SUY NIỆM CHÚA NHẬT VI TN_A

13-02-2020 513 lượt xem

Lời Chúa: Hc 15,16-21; 1 Cr 2,6-10; Mt 5,17-37

Mục Lục

TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

CUỐN SÁCH HAI CHỮLm Giuse Nguyễn Hữu An

NÓI MÀ KHÔNG LÀMJM. Lam Thy ĐVD

GIỮ LUẬT CHÚA VỚI TÌNH YÊU VÀ LÒNG MẾN Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

NẾU ANH EM KHÔNG ĂN Ở CÔNG CHÍNH HƠNFx. Đỗ Công Minh

CHÚA KIỆN TOÀN LUẬT NHƯ THẾ NÀO? - Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG

THANH TOÁN NỢ ĐỜITrầm Thiên Thu

THEO CHÚA GIÊSU TRONG ÁNH SÁNG CỦA NGƯỜI - Bs. Nguyễn Tiến Cảnh, MD

HOÀ GIẢI TRƯỚC ĐÃ(Thế Kiên Dominic) 

TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Tự do lựa chọn một quyết định và gánh trách nhiệm về quyết định của mình, đó là đặc tính căn bản làm cho con người khác biệt với mọi loài tạo vật. Thiên Chúa sáng tạo con người không giống như một chiếc máy cho ra lò hàng loạt sản phẩm cùng một mẫu mã như nhau. Ngài tạo dựng con người mỗi cá nhân đều khác biệt và cho họ có tự do để lựa chọn giữa điều tốt và điều xấu. Tác giả sách Huấn Ca đã dùng một hình ảnh đơn sơ dễ hiểu: Đức Chúa đặt trước mặt con người lửa và nước, nếu muốn gì thì giơ tay mà lấy; Đức Chúa đặt trước mặt họ cửa sinh và cửa tử…Người không truyền cho ai ăn ở thất đức, cũng không cho phép ai phạm tội (Bài đọc I).

Nếu Thiên Chúa ban cho con người có tự do, là để họ dùng tự do ấy một cách đúng mức và để họ có trách nhiệm về những việc mình làm. Vì con người hay lạm dụng tự do, nên Chúa đã thiết lập lề luật làm nền tảng để lượng giá những hành động của họ. Lề luật của Thiên Chúa là mẫu mực cho mọi lề luật của loài người, nên luật đó có giá trị ưu tiên. Mọi dân luật đều phải dựa trên luật của Thiên Chúa đã khắc ghi vào lương tâm con người.

Chúa Giêsu đã quả quyết, luật căn bản nhất mà con người phải tuân giữ, đó là luật yêu thương. Bài Tin Mừng hôm nay chứa đụng giáo huấn rất phong phú về nội dung này. Không thể viện cớ một luật lệ hay một tập quán thế tục để hành động ngược với giới luật yêu thương. Khởi đi từ luật yêu thương này, người ta mới có thể xây dựng tình bằng hữu, đạo gia đình và tình nghĩa phu phụ.

Chúa Giêsu đến để kiện toàn lề luật của Cựu Ước. Hơn thế nữa, Người mặc cho lề luật một giáo trị cao siêu hơn. Nếu luật Cựu Ước quy định kẻ sát nhân phải ra tòa, thì luật Tân Ước, những ai giận ghét anh chị em mình hoặc chửi mắng rủa xả họ với những lời thóa mạ, thì đã đáng hình phạt hỏa ngục trầm luân. Những quy định của luật Tân Ước nhằm bảo vệ và cổ võ thực thi bác ái giữa những người đồng loại. Trong Giáo huấn của Chúa Giêsu, luật yêu thương không chỉ dừng lại ở những cấm đoán, nhưng còn tiến xa hơn bằng những lời khuyên làm việc tốt cho tha nhân, đến mức yêu tha nhân như chính mình. Để giáo huấn của mình có độ xác tín, Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta noi theo qua việc rửa chân cho các môn đệ và nhất là qua cái chết trên thập giá.

Để có thể hành động đúng với ý Chúa và để có thể thực thi được đức bác ái hoàn hảo, một điều kiện căn bản là mỗi chúng ta phải khiêm tốn nhìn nhận vị trí và khả năng của mình trong cuộc sống hiện tại. Nghịch lại đức khiêm tốn là kiêu ngạo. Người kiêu ngạo thường lấy mình làm tiêu chuẩn để đoán xét người khác. Họ coi mình là trung tâm vũ trụ, nên hành động và quyết định mà không nghĩ đến quyền lợi và phẩm giá của anh chị em mình. Khiêm tốn bao nhiêu cũng chẳng đủ; Kiêu ngạo một chút đã là thừa. Lối sống khiêm hạ là phương pháp Đức Giêsu đã dùng để cứu độ trần gian. Đối với mỗi tín hữu chúng ta, khi khiêm nhường là chúng ta nên giống Đức Giêsu và như thế chúng ta có thể sống đức yêu thương như Người truyền dạy.

Sống như một người có trách nhiệm cần phải có ơn Chúa, nhất là ơn khôn ngoan. Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy hành xử theo sự khôn ngoan đích thực, chứ không phải lẽ khôn ngoan theo quan niệm thế gian. Lẽ khôn ngoan này là chính Đức Giêsu, Đấng đã đến để chỉ cho chúng ta con đường về quê trời.

“Hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ”. Một điều xem ra quá đơn giản và dễ dàng mà chúng ta không phải lúc nào cũng áp dụng được. Cuộc sống này vẫn còn những tranh cãi bất hòa và căng thẳng, vì chúng ta thường có khuynh hướng nói ngược lại: ‘có’ lại nói ‘không’ và ‘không’ lại nói ‘có’.

Con người không phải là một ốc đảo trong đại dương mênh mông là cuộc đời này. Mỗi cá nhân là một người có tự do và có trách nhiệm. Nên thánh chính là biết sống quân bình giữa tự do và trách nhiệm trong mối tương quan với Chúa và với anh chị em. Xin Chúa cho chúng ta biết sử dụng tự do để lo phần rỗi bản thân và góp phần đem lại hạnh phúc cho đồng loại. mục lục

CUỐN SÁCH HAI CHỮ

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa Giêsu khẳng định: “Đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hay lời các Ngôn sứ.Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn”.

Luật Môsê là Luật của Thiên Chúa ban. Môsê đã làm nhiệm vụ trung gian trao lại cho dân Do thái và giải thích Luật ấy. Người Do thái từ bao đời đã giữ Luật theo lời giải thích của Môsê. Lề Luật là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá một con người. Lề Luật có tầm quan trọng số một đối với người Do thái.

Không ai có quyền bãi bỏ luật lệ, trừ chính vị ra luật hay nhà lập luật. Trong Israel, chỉ mình Đức Chúa có quyền này, ngay cả Môsê cũng không, vì ông chỉ là trung gian truyền đạt.

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Ngài không gạt bỏ Luật của Thiên Chúa được trao cho Môsê, nhưng Ngài giải thích lại Luật ấy cho đúng với ý Thiên Chúa, Ngài làm cho mọi luật được nên trọn hảo. Chúa Giêsu công bố lại ý hướng nguyên thuỷ của Thiên Chúa diễn tả qua Lề Luật, đó là Tình Yêu. Ngài muốn đặt tình yêu làm nền tảng cho mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau : “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương tha nhân như bản thân mình”.

Chúa Giêsu khẳng định: “Thầy đến để kiện toàn lề luật”. Lời tuyên bố quả quyết dứt khoát đến nỗi: trời đất qua đi thì lời Ngài nói vẫn tồn tại, và tất cả những ai tuân giữ lời Ngài cũng được tồn tại muôn đời trong Nước Trời. Lời tuyên bố như đinh đóng cột làm: “thiên hạ sửng sốt vì Ngài giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền” (Mt 7,28; Mc 1,22; Lc 4,31). Kiện toàn Luật Môsê và các Ngôn sứ là kiện toàn và thực hiện toàn bộ Kinh Thánh.

Chúa Giêsu kiện toàn nội dung của Luật gồm luật Sabát, luật thanh sạch, luật hôn nhân, luật báo oán…Đối với Chúa Giêsu, tất cả các khoản luật được lập ra là nhằm mục đích phục vụ con người, chứ không phải phục vụ cơ chế hay quyền lợi của một nhóm người nào. Luật phải vì con người chứ không phải con người vì luật.Luật quan trọng nhất được khắc khi trong tâm hồn mà mọi điều luật khác phải qui về, đó là luật bác ái yêu thương. Luật nào không còn phục vụ và làm thăng tiến con người trên phương diện tình yêu đều không còn lý do để tồn tại.

Chúa Giêsu kiện toàn tinh thần giữ luật. Giữ luật vì lòng yêu mến chứ không phải vì hình thức vụ luật. Óc nệ luật, vụ hình thức làm tê liệt sáng kiến và cầm chân con người trong thái độ tiêu cực, máy móc, cằn cỗi.

Như vậy, Chúa Giêsu kiện toàn lề luật bằng cách đặt cho nó một linh hồn là yêu thương. Tất cả lề luật trong đạo đều qui về một giới răn nền tảng và duy nhất, đó là yêu thương.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu làm hoàn hảo điều răn thứ 5, điều răn thứ 6 và thứ 9, điều răn thứ 2 và thứ 8.

Chúa Giêsu kiện toàn điều răn thứ 5

Điều răn thứ 5 dạy “chớ giết người“. Giết người là có tội. Luật của Chúa Giêsu thì chi tiết hơn: giận ghét, mắng chửi người khác đã là xúc phạm đến người khác, đã là lỗi luật rồi : “Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt” (Mt 5, 22-23).

Chúa Giêsu dạy cho con người biết yêu thương và tôn trọng nhau. Yêu thương thì bao dung nhân hậu, thứ tha cảm thông, hòa nhã lịch sự. Yêu thương thì không giận không ghét, không mắng chửi. Ngài cụ thể về đức công chính là làm hòa với tha nhân trước đã, dâng lễ cho Thiên Chúa sau. Như thế, lễ dâng cho Thiên Chúa chỉ có giá trị khi lòng người ngập tràn niềm yêu mến và tôn trọng nhau. Không đợi đến mức giết người mới thành khung tội nặng, khung án nặng, mà theo Chúa Giêsu thì chỉ cần giận ghét chửi mắng anh em là đã liệt vào khung hình phạt cao nhất rồi.

Luật của Chúa Giêsu thật chí lý. Vì nếu, con người ta giữ được lòng yêu thương, tôn trọng, không giận ghét, không mắng chửi thì không có nguyên nhân dẫn đến việc giết người.

Chúa Giêsu kiện toàn điều răn thứ 6 và thứ 9

Điều răn thứ 6 dạy: “Chớ dâm dục“, và điều răn thứ 9 dạy: “chớ ngoại tình“. Chúa Giêsu dạy tích cực hơn: Giữ tâm hồn trong sạch, cả cho mình lẫn cho người.

Không đợi đến lúc vở lỡ, không đợi phải bắt quả tang những chuyện tình vụng trộm thì tội mới thành danh tội “dâm dục” hay “ngoại tình”, nhưng ngay khi nhìn người phụ nữ mà thèm muốn làm chuyện xác thịt thì đã thành tội rồi.Chúa Giêsu rất có lý, vì nếu không giữ cho tâm hồn trong sạch, không kềm chế những ước muốn thấp hèn, sớm muộn con người ta cũng không tránh khỏi cái vòng tục lụy kia nó cuốn vào chỗ phạm tội làm mất đi nhân phẩm cao quí là con cái của Thiên Chúa, là Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Mọi người sống trong sạch với cái nhìn đơn sơ như chim bồ câu, sống vui tươi với nhau thật hồn nhiên như trẻ thơ, làm cho cuộc đời hạnh phúc biết bao!

Chúa Giêsu kiện toàn điều răn thứ 2 và thứ 8

Chúa Giêsu còn dạy thêm về sự ngay chính thật thà: “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra” (Mt 5,37). Lòng ngay chính thật thà hỗ trợ tốt cho việc chu toàn luật yêu thương, tôn trọng tha nhân. Yêu thương chân thành là nền tảng vững chắc ngăn chận mọi âm mưu gian tà của lạc thú xác thịt, của chia rẻ hận thù báo oán.

Cuốn sách hai chữ: Yêu Thương.

Một câu chuyện kể rằng, có nhà vua kia lệnh cho các nhà thông thái trong đất nước của ông là hãy tóm gọn tất cả mọi chân lý vào trong một cuốn sách. Thời gian trôi qua hàng chục năm mà chưa ai thực hiện được. Vị quan được trao phó trách nhiệm công việc này đến thưa với vua, xin vua khất cho thời hạn. Một năm sau, vua hỏi, vị này vẫn chưa làm được điều gì. Vì kiến thức là một biển cả mênh mông, không thể tóm trong một cuốn sách, phương chi là một vài chục năm. Không may, nhà vua bị bệnh, mỗi ngày một suy yếu. Thời gian không còn tính theo năm nữa mà tính theo tháng. Rồi bệnh của vua càng ngày càng trầm trọng. Nhà vua hối thúc vị quan được trao phó trách nhiệm. Vị quan này gấp rút dồn lại trong một cuốn sách. Nhưng nhà vua nói: Bây giờ thì ta không thể đọc được nữa rồi, ngươi hãy thu ngắn lại nữa. Cuối cùng một cuốn sách chỉ còn lại một chương. Một chương, nhà vua cũng không còn sức để đọc được nữa. Bệnh đã nặng, hết hơi, sức đã tàn. Sau cùng, nhà vua nói với viên quan kia: ngươi hãy tóm lại trong một chữ thôi. Viên quan đã tận tâm và thưa : muôn tâu hoàng thượng, nếu tất cả chân lý chỉ tóm lại trong một chữ thì thần xin bệ hạ hai chữ là: Yêu Thương.

Thánh Phaolô biết rõ hơn ai hết sự cao đẹp của Luật Môsê, nhưng chính vì thế mà ngài càng xác tín hơn ai hết về giới hạn của nó so với Tin Mừng  Chúa Giêsu (x. Gl 3,25-26). Đối với Phaolô: “Yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,10). Sống yêu thương là dấu ấn Thiên Chúa đã ghi khắc trong tâm hồn con người. Mỗi người là tạo vật duy nhất được Thiên Chúa tạo dựng theo và giống hình ảnh Ngài. Thiên Chúa là Tình Yêu cho nên con người cũng chỉ có một ơn gọi duy nhất, đó là sống yêu thương. Tất cả lề luật Giáo Hội ban hành là chỉ nhằm giúp con người sống yêu thương nhau.

Chúa Giêsu tha thiết kêu mời: Hãy yêu nhau “Như Thầy đã yêu anh em” (Ga 15,12).Chúa đã yêu bằng hành động cụ thể là hy sinh cho người mình yêu. Khi yêu nhau, người ta có thể hy sinh cho nhau thời giờ, tiền bạc, sức khỏe, công việc…Hy sinh cao cả nhất là hy sinh mạng sống: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”. Chúa đã thực thi sự hy sinh cao độ ấy: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta” (x. Rm 5,6; Ep 5,2; 1Ga 3,16), để chúng ta yêu thương: “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta phải thương yêu nhau” (1 Ga 4,19), nhờ đó mà “niềm vui được nên trọn vẹn” (Ga 15,9). Đối với Chúa Giêsu, tình yêu là giới răn đứng hàng đầu trong các giới răn. Mọi lề luật đều phải hướng đến tình yêu. Ai chu toàn tình yêu là chu toàn lề luật.

Lề luật của Chúa thật nhẹ nhàng vì lề luật chính là tình yêu. Nếu yêu mến Chúa và yêu mến anh em, chúng ta sẽ thấy việc giữ luật không còn gì khó khăn nữa. Tình yêu sẽ làm cho chúng ta cảm nếm sự ngọt ngào trong việc tuân giữ lề luật. Tình yêu thật vĩ đại cho những ai sống theo gương Chúa Giêsu trong hành trình cuộc đời mình.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa giúp chúng con biết làm tất cả mọi việc chỉ vì lòng mến Chúa và yêu người. Amen. mục lục

NÓI MÀ KHÔNG LÀM

JM. Lam Thy ĐVD

Lề luật là phương tiện giúp người tín hữu làm đúng và sống tốt, chớ không phải là cùng đích. Một khi người ta quá câu nệ vào lề luật thì việc tuân thủ lề luật sẽ trở thành gánh nặng. Thiên Chúa là Đấng ban Lề Luật cho chúng ta qua việc Người phán dạy (“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” – Dt 1:1-2). Những điều Chúa phán dạy, tức Lề luật của Chúa được ghi chép lại trong Sách Luật và các Ngôn sứ trình bày “lẽ khôn ngoan” của Người. Nhưng Thiên Chúa lại ban cho chúng ta một lẽ khôn ngoan bằng xương bằng thịt là Chúa Giê-su Ki-tô, để làm sinh động bộ luật đã được ghi trên bia đá hay trong sách vở. Ngày xưa người ta sống theo Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ. Còn “vào thời sau hết này”, chúng ta sống theo Chúa Ki-tô và Tin Mừng của Người. Đó là điều Phụng vụ Lời Chúa hôm nay muốn trình bày.

Bài Tin Mừng Chúa nhật VI/TN-A (Mt 5, 17-37) trình thuật Lời dạy của Đức Giê-su: "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.” (Mt 5, 17-18). Mới thoạt nghe, không hiểu vì sao Đức Ki-tô lại nói về vấn đề bãi bỏ hay kiện toàn Lề Luật, nhưng đọc tiếp câu sau ("Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.” – Mt 5, 20), thì hiểu ra là Người muốn nhắc đến đám kinh sư và người Pha-ri-sêu. 

Đó là đám người chuyên vỗ ngực tự cho mình là người thông luật và tự hào mình lúc nào cũng tuân thủ Lề Luật cách nghiêm chỉnh. Đáng tiếc là họ “nói mà không làm, bó những gánh nặng mà đặt lên vai người ta, còn chính họ lại không buồn động ngón tay vào”, và nhất là “họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy” (Mt 23, 3-5). Hơn thế nữa, họ vẫn cho rằng Đức Giê-su chống lại Lề Luật (cụ thể là luật Mô-sê), và họ đã liên tục đem Lề Luật ra gài bẫy Người (“các kinh sư và các người Pha-ri-sêu bắt đầu căm giận Người ra mặt, và vặn hỏi Người về nhiều chuyện, gài bẫy để xem có bắt được Người nói điều gì sai chăng.” – Lc 11, 53-54). Họ luôn tìm những chứng gian để có cớ xử án Người (“Còn các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng thì tìm chứng gian buộc tội Đức Giê-su để lên án tử hình” – Mt 26, 59). 

Quả thật “các nhà thông luật kinh sư và Pha-ri-sêu” rất đáng nhận những lời khiển trách này: "Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ. Quân dẫn đường mù quáng! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà.” (Mt 23, 23-24). Họ tự cho là mình thông luật, muốn dùng luật lệ để dạy dỗ hướng dẫn người khác, nhưng khi hành động và nhất là cư xử với những người xung quanh, thì họ lại chứng tỏ họ là “quân dẫn đường mù quáng”. Dẫn đường mù quáng thì có khác gì “Mù mà lại dắt mù được sao? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố?” (Lc 6, 39). Thực ra, những người ấy không phải là không biết mình đang làm gì. Họ rất thông luật, miệng thì leo lẻo luật lệ, nhưng khi thực hành thì “Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào.” (Lc 11, 46). Họ “đã cất giấu chìa khoá của sự hiểu biết: các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người lại ngăn cản.” (Lc 11, 52). 

Đúng là những nhà thông luật “mồm loa mép giải” đã cố tình quên mất điều căn bản của Lề Luật là những lý luận mang tính răn đe, nhằm giúp con người trở nên hoàn thiện; nó chỉ thực sự có ích khi người ta đem ra thực hành. Nói (lý thuyết) mà không làm (thực hành) thì chỉ là thứ “thùng rỗng kêu to” mà thôi. Trong khi đó, đám kinh sư và Pha-ri-sêu dạy người ta cách giữ Luật để được khen ngợi chứ không phải để được nên hoàn thiện. Họ chỉ giữ cái vỏ bên ngoài mà cố tình quên đi cái cốt lõi bên trong ("Thật, nhóm Pha-ri-sêu các người, bên ngoài chén đĩa, thì các người rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà.” (Lc 11, 39). Họ chỉ nói mà không làm, hoặc nói một đàng làm một nẻo, “ngôn hành bất nhất”, nên Đức Giê-su mới dạy: “Vậy tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm hãy giữ;  còn những việc họ làm thì đừng có làm theo”. 

Đó là lý do giải thích tại sao Đức Giê-su dùng kiểu nói có 2 vế: Một vế mang tính lý thuyết (“Luật dạy rằng… ), còn vế kia là thực hành (“Còn Thầy, Thầy bảo…”) nhằm giúp các môn đệ được nên hoàn thiện. Với chủ đích ấy, Đức Giê-su đã liên tục đưa ra 6 Lời khuyên (5 “Đừng”: Đừng giận ghét, Chớ ngoại tình, Đừng ly dị, Đừng thề thốt, Chớ trả thù ; và 1 “Nên”: Phải yêu kẻ thù – Mt 5, 20-26). Trước hết là lời khuyên “Đừng giận ghét”: Con người khi đứng trước những mối bất hoà thường có 2 thái độ, hoặc nổi sùng tìm cách chống cự, hoặc thoái lui theo kiểu “tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Chống cự biểu lộ sự giận ghét đã đành, nhưng thoái lui cũng vẫn ẩn chứa sự hậm hực trong lòng. Đàng nào cũng không tránh khỏi ấm ức, thù hằn. 

Chống cự, trả thù ư? Ca dao Việt Nam có câu “Chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang, Đánh được người thì mặt vàng như nghệ”. Mặt đỏ như vang thì hách lắm, cứ như Quan Công ấy! Nhưng mặt vàng như nghệ thì hẳn là …không giống ai! Tức giận quá độ thì mặt đỏ bừng bừng, quyết một trận sống mái. Đánh người bị thương tật, thậm chí có thể tử vong, thì mình tránh sao khỏi vòng tù tội. Ấy là chưa kể mình đánh người, bộ người không biết đánh trả sao? Nếu người khoẻ hơn mình và trả đòn, hoặc nếu người không chống trả được, nhưng liệu con cháu người ta có để yên cho mình không? Chắc chắn phải tù tội, hoặc có thể bị trả thù, xin tí huyết, mặt lúc đó không “vàng như nghệ” thì còn “đỏ như vang” làm sao được nữa. 

Đừng ngoại tình ư? Khó lắm! “Văn mình vợ người”, viết văn thì chỉ thấy văn mình là hay, còn văn thiên hạ là đồ bỏ; nhưng đối với người bạn đời thì lại thấy thua xa vợ hàng xóm. Thế đấy! Làm sao tránh khỏi tội ngoại tình khi trong tư tưởng đã như thế! Nên chi “ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5, 28). Đã có một truyện cổ kể rằng: Các bà phải mang nặng cái bào thai tới 9 tháng 10 ngày, đến khi sinh đẻ thì lại đau đớn tưởng chừng muốn đứt hơi, bèn bàn nhau lên xin Thượng đế cho các bà chỉ chịu mang nặng thôi đã quá đủ, còn khi sinh nở thì để các ông đau đớn cho biết mùi. Thượng đế xét thấy cũng hợp lý và chấp thuận. Từ đó, mỗi khi các bà sinh đẻ, thì đức lang quân quằn quại kêu la; nhưng khổ một nỗi, không thiếu những trường hợp vợ ông A sinh, mà ông B lại quằn quại đau đớn. Phu nhân nhà sinh, đức lang quân hàng xóm đau, ấy mới kẹt! Thế là các bà lại lũ lượt kéo lên xin Thương đế cho “ai đẻ thì người ấy đau”. Kể cũng thú vị. 

Cứ tưởng ở cái thời đại được gọi là văn minh phù phiếm này mới có nhiều cảnh cười ra nước mắt, thực không ngờ cách đây hơn 2.000 năm, ngoại tình đã làm xốn mắt Đấng Cứu Thế, và còn xa hơn thế nữa, bởi đến ngay như vua Đa-vit (cách Đức Giê-su tới 42 đời – Mt 1, 17-18) đã vợ con đùm đề (Sb 3, 1-9), mà cũng cầm lòng không được trước cảnh vợ của U-ri-gia, người Khết – một tướng quân thuộc quyền nhà vua – đang tắm, rồi thì cướp vợ và đầy chồng người ta ra biên ải, để mượn tay quân thù sát hại (2 Sm 11,10-26). Thế đấy! Quả thực, vấn đề ngoại tình là truyện dài từ xưa tới nay không có hồi kết. Bệnh ngoại tình đã trở thành bệnh mãn tính cổ kim thời đại, và có lẽ hơn ai hết, Đức Ki-tô biết rõ con người là như thế, nên Người đã không kết án người đàn bà ngoại tình; chẳng những thế, Người còn cứu chị ta thoát khỏi nhục hình “ném đá cho tới chết” như lụât Mô-sê thời đó (Ga 7,2-11). 

Rồi cũng từ cái “văn mình, vợ người” đi tới chỗ “chán cơm thèm phở” cũng chẳng bao xa và tếch thêm một bước nữa mấy hồi, khoái rẫy vợ là cái chắc! Ngày xưa thì còn hiếm chứ ngày nay thì đầy rẫy, mà cũng không thiếu những quốc gia chấp nhận, khuyến khích việc ly dị, khiến xảy ra biết bao thảm cảnh nhà tan cửa nát. Chia của, chia con, chia đủ thứ, rồi thì “Anh đi đường anh, tôi đường tôi. Tình nghĩa đôi ta có thế thôi” (Thế Lữ). Rốt lại, cũng không đi ra ngoài Lời dạy của Đức Giê-su: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình” (Mt 5,32). Chung quy cũng lại là ngoại tình, vậy mà còn được đời khen là ông ấy (bà ấy) có số đào hoa nữa cơ đấy! 

Đến như thề thốt thì xưa và nay cũng vậy, đều coi đó như một cách minh hoạ cho lời nói chứng tỏ sự thật. Nói về một vấn đề gì, phải thề mới được người ta tin. Người chân chính mà thề thì chẳng nói làm gì, mà có lẽ cũng vì thế nên Luật Mô-sê mới khuyên “Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa” (Mt 5,33). Nhưng hầu hết những người dối trá, lươn lẹo, mới hay thề thốt, phần thì để che giấu cái xấu của mình, phần thì có thể lợi dụng lòng tin của người khác để lừa phỉnh, lường gạt. Ấy cũng bởi con người thích sự dối trá hơn là sự thật, thích khen hơn là chê, nên mới khoái thề thốt. Tuy nhiên, thề mà “thề cá trê chui ống” (tục ngữ VN) thì cũng trớt quớt (*) và… huề cả làng. Đó mới chỉ nói về mặt nhân sinh, nhưng còn mặt chính trị, kinh tế, xã hội, thì chẳng cần nói đâu xa, mà ngay ở cái nước Việt Nam lắm chuyện này, cũng nhan nhan cảnh ấy. Thực không thể ngờ được đến những người cầm cân nảy mực, quyết sách quốc gia, cũng đặt tay lên hiến pháp mà thề nhăng, hứa cuội! Ôi chao! Chỉ trời, chỉ đất, chỉ lên đầu, còn chỉ cả vào thần thánh mà thề nữa kia. Khiếp chưa? Chính vì thấy con người là như thế, nên Đức Ki-tô mới dạy: Đừng thề thốt. 

Suy nghĩ cho kỹ Lời dạy của Đức Ki-tô trong bài Tin Mừng hôm nay, rút ra được một bài học tuyệt vời: đó là Người vẫn luôn tôn trọng sự tự do mà Thiên Chúa đã ban cho con người (như sách Huấn ca viết: “Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước, con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy. Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử, ai thích gì, sẽ được cái đó” – Hc 15, 16-17). Vì thế, Đức Ki-tô không hề bắt buộc, mà chỉ khuyên bảo, răn đe. Đáng lý ra, với quyền năng Thiên Chúa, Người sẽ “cấm” chớ không “khuyên”. Thay vì Người nói “Cấm không được…”, hoặc nhẹ nhàng hơn “Không được…” (Vd : Không được giận ghét, không được ngoại tình…), thì Người chỉ khuyên “Đừng…”, “Chớ... ” (Đừng giận ghét, Chớ ngoại tình…). Đến Lời khuyên bảo thứ tư (Đừng thề thốt), Người chốt lại: “Nhưng hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5, 37). Như vậy là Đức Giê-su dạy phải nói, mà nói đúng sự thật (dù cho sự thật ấy có làm mất lòng thiên hạ). Chính sự thật là thước đo chân lý. 

Đức Giê-su muốn các môn đệ cũng như những kẻ tin theo Người hiểu rằng việc tuân giữ Lề Luật để làm đẹp lòng Thiên Chúa, cốt ở hành động chớ không phải chỉ lý thuyết suông. Thật vậy, "khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống. Nếu việc phục vụ Lề Luật – thứ Lề Luật chỉ đưa đến sự chết và được khắc ghi từng chữ trên những bia đá – mà được vinh quang đến nỗi dân Ít-ra-en không thể nhìn mặt ông Mô-sê được, vì mặt ông chói lọi vinh quang – dù đó chỉ là vinh quang chóng qua – thì việc phục vụ Thần Khí lại không được vinh quang hơn sao? Vì việc phục vụ án chết mà còn được vinh quang như thế, thì việc phục vụ đức công chính còn vinh quang hơn. So với vinh quang tuyệt vời này, thì vinh quang xưa kia chẳng vinh quang gì. Thật vậy, nếu cái chóng qua mà còn được vinh quang, thì cái còn mãi lại chẳng vinh quang hơn sao?" (2 Cr 3, 6-11). Đức Giê-su “không bãi bỏ mà chỉ kiện toàn Lề  Luật” chính là vì thế. 

Nói tóm lại, giữ luật là để biểu lộ tâm tình con thảo đối với Thiên Chúa là Cha, Đấng muốn cho chúng ta cũng được trở nên hoàn thiện như chính Người.  Do đó, giữ luật là sống mối quan hệ yêu thương, chứ không phải là việc làm vì ép buộc. Tình yêu đích thực không bao giờ là áp đặt, vì thế Lời dạy của Đức Ki-tô chỉ “khuyên” chớ không “buộc”.  Chúa luôn mong muốn người tín hữu hôm nay hãy thành thực xét lại vấn đề tuân giữ Giáo luật. Ôi! “Lạy Chúa Giêsu, "Chúa đến không phải để hủy bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn". Xin cho chúng con ngày càng tuân giữ luật Chúa cách trọn hảo, để được vào Nước Chúa hưởng phúc muôn đời. Chúng con cầu xin nhờ Danh Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện Giáo dân Thánh lễ CN.VI/TN-A).

-----------------------------------------------------

Chú thích: (*) “Trớt quớt” là tiếng nói địa phương (miền Nam VN), ngụ ý: Lời nói vừa ra khỏi miệng đã trôi tuột đi mất tăm. Ngu mỗ rất thích dùng tiếng này, vì cũng chẳng tìm được tiếng tương đương thay thế. mục lục

GIỮ LUẬT CHÚA VỚI TÌNH YÊU VÀ LÒNG MẾN

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

“Thiên Chúa ban cho con người sự sống và sự chết, con người có quyền lựa chọn thích thứ nào thì được thứ ấy” (Hc 15, 17 ). Lời trên là một minh họa cụ thể cho Cây biết biết lành biết dữ và Cây Sự Sống trong sách Sáng Thế (x. St 2 ​​, 9 ). Chúng ta không “quyết định” chọn cái ác, tội lỗi là điều không thể tránh khỏi, nhưng dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, chúng ta được mời phân biệt sự lành và sự dữ cách tự do nhờ sức mạnh Người đã trao ban: “Nếu ngươi muốn tuân giữ các giới răn: việc trung thành giữ các giới răn là tuỳ ở ngươi”. Đây là Tin Mừng do Đức Khôn Ngoan công bố, Đức Giêsu thực hiện, Người chết cho tội lỗi và sống lại trong quyền năng của Chúa Thánh Thần. Khi tội lỗi bị bẻ gẫy, sự chết bị đập tan, Thiên Chúa ban lại cho chúng ta ơn gọi làm con cái Chúa, đồng thừa tự với Chúa Giêsu (x. 2 Pr 1, 4 ) . Đó là kế hoạch khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đối với loài người : “Sự khôn ngoan đầy nhiệm mầu của Thiên Chúa vẫn được giấu kín, mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn thuở để làm nên sự hiển vinh của chúng tôi… Thiên Chúa đã mạc khải điều đó cho chúng tôi do Thánh Thần của Người “ (x. 1 Cr 2, 6-10) .

Vì thế, nếu sự thật về thân phận con người là sống kết hiệp với Đức Giêsu và hiệp nhất với Ngài trong đức tin, tình yêu và lòng mến là con đường duy nhất dẫn đến Cây Sự Sống, phục hồi phẩm giá làm con Thiên Chúa và mở ra cho chúng ta tình huynh đệ phổ quát. Thì Đức Giêsu đến “kiện toàn Lề Luật và lời các Ngôn Sứ”, với mục đích soi đường chỉ lối cho chúng ta về với Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu và là Cha chúng ta nhờ sự vâng phục Lời Ngài. Tuy nhiên, sự khôn ngoan đầy nhiệm mầu của Thiên Chúa, khác với “sự khôn ngoan của thế gian” (x. 1 Cr 2, 6), như Thánh Phaolô nói với chúng ta. 

Khi con người cố gắng bằng mọi cách để bảo vệ “quyền lợi” cá nhân trong công lý, nhưng dưới cái nhìn của Đức Giêsu là chưa đủ: “Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu” (Mt 5, 20).  Vậy thế nào là công chính hơn các luật sĩ và biệt phái?

Đức Giêsu giải thích qua một loạt các phản đề giữa các giới răn cũ và kiểu Ngài đề nghị. Mỗi lần bắt đầu: “Các con đã nghe người xưa nói rằng… “, rồi Ngài khẳng định: “Còn Thầy, thầy bảo các con… “. Chẳng hạn: “Các con đã nghe người xưa nói rằng: Chớ giết người; ai giết người thì đáng bị đưa ra tòa. Còn Thầy Thầy bảo các con: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa” (x. Mt 5,21-22). Và sáu lần như vậy. Khi nói như thế, Đức Giêsu không có ý định thêm các điều răn, nhưng Ngài tuyên bố cần phải có bước nhảy về chất lượng, Ngài chứng tỏ Ngài chu toàn các giới răn với tình yêu của Chúa Cha, với sức mạnh của Chúa Thánh Thần ở trong Ngài. Đến lượt chúng ta, với niềm tin nơi Ngài, để Chúa Thánh Thần hoạt động, Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta sống tình yêu của Thiên Chúa. Vì thế, mỗi điều răn trở thành thật sự như đòi buộc của tình yêu, vì tất cả các giới răn đều tóm về hai điều này là : trước kính Đức Chúa Trời hết lòng hết sức, và sau là yêu người như mình ta vậy. Như Thánh Phaolô quả quyết: “Yêu thương là chu toàn Lề Luật” (Rm 13,10).

Đức Giêsu tiếp tục mời gọi chúng ta dứt bỏ tận căn : “Nếu con mắt phải của con nên dịp tội cho con, thì hãy móc nó mà ném xa con; vì thà mất một chi thể còn lợi hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. Và nếu tay phải con nên dịp tội cho con, thì hãy chặt mà ném nó xa con; vì thà mất một chi thể còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục” (Mt 5,29-30).  Hình ảnh thân thể người kitô hữu bị cắt xén cho thấy cuộc chiến khốc liệt này và báo trước những gì không phù hợp với sủng. Chỉ có Thần Khí mới có thể giúp chúng ta thực hiện việc hoán cải và lựa chọn dứt khoát, cứu mạng sống ta và ném xa ta những gì ngăn cản ta với Thiên Chúa, thậm trí tách ra khỏi chính thân mình như con mắt chẳng hạn. Liệu chúng ta có thể cân nhắc chọn lựa giữa ngọc trai quý hiếm với kho bạc duy nhất là Sự Sống đời đời không?

Thánh Phaolô nói: “lòng người cũng chưa từng mơ ước tới, đó là tất cả những điều Thiên Chúa đã làm cho những ai yêu mến Người” (1 Cr 2, 10). Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta vượt qua quán tính của con người cũ, và sống trong tình yêu, nếu chúng ta tin kính Chúa, “Chúa nhìn đến những kẻ kính sợ Người, và thấu suốt mọi hành động của con người” ( Hc 15, 19 ) ; “Chúa thích ngự trong những tâm hồn ngay thẳng” ( Lời nguyện nhập lễ ).

Đức Giêsu mời gọi chúng ta hoán cải tận căn, chúng ta là con một Cha trên Trời và là anh em với nhau. Chúng ta không đứng trước bàn thờ Chúa một mình, nhưng cùng anh em dâng lễ vật lên Thiên Chúa. Vì vậy, Cha trên Trời làm sao vui mừng được, khi con cái dâng lễ vật mà đang chia rẽ nhau ? Đó là lý do tại sao Đức Giêsu bảo: “khi ngươi đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với ngươi, thì ngươi hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ngươi trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ” (Mt 5,23-24).  Ai trong chúng ta là xứng đáng với lời đề nghị trên?

Lời Chúa Giêsu gửi đến mỗi người trong chúng ta, không có chuyện cắt chân cắt tay, hay là móc mắt, nhưng là cam kết dấn thân trong tình bác ái. Với ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể  vứt bỏ hay ném xa những gì đe dọa chúng ta kết hợp với Chúa và tha nhân, chọn Chúa làm gia nghiệp của đời ta. Amen. mục lục

NẾU ANH EM KHÔNG ĂN Ở CÔNG CHÍNH HƠN

 Fx. Đỗ Công Minh

Báo Tuổi Trẻ số ra gần đây đề cập đến việc chính phủ vừa ra nghị định qua đó phạt năng hành vi làm mất vệ sinh nơi công cộng và nêu câu hỏi:Ai Phạt? Phạt Ai? Theo qui định mới này thì những hành vi như xả rác bừa bãi, phóng uếnơi công cộng khi bị phát hiện sẽ bị phạt với những số tiền hàng triệu đồng. Vứt mẩu thuốc lá ra đường phố có thể bị phạt hàng trăm ngàn đồng. Nhưng qua dư luận thì cần hơn hết là ý thức tự giác của người dân chứ khó khả thi khi thực hiện qui định này bởi ai sẽ là người thực hiện? 

Bài Tin Mừng hôm nay Thánh Mátthêu cho con nhận ra được con đường theo Đức Kitô. Chúa nói với các môn đồ và dân chúng theo Người: “Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisiêu, thì sẽ chẳng được vào nước Trời". Giới Kinh sư là những người nhiều năm nghiên cứu Kinh Thánh, họ là những nhà chuyên môn am hiểu lề luật trong Đạo Do Thái, một số nhỏ trong họ là Tư Tế. Các Kinh sư là người giải thích luật và áp dụng Luật. Họ có uy tín trong dân. Tuy vậy họ cũng dễ rơi vào một thứ óc nệ luật hẹp hòi, khiến cho việc giữ Luật trở thành gánh nặng và làm cho người ta quên đi cái cốt yếu của Luật. Còn Pharisiêu, còn gọi là nhóm biệt phái, là những người sống đạo đức truyền thống, nghiêm nhặt. Nhưng trong số đó có những người giả hình, kiêu hãnh thường hay lên án người khác. Họ tự cho mình có thể mua được nước Trời bằng công trạng và lòng đạo đức của họ (xc. Dẫn vào Tân Ước của nhóm CGKPV).

Như vậy, những người Kinh sư và Pharisiêu thời Đức Kitô không phải là những người xấu, nhưng họ mới chỉ dừng lại ở chỗ giữ lề luật và phê phán người khác, nếu vi phạm lề luật. Họ tự nhận là công chính. Còn Chúa Giêsu, Người đòi hỏi những người theo Chúa còn phải đi xa hơn, “Công chính hơn “. Không dừng lại ở cách sống” có đi có lại, mới tọai lòng nhau “ hay đừng làm điều này, chớ làm điều kia như luật dạy. Thái độ sống vị luật, sống trong nỗi sợ, không phải là con đường Chúa dạy. Con đường của Chúa dạy là sống yêu thương, sống bác ái ngay từ trong trái tim, trong tâm khảm.Đối với người Do Thái, chớ giết người, đó là giới răn Chúa truyền dạy. Thế nhưng :” Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Bất cứ ai giận anh em mình , thì đáng bị đưa ra tòa. . . Vậy nếu khi anh em sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình . . .”.

Lạy Chúa,

Quả là khó lắm đối với con. Sống không làm hại ai, không lấy của ai, không xích mích với ai đã là một cố gắng, một hy sinh của con lắm rồi, nhưng với Chúa thì chưa đủ. Con đã nhận ra, không làm hại ai, tốt đấy! nhưng không giúp ai, không nhờ vả ai, không liên đới với ai cũng là có lỗi rồi. Chúa dạy con phải làm muối, nhưng muối của con không có vị mặn, hay muối mà đóng chai, đóng hộp cất trong tủ thì có ý nghĩa gì. Chúa dạy con là ánh sáng, nhưng đèn của con cháy leo lét, đèn của con chỉ thắp sáng trong phòng, trong nhà để soi sáng cho con thôi, thì nào có ích gì (Mt 15;13-16).

Con vẫn đi lễ ngày Chúa nhật, vẫn sẵn sàng ăn chay, kiêng thịt ngày Hội Thánh dạy: thứ Tư lễ tro, thứ Sáu tuần Thánh, nhưng sau đó thì ăn bù cho thỏa thích. Con không ăn cắp, ăn trộm nhưng sống lỗi đức công bằng, chỉ tìm lợi ích cho con mà bất chấp người khác. Con giữ nhà con cho sạch, còn rác rưởi xả ra thì đem đổ lén ngoài đường, ngoài kênh rạch, cống rãnh hoặc sáng sớm ra quyét sang nhà hàng xóm, quyét ra đường, con có xứng đáng là người đứng trong nước trời, dù là kẻ nhỏ nhất?

Xin Chúa cho con biết tuân giữ Lời Chúa dạy bằng lòng yêu mến thực. Không vì sợ hãi bị phạt với số tiền lớn, không vì áp lực, vì sĩ diện hay vì làm vui lòng người khác. Chớ gì con nhận biết thân phận yếu đuối của bản thân, dễ vấp phạm, dễ xa ngã. Nhưng với lòng yêu mến Chúa và nhờ ơn Chúa giúp, con sẽ đứng dậy và tiếp tục bước theo Chúa, hầu mỗi ngày con sẽ hòan thiện mình hơn, rồi dần trở nên công chính trước mặt Chúa. AMEN. mục lục

CHÚA KIỆN TOÀN LUẬT NHƯ THẾ NÀO?

Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG

“Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17). Vậy Chúa kiện toàn lề luật như thế nào?

1. Chúa Giêsu nâng cao lề luật của Cựu Ước. 

Từ khi ban luật Tân Ước, Chúa Giêsu mặc cho lề luật giá trị cao siêu:

- Không cần đợi đến sát nhân thì mới phải ra tòa. Từ nay chỉ cần ai giận ghét anh chị em, chửi mắng, rủa xả, thóa mạ họ, đã đáng trầm luân nơi hỏa ngục. 

- Luật mà Chúa Giêsu dạy nhằm bảo vệ và cổ võ thực thi bác ái giữa đồng loại với nhau. Giữ luật mà không nhắm đức bác ái là sai tinh thần luật.

- Luật mà Chúa Giêsu dạy đòi người giữ nó phải luôn khiêm tốn. Bởi nếu không khiêm tốn, người giữ luật sẽ cho rằng mình trọn hảo, mình tốt lành và dễ đánh giá người khác theo cái nhìn chủ quan của bản thân.

2. Luật là phương tiện chứ không phải mục đích.

Đã là phương tiện, phải nhằm phục vụ mục đích. Để đạt một mục đích, có nhiều phương tiện. Phương tiện mà không thể đạt mục đích hay lệch mục đích thì phương tiện không còn cần thiết. 

Mục đích của Kitô hữu là tìm kiếm và đạt tới hạnh phúc. Giữ luật mà như gánh nặng, việc giữ luật ấy thất bại. Do đó, ta cần tinh thần tự do để giữ luật. 

Ví dụ: Hai người đàn ông cuốc đất để trồng cây trên hai mãnh đất có diện tích như nhau. Nhưng một người là tù binh, người kia không hề bị giam cầm. 

Chắc chắn cây trái trên mãnh đất của người tự do sẽ tốt hơn nhiều, xanh tươi hơn nhiều, cho ra kết quả lớn hơn nhiều.

Người bị tù không trông mong quyền lợi bản thân trên mãnh đất mà anh trồng tỉa. Hơn nữa, anh chỉ trồng vì ép buộc, kỹ luật, hoàn toàn thiếu tự do, chắc chắn vườn cây của người bị cầm tù không sánh nổi vườn cây của người tự do.

Cũng vậy, giữ luật trong đức tin vì mục đích yêu mến Chúa, muốn thăng tiến bản thân trên đường nhân đức, việc giữ luật ấy tốt đẹp, hạnh phúc. Trường hợp này, luật là phương tiện đưa người gắn bó với nó tiến xa trên đường đạo đức.

Nhưng ai không có lòng mến, chỉ giữ luật như bị buộc, suốt đời Kitô hữu sẽ không có niềm vui. Ngày qua ngày, luật chỉ là gánh nặng, chỉ là sự cồng kềnh...

3. Giữ luật phải đưa tới ơn nên thánh.

Chúa muốn ai sống lề luật là phải nên thánh. Giữ luật là phải đạt tới mục đích nên thánh. Giữ luật mà không đưa tới ơn nên thánh, việc giữ luật ấy sai, phải chỉnh đốn lại.

Vì thế, người tín hữu cần xem lề luật như là đường lối dẫn mình đi về phía Chúa, đi về cõi đời đời trong ơn nghĩa Chúa. 

Người tín hữu cần có luật để bảo đảm con đường mình đi là con đường của đức tin, củng lòng mến Chúa. 

Luật mà mình mang theo suốt đời là ánh sáng soi tâm hồn, là cách để mình nhắm đúng hướng, khi phải sống giữa cuộc đời trần thế còn nhiều khó khăn, dễ làm chúng ta trật đường.

4. Đặt luật vào đúng vị trí của nó: Có hai thứ: Thiên luật và nhân luật.

Thiên luật là luật do Thiên Chúa ấn định và trao ban. Thiên luật thì trên hết, bất di bất dịch, mọi người đều phải tuân giữ và ưu tiên trên mọi ưu tiên.

Còn nhân luật là luật do con người làm ra, có tính tương đối. Luật của con người có thể thay đổi và cần được thay đổi. 

Ví dụ: Bảo vệ sự sống con người là Thiên luật. Do đó, không ai có quyền sát hại hay cho phép sát hại con người từ khi bắt đầu thành thai đến khi chết bằng một cái chết tự nhiên. 

Trong niềm tin Kitô giáo, chúng ta khẳng định rằng, luật của con người phải nhắm phục vụ luật của Thiên Chúa. Do đó, luật của con người cần phải lấy luật của Thiên Chúa để quy chiếu và không được trái với luật của Thiên Chúa.

Vì thế, giữ luật phải đưa tới tình yêu. Tình yêu là luật bất di bất dịch đến từ Thiên Chúa. Giữ luật mà làm cho tình yêu, sự cảm thông, lòng bác ái bị chèn ép, thì đó là giữ luật sai, cần chỉnh đốn lại.

5. Luật yêu thương là luật tối thượng. 

Chúa Giêsu đã nhiều lần minh định: Phải kính mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết trí khôn, đồng thời yêu thương tha nhân như chính mình (x. Mt 22, 34-40; Mc 12, 28-34; Lc 10, 25-28). 

Dù xác định mến Chúa yêu người là giới răn trọng nhất, nhưng chúa Giêsu đã phân thành hai điều trên dưới khác nhau: mến Chúa và yêu người. 

Chính nhờ biết kính mến Thiên Chúa nên chúng ta mới có thể yêu thương tha nhân vượt quá cảm tính thường tình để rồi có thể yêu thương cả kẻ thù, yêu thương người bắt bớ, làm hại mình (x. Mt 5, 43-48). 

Trong Giáo huấn của Chúa Giêsu, yêu thương không dừng lại ở những cấm đoán (không được: ngoại tình, trộm cắp, rẫy vợ, giết người...), nhưng tiến xa hơn bằng thực thi việc tốt cho tha nhân, đến mức yêu tha nhân như bản thân. 

Chính Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta về việc Người hy sinh chính bản thân của Người để chết cho ta.

Ước mong từng người Kitô hữu luôn biết thanh tẩy tâm trí mình để sống đúng tinh thần luật mà Chúa Giêsu đã dạy và nêu gương.

Ước mong mỗi Kitô hữu luôn ý thức, giữ luật không là thể hiện bên ngoài, mà là đào tạo cõi tâm theo tinh thần luật. Nếu tinh thần luật có được thể hiện ra bên ngoài, thì nó đã thật đầy trong tâm.

THEO CHÚA GIÊSU TRONG ÁNH SÁNG CỦA NGƯỜI

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Tranh của James Tissot: Chúa Giêsu đang giảng cho các môn đệ. 

Bài Tin mừng theo thánh Mátthêu hôm nay phản ảnh Giáo Hội sơ khai sau khi thành Jerusalem bị phá hủy vào năm 70 AD. Theo bài Phúc Âm, Chúa Giêsu đã quả quyết giá trị cố định của luật (Mt 5:18-19), nhưng cách cắt nghĩa thì tùy theo đấng bản quyền (Mt 5:21-48). Chúa đã kiện toàn mọi luật lệ từ căn bản: Đôi khi Người làm cho nó nhẹ đi (như luật ly dị, luật báo thù), đôi khi Người cắt nghĩa gay gắt hơn (như luật giết người, ngoại tình và thề thốt), hoặc uyển chuyển tùy trường hợp (như luật ngày Sabát). Chúa Giêsu đã nhấn mạnh đến hai loại luật về đức Ái là Yêu Chúa (Tl 6:5) và Thương Người (Lv19:18) mà “tất cả mọi luật và các ngôn sứ đều phụ thuộc vào hai luật này” (Mt 22:34-40). Chúa Giêsu là một tân Môsê vì Người theo sát luật và truyền đạt ý muốn của Thiên Chúa cho loài người, trước tiên là cho dân Do Thái, sau đó cho tất cả mọi dân tộc trên khắp địa cầu (Mt 28:19-20).  

BÀI GIẢNG TÁM MỐI PHÚC THẬT 

Bài giảng Tám Mối Phúc Thật tức Hiến Chương Nước Trời còn gọi là bài giảng trên núi vì Chúa Giêsu truyền ra trên núi thánh ở Galilê, một địa danh nổi tiếng thường xuyên được nhắc tới trong Tân Ước, nơi mọi người đã nhìn thấy quyền lực của Thiên Chúa trên luật mà dân Israel đã nhận từ Thiên Chúa là nền tảng của Giao Ước, nay đã được xác định rõ ràng và được chính Chúa Giêsu thi hành. Chính nơi núi thánh này, sau khi tuyên bố giá trị vĩnh cửu của luật buộc mọi người phải tuân giữ (Mt 5:18-19), Chúa Giêsu đã yêu cầu mọi người phải ăn ở công chính hơn cả những kinh sư và người biệt phái, và tuân giữ luật một cách linh động theo tinh thần Tin Mừng về đức Bác Ái với lòng Chân Thật.   

Bài Phúc Âm Mátthêu hôm nay là một phần của bài giảng trên núi. Bài giảng có một đoạn dài khá phức tạp, gồm toàn những điều cấm đoán (Mt 5:17-37), khó có thể “nuốt” và thấu hiểu tất cả mọi ý nghĩa bên trong. Câu “Anh em đừng tưởng thầy đến để bãi bỏ luật lệ và các ngôn sứ” (5:17) được đưa ra như lời mở đầu thì lập tức sau đó là một xác quyết: “Thầy đến không phải để bãi bỏ mà là để kiện toàn.” Lý do là luật vẫn còn đó và sẽ tồn tại mãi mãi, bởi vì nó đến từ Thiên Chúa là Đấng không hề thay đổi. Chúa Giêsu muốn đưa ra lý tưởng về một tân vương quốc trần thế khi Người tái xuất hiện. Ý Chúa muốn mọi người đừng thi hành luật một cách chi ly từng chữ như kiểu các kinh sư và những người biệt phái, mà phải đi vào trọng điểm của tinh thần luật. Chúa nói: vâng theo điều nhỏ nhặt nhất thì còn lâu mới có thể đạt tới mức độ biết Yêu Chúa Thương người. Cố gắng để có một tình thương ít hoàn hảo nhất thì cũng chẳng khác gì cố công hoàn thành một điều quá nhỏ nhoi (Mt 5:19).    

ĐỪNG QUÁ CHI LY KHẮT KHE   

Với những thí dụ, Mátthêu đã nêu ra 6 đức tính mà người môn đệ Chúa Giêsu cần phải có (5:21). Mỗi thí dụ tương đương với một giới luật đều được bắt đầu bằng câu: “Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng… hoặc một công thức tương đương, rồi tiếp sau là lời Chúa Giêsu giảng giải về giới luật đó. Nhưng Thầy nói cho anh em biết…; Đây là một chỉ định và cũng là những “phản đề”. Ba trong những phản đề đó là phải tuân theo luật Môsê nhưng mở rộng đào sâu hơn (Mt 5:21-22, 27-28, 43-44), ba phản đề kia là từ chối, cấm cản, không được coi là những đức tính căn bản của người môn đệ (Mt 5:31-32, 33-37, 38-39).

Thí dụ đầu tiên về đức tính của người môn đệ Kitô giáo là phải thắng lướt mọi giận dữ, oán hận, ước muốn bệnh hoạn thường tồn đọng trong tâm can con người, ngay cả việc không tuân giữ giới luật Môsê, trong đó có luật cấm giết người. “Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng ‘Chớ giết người. Ai giết người thì bị mang ra tòa xét sử.’ Nhưng Thầy bảo cho anh em biết, ai giận anh em mình cũng bị mang ra tòa” (Mt 5:21-22). Cũng ràng buộc như vậy là trường hợp xúc phạm đến người khác bằng lời nói độc ác, chế diễu, hạ nhục, nhạo báng… Đó là lời kết án tất cả những ai nhân nhượng, chiều theo bản tính ác độc, thù ghét, kỳ thị có khả năng biến thành hành động làm tổn thương người khác như giết người hoặc làm tổn thương tinh thần hay tâm lý, bởi lẽ nó vi phạm đức ái, một đòi hỏi phải có giữa con người với nhau.  

Chúa Giêsu trình bày sự vẹn toàn của luật bác ái bằng cách nhắc nhở loài người suy nghĩ tận tâm can xem có còn thắc mắc ấm ức nào trong lòng mình không. “Nếu anh em sắp dâng lễ vật trên bàn thờ mà sực nhớ có người anh em nào đang có chuyện bất bình với mình thì hãy để của lễ đó, đi về làm hòa với họ rồi hãy trở lại dâng của lễ (Mt 5:23-24). Đức ái Chúa Giêsu giúp con người làm việc thiện ích, biết đoàn kết hòa hợp với nhau trong tình anh chị em láng giềng, cả những trường hợp tranh tụng pháp lý (Mt 5:25).      

Thí dụ nữa liên hệ đến giới răn thứ 6, cấm ngoại tình. Để luật đạt mức hoàn hảo, Chúa Giêsu đã diễn nghĩa: “Anh em đã nghe luật dạy rằng ‘Chớ Ngoại Tình’; còn thầy, thầy bảo cho anh em biết ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì đã phạm tội ngoại tình rồi… (Mt 5:27-28). Chúa kết án ngay cả những cái nhìn hoặc ước muốn bất chính và mờ ám xác thịt rồi đề nghị hy sinh cái bất toàn thể xác đó để có được nước trời vĩnh cửu (Mt 5:29-30). Cũng như vậy Chúa Giêsu nói về ly dị: “Ai bỏ vợ mình thì phải cho bà ta một chứng thư ly dị (Mt 5:31). Nhưng ta nói cho các ngươi hay… “Vì lòng các ngươi trai đá nên ông Môsê mới cho phép các ngươi ly dị vợ, chứ thuở ban đầu đâu có như vậy (Mt 19:8). Không kể trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, nếu ai ruồng rẫy, ly dị vợ mình đi lấy người khác là đương nhiên phạm tội ngoại tình” (Mt 19:9). 

Chúa Giêsu cũng dạy chúng ta không nên đa nghi. Tốt hơn hết là hãy thành thật cả lời ăn tiếng nói và hành động: “Có nói có, không nói không; thêm bớt là do ma quỉ” (Mt 5:37). 

TA ĐẾN KHÔNG ĐỂ HỦY BỎ MÀ ĐỂ KIỆN TOÀN  

Thực vậy, Đức Kitô đến không phải để hủy bỏ luật, nhưng để kiện toàn. Nghe Người diễn nghĩa luật và nhìn cuộc sống cùa Người thì biết. Danh từ ‘Kiện Toàn’ phải được hiểu là nó liên hệ tới Giao Ước của Thiên Chúa với dân Do Thái và Luật, các ngôn sứ và Kinh Thánh. Sự kiện toàn (không hủy bỏ), về một phương diện nói lên mối liên hệ giữa Cựu Ước và Tân Ước, bởi lẽ Lời Chúa là lời đúng như Chúa là đấng duy nhất; về một phương diện khác, chứng tỏ sự toàn vẹn của Tân Ước, trong đó Thiên Chúa là Cha, là Con và Thánh Thần (Mt 28:19).  

Chúa Giêsu hiểu luật một cách hoàn hảo. Người tận hiến mình để kiện toàn luật. Tuy nhiên, Người vẫn chứng tỏ hoàn toàn tự do. Người ước muốn chính thức cắt nghĩa luật (ngày Sabát, thức ăn cấm, luật thanh tẩy, cách ăn chay…); Người cũng muốn diễn tả nội dung và ý nghĩa thâm sâu của Luật và Kinh Thánh. Đi thật xa như thể Người chứng tỏ Người là Đấng làm ra luật với quyền hạn ngang hàng với Thiên Chúa. Chính Người đã kiện toàn luật (Rm 10:4). Chúa Giêsu cũng chứng tỏ Người là Đấng tiếp nối đích thực của các ngôn sứ qua sứ điệp và cuộc sống của Người. Giống như các ngôn sứ, Người tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa của “Abraham, Isaac và Jacob” (Mt 2:32). 

Chúa Giêsu tự tỏ mình là người kiện toàn các sách Khôn Ngoan trong Cựu Ước. Những sách này - dưới dạng Thánh vịnh, Cách Ngôn, Trình Thuật bình dân - cho thấy dân Chúa được điều khiển, một mặt bởi luật là những chỉ dẫn phải theo, một mặt bởi các ngôn sứ là người chỉnh huân dân chúng, vua chúa và cả các tư tế khi họ đi lạc đường sai lối.  

SỰ CHÍNH XÁC CỦA ĐỨC ÁI VÀ NHỮNG THÁCH THỨC CỦA NÓ.       

Tân Ước cho thấy Chúa Giêsu không chỉ là nối tiếp hoặc kết thúc Cựu Ước, mà còn có những điều hoàn toàn mới, là nguồn gốc và trên hết. Chúa Giêsu làm cho tình yêu Thiên Chúa trở thành chính xác và đầy thách đố. Tình yêu được đánh giá bằng sự trung thành với những chi tiết nhỏ nhặt nhất của luật, từng chấm từng phảy. Chúng ta có khả năng tuân theo luật lệ là hoàn toàn do ơn trên ban cho. Cuộc sống của Chúa Giêsu chính là mẫu mực cho việc kiện toàn này. Người không chỉ đơn giản nói với các môn đệ là “Hãy tuân giữ luật của ta” mà còn nói “Hãy theo ta, hãy bắt chước ta và hãy đi trong ánh sáng của ta”.  

Chúa Giêsu không chỉ giúp ta hiểu biết tường tận hơn về Kinh Thánh, mà chính Người là Lời Thiên Chúa toàn hảo và dễ hiểu, bởi lẽ Người chính là phản chiếu vẻ huy hoàng của Người, là hình ảnh trung thực nhất của bản thể Thiên Chúa, Người là Đấng dùng quyền năng của mình mà duy trì vạn vật (Dt 1:3). Người là “Lời đã trở nên người trần ở giữa chúng ta” (Ga 1:14). Người là “ánh sáng thật chiếu rọi trên muôn dân” (Ga 1: 9). Người là “đầu nhất và cuối hết”, là “Đấng hằng sống” (Kh 1:17-18). Không thể hiểu được một cách xác quyết tất cả mọi điều trong Kinh Thánh và lịch sử nếu không dựa vào ánh sáng Chúa Kitô.  

HÃY HỌC HỎI KINH THÁNH  

Áp dụng bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta lại tiếp tục suy niệm Tông thư Lời Chúa / Verbum Domini, hậu Thượng Hội Đồng Các Giám Mục về ‘Lời Chúa trong đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội, đoạn #75.’  

- “Để hoàn thành mục đích của Thượng Hội Đồng, nhất là tăng cường nhấn mạnh về Kinh Thánh trong sinh hoạt mục vụ của Giáo Hội, tất cả mọi Kitô hữu, đặc biệt các giáo lý viên, cần phải được huấn luyện thích hợp. Cần phải để ý đến hoạt động tông đồ về Kinh Thánh là một phương thế rất có giá trị cho mục đích này như kinh nghiệm của Giáo Hội cho biết. Các giáo phụ của thượng hội đồng cũng yêu cầu, có thể qua việc sử dụng các cơ sở chuyên môn hiện có, các trung tâm huấn luyện phải được thiết lập ở những nơi mà giáo dân và các nhà truyền giáo có thể được học hỏi để hiểu, để sống và tuyên xưng Lời Chúa. Cũng như vậy, ở những nơi cần thiết, các tu hội chuyên biệt về nghiên cứu Kinh Thánh phải được thiết lập để bảo đảm những nhà chú giải kinh thánh có được một hiểu biết vững chắc về thần học và biết lượng giá thích đáng các bản văn mà họ dùng để thi hành sứ mệnh của họ.”

THANH TOÁN NỢ ĐỜI

Trầm Thiên Thu

Có lẽ chẳng ai không bao giờ mắc nợ, cụ thể là tiền bạc, không nhiều thì ít, dù chỉ là một số tiền nhỏ – vài ngàn, vài trăm, vài triệu (theo mệnh giá tiền VN.) Nói cho “sang” thì nợ là trái khoản. Và dù ít hay nhiều cũng phải thanh toán, không thể không trả nợ, vì còn nợ ngày nào thì “nặng mình” ngày đó. Khổ tâm lắm!

Về tinh thần thì còn nợ nhiều hơn: nợ cha mẹ, nợ gia đình, nợ thầy dạy, nợ hàng xóm, nợ bạn bè,... không nợ cách này thì cách khác, không trực tiếp thì gián tiếp: Nợ tình. Đúng là nợ ngập đầu! Món nợ đó không hề vay mà vẫn nợ, phải nợ, muốn nợ, Thánh Phaolô nói rằng nên mắc “món nợ tương thân tương ái” đó. (Rm 13:8) Đặc biệt nhất là ai cũng mắc nợ Thiên Chúa – kể cả người vô thần.

Được sinh ra làm người và được sống trên đời là một hồng ân cao cả, khôn tả. Và dần dần, với vốn kinh nghiệm sống, chúng ta luôn thấy có những điều trái ngược nhau nhưng lại không thể tách rời nhau, có cái này thì ắt có cái kia: Mở – đóng, cao – thấp, trên – dưới, nam – nữ, âm – dương, phải – trái, thiện – ác, đẹp – xấu, trẻ – già,… đặc biệt là sống – chết. Cái “nghịch” mà không hề ngược, vẫn xuôi, vẫn thuận. Bởi vì trí tuệ con người nhỏ bé, nông cạn, hữu hạn, không thể hiểu thấu, thế nên người ta cho đó là “cái vòng lẩn quẩn” bí ẩn, không thể lý giải. Người đời cho đó là Luật Nhân Quả, nhưng đối với người có niềm tin Kitô giáo thì đó chính là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa.

Về vấn đề sinh – tử, chắc hẳn ai cũng thắc mắc, đặt vấn đề, bởi vì thấy đó là một nghịch lý, thế nhưng chẳng ai có được câu trả lời thỏa đáng, chấp nhận đó là điều bí ẩn đối với con người. Thơ rằng:

Sinh ra ai cũng khóc òa

Đời vui sao chẳng cười xòa mà vui?

Đến khi chết, nước mắt rơi

Sao lại chẳng cười được thoát khổ đau?

Không chỉ là rắc rối, phức tạp, mà là nhiêu khê. Thế nhưng chẳng ai hiểu rõ cái nghịch lý đó. Khi sinh ra, ai cũng chào đời bằng tiếng khóc, đứa trẻ nào bật khóc thì cha mẹ an tâm, đứa trẻ nào không bật khóc thì cha mẹ lo lắng. Phải chăng định mệnh đã an bài như phần cứng được cài đặt mặc định? Người ta vẫn thường nói: “Đời là bể khổ!” Có lẽ vì chính Chúa Giêsu đã xác định: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” (Mt 6:34) Định mệnh đó là sự quan phòng và tiền định của Thiên Chúa.

Theo quan niệm Phật giáo, cái vòng đời lẩn quẩn đó được gọi là “vòng sinh tử” – cũng gọi là “hữu luân.” Đó là “bánh xe” của sự sinh tồn, chỉ sự luân chuyển của thế giới hữu hình. Đây là cách nói và biểu tượng của người Tây Tạng ám chỉ “vòng luân hồi” (sa.saṃsāra). Tuy nhiên, chắc chắn rằng “không có vòng luân hồi” như người ta quan niệm hoặc suy diễn. Đúng là bé cái lầm!

Thuận ngôn thì nghịch nhĩ, lời thật thì chói tai, phải như thế mới có thể nên người, nhưng Thiên Chúa không ép buộc ai và cho toàn quyền tự chọn. Khôn hay khốn là tự mình mà thôi. Sách Huấn Ca cho biết: “Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước, con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy. Trước mặt con người là cửa SINH cửa TỬ, ai thích gì, sẽ được cái đó.” (Hc 15:16-17) Rõ ràng con người được Thiên Chúa cho tự do hoàn toàn, và Ngài luôn tôn trọng quyền tự do chọn lựa của chúng ta. Lý do đơn giản, không có gì khó hiểu: “Vì trí khôn ngoan của Đức Chúa thật lớn lao, Người mạnh mẽ uy quyền và TRÔNG THẤY TẤT CẢ. Người để mắt nhìn xem những ai kính sợ Người, và BIẾT RÕ TẤT CẢ những gì người ta thực hiện. Người không truyền cho ai ăn ở thất đức, cũng không cho phép ai phạm tội.” (Hc 15:18-20) Minh nhiên và rạch ròi, “lỗi tại tôi mọi đàng” chứ chẳng Nếu, Bởi, Tại, Vì... chi ráo trọi!

Yêu thương là Thiên Chúa, tốt lành tuyệt đối là Thiên Chúa, nơi Ngài chỉ có sự thiện mà thôi. Ngài toàn năng và toàn trí, đúng như Thánh Vịnh gia cảm nghiệm: “Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả. Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết.” (Tv 139:1-4) Chắc chắn chúng ta không thể giấu giếm được gì, cũng chẳng thể biện hộ được chi. Vải thưa không thể che mắt thánh!

Và như đã nói – tất nhiên ai cũng biết, đó là tất cả chúng ta được Thiên Chúa ban cho quyền tự do chọn lựa, tùy ý thích cài này hoặc cái kia. Đơn giản như việc ăn uống, người ta tự do ăn bất cứ thứ gì, không chịu kiêng cữ thì béo phì hoặc bệnh tật là hệ lụy tất yếu. Có triết lý này: Cái gì TỐT thì luôn ĐẸP, còn cái gì ĐẸP chưa chắc TỐT. Ai chọn cái tốt đẹp, đó là người khôn: “Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện, biết noi theo luật pháp Chúa Trời. Hạnh phúc thay kẻ tuân hành ý Chúa, hết lòng hết dạ kiếm tìm Người.” (Tv 119:1-2) Theo Việt ngữ, KHÔN ngoan và KHÔNG ngoan có cách viết gần giống nhau nhưng hoàn toàn trái nghĩa – sai một ly đi một dặm.

Là những người tin vào Đức Giêsu Kitô, chắc chắn ai cũng ước mong xác định suốt đời về tín ngôn này: “Vâng lạy Chúa, Ngài đã ban huấn lệnh, truyền chúng con tuân giữ vẹn toàn. Ước mong sao con hằng vững bước theo thánh chỉ Ngài ban.” (Tv 119:4-5) Và biết chân thành cầu nguyện liên lỉ: “Xin tỏ lòng nhân hậu cùng tôi tớ Chúa đây để con được sống và tuân giữ lời Ngài. Xin mở mắt cho con nhìn thấy luật pháp Ngài kỳ diệu biết bao.” (Tv 119:17-18) Biết hành động như vậy là người thực sự khôn ngoan, bởi vì biết chọn Đường Sống chứ không chọn Đường Chết. Khó chứ chẳng dễ, khó vì phải dứt khoát.

Tuy nhiên, muốn khôn ngoan như vậy thì chỉ có cách duy nhất là “bám vào Chúa” chứ không thể ỷ sức mình, đồng thời phải thiết tha cầu xin không ngừng: “Lạy Chúa, xin dạy con đường lối thánh chỉ, con nguyện đi theo mãi đến cùng. Xin cho con được trí thông minh để vâng theo luật Ngài và hết lòng tuân giữ.” (Tv 119:33-34) Chắc chắn Ngài chỉ chờ có vậy, nghĩa là Ngài sẽ không bao giờ ngoảnh mặt làm ngơ. Đó là sống tín thác, nhận biết mình hữu hạn, nhỏ bé, yếu đuối,…

Thánh Phaolô nói về sự khôn ngoan: “Điều chúng tôi giảng dạy cho các tín hữu trưởng thành cũng là một lẽ khôn ngoan, nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của các thủ lãnh thế gian này, là những kẻ sớm muộn gì cũng phải diệt vong. Trái lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đã được giữ bí mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển.” (1 Cr 2:6-7) Thật vậy, “không một ai trong các thủ lãnh thế gian này đã được biết lẽ khôn ngoan ấy, vì nếu biết, họ đã chẳng đóng đinh Đức Chúa hiển vinh vào thập giá.” (1 Cr 2:8)

Đúng như đã có lời chép: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người. Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa.” (1 Cr 2:9-10) Quả thật, chúng ta là những người rất may mắn và diễm phúc!

Vấn đề sinh – tử cũng liên quan luật pháp. Nhà có gia phong, nước có quốc pháp. Luật vị nhân sinh, nhân sinh bất vị luật. Nhưng con người yếu đuối nên dễ sa đà, thoái hóa, hư hỏng, vì thế phải có luật pháp để kiểm soát, cũng như loài ngựa dễ sinh chứng nên cần có hàm thiếc để kiềm chế. Do đó, có những người hư hỏng đã hoàn thiện nhờ nghiêm luật: “Phúc thay người được Thiên Chúa sửa trị! Chớ coi thường giáo huấn của Đấng Toàn Năng.” (G 5:17)

Khi nhập thể làm người, chính Chúa Giêsu cũng vẫn luôn tôn trọng luật pháp. Ngài đã xác định: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.” (Mt 5:17-19) Luật Chúa nghiêm minh nhưng vô cùng hữu ích, như Thánh Vịnh gia xác nhận: “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn. Thánh ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn.” (Tv 19:8)

Có nhiều thứ cần cảnh báo mà Chúa Giêsu đã cho biết, đây là một trong số các cảnh báo: “Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.” (Mt 5:20) Giết người, cướp của, gian dâm,… hoặc phạm những tội tày trời là điều hiển nhiên ai cũng ghét – ghét tội chứ không ghét người. Nhưng với Chúa Giêsu, tội nhỏ cũng không được phạm: “Ai giận anh em mình thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt.” (Mt 5:21-12) Thậm chí là điều xem chừng rất nhỏ mọn: “Khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5:23-25) Thực sự “căng” lắm! Nhưng đã là nghiêm luật thì có “căng” cỡ nào cũng phải làm, bởi vì chính Ngài đã nói thẳng thắn và rạch ròi: “Bạn sẽ không ra khỏi đó trước khi TRẢ HẾT ĐỒNG XU CUỐI CÙNG.” (Mt 5:26) Ôi chao, đúng là “căng” thật đấy!

Ai cũng biết rằng ngoại tình là chuyện lớn, không được “lóm lém” chi cả, nhưng Chúa Giêsu cấm cả chuyện nhỏ: “Ai NHÌN người phụ nữ mà THÈM MUỐN thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.” (Mt 5:28) Và Ngài thẳng thắn và dứt khoát rằng “thà mù, cụt, què mà vào Nước Trời còn hơn đẹp trai hoặc đẹp gái mà phải vào hỏa ngục.” (x. Mt 5:29-30) Chúa Giêsu luôn rõ ràng, không mơ hồ, chẳng hoa mỹ hoặc bóng gió.

Ngày xưa, trong thời Cựu Ước, luật pháp cho phép người ta ly dị, nhưng thời Tân Ước thì cấm triệt để. Chúa Giêsu cho biết: “Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy thì cũng phạm tội ngoại tình.” (Mt 5:32) Mọi hệ lụy đều có tính liên đới, kể cả tội lỗi.

Và còn hơn thế nữa, ngay cả việc thề thốt cũng là điều cấm: “Đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được.” (Mt 5:34-36)

Kết luận, Chúa Giêsu không dài dòng hoặc lòng vòng, mà tóm tắt cho dễ nhớ: “Hễ CÓ thì phải nói CÓ, KHÔNG thì phải nói KHÔNG. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.” (Mt 5:37) Đó là Luật Chân Lý, Luật Sự Thật, rất ngắn gọn và đơn giản, nhưng đừng tưởng là “chuyện nhỏ,” bởi vì không dễ mấy ai dám làm đâu. Cái nhỏ mà lại quan trọng: Tế bào rất nhỏ, không thể nhìn bằng mắt thường, nhưng nó lại là “nền tảng” tạo chuỗi AND kỳ diệu.

Nếu thực sự muốn thanh toán món nợ tình thì chỉ có cách là sám hối, yêu thương mọi người và tha thứ mọi sự. Tất cả mọi trái khoản sẽ được Thiên Chúa tha bổng: “Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông.” (Is 1:18) Tuyệt vời biết bao vì chúng ta được tận hưởng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa!

Lạy Thiên Chúa nhân hậu, xin giúp chúng con đủ sức vượt qua chính mình và thoát khỏi “vòng lẩn quẩn” của cuộc đời này, xin thêm sức mạnh và lòng can đảm để chúng con miệt mài sống theo Thánh Luật của Ngài, giữ đúng mọi điều khoản. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

HOÀ GIẢI TRƯỚC ĐÃ

(Suy niệm Mt 5,17-37)

Là tín hữu con dâng lễ đền tội

Chúa dạy con: “Để đấy, hãy ra về

Giải hoà cùng người anh em trước đi

Cha sẽ nhận của lễ con dâng hiến”.

Tình yêu Chúa, Ôi! Tình yêu bất biến!

Chúa thương con, bênh đỡ tha nhân con

Xin nhắc con: thờ Chúa hết linh hồn

Và yêu mến tha nhân như mình vậy.

Con lạy Chúa, mỗi khi dâng Thánh Lễ

Xin cho con biết mở rộng trí khôn

Để biết vâng nghe lời Chúa Chí Tôn

Và suy niệm,rồi ghi tâm khắc cốt.

Con xin Chúa, cho con can đảm đủ

Để quên đi những thù oán tha nhân

Những giận hờn bực tức vì người thân

Mà hàn gắn vết thương lòng cho kíp. mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan