm đầu lễ là hình ảnh của cây nến thật là chính con người dâng hiến của mình.

Tóm lại, vấn đề cầu nguyện cho mình trở thành cây nến sáng không chỉ dành riêng cho người thánh hiến, mà là của toàn Giáo hội. Vì thế, người Ki-tô hữu cần phải hiểu rằng bản thân mình cũng luôn mong ước được trở thành cây nến sáng trong gia đình, trong giáo xứ, và rộng ra toàn Giáo hội. Hãy dâng lời cầu nguyện cho bản thân và cho anh em được Chúa Giê-su ban ơn cho được như ước nguyện. Ước được như vậy. Amen. mục lục

CHÚA GIÊSU LÀ ÁNH SÁNG CHIẾU SOI MUÔN DÂN 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Cách đây bốn mươi ngày, chúng ta đã hân hoan cử hành lễ Chúa Cứu Thế giáng sinh. Hôm nay chúng ta mừng ngày Chúa Cứu Thế được Thân Mẫu và thánh Giuse dâng vào Đền Thánh, đưa chúng ta đi từ Mầu Nhiệm Nhập Thể đến Mầu Nhiệu Cứu Chuộc của Đấng Cứu Thế. Ngôi Lời, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, sinh ra và sống trong xã hội loài người, bị luật lệ loài người chi phối, theo Luật Môisen (x. Xh 13, 11-13); "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa" ( Lc 2, 23 ) đó là lý do Hài Nhi Giêsu được dâng cho Thiên Chúa. Đức Trinh Nữ Maria đã tuân theo nghi lễ thanh tẩy được ghi trong sách Lêvi : "Luật cho phụ nữ sinh trai hay gái" (Lv 12, 6-8). Ông Symêon người công chính và mộ đạo, được Thánh Thần linh báo cho biết, ông sẽ không thấy cái chết trước khi gặp Đức Kitô. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền, được Thần Khí thúc đẩy, hôm đó ông lên Đền Thánh, gặp gỡ Hài Nhi trên tay, ẵm trên tay và chào là " Ánh Sáng muôn dân " (Lc 2, 32).

Trong ngày này, Giáo hội ca vang "Vui lên, hỡi Đức Trinh Nữ Mẹ Chúa Trời, Đấng đầy ân sủng, vì từ lòng Mẹ đã sinh ra Đức Kitô Chúa chúng con là Mặt Trời công chính, Ánh Sáng chiếu soi những ai ngồi trong bóng tối. Vui lên, hỡi cụ Symêon, người công chính, vì chính cụ đã bồng ẵm Đấng giải thoát muôn dân, cho muôn dân tham dự vào sự Phục sinh của Người "(x. Phụng vụ Byzantine).

Tại sao Con Thiên Chúa lại phải dâng cho Thiên Chúa và Đức Maria trinh khiết vẹn tuyền phải chịu thanh tẩy?

Theo thánh Dimitri de Rostov: "Mẹ Thiên Chúa tiến vào Đền Thánh vâng theo Luật Chúa, tay bồng ẵm chính Đấng là Lề Luật. Mẹ là Đấng vô tội, tinh tuyền không tì vết đến xin điều mà Mẹ không cần là thanh tẩy. Mẹ không nhận lãnh sự khoái lạc sung sướng của phu quân, đã sinh con mà không đau đớn, Mẹ được gìn giữ tinh tuyền không tì vết trước khi sinh và sau khi sinh Đấng là nguồn suối trong sạch, há Mẹ lại không tinh sạch sao? Đức Kitô đã sinh ra từ lòng Mẹ! Quả không bị hư hoại bởi cây, cây không bị nhơ bẩn bởi quả : Đức Trinh Nữ Rất Thánh vẫn trinh khiết vẹn tuyền sau khi sinh hạ Đức Kitô, Con lòng Mẹ. Mặt Trời công chính không làm tổn thương sự đồng trinh của Mẹ. Lẽ thường, máu không làm ô uế Cửa thiên đàng theo luật tự nhiên, Thiên Chúa ngập tràn ánh sáng thần linh đã vượt qua Cửa này, gìn giữ sự đồng trinh của Mẹ".

Thánh Phaolô nói: "Vậy bởi vì con cái có chung máu thịt với nhau, thì phần Ngài, giống y như vậy, các điều ấy Ngài cũng đã thông chia, để giải thoát những kẻ vì sợ chết mà suốt cả bình sinh sa vòng nô lệ" (Dt 2,14-15). Chúa đến với loài người là để cứu rỗi và giải thoát, chứ không phải để kết án luận phạt: " Vì thiết tưởng không phải Thiên Thần được Ngài bao bọc, nhưng Ngài bao bọc dòng giống Abraham…Ngài đã nên giống các anh em Ngài, để trở thành vị Thượng tế lo việc Thiên Chúa, vừa biết xót thương vừa trung tín, cốt để lo tạ tội cho dân" (Dt 2,16-17).

Đức Maria Trinh Nữ Rất Thánh Mẹ Thiên Chúa, cũng như Chúa Giêsu không buộc phải tuân theo nghi thức này, nhưng vì khiêm nhường và cũng để cho nhân loại noi theo mà tuân giữ luật Chúa, nhất là để cứu con người Chúa Giêsu đã làm điều đó, nên lễ này được gọi là Lễ Thanh Tẩy.

Hy Tế Cứu Chuộc

Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh, mà chúng ta cử hành ngày 02 tháng 01 có một vị trí đặc biệt: vì lễ này loan báo Hy Tế Cứu Chuộc mang lại ơn cứu độ sau này. Đức Maria và thánh Giuse bồng Chúa Giêsu trên tay, dù là Con Thiên Chúa, Đấng giầu sang phú quí để dâng vào Đền Thánh với của lễ đơn sơ là "cặp bồ câu non"! Đây là lần đầu tiên loan báo về Hy Tế Thánh. Chính Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể làm người mạc khải cho chúng ta, việc dâng hiến này ám chỉ tương quan giữa nhân loại với Thiên Chúa Cha, qua trung gian cần thiết của Đức Trinh Nữ Maria đồng công cứu chuộc. Đây là Hy Tế đền tội hoàn hảo duy nhất cứu chuộc nhân loại. Lễ này là "bản lề" chuyển tiếp giữa hai mầu nhiệm Nhập Thể (Truyền tin) và Cứu Chuộc (Phục Sinh). Chúa Giêsu đến trần gian (Nhập thể), để (Cứu chuộc) chúng ta. 

Sao lại làm phép nến và rước nến hay gọi là Lễ Nến?

Giáo hội Đông phương hiểu Thánh lễ này thể hiện cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và dân Người. Được Ðức Maria và thánh Giuse đem vào Ðền Thánh, Chúa Giêsu đã gặp gỡ dân người mà hai cụ già Symêon và Anna là đại diện. Ðây cũng là cuộc gặp gỡ lịch sử của dân Chúa, gặp gỡ giữa các người trẻ là Ðức Marria và thánh Giuse và các người già là Symêon và Anna. Chúa Giêsu là trung tâm, chính Người lôi kéo con người đến Ðền Thánh, nhà Cha Người. Ðây còn là cuộc gặp gỡ giữa sự vâng phục của người trẻ và lời tiên tri của người già. Việc tuân giữ Luật được chính Thần Khí linh hoạt, và lời tiên tri di chuyển trên con đường do Luật vạch ra. 

Giáo hội Tây phương lại coi đây là Thánh lễ mừng kính Đức Maria: Thanh tẩy theo luật Do thái. Khi sát nhập vào Phụng vụ Rôma, Đức Giáo Hoàng Sergiô I (678-701) lại thêm vào nghi thức rước nến. Vì thế, từ đây, lễ này được gọi là Lễ Nến. Vì trước Thánh lễ có nghi thức làm phép nến và kiệu nến vào nhà thờ như cuộc đón rước Chúa Giêsu là Ánh Sáng của muôn dân. Những cây nến được làm phép và thắp sáng trong ngày lễ này, tượng trưng cho ánh sáng và vinh quang của Chúa Giêsu. Từ cuộc canh tân Phụng vụ năm 1960, thánh lễ này cũng qui hướng về Chúa Giêsu, hơn là Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong Đền thờ.

Lời của cụ già Symêon nói : "Đó là Ánh Sáng chiếu soi muôn dân" (Lc 2, 32). Quả thật, hôm nay ai trong chúng ta cầm nến sáng trong tay mà không nhớ tới ngày cụ già Symêon bồng ẵm Hài Nhi Giêsu, Ngôi Lời trong xác phàm, là Ánh Sáng. Chính cụ là ngọn lửa cháy sáng, chứng nhân của ánh sáng, khi được đầy ơn Chúa Thánh Thần, cụ đã làm chứng rằng Hài Nhi Giêsu là Tình Yêu và là Ánh Sáng chiếu soi muôn dân. 

Vậy hôm nay, chúng ta hãy nhìn cây nến cháy sáng tên tay cụ già Symêon, từ ánh sáng đó hãy thắp sáng cây nến của chúng ta…Như thế, chúng ta không những sẽ cầm ánh sáng trong tay, mà chính chúng ta là ánh sáng, ánh sáng trong lòng ta, cho đời ta, và cho mọi người. Amen. mục lục

LỄ DÂNG ĐỨC GIÊSU TRONG ĐỀN THÁNH

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Ngày 2/2/2015 là lễ Hypapante (1), tức lễ Tiến Dâng Đức Giêsu cho Đức Chúa Cha trong đền thánh. Trở lại “Mùa Giáng Sinh”, là “khởi điểm” ơn Cứu Độ, nhắc nhở chúng ta mầu nhiệm con Thiên Chúa xuống thế làm người. Vì là con người, Đức Giêsu cũng phải tuân theo những qui luật của Môsê là tiến dâng mình trong đền thánh. Chúng ta thử tìm hiểu màu nhiệm tiến dâng Chúa trong đền thánh như thế nào? 

CUỘC TRÙNG PHÙNG: SIMEON, ANNA VÀ CON TRẺ GIÊSU 

Đến ngày giờ đã định, Maria và Giuse đi lên đền thánh Giêrusalem để tiến dâng Đức Giêsu cho Thiên Chúa “theo như luật định: “Tất cả con trai đầu lòng phải được dâng hiến cho Thiên Chúa, và để làm của lễ, người ta hiến một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non” (Lc 2:24). Maria và Giuse nghèo, nên không thể có được một con chiên để dâng cho Chúa, nhưng với thiện chí và lòng yêu mến Thiên Chúa tràn trề, các ngài đem một cặp chim non, nhỏ, vô tư và tinh tuyền. Các ngài đâu có biết rằng của lễ mà họ đang ôm trong vòng tay chính là “Con Chiên Thiên Chúa” như Gioan Tiền hô đã tuyên xưng. 

Việc tiến dâng Đức Giêsu cho Thiên Chúa Cha đã được hoàn thành trong đền thánh là bước khởi đầu cho cuôc dâng hiến trọn vẹn trên thập giá. Cử chỉ vâng lời này là một nghi thức hợp hiến, một ứng nghiệm không do Đức Giêsu hay mẹ Maria đòi hỏi. Nó cũng là một bài học về đức khiêm nhường khi chúng ta ngắm nhìn quang cảnh Đức Giêsu và Mẹ Maria nơi máng cỏ nghèo nàn trong mùa Giáng Sinh. 

Thiên Chúa tỏ mình như một con trẻ yếu đuối, vô tư, tinh tuyền và nghèo nàn. Chỉ có một trái tim tinh tuyền mới nhìn ra đó là Thiên Chúa. Chỉ những ai biết cải đổi tâm tư, từ bỏ cách nhìn và suy nghĩ của trần thế mới có thể “nhận ra” được Thiên Chúa đang thể hiện trong cuộc sống của loài người, và có thể hiểu được những việc Thiên Chúa làm. 

Trong số những trái tim tinh tuyền ấy có ông Simeon và bà Anna là ái nữ của Phanuel thuộc chi họ Asher. Lúc Mẹ Maria tiến dâng Chúa trong đền thánh có ông Simeon là người được Thần Linh Thiên Chúa run rủi đến đó để được gặp Đức Giêsu. Simeon có nghĩa là “Thiên Chúa đã nghe”, và sự mong chờ của ông đã được toại nguyện (Lc 2:25-26). Bà Anna đã luống tuổi, cũng là một nhân vật đặc biệt có mặt trong đền thánh lúc đó. Bà góa chồng và ở vậy, ngày đêm sống trong đền thờ, ăn chay cầu nguyện thờ lạy Thiên Chúa. Bà cũng chạy đến gần Đức Giêsu và tôn vinh Thiên Chúa, rồi tung hô con trẻ với mọi người là Đấng Cứu Chuộc Jerusalem (Lc 2:36-38). 

Trái tim tinh tuyền và con mắt tinh đời đã giúp Simeon nhận ra con trẻ này chính là Đấng thiên sai như các ngôn sứ đã nói mà mọi người từng chờ đợi từ lâu cả hàng thế kỷ. Ông già Simeon là “người công chính và ngoan đạo đang mong chờ sự an ủi của Israel” (Lc 2:25), được Thánh Thần Chúa thúc đẩy đi vào đền thánh để chúc mừng con trẻ trong vòng tay của mình thay cho dân tộc ông và tất cả các dân tộc khác. Với lòng đầy thiện chí và con mắt tinh tuyền, vị ngôn sứ già này đã nhận ra con trẻ này chính là đấng Cứu Thế. Ông đã nói tiên tri: Con trẻ này sẽ là Ánh Sáng (2) mà mọi ngưởi đã mong đợi từ lâu. Ánh sáng này sẽ là đầu đề cho nhiều người kình chống nhau, không phải đầu đề phục sinh, bởi vì họ sẽ không thể chào mừng ánh sáng Lời Chúa là đấng đã vạch ra mọi ý nghĩ, tâm tư của con người. 

Một nhân vật khiêm tốn khác đã đón chào Thiên Chúa đến viếng đền thánh là bà Anna. Người đàn bà này, nhờ ân sủng Thiên Chúa, đã được diễm phúc và có cơ may nhìn mặt Thiên Chúa nơi con trẻ Giêsu. Thiển nghĩ nhận người đàn bà đó là đại diện cho loài người quả là chính đáng, vì mục đích cuối cùng của loài người là được nhìn thấy dung nhan Thiên Chúa. Người góa phụ này là đại diện của nhân loại. Bà là góa phụ nên không có hôn phu cũng như nhân loại đang cô đơn góa bụa không có Thiên Chúa. Người phụ nữ này nhờ hồng ân đã được nhìn thấy Chúa mặt giáp mặt và hân hoan vui mừng trước sự hiện diện của chú rể cũng như chú rể mừng vui trước mặt cô dâu. Người phụ nữ này là đại diện của cuộc hôn nhân sau cùng của Jerusalem trên thiên đàng khi loài người gặp chàng rể. Thực sư, tất cả chúng ta đều là những “góa bụa” trong lễ cưới. Bà Anna cuối cùng đã ca tụng tôn vinh Thiên Chúa trong nỗi vui mừng khôn tả - dù trước kia bà đã ngày đêm ăn chay hãm mình thờ lạy Chúa - nói về con trẻ cho mọi người đang chờ mong ơn cứu chuộc và được giải phóng. Con Trẻ này chính là sự giải phóng cho muôn dân. 

MARIA VÀ GIUSE 

Chúng ta đã trình bày hai nhân vật đặc biệt đón chào con trẻ Giêsu trong đền thánh. Còn hai nhân vật nữa chúng ta không thể bỏ qua được là Mẹ Maria và thánh Giuse: “Khi đến lễ thanh tẩy, theo luật Môsê, các ngài đem Đức Giêsu lên đền thánh để dâng cho Thiên Chúa (Lc 2:22); ước vọng dâng tiến này vượt quá cả ý nghĩa bình thường của nghi thức tế lễ (Đức Gioan Phaolô II, Mirialis Cultus #20). Hình thức tiến dâng này phải được hiểu như một sứ điệp của ngày lễ hôm nay để chúng ta có thể khai triển rộng ra tính thánh thiêng của sự tiến dâng để thôi thúc mỗi người chúng ta sống cuộc sống làm sao để có thể làm của lể hiến dâng cho Thiên Chúa. 

Theo Phúc Âm thì tất cả con trai đầu lòng đều phải tiến dâng đúng với luật Môsê, vì đứa con đó là con thánh và thuộc về Thiên Chúa (Lc 2:22-23). Nhưng việc tiến dâng Đức Kitô không phải chỉ là làm theo luật mà còn để cho ứng nghiệm lời tiên tri. Vì Chúa muốn cộng tác với loài người chúng ta nên “Lời Chúa” đã trở nên “con đầu lòng trong nhiều anh em khác” và Chúa đã tự hiến dâng mình để cứu chuộc họ. “Vì lý do đó, khi đến thế gian - Người nói, Thiên Chúa đã không muốn hy lễ và hiến tế, nhưng đã chuẩn bị cho con một thân thể… Bấy giờ con mới thưa, lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài (Dt 10:5-7). Suy niệm việc Đức Giêsu Kitô thi hành ý định này, chúng ta thấy chinh Đức Kitô đã biến mạng sống và nhân tính người của Người làm “của lễ đẹp lòng Thiên Chúa.” 

Hôm nay chúng ta mừng mầu nhiệm Thiên Chúa, bởi vì chúng ta muốn cảm tạ Thiên Chúa Cha đã ban cho chúng ta một tặng vật đặc biệt, một hoa trái đầu mùa tuyệt vời là của lễ Chúa Kitô đã tận hiến mạng sống mình cho loài người chúng ta. 

Ngày nay chúng ta thấy vẫn có những người, cả nam lẫn nữ, đang theo Chúa Kitô, yêu mến Người với trọn vẹn cả hồn lẫn xác, hoàn toàn tự do, tự nguyện qua việc thực thi Tin Mừng, lấy Chúa Kitô tự hiến tế chết trên thập giá làm căn bản. 

Nhìn về các nữ đồng trinh tận hiến, chúng ta có thể chắc chắn là chúa Kitô chết và sống lại cho chúng ta như họ tuyên xưng, không phải bằng những lời nói xuông, mà bằng chình cuộc sống của họ. Vậy thì đâu là cốt lõi của quyết định hiện hữu của những người nữ này? Họ đã quyết định chỉ thuộc về và hoàn toàn thuộc về con người Đức Kitô. Họ đã tận hiến cuộc sống của họ bây giờ và trọn đời. Cuộc sống khác biệt và đặc thù của họ đã nói lên căn tính con người của họ hoàn toàn ở trong Chúa Kitô và được Chúa Kitô nắm giữ mà không hề chống cự. Những con người tận hiến này chỉ muốn nghỉ ngơi trong Chúa Kitô và hoàn toàn gắn bó với Người (RCV n.24). Gương mẫu của họ quả là tuyệt hảo, đúng như mẹ Maria xưa kia đã nói: “Lạy Chúa tôi, tôi là nữ tỳ của Chúa, xin hãy làm cho tôi như Lời Chúa phán (Lc 1:38). 

Bắt rễ hoàn toàn nơi Chúa Kitô, những con người tận hiến này là biểu tượng hoàn hảo của cuộc sống của người Kitô hữu, đã đáp ứng hoàn toàn mọi đòi hỏi như Chúa Giêsu đã làm. Chúng ta hãy cầu chúc họ trung thành với ơn gọi, bởi vì tất cả các tín hữu, các phối ngẫu, mục tử của Giáo Hội đều tin tưởng vào đó, nhìn thấy trong đó bản tính sâu xa của đời sống Kitô hữu. 

ĐÔI LỜI KẾT 

Trong bất cứ trường hợp nào, thiết nghĩ ngày hôm nay, chúng ta mừng trọng thể lễ Tiến Dâng Chúa Giêsu trong đền thánh, một cuộc hội ngộ giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa Cha. Ngày nay, mỗi người con đầu lòng khi tiến dâng cho Chúa thì ngay lập tức họ cũng có được ơn cứu độ. Chúng ta hãy tự hỏi chúng ta có thực sự sẵn sàng, cùng với Người, hiến dâng tất cả những gì tốt đẹp nhất của chúng ta cho Thiên Chúa Cha để rồi được Ngài ban lại cho chính chúng ta không? Chúng ta có thể đi vào thế gian cùng với ơn phúc đó để soi sáng cho bước đường của những kẻ đang tìm kiếm Thiên Chúa, chúc bình an và niềm vui cho họ. “Niềm vui không phải ở chỗ có được mọi sự, mà là cảm thấy được Thiên Chúa yêu thương, trở thành tặng vật cho tha nhân và yêu thương nhau (ĐGH Biển Đức XVI, bài giảng Angelus 13-12-2009). Đó là ơn phúc mà chúng ta cầu xin Thiên Chúa để rồi chúng ta đem chia sẻ nó với những người anh chị em chúng ta như Đức Phanxicô đã làm vào buổi gặp gỡ đầu tiên với Giáo Hội và thế giới liền sau khi ngài vừa được bầu làm giáo hoàng.

--------------------------------------------

(1) - HYPAPANTE: Kitô giáo Đông Phương gọi lễ Tiến Dâng Chúa trong đền thánh là Hypapante nghĩa là gặp gỡ. Sau khi Đức Giêsu sinh ra được 40 ngày thì Người được Mẹ Maria và thánh Giuse đem lên đền thánh Jerusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa theo như luật Môsê và đặc biệt để gặp gỡ những người vui mừng và tin Chúa. Với danh hiệu “Gặp Gỡ / Hypapante”, Giáo Hội Byzantine đặc biệt muốn nhấn mạnh đến cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và ông già Simeon, tức giữa người mới và người cũ. Đây là lễ mừng cuộc gặp gỡ của Thiên Chúa - qua trung gian Con Thiên Chúa làm người - với loài người và với mỗi người chúng ta. Cuộc gặp gỡ này xảy ra trong đền thánh là trung tâm đời sống Giáo hội của người Kitô giáo, của mỗi một người chúng ta. Ông Simêon và bà Anna là biểu tượng cho sự chờ mong của toàn thể dân tộc Israel thì cuối cùng vì cuộc gặp gỡ này đã được toại nguyện. Lễ này cũng gọi là lễ Ánh Sáng mà ta thường nói là Lễ Nến (Lc 2:30-32) đã bắt nguồn từ Giáo Hội Đông Phương. Đến thế kỷ VI lễ đã lan tới Phương Tây với những phát triển khác nhau. Ở Rôma, lễ có nhiều tính chất thống hối hơn, và ở Gaul với phép lành trọng thể và rước nến. Nghi thức ban phép lành lễ nến thấy rõ ràng nhất là ở thế kỷ X, là do linh hứng bởi lời ông Simeon: “Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu chuộc của ngài, đã được chuẩn bị cho mọi dân tộc được thấy, là ánh sáng thể hiện cho dân ngoại” (id Lc 2:30-32). 

Cho đến khi canh tân lịch phụng vụ, lễ này được gọi là lễ Thanh Tẩy Đức Maria Rất Thánh Đồng Trinh, để kỷ niệm giây phút lịch sử của Thánh Gia, được kể nơi chương 2 Tin Mừng Luca, trong đó Đức Maria, theo luật, sau khi sinh Chúa Giêsu 40 ngày, đã đem Đức Giêsu lên Jerusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa, đồng thời thi hành nghi thức Thanh Tẩy. Vào năm 1960 Phụng Vụ cải tiến lại lấy danh hiệu nguyên thủy là lễ “Tiến Dâng Chúa”. 

(2)- ÁNH SÁNG / LỄ NẾN là dấu hiệu Thiên Chúa huy hoàng của Đấng đang đến để xua đuổi bóng tối ma quỉ, đồng thời làm cho toàn thể thế giới bừng sáng do ánh sáng vĩnh cửu của Thiên Chúa. Nến của chúng ta sẽ sáng rực khi chúng ta gặp Chúa Kitô. 

Mẹ Maria Đức nữ đồng trinh đã mang Ánh Sáng thực trong cánh tay mình và đem Người đến cho những kẻ đang đi trong tối tăm. Chúng ta cũng phải mang ánh sáng ấy đến cho mọi người và phản chiếu hào quang ánh sáng thực khi chúng ta đi đến gặp Người. 

Ánh sáng đã đến và chiếu sáng trên thế giới đang bị bóng tối bao phủ. Ngày Xuân từ trời cao xuống viếng thăm chúng ta và ban ánh sáng cho những ai đang sống trong tăm tối. Vậy ngày lễ hôm nay chúng ta hãy tham gia cuộc rước nến để khám phá ra ánh sáng đang chiếu rọi trên chúng ta và qua Người chúng ta được thừa hưởng hào quang của Người. Vậy chúng ta hãy mau mau cùng nhau đi gặp Thiên Chúa của chúng ta. 

Ánh sáng thực đã đến, ánh sáng chiếu rọi trên từng người được sinh ra trên thế giới này. Tất cả chúng ta, những người anh em của tôi, phải được chiếu sáng và nhờ hào quang của ánh sáng ấy chiếu tỏa muôn nơi. Chúng ta hãy chia sẻ sự huy hoàng tràn đầy ánh sáng ấy với mọi người để không ai còn sống trong bóng đêm đen tối dày đặc. Chúng ta hãy tự soi sáng chúng ta khi chúng ta cùng nhau đi gặp ông già Simeon và cùng với ông đón nhận ánh sáng hào quang vĩnh cửu. 

Vui mừng cùng với Simeon, chúng ta hãy hát thánh ca cảm tạ Thiên Chúa là Cha của ánh sáng, là người sai ánh sáng thực xuống để phá tan bóng tối và cho tất cả chúng ta được chia sẻ vẻ huy hoàng ấy. 

Qua con mắt Simeon, chúng ta cũng nhìn ra ơn cứu độ của Thiên Chúa đã được chuẩn bị cho mọi quốc gia dân tộc và được biểu lộ như là vinh quang của một tân Israel, cũng là của chính chúng ta. Simeon được giải thoát khỏi những ràng buộc của cuộc đời khi ông nhìn thấy Chúa Kitô. Chúng ta cũng sẽ được như vậy, khi chúng ta từ bỏ tình trạng tội lỗi. 

Nhờ niềm tin, chúng ta cũng được bao bọc bởi Đức Kitô khi người đến với chúng ta ở Bêlem. Trước kia chúng ta là dân ngoại, nay chúng ta trở thành thần dân của Thiên Chúa. Mắt chúng ta đã nhìn thấy Thiên Chúa làm người. Vì chúng ta đã nhìn thấy Người hiện diện giữa chúng ta và linh cảm thấy Chúa nằm trong vòng tay chúng ta nên chúng ta được gọi là tân dân Israel. 

Không bao giờ chúng ta có thể quên được sự hiện diện của Thiên Chúa nơi chúng ta. Hàng năm chúng ta giữ lễ này trong niềm tin yêu, tôn kính và thờ lạy Thiên Chúa. mục lục

ĐỌC LẠI NHỮNG ĐIỀU KỲ DIỆU

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Trong ngày Đức Mẹ và thánh Giuse hiến dâng Chúa Giêsu cho Thiên Chúa, hai cụ già Simeon và Anna xuất hiện. Các ngài bồng ẵm và nói về Chúa những điều vừa lạ thường vừa kỳ diệu: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel phải vấp ngã hay được chỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng, còn chính bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra.” 

Nhưng không phải những lạ thường xung quanh Chúa Giêsu chỉ mới xảy ra từ hôm nay. Ngay khi vừa lọt lòng mẹ, Chúa Hài Nhi đã được các thiên thần tung hô, các mục đồng đến viếng thăm. Ngôi sao lạ bắt đầu xuất hiện. Rồi từ rất xa, các nhà đạo sĩ đã đến tôn thờ và dâng lễ vật. Những cuộc báo mộng cho các đạo sĩ và thánh Giuse nhằm đưa Chúa Hài Nhi đến nơi an toàn… Tất cả đều lạ thường, đều kỳ diệu.

Nhưng không chỉ trong tân Ước, điều kỳ diệu của ngày đáng ghi nhớ trong đền thờ hôm nay, dường như cũng được tiên tri Malakia nhìn thấy trước: “Này đây Chúa là Thiên Chúa phán: Đây Ta sai thiên thần Ta đi dọn đường trước mặt Ta! Lập tức Đấng Thống Trị mà các ngươi tìm kiếm và thiên thần giao ước mà các ngươi mong ước, đến trong đền thánh Người (3, 1). 

Chúa là Chúa của muôn điều kỳ diệu. Đó không chỉ là cảm nghiệm bản thân. Tất cả những ai dấn thân cho Thiên Chúa trong bất cứ ơn gọi nào, hay tất cả những ai có đời sống nội tâm sâu lắng, thường xuyên hướng lòng về Chúa, đều nhận ra.

Qua tất cả những kỳ diệu của chính việc Chúa nhập thể làm người, lẫn những kỳ diệu mà ta có thể khám phá từ chính cõi hồn mình, cho ta niềm ý thức: Bước theo Chúa Giêsu, học đòi sự thanh sạch của Người, noi theo lòng vâng phục thánh ý Chúa Cha tuyệt đối của Người, hiến dâng mình chúng ta như Người đã hiến dâng cho Chúa Cha chính mình Người, chúng ta sẽ đi trong ân sủng tuyệt vời.

Có Chúa Giêsu làm chủ và gia nghiệp đời ta, ta sẽ thấy cuộc đời mình đầy nhiệm lạ. Chúa dẫn chúng ta đi, Chúa an bài cuộc đời chúng ta hết những kỳ diệu này, đến những kỳ diệu khác.

Hãy thường xuyên đặt mình trước tôn nhan Chúa và nhìn lại quá khứ đời mình. Nhìn lại từng chặng dừng trong quá khứ, ta sẽ thấy rõ những kỳ diệu vô cùng mà bàn tay Chúa đặt dấu ấn trên cuộc đời ta. Dấu ấn ấy không hề thoáng qua, không hề có nguy cơ nhạt nhòa theo thời gian, nhưng ngày càng rõ mồn một, ngày càng đậm đặc và tươi mới.

Tôi thường đọc lại quá khứ đời mình. Có những lúc tôi không hiểu nổi, vì sao tôi lại có thể vượt qua quá nhiều những chông gai, những thử thách. Cuộc đời tôi, biết bao lần xảy ra những hoàn cảnh, những bất hạnh như muốn vùi giập bản thân, như muốn bít mọi lối đường, dường như chỉ cón tăm tối và bế tắc.

Nhưng tôi tin, Chúa là Chúa của muôn điều kỳ diệu. Người đã đưa tôi đi qua mọi ngã đường. Người đã hun đúc trong tôi những sức mạnh thần thánh, Người đã lôi cuốn tôi, đến nỗi, dù trải qua muôn chặng đường thương đau, tôi vẫn nhận ra Người là hấp lực duy nhất của đời tôi.

Ngày lễ Dâng Chúa trong đền thánh, chúng ta hãy đọc lại những diệu kỳ đã từng xảy ra nơi cuộc đời của Chúa Giêsu. Hãy tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa của muôn điều kỳ diệu mà khám phá tất cả sự nhiệm mầu trong từng cuộc đời, nơi mỗi con người.

Ngày lễ Dâng Chúa trong đền thánh, tôi càng xác tín mạnh: Chúa là Chúa của muôn điều kỳ diệu. Người hiện diện ở đâu, nơi đó tràn đầy những kỳ diệu lớn lao, bất ngờ, khó có thể diễn tả, khó có thể nói hết.

Và như thế, Thiên Chúa của muôn kỳ diệu hiện diện trong cuộc đời ai, kẻ đó cũng sẽ được Người cho khám phá ra muôn kỳ diệu nơi chính cõi hồn mình, chính cuộc đời mình.

Lạy Chúa, chiêm ngắm tất cả mọi điều tốt đẹp đã và đang xảy ra, chúng con xin được bậc thốt thành lời, nhưng xuất phát từ lòng chúng con tâm tình cảm tạ.

Xin cho chúng con biết sống xứng đáng với tình yêu mà Chúa dành cho chúng con, để chúng con luôn cảm tạ Chúa bằng cả tấm lòng và cuộc đời chúng con. Amen. mục lục

CỬA THÁNH

Trầm Thiên Thu

Luật Môsê truyền dạy: “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là CỦA THÁNH, dành cho Chúa.” (Lc 2:23) Vì thế, khi đã đến ngày lễ thanh tẩy theo luật, Đức Maria và Đức Giuse đem Con Trẻ Giêsu lên Giêrusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa.

Cũng theo Luật truyền, lễ dâng là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. Lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh còn gọi là Lễ Nến, Lễ Thanh Tẩy hoặc Tẩy Trần, và còn gọi là Lễ Gặp Chúa – từ Hy ngữ là Ὑπαπαντή (Hypapante). Giáo Hội kính mừng lễ này sau khi Chúa Giêsu giáng sinh được 40 ngày, kính nhớ việc Đức Maria được thanh tẩy theo luật Môsê: phụ nữ sau khi sinh con thì bị coi là ô uế trong 40 ngày nếu sinh con trai, hoặc 60 ngày nếu sinh con gái. (Lv 12:5)

Đặc biệt là cũng ngày hôm đó, có một người tên là Simêôn là người công chính và sùng đạo, ở Giêrusalem, vẫn mong chờ niềm an ủi của Israel, ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Kitô của Đức Chúa. Và ông đã được thỏa lòng mong ước.

Theo nguyên tắc thời Cựu Ước, đó là việc dâng “của lễ đầu mùa” theo luật truyền: “Chúng tôi BUỘC mình hằng năm phải đem dâng vào Nhà Đức Chúa những thổ sản đầu mùa của chúng tôi và TẤT CẢ HOA TRÁI ĐẦU MÙA mọi thứ cây, cũng như CÁC CON TRAI ĐẦU LÒNG của chúng tôi và của thú vật, như đã chép trong Lề Luật. Các con đầu lòng của bò, ngựa, chiên, dê đem tới Nhà Thiên Chúa cũng dành cho các tư tế đang phục vụ Nhà Thiên Chúa chúng tôi. PHẦN TỐT NHẤT trong số bột xay, trong những của trích dâng, hoa trái đầu mùa mọi thứ cây, rượu mới và dầu tươi, chúng tôi sẽ đem dâng các tư tế tại các phòng trong Nhà Thiên Chúa chúng tôi.” (Nkm 10:36-37) Tất cả đều là của Chúa, thế nên những gì là sản phẩm đầu tiên – người và vật – đều phải kính dâng Ngài trước để bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn.

Sự kiện quan trọng dâng Chúa Giêsu vào đền thánh và thanh tẩy Đức Trinh Nữ đã được Thánh sử Luca ghi lại trong trình thuật Lc 2:22-40. Sự kiện này là động thái tuân phục, nhằm thực hiện những lề luật đã được ghi rõ trong Cựu Ước – cụ thể là trong Lv 12:6-8.

Theo sử sách, lễ này được du nhập vào Đế quốc Đông phương dưới triều vua Justinianô (527-565). Đối với Giáo Hội tại Tây phương, lễ này được nhắc đến trong sách bí tích của ĐGH Gelasianô (thế kỷ VII). Từ cuối thế kỷ IV, Giáo Hội tại Giêrusalem đã mừng kính lễ này. Giáo Hội tại Hy Lạp và Milanô kính mừng lễ này là một trong các lễ trọng kính Chúa Giêsu, dạng nghi lễ chính thức trong năm. Giáo Hội tại Rôma kính mừng lễ này là một trong số các lễ kính Đức Trinh Nữ Maria.

Trong tông huấn “Marialis Cultus” (năm 1974, nói về việc sùng kính Đức Trinh Nữ Maria), Thánh GH Phaolô VI cho biết: “Lễ ngày 2 tháng 2 được cải tên là Lễ Dâng Chúa Vào Đền Thánh, cũng cần nhắc nhở để hưởng nguồn phong phú lớn lao của ân sủng Chúa Giêsu và Maria đi song song. Đức Kitô thực hiện mầu nhiệm cứu độ. Đức Mẹ Maria mật thiết kết hợp với Chúa chịu khổ hình, để thực hiện một sứ mạng vừa thuộc về Dân Chúa của Cựu Ước, vừa là hình ảnh của Dân Chúa của Tân Ước luôn bị bắt bớ gian khổ, thử thách đức tin và lòng trông cậy.” (số 7b) Thời nào cũng có bách hại với các dạng và mức độ khác nhau, đó là tôi luyện đức tin chân chính, vì chính Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần đề cập. Và người ta cũng nói: “Ngọc bất trác bất thành khí.”

Theo thói quen tốt lành, nến được làm phép trong Thánh Lễ hôm nay để tưởng nhớ lời tiên tri Simêon đã xác định Đức Kitô là “ánh sáng soi đường cho dân ngoại.” (Lc 2:32) Tại các giáo xứ thường có rước kiệu nến trong nhà thờ để nhớ đến việc Đức Giêsu tiến vào Đền Thờ Giêrusalem, đồng thời cũng nhắc nhở các bậc cha mẹ dâng con cái cho Thiên Chúa, vì con cái là tặng phẩm vô giá, và cũng nhắc nhở mọi người phải bảo vệ sự sống bằng mọi giá.

Từ ngàn xưa, chính Thiên Chúa đã tuyên phán: “Này Ta sai sứ giả của Ta đến dọn đường trước mặt Ta. Và bỗng nhiên Chúa Thượng mà các ngươi tìm kiếm, đi vào Thánh Điện của Người. Kìa, vị sứ giả của giao ước mà các ngươi đợi trông đang đến.” (Ml 3:1) Vị Chúa Thượng đó chính là Thiên Chúa, Đấng “như lửa của thợ luyện kim, như thuốc tẩy của thợ giặt” và “sẽ ngồi để luyện kim tẩy bạc, sẽ thanh tẩy con cái Lê-vi và tinh luyện chúng như vàng, như bạc.” (Ml 3:2-3a) Chắc chắn chẳng ai có thể chịu nổi nếu không nghiêm túc sống công minh chính trực và tuân thủ Luật Chúa: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh Ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn.” (Tv 19:8) Và chỉ những ai đón nhận lời nghiêm huấn mới khả dĩ nên khôn. (Cn 15:5 và Cn 19:20)

Những người đã được thanh tẩy, được tinh luyện thì thật hạnh phúc vô cùng. Thật vậy, ngôn sứ Malakhi chứng minh: “Bấy giờ, đối với Đức Chúa, chúng sẽ là những kẻ đến dâng lễ vật, theo lẽ công chính. Lễ vật của Giuđa và của Giêrusalem sẽ làm đẹp lòng Đức Chúa như những ngày xa xưa, như những năm thuở trước.” (Ml 3:3b-4) Cái cũ được bỏ qua, và cái mới lại bắt đầu. Tuyệt biết bao!

Quả thật, niềm hạnh phúc cứ dâng trào, khôn tả. Thánh Vịnh gia mời gọi: “Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính, để Đức Vua vinh hiển ngự vào.” (Tv 24:7 & 9) Đức Vua đó không ai khác chính là “Đức Chúa mạnh mẽ oai hùng, Đức Chúa oai hùng khi xuất trận.” (Tv 24:8 và 10) Niềm vui không thể giấu được, chắc chắn phải lên tiếng, cùng nhau hô vang tán dương Chúa suốt cả cuộc đời chúng ta: “Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến, bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời.” (Lc 19:38) Chúng ta chân thành ca tụng Chúa thì cũng chẳng thêm gì cho Ngài, không chỉ Ngài xứng đáng được tôn vinh mà chính chúng ta lại được ban ơn cứu độ. Thật là quá đỗi kỳ diệu!

Cái gì ra cái nấy, không thể lẫn lộn. Rất rạch ròi. Tông đồ Phaolô giải thích: “Vì con cái thì đều chung một huyết nhục, nên Đức Giêsu đã cùng MANG LẤY HUYẾT NHỤC đó. Như vậy, nhờ cái chết của Người, Người đã tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và đã giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ.” (Dt 2:14-15) Tại sao? Lý do thế này: “Vì những kẻ được Người giúp đỡ không phải là các thiên thần, mà là con cháu Áp-ra-ham. Bởi thế, Người đã phải NÊN GIỐNG anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng Tế nhân từ và TRUNG TÍN trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân.” (Dt 2:16-17)

Có một lý do đặc biệt hơn: “Vì bản thân Người đã TRẢI QUA THỬ THÁCH và ĐAU KHỔ, nên Người có thể CỨU GIÚP những ai bị thử thách.” (Dt 2:18) Đó là một thực tế minh nhiên. Vì về phương diện nhân loại, người ta chỉ có thể CHO những gì mình CÓ, không có thì không thể cho; hoặc người ta càng dày dạn kinh nghiệm thì người ta càng khôn ngoan, càng có thể tư vấn cho người khác. Thật vậy, chí sĩ Phan Bội Châu đặt vấn đề: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả – Anh hùng hào kiệt có hơn ai?”

Ngay hôm song thân đưa Hài Nhi Giêsu đến Đền Thờ để dâng cho Thiên Chúa theo Luật truyền, ông Simêôn được Thần Khí thúc đẩy nên ông cũng lên Đền Thờ lúc đó. Ông vui mừng ẵm Hài Nhi và chúc tụng Thiên Chúa bằng bài ca “Nunc Dimittis” (An Bình Ra Đi – Lc 2:29-32): “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi, vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ. Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, Là vinh quang của Israel Dân Ngài.” Ông thực sự mãn nguyện vì đã tận mắt nhìn thấy Đấng Cứu Thế mà ông hằng mong đợi. Và ông không còn muốn gì hơn nữa.

Thật bất ngờ, cả Đức Maria và Đức Giuse đều ngạc nhiên vì những lời ông Simêôn vừa nói về Con Trẻ. Sự việc xảy ra lạ lùng quá chừng! Sau đó, ông Simêôn chúc phúc cho hai Ông Bà, và nói với Thân Mẫu của Hài Nhi: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà.” (Lc 2:34-35) Ôi chao, một lời tiên tri rất đáng “quan ngại”. Thế nhưng Đức Maria tỏ ra bình tĩnh, không bàng hoàng, chỉ thầm lặng ghi nhớ và suy niệm hằng ngày. Sự im lặng đôi khi còn nói nhiều hơn chính những lời nói.

Tuy nhiên, cuộc sống luôn phức tạp hơn chúng ta tưởng, và người ta thường cho rằng tin vào số mệnh là mê tín dị đoan. Thế nhưng lại không phải như vậy. Thật vậy ư? Tại sao thế? Bởi vì, xét theo tâm linh, mỗi người trong chúng ta đã được Thiên Chúa QUAN PHÒNG và TIỀN ĐỊNH từ đời đời, nghĩa là ai cũng có một “số mệnh” riêng – thế nhân gọi là định mệnh, nhưng về tâm linh thì không như thế, và mang ý nghĩa tích cực hơn.

Từ xưa, chính ngôn sứ Isaia đã xác định: “Đức Chúa là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Israel chung quanh Người. Thế nên tôi được Đức Chúa trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.” (Is 49:5) Thánh Phaolô cũng nói: “Chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Đức Kitô Giêsu, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta.” (Ep 2:10) Đó là định mệnh của các tín nhân, bởi vì “Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi.” (Is 49:1)

Thánh sử Luca cho biết một sự lạ khác: Ngày hôm đó cũng có một nữ ngôn sứ tên là Anna, con ông Pơnuên, thuộc chi tộc Ase, đã tám mươi tư tuổi. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi ở goá. Bà không rời bỏ Đền Thờ, luôn ăn chay, cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Ngài cứu chuộc Giêrusalem.

Có vẻ bình thường đối với mọi diễn tiến, thế nhưng đó lại chính là Thánh Ý của Thiên Chúa, vì Ngài thấu suốt mọi sự, chắc chắn không có gì ngoài tầm kiểm soát của Ngài: “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả. Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết. Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con.” (Tv 139:1-5) Ngay cả một sợi tóc mong manh mà Ngài cũng quan phòng và tiền định rồi, huống chi con người, loài thụ tạo quý giá của Ngài.

Hoàn tất “thủ tục” theo Luật truyền, Đức Maria và Đức Giuse trở về nơi cư ngụ ở Nadarét, miền Galilê. Còn các tín nhân chúng ta, những người cũng đã được thanh tẩy qua Bí tích Rửa Tội, được thánh hóa qua Bí tích Thêm Sức, rồi lại thường xuyên được thanh tẩy qua Bí tích Hòa Giải. Cuộc đời Kitô hữu là một chuỗi dài của Ơn Thánh. Vì thế, chúng ta phải không ngừng nỗ lực noi gương Đức Kitô để sao cho “ngày càng LỚN LÊN, thêm VỮNG MẠNH, đầy KHÔN NGOAN, và hằng được ÂN NGHĨA cùng Thiên Chúa.” (Lc 2:40) Cuộc sống tín nhân là chuỗi tháng ngày “giặt đời” không ngừng – hoàn thiện như Cha trên trời. (Mt 5:48) Thánh nhân có quá khứ, tội nhân có tương lai. Cứ dần dần, từng chút, từng bước,... từ từ đến gần Chúa hơn.

Nhờ Ánh Sáng Chúa Giêsu soi đường thì sẽ không lạc lối, bởi vì chính Ngài là ÁNH SÁNG THẾ GIAN. (Ga 8:12; 1 Ga 1:5) Thánh Vịnh gia xác định: “Chúa là Nguồn Ánh Sáng và Ơn Cứu Độ của tôi.” (Tv 27:1) Chúa Giêsu đã minh định: “Tôi là CON ĐƯỜNG, là SỰ THẬT và là SỰ SỐNG.” (Ga 14:6) Và Ngài cũng đã xác nhận: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” (Ga 8:12)

Lạy Thiên Chúa là Nguồn Sáng, xin hướng dẫn chúng con luôn đi đúng đường lối của Ngài, xin tẩy rửa và thanh luyện chúng con để xứng đáng với Ngài, và xin biến chúng con thành ánh nến đức tin chiếu soi nơi tăm tối. Trong những ngày đầu năm 2020, nhân loại đã ngạo mạn nên tự tạo đại dịch Coronavirus mang tên loài quỷ đỏ Vũ Hán, xin Ngài tha thứ và cứu thoát những người thành tín. Chúng con chân thành sám hối và cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

CĂN CƯỚC CỦA KI-TÔ HỮU

JM. Lam Thy ĐVD

Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật trước đã trình thuật khởi đầu sứ vụ của Chúa Giê-su. Hôm nay (CN IV/TN-A) Tin Mừng bắt đầu giới thiệu bài giảng trên núi về Tám Mối Phúc. Những điều được nói lên trong bài giảng đầu tiên này hẳn phải là hết sức quan trọng. Tám Mối Phúc nói lên căn tính của những người được Chúa Giê-su mời gọi làm môn đệ, tức là các Ki-tô hữu. Việc trở thành môn đệ Chúa là một diễn trình biến đổi, từ bước đầu tiên là nhìn nhận thân phận nghèo hèn của mình để tiến tới thái độ sẵn sàng mở lòng đón nhận sự sống phong phú do lời giảng của Chúa Giê-su đem lại. Cả ba bài đọc hôm nay đều nói về diễn trình biến đổi này.

Suy niệm Tin Mừng CN IV/TN-A (Mt 5, 1-12a), chợt nhớ đến bài giảng có cùng chủ đề về “Tám Mối Phúc” của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô (trong Thánh lễ sáng ngày 6/6/2016 tại Nhà nguyện Thánh Marta). ĐTC đã nhấn mạnh: “Các mối phúc như những “hoa tiêu” chiếu sáng trên con đường của đời sống Ki-tô hữu, như một “chương trình hành động”, như một “giấy căn cước của Ki-tô hữu”. Nếu anh chị em tự hỏi mình làm thế nào tôi có thể trở thành một Ki-tô hữu tốt, thì đây là câu trả lời của Chúa Giê-su, một câu trả lời dẫn đến một thái độ đi ngược lại não trạng con người ngày nay rất nhiều.” 

Cuối bài giảng, ĐTC kết luận: “Tám Mối Phúc Thật đại diện cho “một chương trình sống” chính Chúa Giê-su đã ban cho chúng ta. Tuy đơn giản nhưng rất cam go. Nếu chúng ta muốn tìm kiếm thêm, Chúa Giê-su còn chỉ cho chúng ta một điều khác đã được viết trong Tin Mừng: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.” (Mt 25, 35-36). Với Tám Mối Phúc Thật – và nói chung, toàn bộ chương 25 sách Tin Mừng theo Thánh Mat-thêu – người ta có thể sống một đời sống Ki-tô hữu thánh thiện.” (nguồn: Vatican.net) 

Sống một đời sống thánh thiện để có được “giấy căn cước Ki-tô hữu” đích thực, chính là một ước mơ hạnh phúc mà con người luôn mong ước đạt được cách viên mãn. Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí. Hạnh phúc là luôn biết cảm nhận, khám phá những điều mới mẻ từ cuộc sống; là hoài bão sáng tạo nên những giá trị mới; là thực hiện được những điều mình ấp ủ, ước mơ. Hạnh phúc là khi con người tìm ra và trân trọng những niềm vui, những giá trị giản dị từ cuộc sống. Nếu chỉ tìm hiểu về ý nghĩa hạnh phúc thì chỉ cần một động tác nhỏ (mở tự điển) là xong, nhưng để có được hạnh phúc đích thực thì chuyện không còn là đơn giản nữa. 

Nói về hạnh phúc thì mỗi người một cách, mỗi người một quan niệm. Có người thì nói: “Tôi hạnh phúc vì tôi có được vợ đẹp con khôn, gia đình êm ấm”; người thì nói: “Tôi hạnh phúc vì tôi có được đầy đủ cả tiền bạc và danh vọng”; cũng có người nói: “Tôi hạnh phúc vì tôi chẳng vướng vòng danh lợi, chẳng lụy chuyện phu thê, ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch.” (“Ngày 3 bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no, Đêm 5 canh an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ.” – Nguyễn Công Trứ), Có người thì cho rằng hạnh phúc là sống thụ hưởng, sống hôm nay không cần biết đến ngày mai (Jean Paul Sartre với phong trào hiện sinh “Existentialisme”), lại cũng có người cho hạnh phúc là sống thanh tịnh vô vi, không màng đến thế sự (Lão Tử với thuyết  “Vô vi” 無 為 ). Quan niệm về hạnh phúc cũng đa dạng, phong phú lắm, không dễ gì tìm được một điểm chung. Đa số những quan niệm đó đều nhắm vào hiện thực cuộc sống trần thế, và chính những hiện thực cuộc sống ấy đem lại cho chủ thể “trạng thái sung sướng” trong lãnh vực tinh thần. Nói cách cụ thể hơn, cái hạnh phúc hệ tại cuộc sống trần thế có thế đụng chạm, cầm nắm được (vật chất), nhưng khi có được nó rồi thì cảm thấy mãn nguyện, sung sướng (tinh thần). 

Bài Tin Mừng hôm nay (CN IV/TB-A) trình thuật về bài giảng của Đức Giê-su giảng về “Tám mối Phúc” (Mt 5, 1-12a). Cứ theo tâm lý thông thường của người đời, trong 8 mối phúc thì có tới 3 mối phúc chẳng ai ham. Chẳng ai ham nghèo khó (dù cho đó có là “tâm hồn nghèo khó” chăng nữa), ham sầu khổ, ham bị bách hại. 5 mối phúc còn lại (hiền   lành, khao khát đức công chính, thương người, trong sạch, xây dựng hoà bình) thì tuy không bị thiệt hại nặng cho bản thân, nhưng còn hạnh phúc thì cũng thấy mơ hồ, xa vời quá, nên cũng chẳng ham. Có lẽ vì thế, nên ĐTC Phan-xi-cô (trong bài giảng nêu trên) đã cho rằng Lời dạy của Đức Ki-tô về hạnh phúc “đi ngược lại não trạng con người ngày nay rất nhiều”. Cũng không hẳn là ngày nay, mà ngay cả ngày xưa thì “não trạng con người’ cũng không chấp nhận: Điển hình là khi nghe Đức Ki-tô giảng dạy thì cả đến những môn đệ, người thân cận, đồng hương với Người cũng phát biểu “lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi” (Ga 6, 60); “Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực.” (Lc 4, 28-29). 

Vấn đề cần xét tới ở đây là những quy định, những điều kiện được đua ra trong cả 8 mối phúc đều là những điều kiện về tinh thần, về phương cách sống (tinh thần nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khao khát nhân đức, thương người, trong sạch, bị bách hại), và nếu sống được như vậy thì chắc chắn sẽ được phần thưởng. Phần thưởng đó không là giấy khen, bằng khen, hay những món tiền, món quà…; mà là những phần thuởng về tinh thần, về cuộc sống mai hậu. Cho nên có thể nói rằng, để có được “trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện”, thì tiên vàn người môn đệ phải có niềm tin vào Người Thầy của mình chính là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, là Đấng Cứu Độ trần gian. Nói cách khác, tám mối phúc là những cách thế biểu lộ niềm tin, là những con đường sống đức tin, bởi chỉ có đức tin mới là Trời.

Sống đức tin ư? Đúng vậy! Chỉ có tin, mới thực hành được Lời Chúa dạy, nhất là những điều thiệt hại nặng nề đến bản thân (“bị sầu khổ, bị bách hại…”). Thánh Phao-lô Tông đồ đã từng nhấn mạnh: “Vậy thì hãnh diện ở chỗ nào? Chẳng còn gì để hãnh diện! Dựa vào luật nào mà hãnh diện? Vào việc làm chăng? Không, nhưng dựa vào lòng tin. Thật vậy, chúng tôi nghĩ rằng: người ta được nên công chính vì tin, chứ không phải vì làm những gì Luật dạy.” (Rm 3, 27-28); ”Tuy nhiên, vì biết rằng con người được nên công chính không phải nhờ làm những gì Luật dạy, nhưng nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô, nên chúng ta cũng tin vào Đức Ki-tô Giê-su, để được nên công chính, nhờ tin vào Đức Ki-tô, chứ không phải nhờ làm những gì Luật dạy.” (Gl 2, 17). 

Một điều hiển nhiên đối với Thánh Phao-lô là khi ngài chưa tin vào Đức Ki-tô thì ngài là người rất năng nổ trong việc lùng bắt những người theo Ki-tô; nhưng sau biến cố Damas, được sáng mắt (nhờ được chính Đức Giê-su Ki-tô chữa lành bệnh mù nội tâm), ngài đã tin vào Đức Ki-tô như lời ngài khẳng định: “Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2, 20). Tin và thể hiện bằng hành động, bằng chính cuộc sống, đến độ “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20). Thánh nhân đã rất nhiệt thành trong sứ vụ rao giảng Lời Chúa, làm nhân chứng sống cho Tin Mừng cứu độ, để trở nên một tông đồ kiệt xuất như một vì sao Bê-lem đem Ánh Sáng đến cho dân ngoại. Phải chăng chính Thánh Tông đồ dân ngoại đã là một mẫu gương sáng chói cho việc “sống đức tin”? Ấy cũng bởi vì “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2, 26).

Nói tóm lại, sống trên đời ai ai cũng mong muốn có hạnh phúc. Ai mà chẳng muốn luôn được sống trong “trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện”. Mà ý nguyện là gì, nếu không phải đó là những mong mỏi, những ao ước, những hy vọng đề ra trong cuộc sống, để con người nỗ lực vươn tới. Sẽ có một phản biện: “Thế những người chủ trương sống thanh tịnh vô vi (không làm, không hành động), hoặc chủ trương sống hôm nay không cần biết đến ngày mai (hiện sinh), họ có nỗ lực chăng?” Câu trả lời luôn luôn là có, bởi “có thực mới vực được đạo”. Sống thanh tịnh vô vi, nhưng không thể vô thực vô ẩm (không ăn không uống) được, Mà muốn có đồ ăn thức uống, vẫn phải nỗ lực kiếm tìm, chớ không thể “há miệng chờ sung”. Còn những người theo thuyết hiện sinh, sống hôm nay không biết đến ngày mai, nhưng nếu giả thử không có một chút cơm áo gạo tiền, thì liệu có sống thụ hưởng được không? Vì thế, vẫn cần phải có một nỗ lực để sống và nhất là để bảo vệ chủ thuyết mình đã theo. 

Người Ki-tô hữu với cuộc sống trần thế, cũng không ngoại lệ, cũng phải lo cơm áo gạo tiền để mà sống trước đã, nhiên hậu mới nói đến những ý nguyện, những ước vọng tương lai được xây dựng, được hoài bão bằng một nỗ lực không ngừng. Có thể khẳng định: Sự nỗ lực ấy luôn được thúc đẩy bằng một niềm tin, bởi càng tin tưởng thì lại càng gắng sức, càng hy vọng vào hạnh phúc đích thực lại càng nỗ lực cầu nguyện và hành động, để đạt được ý nguyện. Vâng, muốn chiếm hữu được Nước Trời thì phải nỗ lực, phải không ngừng gắng sức kiến tạo cho mình một chứng minh thư “Tám Mối Phúc Thật” – một THẺ CĂN CƯỚC KI-TÔ HỮU – phản ánh trung thực cuộc sống theo Hiến chương Nước Trời với một đức tin vững vàng và một nỗ lực kiên trì vươn tới. Ước được như vậy. Amen. mục lục

TUYÊN NGÔN TÂM LINH

Trầm Thiên Thu

Khi nói đến tuyên ngôn, người ta thường nghĩ ngay tới tuyên ngôn độc lập của một quốc gia. Bài thơ tứ tuyệt “Nam Quốc Sơn Hà” được coi là tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam – không rõ tác giả, nhưng thường được coi là của Lý Thường Kiệt, sau đó có “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi.

Tâm linh cũng có bản tuyên ngôn đặc biệt: Bát Phúc, tức là Tám Mối Phúc – cũng gọi là Bài Giảng Trên Núi hoặc Hiến Chương Nước Trời. Trong Cựu ước có Thập Giới – tức là Mười Điều Răn, theo hướng “tiêu cực” một chút: ĐỪNG làm điều này, CHỚ làm điều nọ, CẤM làm điều kia. Tân ước có Bát Phúc, theo hướng “tích cực” hơn: PHÚC cho ai làm điều này hoặc thực hành điều kia. Cựu ước và Tân ước “song song” với nhau, có vẻ nghịch mà vẫn thuận – không hề đối lập.

Độc lập là tình trạng không lệ thuộc ai, nghĩa là được tự do. Có tự do là có hạnh phúc. Tự do tâm linh cần thiết hơn, vì không còn lệ thuộc tội lỗi nữa. Cả Cựu ước và Tân ước đều hướng con người về Chân-Thiện-Mỹ để có được bình an và tự do đích thực. Tự do không có nghĩa là phóng túng, xả láng, mà là tự do quyết định: sống theo luật hay không theo luật. Tự do sống theo luật Chúa là tự do làm theo ý Chúa, và chính “sự tự ép mình” đó lại chính là sự tự do đích thực – tự do yêu mến.

Quả thật, “Công Lý Chúa trường tồn, Luật Chúa là Chân Lý.” (Tv 119:142) Thật tuyệt vời đối với lời xác định của Thánh Gioan Tông Đồ: “Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người. Mà các điều răn của Người có nặng nề gì đâu, vì mọi kẻ đã được Thiên Chúa sinh ra đều thắng được thế gian.” (1 Ga 5:3-4) Những người tin theo Chúa luôn “vui thú với Luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày,” (Tv 1:2) họ “thích làm theo Thánh Ý và ấp ủ Luật Chúa trong lòng.” (Tv 40:9) Như vậy là hạnh phúc, vì “kẻ yêu luật Chúa hưởng an bình thư thái, chẳng còn lo gặp chướng ngại nào.” (Tv 119:165) Hoàn toàn độc lập và tự do.

Con người như con ngựa chứng ngang bướng, thường ảo tưởng về mình nhưng lại yếu đuối và sa ngã. Sách Xô-phô-ni-a có lời hiệu triệu: “Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở, những kẻ thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa, anh em hãy tìm kiếm Người; hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường thì may ra anh em sẽ được che chở trong ngày thịnh nộ của Đức Chúa.” (Xp 2:3) Lời hiệu triệu này cũng chính là lời cảnh báo dành cho mỗi chúng ta ngày nay, chẳng trừ ai. Lời đó như “chiếc hàm thiếc” kiềm chế con ngựa vậy.

Là Đấng công minh và chính trực, Thiên Chúa chỉ yêu quý những ai sống khiêm nhường. Vì thế, Ngài xua đuổi những kẻ kiêu căng tự đắc, triệt hạ kẻ ngông nghênh tự phụ, như Ngài đã nói thẳng với dân Ít-ra-en: “Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ; chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa. Số dân Ít-ra-en còn sót lại sẽ không làm chuyện tàn ác bất công, cũng không ăn gian nói dối và miệng lưỡi chúng sẽ không còn phỉnh gạt. Nhưng chúng sẽ được chăn dắt và nghỉ ngơi mà không còn bị ai làm cho khiếp sợ.” (Xp 3:12-13) Thà có ít người mà tốt lành còn hơn nhiều người mà toàn thứ dở hơi, xấu xa, độc ác, giả hình,... Kinh Thánh xác định: “Người triệt hạ kẻ ăn nói kiêu căng và cứu vớt ai khiêm nhường cúi mặt.” (G 22:29)

Thiên Chúa toàn năng và bất biến, chính Ngài “tạo thành trời đất với biển khơi cùng muôn loài trong đó,” và “giữ lòng trung tín mãi muôn đời.” (Tv 146:6) Ngài là Đấng chí công vô tư, không thiên tư tây vị bất cứ ai, yêu quý chân lý và công lý, vì thế Ngài “xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn, giải phóng những ai tù tội, và mở mắt cho kẻ mù loà.” (Tv 146:7-8a) Thật hạnh phúc cho ai nhận biết và hết lòng tôn thờ một Thiên Chúa tốt lành như vậy.

Thánh Gioan Tông đồ xác định: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8 và 16). Vì thế, Ngài hay “mủi lòng”, luôn chạnh lòng thương những người thấp cổ bé miệng bị những kẻ ăn trên ngồi trước áp bức đủ kiểu. Mọi thời đều có lũ “đỉa người” hút máu dân lành, bóc lột tận xương tủy, áp bức tàn nhẫn mà không chút tình người. Nhưng Thiên Chúa mạnh mẽ đòi lại công lý cho họ: “Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, Chúa yêu chuộng những người công chính. Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân” (Tv 146:8b-9). Thiên Chúa toàn năng và quyền phép, không một thế lực hoặc thần lực nào địch nổi, vì Ngài “nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở và hiển trị ngàn đời” (Tv 146:10). Chắc chắn những người chịu oan ức sẽ được Ngài giải thoát kịp thời.

Vì vậy, thật diễm phúc khi được tán dương Ngài: “Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến, bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời” (Lc 19:38). Tôn vinh Thiên Chúa không chỉ là niềm vinh dự mà còn là trách nhiệm của chúng ta – các thụ tạo của Ngài.

Nhưng vì là phàm nhân yếu đuối, chúng ta khó tránh khỏi những lúc xao lòng, dao động trước nghịch cảnh. Với lòng yêu thương, Thánh Phaolô nhắc nhở: “Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem: khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người” (1 Cr 1:26-29). Tự phụ hoặc tự mãn là do “cái tôi” quá lớn, loại gây ra các thứ tội. Nó không chỉ đáng ghét mà còn đáng sợ, thế nên Thánh Vịnh gia tha thiết kêu cầu: “Xin giữ cho tôi tớ Ngài khỏi kiêu ngạo, đừng để tính xấu này thống trị con” (Tv 19:14a).

Phong cách sống của Chúa Giêsu luôn “khác người”, không giống ai, thậm chí là có vẻ “ngược đời”, theo dạng nghịch-lý-thuận. Thật vậy, cuộc đời Ngài luôn gắn liền với những mẫu tự T một cách lạ lùng: Trầm Tư (cầu nguyện), Thật Thà (chân lý), Thẳng Thắn (công lý), Tha Thứ (nhân hậu, thương xót), Trừng Trị (công minh). Thật tuyệt!

Một lần nữa, Thánh Phaolô xác định: “Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em, hợp như lời đã chép rằng: AI TỰ HÀO THÌ HÃY TỰ HÀO TRONG CHÚA” (1 Cr 1:30). Chỉ có điều đó mới là niềm hãnh diện cần thiết và đáng yêu thực sự.

Như đã nói trên đây, Cựu ước chú ý mệnh lệnh phủ định với chữ CẤM – tức là ép buộc, còn Tân ước chú trọng mệnh lệnh xác định với chữ NÊN – tức là khuyên răn. Rõ ràng Tân ước tích cực hơn Cựu ước, vì Tân ước không hề áp đặt hoặc bắt buộc, mọi người được sử dụng quyền tự do của mình mà chọn lựa và quyết định.

Qua trình thuật Mt 5:1-12, Thánh sử Mát-thêu cho biết rằng, khi thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Ngài ngồi xuống, và các môn đệ đến gần. Rồi Ngài dạy dỗ họ 8 điều khoản ngắn gọn để làm kim chỉ nam cho cuộc sống:

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Và rồi Ngài còn nói thêm: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.” (Mt 5:11-12) Lời này vừa là cách nhấn mạnh, vừa là lời giải thích, và cũng vừa là lời động viên những người bước theo Chúa. Bát Phúc cũng chính là Ánh Sáng soi đường dẫn lối cho các tín nhân trên bước đường lữ hành trần gian về Quê Trời, nếu không đi theo ánh sáng này thì chắc chắn sẽ lạc lối.

Đó là Bản Tuyên Ngôn Tâm Linh đầu tiên của nhân loại. Chắc chắn không có bản tuyên ngôn nào ngắn gọn và súc tích hơn nữa. Sau khi đọc Bản Tuyên Ngôn Nước Trời, vĩ nhân Gandhi (vị Cha già Đáng kính của dân tộc Ấn Độ và được tôn vinh như một thánh nhân) đã tuyên bố rằng Bài Giảng Trên Núi là bản tuyên ngôn hay nhất, và nhờ đó mà ông cảm thấy yêu mến Chúa Giêsu.

Lạy Thiên Chúa, nguyện xin Lời Chúa luôn là ngọn đèn soi bước đời chúng con và luôn là ánh sáng chỉ đường chúng con đi, (Tv 119:105) để nhờ đó chúng con biết tuân giữ các điều khoản mà Thầy Giêsu truyền dạy. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

DÂNG CON CHO CHÚA

“Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa” (Lc 2:23).

Đến ngày lễ thanh tẩy

Theo đúng Luật Mô-sê

Cha Mẹ đem Hài Nhi

Lên Đền Thờ dâng tiến.

Trọn lòng thành ước nguyện

Như Luật Chúa đã truyền

Dâng cặp bồ câu non

Hay một đôi chim gáy.

Thiên Chúa đã truyền dạy

Mọi con trai đầu lòng

Phải chân thành tiến dâng

Vì đó là của thánh.

Ngọn nến hồng lấp lánh

Lửa yêu mến lung linh

Sáng ngời ánh đức tin

Trọn đời xin tín thác. mục lục

♥✝♥

THEO MẸ TIẾN DÂNG

Mẹ là biểu tượng cao vời
Về người phụ nữ tuyệt vời, tuyệt luân
Nêu gương nhân đức tuyệt trần
Phu nhân hiền thục, Mẫu thân hiền từ
Vâng lời tuyệt đối khiêm nhu
Mẹ là lý tưởng diệu kỳ nên theo
Mới mong sự sống mai sau
Trường sinh nơi cõi Trời Cao – Thiên Đàng
Con Yêu được Mẹ hiến dâng
Cho Đấng vĩnh hằng, hiển trị quang vinh
Dâng Con, Mẹ cũng dâng mình
Bởi vì mọi sự nhờ tình Chúa thương
Cuộc đời con cũng xin dâng
Dù con bất xứng nhưng hằng mến tin
Trọn đời chỉ kiếm chỉ tìm
Thiên Chúa là phần vĩnh phúc mà thôi
Xin thương hướng dẫn, Mẹ ơi!
Đưa đường dẫn lối lên Trời bình an.

Trầm Thiên Thu - Lễ Nến 2020

HIẾN CHƯƠNG NƯỚC TRỜI

(Cảm nhận từ Mt 5,1-12)

Phần đầu bài giảng hôm nay

Cộng đoàn dân Chúa cảm đầy nguồn vui.

Tuyên ngôn tám phúc Nước Trời

Chính là phúc thật người đời ước mong.

Sống đời nghèo khó an lòng

Ưu tiên Chúa gọi vào trong Nước Trời

Hiền lành, đạo đức, người ơi

Được vào Đất Hứa đời đời hiển vinh.

Đau thương, vững chí dâng mình

Chúa thương an ủi, phúc lành thưởng cho

Khát khao nhân đức chớ lo

Chúa thường cung cấp đủ no phần hồn.

Ai thương giúp kẻ cô đơn

Chính là xin Chúa ban ơn cho mình

Giữ mình thanh khiết trọn lành

Được xem thấy Chúa Thiên Đình chẳng sai.

Ai xây hòa thuận giúp đời

Được làm con Đức Chúa Trời Hiển Linh.

Người nào hiến sự sống mình

Thuộc quyền sở hữu Thiên Đình thiên thu…

(Thế Kiên Dominic) mục lục

Ý NGHĨA CÂY NÊN TRONG ĐẠO CÔNG GIÁO

Phêrô Nguyễn Đình Diễn dịch - mục lục

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan