SUY NIỆM CHÚA NHẬT VII TN_A

20-02-2020 400 lượt xem

Lv 19:1-2, 17-18; 1 Cr 3:16-23; Mt 5:38-48 

Mục Lục (click vào mục lục)

CON ĐƯỜNG MỚI CHO NHÂN LOẠILm. Giuse Nguyễn Hữu An

YÊU THƯƠNG KẺ THÙBác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

HÃY SỐNG YÊU THƯƠNG VÀ NÊN TRỌN LÀNH - Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

SỐNG VÀ YÊUTrầm Thiên Thu

THA THỨ VÌ BẢN THÂN CẦN ĐƯỢC THA THỨ - Lm. Nguyễn Minh Hùng

HÃY YÊU KẺ THÙ VÀ LÀM ƠN CHO HỌJos. Vinct. Ngọc Biển, S.S.P

CÓ THẬT LÀ PHẢI CHÌA MÁ NÀY NẾU BỊ VẢ MÁ KIA? - Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

KIỆN TOÀN LỀ LUẬTJM. Lam Thy ĐVD

Thơ DÁM YÊU LIỀU THƯƠNGViễn Dzu Tử

Thơ YÊU THƯƠNG THÙ ĐỊCH(Thế Kiên Dominic)

CON ĐƯỜNG MỚI CHO NHÂN LOẠI

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

1. Romeo và Juliet

Cách đây mấy năm, từ Rôma tôi hành hương đến Nhà thờ Chính tòa Vêrôna và đi thăm căn nhà Juliet. Khách du lịch đến đây thật đông vì muốn xem tận mắt nơi dệt nên câu chuyện tình lãng mạn bi thương.

Romeo và Juliet là một trong những vở kịch bất hủ trên sân khấu quốc tế do William Shakespeare viết. Cốt chuyện là tình yêu say đắm với kết cục bi thảm của hai người thuộc về hai dòng họ vốn đã thù hận nhau nhiều thế hệ.

Romeo và Juliet được viết vào khoảng 1594 - 1595, dựa trên một cốt truyện có sẵn kể về một mối tình oan trái vốn là câu chuyện có thật, từng xảy ra ở Ý thời Trung Cổ.

Câu chuyện bắt đầu tại thành Verona, hai dòng họ nhà Montague và nhà Capulet có mối hận thù lâu đời. Romeo, con trai họ Montague. Juliet, con gái họ Capulet. Đôi trẻ đã yêu nhau say đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên tại buổi dạ tiệc tổ chức tại nhà Capulet, do là dạ tiệc hoá trang nên Romeo mới có thể trà trộn vào trong đó. Đôi trai gái này đã đến nhà thờ nhờ linh mục Friar Laurence bí mật làm lễ cưới.

Đột nhiên xảy ra một sự việc: do xung khắc, anh họ của Juliet là Tybalt đã giết chết người bạn rất thân của Romeo là Mercutio. Để trả thù cho bạn, Romeo đã đâm chết Tybalt. Mối thù giữa hai dòng họ càng trở nên sâu nặng. Vì tội giết người nên Romeo bị trục xuất khỏi Verona và bị đi đày biệt xứ. Tưởng như mối tình của Romeo và Juliet bị tan vỡ khi Romeo đi rồi, Juliet bị cha mẹ ép gả cho Bá tước Paris. Juliet cầu cứu sự giúp đỡ của cha Laurence. Ngài cho nàng uống một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết, thuốc có tác dụng trong vòng 24 tiếng. Ngài sẽ báo cho Romeo đến hầm mộ cứu nàng trốn khỏi thành Verona. Đám cưới giữa Juliet và Paris trở thành đám tang. Xác Juliet được đưa xuống hầm mộ. Cha Laurence chưa kịp báo cho Romeo thì từ chỗ bị lưu đày nghe tin Juliet chết, Romeo đau đớn trốn về Verona. Trên đường về chàng kịp mua một liều thuốc cực độc dành cho mình. Tại nghĩa địa, gặp Paris đến viếng Juliet, Romeo đâm chết Paris rồi uống thuốc độc tự tử theo người mình yêu. Romeo vừa gục xuống thì thuốc của Juliet hết hiệu nghiệm. Nàng tỉnh dậy và nhìn thấy xác Romeo bên cạnh đã chết, Juliet rút dao tự vẫn. Cái chết tang thương của đôi bạn trẻ đã thức tỉnh hai dòng họ. Bên xác hai người, hai dòng họ đã quên mối thù truyền kiếp và bắt tay nhau đoàn tụ, nhưng câu chuyện tình yêu ấy vẫn mãi sẽ là nỗi đau rất lớn trong lòng những người biết đến họ.

Câu chuyện tình bất hủ Romeo và Juliet đã đi vào lịch sử nhân loại. Nhiều thi sĩ, nhạc sĩ đã viết thi ca âm nhạc ca tụng tình yêu. Những vỡ kịch, những bộ phim diễn tả hấp dẫn mối tình lãng mạn của đôi tình nhân trẻ. Nếu câu chuyện tình của họ được kết thúc một cách tốt đẹp và bình thường, chắc sẽ không có ai nhắc đến. Nhưng Romeo Juliet là nạn nhân của sự thù hận giữa hai gia tộc. Không ai có thể tìm cách để giải hòa được sự thù hận ấy. Sự thù hận dẫn đến đau thương cho cả hai bên. Sự thù hận đã cướp đi mạng sống của đôi bạn trẻ yêu nhau tha thiết. Sự thù hận giết chết một mối tình đẹp, nhân loại ngàn đời xót xa nuối tiếc. Sự thù hận khởi phát từ tâm hồn ích kỷ.

2. Giáo huấn độc đáo của Chúa Giêsu

“Hãy yêu thương tha nhân và ghét thù địch”. Mệnh lệnh này được ghi rõ trong sách Lêvi (Lv 19,18). Theo đó, người Do thái chỉ yêu thương những người đồng loại, tức là những người thuộc dân riêng của Chúa, dân Israel. Còn dân ngoại, họ coi như thù địch. Họ còn có luật và bổn phận ghét người ngoại bang, nhất là dân Amalec, dân Moab (x. Đnl 25,18; 23,6).

Chúa Giêsu đã kiện toàn những giới hạn của luật cũ, và mạc khải cách trọn hảo về điều luật mới, khi dạy: “Anh em hãy yêu thương kẻ thù” (Mt 5,43a).

Luật cũ dạy yêu thương, nhưng lòng yêu thương ấy chỉ giới hạn trong những người Israel với nhau; Luật mới dạy phải mở rộng yêu thương đến kẻ thù nữa.Tinh thần luật cũ “mắt đền mắt, răng đền răng”; Pháp lý của Chúa Giêsu hoàn toàn mới mẻ: lấy thiện thắng ác.Tinh thần luật cũ là chỉ yêu thương người đồng bào; Giáo huấn mới là hãy yêu thương thù địch và làm ơn để báo oán.

“Hãy yêu kẻ thù” là giáo huấn độc đáo nhất của Chúa Giêsu. Người đã cắt nghĩa rất cụ thể. Yêu thương kẻ thù là : Làm ơn cho kẻ ghét mình.Chúc phúc cho người nguyền rủa mình.Cầu nguyện cho kẻ vu khống mình.Ai vả má nầy thì đưa cả má kia.Ai lột áo ngoài thì cho cả áo trong.Ai lấy gì thì đừng đòi lại…Chúa Giêsu dạy yêu thương, chính Người đã sống yêu thương, luôn tỏ tình yêu thương những kẻ thù nghịch với mình, mặc dù họ ghen ghét vô cớ, họ luôn tìm dịp tố cáo xuyên tạc lời Người giảng dạy. Chúa Giêsu dạy: lòng yêu thương bao la ấy là con cái phải noi gương Thiên Chúa là Cha ngự trên trời "Người làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, làm cho mưa xuống trên kẻ lành cũng như người bất lương…".

“Yêu thương kẻ thù” là một nghĩa cử anh hùng, một nổ lực vượt thắng tình cảm tự nhiên, vượt trên phản ứng thường tình của con người.

“Yêu thương kẻ thù” là bước vào thế giới siêu nhiên của con cái Chúa, sống nhân hậu và hoàn thiện như Cha trên trời.

3. Con đường mới cho nhân loại

Khi dạy “Hãy yêu kẻ thù”, Chúa Giêsu không có ý cổ võ sự nhu nhược, nhát đảm nhưng là để nêu cao tinh thần khoan dung hiền từ quảng đại tha thứ.

“Hãy yêu kẻ thù”, đó là lệnh truyền khó thi hành nhất trong các lệnh truyền của Chúa Giêsu. Khó nhưng không phải là không có thể. Chính Chúa đã làm gương khi xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ hành hạ, đóng đinh mình trên thập giá. Chính hành vi cao cả này đã thể hiện trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa. Đó cũng là nét cao quý nhất trong dung mạo Đấng Cứu Thế. Người đến để yêu thương và cứu chuộc con người. Người đến để tha thứ và đem lại cho con người cơ may để sám hối và canh tân.

Như vậy Chúa Giêsu mở ra con đường mới cho nhân loại. Con đường lấy thiện thắng ác, lấy tình yêu vượt thắng hận thù. Chỉ có yêu thương mới làm cho thù hận tiêu tan.

“Yêu thương kẻ thù” là điều không dễ chút nào xét trên bình diện con người tự nhiên. Tha thứ cho những kẻ làm hại hay xúc phạm đến mình đã là điều khó rồi, huống chi là yêu thương, làm ơn và cầu nguyện cho họ nữa. Khi đã ghét nhau, chỉ nhìn thấy mặt, nghe giọng nói đã thấy khó chịu rồi, nói gì đến yêu thương, cầu nguyện và làm ơn cho nhau. Quả thật, đây là một việc vô cùng khó khăn, nhưng chúng ta có thể thực hiện được nếu có ơn Chúa trợ giúp. Chính thánh Phaolô đã quả quyết điều này: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” .

Trong cuộc sống, người ta va chạm nhau rất nhiều qua lời nói vô tình, cử chỉ vô ý, một câu truyện bịa đặt thêm nếm cũng có thể là nguyên nhân của chuyện thù ghét oán hờn. Hãy cố gắng xây dựng hòa bình bằng sự chân thật và tình yêu thương tha thứ.Thánh Phaolô khuyên: “Anh em nổi nóng ư? Đừng phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4,26). Trong bài đọc 1, ông Môisen dạy: Đừng giữ lòng thù ghét anh em, đừng tìm cách báo oán và cũng đừng để lòng những lời nhiếc mắng của kẻ khác. Còn thánh Phaolô đòi buộc chúng ta không được khinh rẻ người khác (bài đọc 2).

Tình yêu là vũ khí mạnh nhất để đẩy lui tội lỗi nơi con người, làm thay đổi một con người. Chỉ có ánh sáng mới xóa tan được bóng tối. Chỉ có tình thương mới xóa bỏ hận thù ghen ghét. Tình yêu có phép mầu biến kẻ thù thành bạn hữu. Tình yêu có sức mạnh sáng tạo và cứu độ. Đối với người Kitô hữu, lý do căn bản để yêu thương kẻ thù chính là Lời Chúa: “Anh em hãy yêu kẻ thù…Như vậy phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao” (Lc 6,35).

Lạy Chúa Giêsu, trên thập giá, Chúa đã nêu gương tha thứ. Xin thương củng cố tình thương của Chúa trong trái tim con, để mỗi ngày con được tiến thêm và kiên trì đi trên con đường yêu thương của Chúa cho đến cùng. Xin thánh hóa tình yêu trong con, cho con biết yêu mến mọi người. Amen. mục lục

YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, văn bản cho biết '

Đức Giêsu là một nhà sư phạm lỗi lạc, cách giảng thuyết của người rất hiện thực và uyển chuyển. Người thường lấy những khung cảnh thực tế địa phương nhưng vẫn có tính phổ quát làm nền cho bài giảng. Yêu là một đặc tính của con người, nhưng có nhiều sắc thái khác nhau tùy địa phương, hoàn cảnh, dân tộc tính và từng người. Và yêu thế nào để đáp ứng được nguyện vọng và yêu cầu của Thiên Chúa mới là vấn đề.  

HÃY YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

Về yêu, Đức Giêsu đưa ra hai giới răn: Yêu Chúa và Thương Người (x. Mt 22:38-39; Mc 12:30-31; Lc 10:27). Đối với người Kitô hữu, để có cuộc sống hài hòa yêu thương nhau thực sự, không có hướng dẫn nào thực tế và chính xác hơn là Yêu Chúa và Thương Người. Tất cả lời nói và hành động của chúng ta đều phụ thuộc vào hai phạm trù này. Khi Chúa nói “Hãy yêu thương người láng giềng” thì tự nhiên ai cũng thắc mắc, muốn vấn đề được rõ ràng hơn. Người láng giềng là ai? Thế nào là người láng giềng? Có thể chúng ta rất ngạc nhiên, đôi khi khó chịu, cho là đùa dỡn khi nghe Chúa Giêsu trả lời: “Hãy yêu kẻ thù. Hãy làm điều tốt lành cho kẻ ghét mình. Hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ vu khống anh em. Ai vả anh em má này thì hãy đưa má kia cho họ vả” (Lc :27-29). Những lời này nằm trong bài giảng Tám Mối Phúc Thật mà tuần trước chúng ta đã nghe qua, nhưng nó có tính cá nhân và ở thời Giáo Hội sơ khai. 

Dân Israel / Do Thái có tinh thần đoàn kết rất keo sơn. Một người bị đau thì tất cả đều đau theo, một người vui sướng hạnh phúc thì tất cả mọi người đều mừng vui, như Việt Nam ta thường nói ‘một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ’. Lý do vì cộng đồng dân Israel thường hay bị áp bức đe dọa, nên sợi dây liên kết giữa họ với nhau rất chặt chẽ. Cũng chỉ vì lẽ sống còn đã được hun đúc ẩn chứa trong lòng mọi người dân Do Thái đến độ họ thù oán, ghét cay ghét đắng kẻ thù. Nhưng đối với người láng giềng của họ, họ chẳng thắc mắc gì khi nghe Chúa Giêsu nói “Hãy yêu thương người láng giềng” chừng nào những người này vẫn còn là bạn hữu, đồng hương với họ. Tuy nhiên, nói trống không “hãy yêu kẻ thù của mình” thì quả là chuyện quái gở và khó có thể “nuốt”. Nếu đây không phải là một thí dụ đầy đủ có thể thuyết phục được mọi người, chúng ta hãy coi lại câu chuyện trong sách Samuel xem Đavít tha thứ cho kẻ thù là Saul như thế nào (x. 1 Sm 26:2,7-9, 12-13,22-23).  

ĐAVÍT THA CHẾT CHO KẺ THÙ 

Câu chuyện Đavít tha chết cho Saul trong sách Samuel nhắc ta nhớ lại lịch sử Israel. Khi kẻ thù của Israel trở nên hùng mạnh, sức ép quân sự rất rõ ràng, nên họ kêu cứu xin một vị vua đến để giúp đỡ hướng dẫn họ. Lúc ấy Israel mất hết các liên bang chi họ, lại không còn quân lực, chính phủ hiệp nhất trung ương thì yếu trong khi các quốc gia lân bang lại nắm được quyền lực dưới sự chỉ đạo của một vị vua. Họ cũng đi tìm một vị lãnh đạo như vậy cho đất nước họ. Vì Giavê đã là vua, nên đã tạo ra nhiều mối bất hòa giữa các giai cấp trong dân Israel. Hy vọng có một vị vua lãnh đạo đất nước thì đã bị tiêu tan mất rồi. Saul thì lại là vua đầu tiên được ngôn sứ Samuel chọn và xức dầu. Đavít tha chết cho Saul phải chăng là vì vậy. 

NGƯỜI ĐƯỢC THIÊN CHÚA XỨC DẦU 

Nếu có nhiều trường hợp quyền lực trở nên tha hóa thì đó là trường hợp của Saul. Hắn là kẻ lãnh đạo bất tài và tự cảm thấy thấp kém và bị đe doa bởi Đavít, một quân vương có thế giá đang được dân chúng ủng hộ. Hắn trở nên ghen tương đố kỵ. Câu chuyện cho thấy hắn rắp tâm tìm mưu kế hãm hại Đavít với 3000 quân lính (1 Sm 26:2), một lực lượng quân sự đáng kể trong khi Đavít chỉ có 600 quân! (1 Sm 27:2). Vào một đêm, Đavít đột nhập được vào lều của Saul trong khi Saul và quân lính vẫn còn đang ngủ say. Nếu  muốn giết Saul thì quá dễ dàng, nhưng Đavít đã tôn trọng Saul là vua, là người đã được Thiên Chúa xức dầu (26:9). Dù cho Saul đã rắp tâm tìm cách giết Đavít, nhưng Đavít không thể lỗi phạm làm trái ý Chúa đã chọn Saul làm vua. Đavít đã chỉ lấy của Saul một bình nước và thanh gươm rồi biến mất vào trong đêm tối (26:12). Khi đã yên vị an toàn ở sườn đồi, Davít mới tuyên bố sự hiện diện của mình và chủ tâm tha chết cho Saul (26:23).  

Sau đó câu chuyện ra sao thì không thấy Samuel nói tiếp, nhưng chúng ta có thể đoán được là Saul đã rất nể vì và biết ơn Đavít đã tha mạng cho mình. Nhưng vấn đề không hoàn toàn là như vậy. Trong một ý nghĩa nào đó đã có sự hòa giải khi Đavít gặp Saul mặt đối mặt để xin được chúc lành. Tuy nhiên khi hai người rời nhau thì tình liên đới giữa họ vẫn không được hàn gắn. 

HÃY NÊN THÁNH- ĐỪNG LẤY OÁN BÁO OÁN

Đavít tha chết cho Saul thực ra là một trường hợp hiếm có. Bài Phúc Âm hôm nay đưa ra một thí dụ rất thực tế khi Đức Giêsu nói: “Hãy yêu kẻ thù của mình” bằng cách chia sẻ của cải, đồ vật của mình cho kẻ bất hạnh nghèo khổ thiếu thốn; ai muốn vay mượn mình thì đừng từ chối; khi ai xúc phạm mình thì đừng trả thù; ai vả má này hãy đưa má kia cho họ vả. Đức Giêsu đã không nói rằng chúng ta phải để cho thiên hạ lạm dụng, hành hạ, bôi nhọ chúng ta. Người nói rằng hận thù, nóng giận thì không nên tiếp diễn đáp trả. Khi ai xúc phạm anh em thi ví như trái banh đã ném qua bên sân của mình rồi. Nếu ta ném trái banh trả lại tức là ta đã xác định một sự đối đầu rồi. Hỏi rằng chúng ta có nên đáp trả như vậy để rồi tiếp tục leo thang qua lại, biến thành bạo động liên tiếp qua lời nói và việc làm, hay chúng ta tự chế chấm dứt tình trạng đối đầu ấy? Chọn lựa không đáp trả hận thù đương nhiên nạn nhận sẽ ở vào vị thế thượng phong. Oán báo oán là chuyện thường tình. Lấy ân báo oán mới là anh hùng.

Bài đọc 1 sách Lêvi hôm nay, Thiên Chúa kêu gọi dân Israel nên có một tâm thức khác, một tiếng gọi lương tâm thánh qua lời phán cùng Môsê rằng: “Ngươi hãy nói cho toàn thể cộng đồng con cái Israel là hãy nên thánh, vì Ta là đấng thánh, là Thiên Chúa các ngươi. Đừng giữ lòng thù ghét anh em để khỏi mang tội vì họ. Đứng lấy oán báo oán… Hãy yêu thương mọi người như yêu thương chính mình vậy. (Lv 19:1-2, 17-18). 

Chúa đã từng nói một ngày nào đó chúng ta sẽ được nâng lên vượt khỏi những khuynh hướng “trần gian”. Ông Adam và bà Eva là những thí dụ về nhân tính “trần gian”. Chúa Kitô là thí dụ nhân tính “trên trời”. Chúng ta sinh ra là tạo vật ở trần gian, nhưng trong con người chúng ta có một khả năng tăng trưởng, lớn lên để thành con người “trên trời” hay “thiên đàng” (1 Cr 15:45-49).  

Tăng trưởng, lớn lên không phải bỗng nhiên mà có, nó đòi hỏi phải phấn đấu, vì vậy nhiều khi chúng ta đã đáp ứng với hoàn cảnh theo cách “trần thế”. Nhưng trong một số trường hợp chúng ta vượt thoát khỏi khuynh hướng ‘mắt đền mắt, răng đền răng, oán báo oán’, chúng ta đã trở nên giống Đavít. Chúng ta tận dụng nghị lực dự trữ mà Thiên Chúa ban cho chúng ta hiện đang tiềm ẩn trong tâm chúng ta, và bất thần lương tâm chúng ta nhắc nhở chúng ta là hãy yêu thương tha nhân như Chúa Kitô yêu thương chúng ta vậy. Đừng lấy oán báo oán. Hãy lấy ân báo oán. mục lục

HÃY SỐNG YÊU THƯƠNG VÀ NÊN TRỌN LÀNH

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Kết thúc "Bài giảng trên núi", căn tính của người kitô hữu là muối, là ánh sáng. Tiếp theo sau đó, Chúa Giêsu tiếp tục mạc khải cho khi dạy các môn đệ và cũng dạy chính chúng ta về thái độ cần phải có cũng như thực hành trong đời sống: "Các con đã nghe bảo... Còn Thầy, Thầy bảo các con ". Vậy nghe bảo gì? Và cụ thể giáo huấn của Chúa Giêsu cho các môn đệ mình ra làm sao?

Khi Chúa Giêsu khi trích dẫn câu nói của người xưa về luật công bằng khi trả thù đã được ghi rõ trong Cựu Ước "Mắt đền mắt, răng đền răng " ( Xh 21,24). Chúng ta phải thừa nhận rằng, đây là một bước tiến lớn trong tương quan hành xử giữa người với người so với thời Lamek, bởi Lamek đã từng nói với hai vợ: "Vì một vết thương, ta giết một người, (Ta) trầy da, một nam nhi toi mạng. Vì Cain sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng La-méc thì gấp bảy mươi bảy! " (St 4,23-24) Vậy là trả thù mãi mãi. Luật "Mắt đền mắt, răng đền răng" ( Xh 21,24) giúp con người khỏi rơi vào tình trạng thái quá. Trái lại, Luật của tình yêu phủ nhận sự đồng nhất với kẻ thù: "Còn Thầy, Thầy bảo các con: đừng chống cự lại với kẻ hung ác" (Mt 5, 39).

Theo Chúa Giêsu, yêu thương là vượt ra khỏi vòng tròn luẩn quẩn của cái ác và sống tình huynh đệ đại đồng, nên khi Ngài bảo chúng ta "đưa má bên kia cho nó nữa" là Ngài muốn chúng ta xây đắp tình hiệp thông anh em. "Đưa má bên kia" là cố tình giúp đối phương khám phá ra tình yêu và biết rằng thực hành bác ái là điều có thể. "Đưa má bên kia" còn muốn nói với kẻ ác rằng nó đã nhận được người anh em như nó là anh em. Một hành động đáng tin cậy như thế sẽ phá tan bạo lực. 

Chúa Giêsu yêu cầu gia tăng thêm tình yêu và lòng tha thứ càng nhiều càng tốt! Vì tình yêu có sức mạnh giúp đối phương xích lại gần ta hơn bằng tình người. Như thế, bằng cách trao ban, chúng ta nhận nó là anh em. 

"Cho nó cả áo choàng", "đi với nó hai dặm" không phải một áp đặt, nhưng chứng minh con người luôn có sáng kiến về tình yêu. Vì đó là điều đẹp lòng Chúa, nên chúng ta từ bỏ điều có đi có lại và chủ động xây đắp tình hiệp thông trong tình yêu. "Ai xin, thì con hãy cho. Ai muốn vay mượn, thì con đừng khước từ " (Mt 5, 44).

Tình yêu phải được thực hiện theo châm ngôn: "Hãy yêu thương thù địch các con, hãy làm lành cho những kẻ ghét các con, và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ và vu khống các con" (Mt 5, 44). Chúa Giêsu không chỉ lên án một hệ thống dùng bạo lực để trả thù cho cân, Ngài còn muốn chúng ta hủy bỏ luật ăn miếng trả miếng xưa. Tình yêu không gia tăng theo kiểu có đi có lại - "người ngươi yêu mến là một người anh em ngươi, một người ngươi yêu mến là người bạn ngươi". Tình yêu là quà tặng, nhưng không dựa trên sự khác biệt tối thiểu. Sự khác biệt của tình yêu là không giống nhau, là người khác chứ không phải là người họ hàng, nhưng là người chúng ta cảm thấy gần. Như Chúa Giêsu đã nói: "đó là người thân cận của ngươi". Tuy nhiên, Chúa Giêsu không bác bỏ sự phân biệt của chúng ta. Người khác không phải luôn là một người bạn, nó có thể trở thành kẻ thù. Điều quan trọng là tất cả mọi người là anh em với nhau. 

Thật phù hợp để người kitô hữu khẳng định căn tính là con Thiên Chúa của mình khi thực hành lời Chúa Giêsu dạy để trở nên con cái của Cha trên Trời. Giới luật yêu thương mà Chúa Giêsu để lại đã mạc khải rõ về hồng ân yêu thương. Là con cái Thiên Chúa, chúng ta phải yêu thương ngay cả kẻ thù, kẻ muốn cắt đứt tương quan là con Thiên Chúa và anh em với ta. Luật ăn miếng trả miếng không còn tồn tại. Chỉ có tình yêu mới biến đổi được hận thù, tình yêu làm cho chúng ta trở nên con Thiên Chúa và thể hiện chức phận là con đối với Người.

Như thế, chúng ta đi đến cùng lời Chúa Giêsu dạy về thánh ý Thiên Chúa trong đời sống: "Các ngươi hãy thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh" (Lv 19,1). Bằng những lời này, Thiên Chúa mời gọi dân Israel và cả chúng ta ngày hôm nay thể hiện lòng trung thành với giao ước Thiên Chúa đã thiết lập, đồng thời đặt luật lệ xã hội trên giới răn "Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình" (Lv 19,18). Tuy nhiên, phải đi xa hơn để tình yêu của chúng ta được phổ quát nhằm cho luật cũ được kiện toàn. Khi yêu như thế, ta đang thực hiện lời mời gọi của Chúa Giêsu: "Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành" (Mt 5,48). 

Nhưng ai có thể nên trọn lành? Sống trọn lành là thi hành thánh ý Chúa trong tư cách là con. Thánh Xip-ri-a-nô từng viết: "Cách hành xử của con cái Thiên Chúa phải tương hợp với tình phụ tử của Thiên Chúa bởi vì Thiên Chúa được tôn vinh và ca tụng từ những việc tốt lành của con người " (De zelo et livore, 15: CCL 3a, 83). Như thế, con người có thể trở nên trọn lành khi sống tròn đầy cương vị làm con cái Thiên Chúa. Chúa Cha làm khác chúng ta là những người bỏ người này chọn người kia. Chúa Cha làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, và cho mưa trên người công chính cũng như kẻ bất lương. Chúa Cha quan tâm đến cả hai, người lành cũng như kẻ dữ; con cái Thiên Chúa cũng phải trở nên trọn lành "như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành " (Mt 5, 48).

Xem ra có thể khó, nhưng Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta trước khi nói: "Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Ðấng ngự trên trời" (Mt 5, 44-45). Ai đón nhận Thiên Chúa trong đời sống mình và yêu mến Người hết lòng, người ấy có khả năng bắt đầu một chặng đường mới, có thể chu toàn thánh ý Thiên Chúa hầu hiện thực hoá một hiện hữu mới được nuôi sống bởi tình yêu và hướng đến sự vĩnh cửu. Tình yêu là điều vĩ đại, chúng ta đọc thấy trong sách Gương Chúa Giêsu, một điều tốt làm nhẹ đi những nặng nhọc và nâng đỡ những điều khó khăn. Tình yêu thôi thúc ta hướng lên cao mà không còn bị vướng bận vào bất cứ điều gì thuộc trần thế.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin giúp chúng con luôn sống xứng đáng là con Cha trên Trời. Amenmục lục

SỐNG VÀ YÊU

Trầm Thiên Thu

Cuộc sống và tình yêu là hai trạng thái khác nhau, nhưng lại không tách rời nhau, thậm chí là “nên một” với nhau. Sống để yêu, và yêu để sống.

Không thể sống mà không yêu, yêu là sống. Người ta nói vui mà thật: “Yêu thì khổ, không yêu thì lỗ. Thà chịu khổ chứ không chịu lỗ.” Không yêu thì yếu, mà yếu thì không thể yêu – tức là cần mạnh mẽ và can đảm. Vì yêu mà người ta dám chết, chết rồi lại được sống. Chúa Giêsu đã chứng tỏ điều đó, và chính Ngài xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15:13)

Yêu thì khổ, chính cái khổ đó là chất hy sinh tiết ra để chứng minh tình yêu chân thật. Yêu không chỉ khổ mà còn phải “chết” – theo nghĩa bóng hoặc nghĩa đen. Đó là nên thánh. Người ta chết rồi mới được làm thánh, chưa chết mà sao làm thánh? Làm gì có chuyện “ngược đời” như thế chứ? Đúng như vậy. Nhưng cái NGHỊCH đó lại là cái THUẬN. Tại sao vậy? Chết rồi mà làm thánh là “chuyện nhỏ,” sống mà làm thánh mới là “chuyện lớn” và xứng đáng nỗ lực. Thực sự chứ chẳng bông đùa. Bởi vì Chúa Giêsu đã truyền lệnh: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5:48) Là mệnh lệnh thì chắc chắn phải thi hành.

Là con người, chẳng ai hoàn hảo, được cái này thì mất cái nọ, đều là tội nhân, ngay cả các thánh nhân cũng đã từng lần mò tìm về Nhà Cha qua con đường tội lỗi và thứ tha: “Nếu Thiên Chúa chấp tội, chẳng ai được rỗi.” (Tv 130:3) Tuy nhiên, làm thánh hay không là dựa vào cuộc sống đời thường, sống sao chết vậy, có sống khôn thì mới chết thiêng. Người ta thường nói: “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng.” Ở đây, cái “tiếng” mang ý nghĩa tích cực là “tiếng tốt.” Phàm nhân đầy “vết chàm,” tội nhân mà hoàn thiện thì nên thánh, nếu hoàn thiện ngay ở đời này thì là thánh sống. Thật vậy, Chúa Giêsu không chỉ bảo chúng ta phải làm thánh sau khi chết mà phải làm thánh ngay ở đời này – cứ hoàn thiện dần dần, bước nhỏ mà đều, bước chậm mà chắc.

Đã có các vị thánh sống trong thời đại của chúng ta – nổi bật là ĐGH Gioan Phaolô II (1920-2005) và Mẹ Teresa Calcutta (1910-1997). Hiện nay, thế giới cũng đang chú ý tới ĐGH Phanxicô, một người có phong cách “ngược đời” của một thánh nhân giữa đời thường, dám nói thẳng nói thật vì công lý và chân lý, luôn khôn ngoan nói: “Xin cầu nguyện cho tôi.” Nếu thực sự muốn làm thánh thì chúng ta cũng phải có “phong cách lạ” như vậy.

Là Kitô hữu, chắc hẳn ai cũng muốn nên thánh. Nếu muốn nên thánh thì phải yêu Chúa, mức độ yêu Chúa phải được chứng minh qua việc yêu tha nhân, kể cả người không theo phe mình – yêu người là “thước đo tiêu chuẩn” về lòng yêu mến Chúa. Ai yêu Chúa thì phải từ bỏ mình, ngược lại, ai yêu mình thì mặc nhiên từ bỏ Chúa. Rất lô-gích. Phàm nhân chẳng là gì, có là gì thì chỉ là tội nhân khốn nạn, bởi vì con tim của chúng ta là “tro bụi,” hy vọng của chúng ta “hèn hơn đất,” và cuộc đời của chúng ta “tệ hơn bùn.” (Kn 15:10) Chẳng có gì đáng giá mà dám tự mãn. Thế nên phải cố gắng hoàn thiện, nỗ lực không ngừng, rán sức suốt đời – dù ngày hay đêm.

Cái gì cũng có tính liên đới, cái này liên quan cái khác: Nếu muốn nên thánh một mình thì chỉ là ích kỷ – mà ích kỷ thì không thể nên thánh, nghĩa là chúng ta phải không ngừng nỗ lực nên thánh mà còn phải giúp người khác cùng nên thánh. Kinh Koran (Kinh Thánh của Hồi giáo) xác định: “Người hoàn thiện nhất là người đã giúp ích cho nhân loại nhiều nhất.” Rất chí lý!

Tất nhiên ai cũng có thể nên thánh và phải làm thánh, dù chúng ta chỉ là tội nhân khốn nạn, trừ phi chúng ta không muốn. Đã có những tội nhân “lớn” nhưng đã làm thánh: Vua Đa-vít, tướng cướp Dismas (tên gian phi tốt bụng, Lc 23:39-43), binh sĩ Longinô (người cầm giáo đâm thấu tim Chúa Giêsu trên Đồi Sọ), Giáo hoàng tiên khởi Phêrô, Tông đồ Phaolô, Người Phụ nữ Tội lỗi (Lc 7:36-50),… và một người ít “bị” để ý là vua Salômôn, dù là người khôn ngoan nhất nhưng cũng đã cãi lệnh Chúa và đã từng sống trong tội lỗi. (1 V 11:1-13) Thực sự nhận biết mình yếu đuối và tội lỗi xấu xa thì mới nỗ lực hoàn lương để nên thánh, điều cần là đừng bao giờ mất niềm tin vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Tính hợp lý rõ ràng. Nếu không cố gắng hoàn thiện mà còn lần lữa thì vô ích, vì Thiên Chúa đã từng khuyến cáo: “Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu.” (Is 1:15)

Tuy nhiên, đôi khi chúng ta vẫn chú trọng hình thức nên chưa thể “lột xác” được. Giảng hay, nói giỏi, viết tốt,… có sức thu hút người khác, nhưng chính mình lại vẫn giậm chân tại chỗ, chẳng thay đổi được gì. Đó chỉ là “lẻo mép” hoặc “lẻo bút,” hoàn toàn vô ích mà thôi. Loài rắn và loài cua phải lột xác để phát triển, nếu con người không chịu “lột xác” thì không thể phát triển về tâm linh được, mà “lột xác” thì phải đau đớn, phải dứt khoát. Càng “lột xác” nhiều thì càng hoàn thiện, càng tiến bộ trên đàng nhân đức.

Trong một lần hiện ra tại Fátima, Đức Mẹ đã đặt vấn đề với ba trẻ: “Các con có sẵn lòng dâng mình cho Chúa và chịu những đau khổ mà Ngài gởi đến cho các con để xin ơn hoán cải cho các tội nhân không?” Thiên Chúa cũng đã xác định: “Mọi kẻ Ta yêu mến thì Ta răn bảo dạy dỗ. Vậy hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn!” (Kh 3:19)

Tội lỗi là thứ siêu vi độc hại, dễ nhiễm mà khó trị: “Khi dục vọng đã cưu mang thì đẻ ra tội; còn tội khi đã phạm rồi thì sinh ra cái chết.” (Gc 1:15) Và từ ngàn xưa, chính Thiên Chúa đã truyền cho ông Mô-sê: “Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh.” (Lv 19:1-2) Đó là lẽ tất nhiên. Thiên Chúa là Đấng thánh thì con cái Ngài cũng phải thánh, không thể khác được. Chắc chắn ai không hoàn thiện thì không được nhìn thấy Thiên Chúa và không được ở bên Ngài. Sống thì phải yêu, biết yêu thì mới sống.

Thật vậy, Thiên Chúa cho biết tính liên đới và bí quyết hoàn thiện: “Ngươi không được để lòng ghét người anh em, nhưng phải mạnh dạn quở trách người đồng bào, như thế, ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó. Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình. Ta là Đức Chúa.” (Lv 19:17-18) Thấy điều trái tai gai mắt mà làm ngơ thì có thể là bao che hoặc nhát đảm, nhưng dám lên tiếng cảnh báo thì mới là can đảm bảo vệ công lý và yêu mến chân lý. Thật vậy, người bạn thân thiết là người dám phê phán chúng ta cả trăm lần chỉ vì muốn tốt cho chúng ta, ngoài ra không là “bạn” mà chỉ là “bè” mà thôi – loại “bè” thì vô số.

Đấng chí thánh là Thiên Chúa – Thiên Chúa duy nhất. Quả thật, chúng ta thực sự hạnh phúc khi nhận biết và tôn thờ Ngài, Đấng Thánh toàn năng và giàu lòng thương xót. Vì thế, chúng ta phải không ngừng tự nhủ: “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, toàn thân tôi, hãy chúc tụng Thánh Danh! Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi, chớ khá quên mọi ân huệ của Người.” (Tv 103:1-2) Phải hành động như vậy với lý do rất minh nhiên: “Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi. Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà.” (Tv 103:3-4) Phàm ngôn không đủ từ ngữ để mô tả tình yêu thương của Ngài – Đấng mệnh danh là tình yêu. (x. 1 Ga 4:8 và 16)

Ngài không chỉ là Đấng chí tôn cao cả mà còn hết lòng thương xót mọi người – cả người tốt và người xấu: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi. Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm. Như đông đoài cách xa nhau ngàn dặm, tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta. Như người cha chạnh lòng thương con cái, Chúa cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn.” (Tv 103:8-10, 12-13) Thật vậy, Người không đành bẻ gãy cây lau bị giập, và cũng chẳng nỡ tắt đi tim đèn leo lét. (x. Mt 12:20) Và chúng ta chỉ được phép và phải tôn thờ một mình Ngài mà thôi: “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ.” (Xh 20:3-4)

Là thụ tạo của Ngài, chúng ta được coi là những thánh nhân theo ba chiều kích của Giáo Hội là các thánh cùng thông công – GH khải hoàn, GH đau khổ, và GH chiến đấu hoặc lữ hành. Chắc chắn chúng ta phải nên thánh vì một lý do khác nữa, như Thánh Phaolô đã đặt vấn đề: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? Vậy ai phá huỷ Đền Thờ Thiên Chúa thì Thiên Chúa sẽ huỷ diệt kẻ ấy. Vì Đền Thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em.” (1 Cr 3:16-17) Thiên Chúa là Đấng Thánh thì không thể ở nơi ô uế tội lỗi. Chúng ta xấu xa, hèn hạ, khốn nạn và bất xứng như thế, vậy mà Thiên Chúa lại cho chúng ta trở thành Đền Thờ của Ngài. Thật không thể nào tưởng tượng nổi, thế nên chúng ta phải tạ ơn Ngài bằng cách cố gắng nên thành, nếu có thể thì làm thánh sống ngay ở đời này. Đó là điều hoàn toàn hợp lý, và Thiên Chúa rất muốn như vậy.

Ôi chao, có lẽ Thánh Phaolô cũng “ngược đời” khi nhắc nhở chúng ta: “Đừng ai tự lừa dối mình. Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời thì hãy trở nên như điên rồ, để được khôn ngoan thật. Vì sự khôn ngoan đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa, như có lời chép rằng: Chúa bắt được kẻ khôn ngoan bằng chính mưu gian của chúng. Lại có lời rằng: Tư tưởng kẻ khôn ngoan, Chúa đều biết cả: thật chỉ như cơn gió thoảng ngoài.” (1 Cr 3:18-20) Ít có ai dám “khác người” như vậy, bởi vì có thể người ta sẽ cho là “chạm điện,” người nào “không giống ai” như vậy sẽ bị ghen ghét, bị xa lánh, bị trù dập,… thế nhưng như vậy mới là “khôn ngoan thật” – khôn ngoan theo cách thức của Thiên Chúa. Đúng là không thoải mái – vừa khó vừa “căng” lắm!

Nhưng rồi chuyện gì cũng có bí quyết, có cách xử lý cụ thể, ngay cả những lúc khó khăn nhất tưởng chừng bế tắc. Thánh Phaolô kết luận rất cụ thể: “Đừng ai dựa vào phàm nhân mà tự hào. Vì tất cả đều thuộc về anh em; dù là Phaolô, hay Apôlô, hay Kê-pha, dù cả thế gian này, sự sống, sự chết, hiện tại hay tương lai, tất cả đều thuộc về anh em, mà anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa.” (1 Cr 3:21-23) Thánh Vịnh gia xác định: “Cậy vào thần thế vua quan, chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời.” (Tv 118:9)

Trong hình ảnh có thể có: văn bản cho biết 'LOVE YOUR ENEMIES'

Cần có luật để kiềm chế tội ác, nhưng phải được áp dụng với tình yêu thương chứ không thể xử theo kiểu luật rừng. Con người có trước, luật có sau. Luật vị nhân sinh, nhân sinh bất vị luật. Luật ví như dây cương và hàm thiếc để điều khiển ngựa chứng. Luật cũng đa dạng, có luật hợp lòng dân hoặc mất lòng dân. Luật hợp lòng dân là luật chứa sự nhân đạo, nhằm hoàn thiện con người – như Luật Tân Ước, nổi bật là chữ NÊN; còn luật chưa hợp lòng dân là luật chỉ nhắm tới những khung hình phạt – như Luật Cựu Ước, chú trọng chữ CẤM. Luật Cựu Ước xem chừng thoải mái, dễ thực hiện hơn, và ai cũng thích: “Mắt đền mắt, răng đền răng.” Có lý lắm, vì người ta đánh mình thì mình phải “chơi tới bến” chứ không thì người ta chê mình “dở ẹc” hoặc “lép vế.” Thế thì máu tự ái bốc tới chỏm đầu thôi, chịu gì nổi. Nếu chỉ như vậy thì chẳng có gì đáng nói!

Ngược lại, Chúa Giêsu dạy sống tích cực hơn: “Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn thì đừng ngoảnh mặt đi.” (Mt 5:39-41) Wow, thế thì “căng” quá chừng! Chúa Giêsu kỳ thí mồ, dạy những điều chi mà khó mần thế nhỉ? Tuy nhiên, đó lại là chuyện thật chứ không là chuyện bông đùa hoặc giả định.

Ngày xưa, Cựu Luật dạy: “Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù.” Như thế chỉ là “chuyện nhỏ,” các loài động vật khác cũng vẫn thực hiện như vậy, chẳng riêng gì con người. Vì thế, Chúa Giêsu dạy làm những điều mà chúng ta thấy có vẻ “chói tai” vì khó lọt nghe: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5:44) Đúng là gay go thật!

Thế nhưng không thế không được. Phải vậy thôi. Bởi vì Chúa Giêsu giải thích rạch ròi: “Như vậy, anh em mới ĐƯỢC trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?” (Mt 5:45-48) Những bí quyết Chúa Giêsu đưa ra thật thú vị, rất “khác người,” rất “ngược đời,” nhưng mà rất chí lý vì có tính cao thượng. Quả thật, có dám “khác người” thì mới khả dĩ nên thánh, có thể làm thánh sống ngay trên thế gian này. Chân trần còn chạm đất nhưng hồn vẫn thanh thoát, bay bổng.

Khi nào thực sự nhận biết mình là tội nhân, chúng ta sẽ thấy yêu quý lời dạy của Chúa Giêsu – vừa khuyến cáo vừa động viên. Ngài dạy canh tân không ngừng bằng cách cố gắng “hoàn thiện như Cha trên trời.” (Mt 5:48) Khi định hướng rạch ròi như vậy, chúng ta sẽ thoải mái làm mọi thứ chỉ vì Chúa chứ không vì bất cứ lý do nào khác, như vậy chúng ta có thể thẳng thắn và mạnh mẽ xác định như Thánh Phaolô: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi.” (2 Cr 5:14). Và có hệ lụy rất kỳ diệu: “Yêu thương là chu toàn lề luật.” (Rm 13:8 và 10)

Cuộc sống nhiêu khê hơn chúng ta tưởng – cả thể lý lẫn tinh thần. Có những thứ cần phải bỏ – buông bỏ hoặc cở bỏ vì đáng ghê tởm, có những thứ phải bám chặt vì đáng yêu quý. Nhưng phải biết BUÔNG thì mới có thể BỎ, phải biết CỞI thì mới có thể BỎ. Đây là vài điều trong Kinh Thánh:

– Chúng ta rên siết, khổ tâm vì không muốn CỞI BỎ cái này, nhưng lại muốn TRÙM thêm lên mình cái kia, để cho cái phải chết tiêu tan trong sự sống. (2 Cr 5:4)

– Anh em phải CỞI BỎ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải MẶC LẤY con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện. (Ep 4:22-24)

– Chúng ta hãy CỞI BỎ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta. (Dt 12:1)

Lạy Thiên Chúa chí thánh, con xin nhận tội, điều gian ác, con sẽ không dám làm; xin chỉ cho con điều con không thấy, nếu con đã bất công, con sẽ không tái phạm. (G 34:31-32) Con chân thành xin lỗi Ngài, bởi vì con viết nhiều và nói lắm mà chẳng sống được bao nhiêu. Xin giúp con biết tự làm khó mình mà cố gắng tích cực canh tân từng ngày theo định hướng của Ngài, nỗ lực hoàn thiện theo mỗi nhịp thở. Ngài là Đấng Chí Thánh thì con phải hoàn thiện thì mới xứng đáng. Xin thương biến đổi con theo Thánh Ý Ngài. Lạy Thiên Chúa nhân hậu, con đơn độc mình ên, xin cứu giúp con, ngoài Ngài ra, con đâu còn ai nữa! (Et 4:17t) Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

THA THỨ VÌ BẢN THÂN CẦN ĐƯỢC THA THỨ

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Trịnh Công Sơn từng viết: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi… để gió cuốn đi…”. Gửi tấm lòng vào gió, vị tha với cuộc đời, bạn sẽ thấy cuộc sống đẹp vô cùng, đáng yêu vô cùng.

Ta thường nghĩ, tha thứ là món quà đối với người được tha thứ. Nhưng không. Tha thứ cho bất kỳ ai lại là món quà tự tặng chính bản thân. 

Tha thứ luôn là cách giúp ta thể hiện sự trân quý đối với chính cuộc sống của mình. Nó còn giúp tránh muộn phiền và cảm nhận yêu thương. 

Dù đã đi qua nhiều năm và Ngoại tôi đã ra người thiên cổ, tôi vẫn chưa bao giờ quên lời Ngoại dạy. Đó là cái thuở còn sinh viên, mỗi khi bực bội ai đó, tôi lại kể cho Ngoại nghe. Lúc nào nghe xong, Ngoại cũng nhẹ nhàng bảo: “Bỏ qua được thì bỏ qua đi con. Nghĩ hoài chỉ tội mệt óc”. 

Dù biết Ngoại nói đúng, tôi vẫn chống chế: “Đời này không ai thực lòng bỏ qua cho nhau đâu Ngoại à. Ngoài mặt thì tha thứ, nhưng trong bụng lại ghim gút đợi ngày trả lại cả vốn lẫn lời đó Ngoại. Ai đâu lại hiền như Ngoại!” 

Ngoại lại mắng: “Nói như mày chắc ở trên đời thiên hạ đều là kẻ thù của nhau?”...

Càng lớn lên, càng hiểu biết, càng thấm thía cuộc đời, tôi lại càng khắc ghi những lời Ngoại dạy. Bởi tôi biết, chỉ có tha thứ, tâm hồn mới thông thoáng, tầm nhìn phía trước mới không vướng víu bất cứ chướng ngại nào.

Tôi biết, những gì Ngoại dạy là chính sự hấp thu của một đời Kitô hữu mà Ngoại đã trải qua. Ngoại học nơi Chúa Kitô và lắng nghe lời Chúa dạy. Bởi chính Chúa đã chấp nhận làm người, sống, chết cho một tình yêu tha thứ đến vô cùng, đến không gì có thể sánh ví. Chúa tha thứ, để mọi con người nhờ ơn tha thứ của Chúa mà đạt đến sự trường tồn muôn đời trong Nước Chúa.

Và hôm nay, lời Chúa dạy hết sức rõ ràng để mọi người khắc ghi và sống: "Các con cũng đã nghe dạy rằng: ‘Hãy yêu thương tha nhân, và ghét thù địch’. Còn Thầy, Thầy bảo các con: Các con hãy yêu thương thù địch các con, hãy làm lành cho những kẻ ghét các con, và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ và vu khống các con, để các con nên con cái Cha các con ở trên trời, là Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, và cho mưa trên người công chính cũng như kẻ bất lương. Vì nếu các con yêu thương những kẻ yêu thương các con, thì còn có công gì? Nào những người thu thuế không làm như vậy ư? Và nếu các con chỉ chào hỏi anh em các con mà thôi, thì các con có làm gì hơn? Nào dân ngoại không làm như vậy sao? Vậy các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành".

Chuyện kể rằng, có hai người đi trên sa mạc. Một lần, trong cuộc tranh cãi, một trong hai không giữ nổi bình tĩnh, tát vào mặt bạn mình.

Người kia lặng lẽ ghi xuống cát: "Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã tát tôi".

Rồi cả hai cùng đi. Đến một đầm có nhiều nước, họ quyết định dừng chân. Người bạn vừa bị tát trượt chân ngã xuống bùn. Anh ta càng lúc càng lún sâu xuống. Rất may, người bạn còn lại kịp thời cứu. Ngay sau khi được cứu, anh khắc lên đá dòng chữ: "Hôm nay, bạn tốt nhất của tôi đã cứu sống tôi".

Và anh giải thích: "Khi ai đó làm chúng ta đau, chúng ta nên viết điều đó lên cát, nơi những cơn gió của sự thứ tha sẽ xóa tan những nỗi trách hờn. Nhưng khi chúng ta nhận được điều tốt từ người khác, chúng ta phải ghi khắc chuyện ấy lên đá nơi không cơn gió nào có thể cuốn bay đi."

Hãy tha thứ cho những hành động lỗi phạm. Hãy buông bỏ những tư tưởng chấp nhất, hận thù, trả đũa. Chỉ có như thế lòng mới nhẹ, cuộc sống mới bình an, và từng ngày trôi qua sẽ đẹp, sẽ đáng sống.

Trong cuộc sống, lúc này lúc khác, ta sẽ khó tránh khỏi những tổn thương, thậm chí tổn thương tới mức sâu sắc. 

Nếu bị tổn thương, ta đau khổ. Chính vì đau khổ, ta tưởng chừng khó có thể bỏ qua, khó có thể chôn vùi lỗi phạm của người khác trong quên lãng. Nhưng rồi mọi sự sẽ qua đi. Thời gian là liều thuốc cứu vãn tất cả. 

Đàng khác, bao nhiêu lần ta đã gây tổn thương người bên cạnh. Ta buộc mình phải quên những tổn thương người khác gây ra, nhưng không được quên tổn thương mình gây cho người khác. Phải như thế, ta mới có thể nung đốt trong lòng mình một tình yêu tha thứ.

Hơn nữa, ơn Chúa ban, lời Chúa dạy, tấm gương tha thứ của Chúa, tuổi đời ngày càng cao cộng với những suy tư ngày càng chín chắn hơn của bản thân, đồng thời sức mạnh của những giờ phút cầu nguyện, những giờ phút lặng quỳ bên Thánh Thể Chúa, sẽ cho ta một kinh nghiệm diệu kỳ. Đó là xem thường những lỗi phạm của người khác, không còn muốn nghĩ đến chúng, không còn muốn mang chúng theo bên đời của mình. 

Lúc bấy giờ sự tha thứ sẽ ùa về như một ân ban mà bản thân không kềm chế nổi. 

Tha thứ như một tất yếu phải đến sau những đổ vỡ cần chữa lành. 

Tha thứ bởi quá nhiều lần, bản thân cũng cần được tha thứ, không chỉ từ Thiên Chúa mà còn từ đồng loại xung quanh… mục lục

HÃY YÊU KẺ THÙ VÀ LÀM ƠN CHO HỌ

Jos. Vinct. Ngọc Biển, S.S.P

Mến Chúa, yêu người chính là điểm cốt lõi của đạo Công Giáo. Nếu nói mến Chúa mà không yêu người thì đó là kẻ nói dối. Mến Chúa thì dễ, nhưng yêu người lại rất khó. Hơn nữa yêu cả kẻ thù của mình thì càng khó hơn gấp bội. Tuy nhiên, là người môn đệ của Đức Giêsu, chúng ta không thể bỏ qua hay làm ngơ khi đứng trước lời mời gọi của Đức Giêsu là yêu thương hết mọi người, kể cả người thù ghét mình nữa.

Luật yêu thương trong Cựu Ước

Thời Cựu Ước, luật yêu thương được hiểu là không hại người anh em, phải yêu thương đồng loại:“Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình.” (Lv 19,18). Trong sách Huấn Ca, tác giả cũng dạy không được oán hờn, giận giữ anh em mình, vì nếu thù ghét đồng loại mình và không tha thứ cho nhau thì không xứng đáng được Chúa tha thứ cho mình. Hơn nữa, đây lại chính là điều kiện cần để được Thiên Chúa tha thứ và ban ơn cứu độ cho mình: “Vì các ngươi đong bằng đấu nào, thì cũng sẽ được đong trả lại bằng đấu ấy” (Lc 6:38)”.

Tuy nhiên, luật Cựu Ước, theo lẽ công bằng thì yêu tha nhân là những người đồng chủng, đồng bào, nghĩa là chỉ người Do thái. Còn tất cả mọi người khác là ngoại bang, là kẻ thù, không được thương mà cũng không được giúp. Ngược lại, còn khuyên tránh xa, và nếu cần có thể giết nữa (x. Đnl 20,13-17; 23,4-5; 25,17-19). Luật công bằng cũng hiểu là: “mắt đền mắt, răng đền răng”.

Như thế, ta thấy luật Cựu Ước là một luật đem lại công bằng cho người đồng loại, nhưng được phép báo oán kẻ thù của mình. Còn đến thời Tân Ước thì sao? Chúng ta xem Đức Giêsu đến, Ngài dạy gì?

Luật yêu thương thời Tân Ước

Sang thời Tân ước, Đức Giêsu đến để kiện toàn Lề Luật bằng việc đem vào đó một tình yêu bao dung tha thứ được dành cho hết mọi người.  Vì thế, theo giáo huấn của Đức Giêsu về luật yêu thương tha nhân, thì sự bao dung đại lượng còn phải đi tới chỗ yêu thương luôn cả thù địch nữa. Đức Giêsu đã phán: “Các con cũng đã nghe dạy rằng: ‘Hãy yêu thương tha nhân, và ghét thù địch’. Còn Thầy, Thầy bảo các con: ‘Các con hãy yêu thương thù địch và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con’” (Mt 5,43-44). Thánh Phaolô cũng tiếp lời giáo huấn của Đức Giêsu khi nói: “Hãy chúc lành cho kẻ bắt bớ, chúc lành chứ đừng chúc dữ… Nếu kẻ thù ngươi đói hãy cho nó ăn; nó khát hãy cho nó uống […]Chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ” (x. Rm 12:14, 20-21). Rõ ràng, Đức Giêsu đã xóa bỏ nguyên tắc “ăn miếng trả miếng”. Ngài đòi hỏi các môn đệ phải khước từ báo oán, phải tha thứ, yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù nữa, bởi vì: “Cha các con ở trên trời, là Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, và cho mưa trên người công chính cũng như kẻ bất lương”. Ngài mời gọi các môn đệ hãy tha thứ vô điều kiện: “Không phải chỉ tha 7 lần nhưng là 70 lần 7”. Như vậy, vị chi là 490 lần, tức là yêu thương không ngừng.

Tuy nhiên, không vì thế mà Ngài bảo trợ cho những người phạm tội hay có những tà ý vẫn ung dung sống trong những chọn lựa sai lầm của họ, mà Ngài đã mở lối thoát cho những ai bị người đời giam hãm cách tuyệt vọng trong tội hay trong những khuyết điểm của họ, để giúp họ vượt ra khỏi vòng tội lỗi để trở về với Chúa và sống chân tình với nhau. Đức Giêsu cũng không ngừng mời gọi người môn đệ sống tinh thần đó để góp phần làm cho một xã hội tràn đầy tình thương, lòng bao dung tha thứ.

“Các con hãy yêu thương thù địch và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con”(Mt 5,43-44) là điểm sáng của người môn đệ. Nếu không tha thứ cho những người ngược đãi mình thì của lễ của chúng ta cũng không được đẹp lòng Chúa và không được Ngài chúc phúc: “Nếu mỗi ngày, anh em con xúc phạm đến con tới bảy lần, và bảy lần nó trở lại với con mà nói: Tôi hối hận thì hãy tha cho nó” (Lc 17, 4). Xa hơn nữa: “Khi con đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em lỗi phạm đến con, thì hãy để của lễ lại đó, đi làm hòa với người anh em trước đã rồi bấy giờ trở lại dâng của lễ của con” (Mt 5, 23-24).

Điều đó quả thật không dễ! Khó, nhưng cần thiết biết bao, vì “tha thứ và xin thứ tha tạo ra một phẩm chất mới trong quan hệ giữa người với người, bẻ gãy xiềng xích tội lỗi trói buộc trong tâm tư những người thù hận nhau… Thánh Công đồng Vat. II cũng nhấn mạnh luật yêu thương khi nói: “Giáo Huấn của Đức Kitô còn đòi ta phải tha thứ những xúc phạm và mở rộng luật yêu thương tới mức kể luôn cả những kẻ thù của mình nữa” (MV số 28).

Tuy nhiên, Công đồng lưu ý ta phải phân biệt giữa tội và người có tội. Ghét tội, nhưng không được ghét kẻ có tội,  phải tìm cách giúp đỡ họ vượt ra khỏi tình trạng tội lỗi.  Nếu người môn đệ Đức Giêsu chỉ yêu thương những người đồng đạo thì chưa phải là một môn đệ đích thực. Người đời họ cũng làm như thế: “Ta bảo các người: nếu đức công chính của các ngươi không vượt hẳn các Ký Lục và Biệt Phái, các người sẽ không được vào Nước Trời” (Mt 5,20). Ngài đã đi một bước xa hơn để diễn tả một tình yêu không phân biệt bạn và thù, để hướng tới mọi người ở mức độ tuyệt đối. Bởi vì mức độ của tình yêu là yêu không mức độ.

Hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho họ

“Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho họ”. Đây là giáo huấn độc đáo của Đức Giêsu về lòng nhân ái.

“Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho họ”. Là một nghĩa cử anh hùng, một nỗ lực vượt thắng tình cảm tự nhiên, vượt trên phản ứng thường tình của con người. “Yêu thương kẻ thù” là bước vào thế giới siêu nhiên của con cái Chúa, sống nhân hậu và hoàn thiện như Cha trên trời: “Đấng làm cho mưa xuống trên kẻ lành cũng như người bất lương…”

Khi dạy “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho họ”. Đức Giêsu không có ý cổ võ sự nhu nhược, nhát đảm nhưng là đề nêu cao tinh thần khoan dung hiền từ quảng đại tha thứ.

“Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho họ”. Đó là lệnh truyền khó thi hành nhất trong các lệnh truyền của Đức Giêsu. Nhưng Ngài đã làm gương khi xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ hành hạ, đóng đinh mình trên thập giá “lạy Cha, xin tha cho họ vì nó lầm chẳng biết”. Chính hành vi cao cả này đã thể hiện trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa. Đó cũng là nét cao quý nhất trong dung mạo Đấng Cứu Thế. Người đến để yêu thương và cứu chuộc con người. Người đến để tha thứ và đem lại cho con người cơ may hầu sám hối và canh tân để được cứu độ.

Như vậy Đức Giêsu mở ra con đường mới cho nhân loại. Con đường lấy thiện thắng ác, lấy tình yêu vượt thắng hận thù. Chỉ có yêu thương mới làm cho thù hận tiêu tan.

Giới răn của Đức Giêsu “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho họ” là một sự từ bỏ triệt để bạo lực. Ý tưởng ấy rất cao và rất khó nhưng nó tạo nên ý nghĩa và làm nên bản chất của người môn đệ.

Sống sứ điệp Lời Chúa

Là những Kitô hữu, chúng ta đứng về phía bất bạo động. Tuy nhiên đó không phải là một chọn lựa cho sự nhu nhược hay thụ động leo thang, nhưng chọn lựa bất bạo động có nghĩa là tin tưởng mạnh mẽ vào sức mạnh của chân lý, của công bằng và tình yêu hơn là sức mạnh của chiến tranh, vũ khí và hận thù…

Là những kitô hữu, chúng ta phải cố gắng học theo lòng quảng đại của Thiên Chúa, sẵn sàng tha thứ, không đòi trả thù và oán hận chống lại người khác, vì họ là đền thờ và hình ảnh của Thiên Chúa.

Khi đến trần gian, Đức Giêsu đã mang ơn cứu độ từ trời xuống cho nhân loại, nhưng ơn cứu độ này lại được ban cách ưu tiên cho kẻ tội lỗi như Ngài đã nói: Ta đến không phải để kêu gọi người công chính, mà là kêu gọi người tội lỗi, vì người khỏe thì không cần đến thầy thuốc, người đau yếu mới cần.

Như vậy, nếu các kitô hữu không cố gắng bắt chước tình yêu không phân biệt của Thiên Chúa, họ sẽ không tốt hơn những người khác và có khi những người không phải là Công Giáo, người ta làm tốt hơn chúng ta.

Chính sự tha thứ sẽ giải phóng con người, còn nếu nuôi lòng hận thù báo oán thì con người sẽ chuốc lấy sự đau khổ: “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm”. Đức Giêsu đã nói với Phêrô như vậy tại vườn cây dầu khi ông dùng gươm để bênh vực cho thầy của mình và đã chém đứt tai người lính đến để bắt Đức Giêsu. Khi chúng ta ghét kẻ thù là chúng ta cho họ quyền áp đảo chúng ta.

Nói cách khác, viên đạn căm thù chỉ có thể làm thương tổn kẻ thù chúng ta sau khi đã xuyên qua lương tâm chúng ta trước. Khi nuôi trong mình sự trả thù thì đồng nghĩa với việc ta đào thêm một cái hố nữa để chôn chính ta. Người Hylạp cổ thường ví von như sau: “Người khôn ngoan thà chịu đựng sự ác hơn là làm điều ác”.

Chúng ta biết chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng hoàn thiện, tốt lành vô cùng, chúng ta không thể trọn hảo như Người được. Nhưng chúng ta phải nên trọn lành như ý Người muốn, theo mẫu gương thánh thiện của Người, là Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ: “hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành”.

Cuối cùng, yêu thương tha thứ phải được định hướng bởi sự thật. Không có sự thật thì tình thương trở thành mù quáng. Yêu hoa, không có nghĩa là yêu luôn cả những con sâu ẩn núp trong những cánh hoa. Đức ái Kitô Giáo đòi hỏi phải đấu tranh tích cực để khử trừ tội ác và cứu vớt con người, biến kẻ thù thành anh em, biến con người thành con Chúa. Đây là một lý tưởng cao đẹp, nhưng cũng phải phấn đấu hằng ngày.

Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu và sống tinh thần yêu thương, tha thứ, làm ơn cho anh chị em, nhất là những người đang thù ghét chúng con bằng một tình yêu không giới hạn. Amen. mục lục

CÓ THẬT LÀ PHẢI CHÌA MÁ NÀY NẾU BỊ VẢ MÁ KIA? (Mt 5,39)

“Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5,39).

Không có mô tả ảnh.

Một số đông người Kitô giáo lẫn ngoài Kitô giáo vẫn còn hiểu nhầm ý “chìa má khác” cho người trong đoạn Tin Mừng Mátthêu 5,39 này.

Sự thật là Chúa Giêsu đang sử dụng một mánh giảng dạy thông thường của các thầy rabbi, lối nói “thậm xưng” để nhấn mạnh một điểm quan trọng. Ngài không có ý muốn nói câu ấy theo nghĩa đen, nghĩa mặt chữ. Thực tế, Chúa Giêsu cũng đã sử dụng lối nói này trong suốt Bài giảng trên núi. Một vài ví dụ khác thuộc lối nói này ngay trong Bài giảng trên núi:

1. Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi… (Mt 5,29)

Bạn có thật sự nghĩ rằng Chúa Giêsu muốn chúng ta móc mắt ném đi không? Không! Ngài nói quá đi một chút để nhấn mạnh rằng chúng ta phải loại bỏ tất cả những chướng ngại để phục vụ Thiên Chúa.

2. … Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi … (Mt 5,30)

Có ai đi diễn thuyết hô hào mà lại khuyên người ta chặt cả tay nhân danh Chúa Giêsu?

3. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả … Nhưng hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không”… (Mt 5,34-37)

Chính Chúa Giêsu cũng tôn trọng lời buộc phải thề của vị Thượng Tế trong Mt 26,63: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi bắt ông thề phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không” (Trong sách Lêvi 5,1, chúng ta thấy có nói đến “lời thề tuyên thệ” mà vị Thượng Tế có quyền bắt ai đó phải thề để làm chứng). Nếu Chúa Giêsu dạy lời thề là bất hợp pháp và vô luân thì Ngài đã không trả lời, hoặc chống chế và nói rõ rằng mình không đồng ý với quan niệm về lời thề. 

Thật sự ý nghĩa mà Chúa Giêsu muốn nói ở đây chính là lời thề không cần thiết đối với các tín hữu bởi vì tín hữu là phải trung thực. Tuy nhiên, vì sự dữ vẫn còn hiện diện hiện diện trong thế giới này nên lời thề vẫn còn cần thiết. Nhưng bạn không nên áp dụng ý nghĩa này cho những lời trong Mt chương 5 này.

4. … Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài … (Mt 5,40)

5. Ai xin, thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi (Mt 5,42).

Bạn có thực sự tin rằng Chúa Giêsu có ý muốn nói chúng ta phải cho vay hay đưa tiền cho bất cứ ai xin? Nếu thế thì mọi kitô hữu sẽ phải phá sản hết và không nuôi nổi gia đình! Không! Ngài dùng lối nói thậm xưng để dạy rằng kitô hữu cần phải tỏ ra quảng đại.

6. … Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo… (Mt 6,3-4)

Chúa Giêsu có thật sự muốn nói đừng để ai biết những gì mình đã cho?Thế tại sao Ngài lại khen bà góa nghèo đã cho trong Mc 12,42-43? Hoặc tại sao trong sách Cv chương 5 các tông đồ đã công khai số của cải dâng cúng khi Khanania và Saphira bị buộc tội nói dối về những gì họ thật sự dâng cúng? Như vậy là phải nói cho người ta biết những gì mình dâng cúng!

Thật sự ở đây Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh rằng chúng ta nên cho vì tình yêu Thiên Chúa và vì tha nhân chứ không phải vì háo danh.

7. … Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo… (6:6)

Có thật Chúa Giêsu kết án việc cầu nguyện nơi công cộng? Nếu thế thì Ngài tự kết án mình rồi! Ngài đã từng cầu nguyện công khai ở vườn Giếtsêmani (Mc 14,32-42); Ngài cầu nguyện công khai khi làm cho Lazarô sống lại từ cõi chết trong Ga 11,41-43. Các tông đồ cũng thường cầu nguyện công khai (xem Cv 1,24; 4,31; 6,6; 20,36, etc.).

Chúa Giêsu dùng lối nói thậm xưng ở đây có ý nhấn mạnh rằng việc cầu nguyện đừng bao giờ là một màn trình diễn để cho người ta trông thấy.

8. Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, … (Mt 6,19-20)

Chúa Giêsu kết án nhà băng và các tài khoản nhà băng sao? Điều này thật khó phù hợp với “dụ ngôn những yến bạc” của Chúa Giêsu trong Mt 25,27: “thì đáng lý anh phải gởi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến, tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ!”

9. …đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao (Mt 6,25-26)?

10. Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! (Mt 6,28-30)?

Nếu ta cứ lý luận rằng câu “chìa má khác cho người” phải được hiểu theo nghĩa đen thì ta cũng phải cho rằng Chúa Giêsu kết án việc nhà nông hoặc ngay cả việc gieo hạt trong những câu này. Bọn chim chóc chúng nó chẳng làm gì cả mà Thiên Chúa chăm sóc chúng hết kia mà!

Chúa Giêsu cũng đã kết án việc may mặc. Thế chúng ta cứ trần truồng cả đi rồi Thiên Chúa sẽ mặc cho chúng ta chắc?

Thật là nực cười! Chúng ta đều biết rằng Thiên Chúa kết án việc lãng quên Thiên Chúa và sự Quan Phòng của Ngài trong tất cả những công việc này. Nếu chúng ta cứ hiểu một vài điều trong Bài giảng trên núi theo nghĩa đen thì tại sao không hiểu hết các điều khác chứ?

Kết luận 

Toàn bộ Bài giảng trên núi có thể được tóm kết trong Mt 6,33: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” Ý tưởng chính ở đây là Thiên Chúa phải ưu tiên trong mọi khía cạnh của đời sống chúng ta.

Khi chìa má khác cho người, Chúa Giêsu không bảo chúng ta phải nhu nhược hay chủ hòa. Thực tế, trong Lc 22,36-38, Ngài bảo các tông đồ hãy “tuốt gươm” để tự vệ.  Thực sự trong câu 50-51, Chúa Giêsu bảo Phêrô ném gươm đi thì cũng chỉ vì Phêrô manh động và làm trái ý Ngài. Ngài từng nói với các môn đệ rằng ý Thiên Chúa muốn Ngài phải đau khổ và phải chết (xem Lc 9,44; 18,32, etc.). Phêrô hành động trái với ý muốn mà Ngài đã mạc khải. Nhưng những lời này không phủ nhận sự kiện là Chúa Giêsu bảo Phêrô và các môn đệ hãy tuốt gươm để tự vệ.

Chúa Giêsu cũng ca ngợi lòng tin của viên đại đội trưởng Roma trong Mt 8,8tt. Không bao giờ Ngài nói rằng phục vụ trong quân đội là sai. Sự thật là với câu nói “hãy chìa má khác” cho người, Chúa Giêsu dùng lối nói thậm xưng để dạy chúng ta nên là những người kiến tạo hòa bình. Chúng ta luôn tìm kiếm hòa bình ngay cả khi có đôi lúc sự tự vệ và chiến tranh là điều cần thiết (xem Gv 3,3.8: “một thời để giết chết, một thời để chữa lành; một thời để phá đổ, một thời để xây dựng”; “một thời để yêu thương, một thời để thù ghét; một thời để gây chiến, một thời để làm hoà”). mục lục

Tim Staples
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ từ 
https://www.catholic.com/magazine/online-edition/turn-the-other-cheek

KIỆN TOÀN LỀ LUẬT

JM. Lam Thy ĐVD

Điểm cốt lõi của đạo Công Giáo là “mến Chúa, yêu người”. Nếu nói mến Chúa mà không yêu người thì đó là kẻ nói dối. Mến Chúa thì dễ, nhưng yêu người lại rất khó. Hơn nữa, yêu cả kẻ thù của mình thì càng khó hơn gấp bội. Tuy nhiên, là môn đệ của Đức Giê-su, chúng ta không thể bỏ qua hay làm ngơ khi đứng trước lời mời gọi của Người là yêu thương hết mọi người, kể cả người thù ghét mình nữa. Cả chương 5 sách Tin Mừng theo Thánh Mat-thêu trỉnh thuật Lời dạy của Đức Giê-su nhằm giúp các môn đệ và những kẻ tin trở nên người công chính: Từ “8 mối phúc” đến “muối, men và ánh sáng cho đời”. Tiếp liền theo đó, Đức Giê-su lại dạy 5 “Đừng”: Đừng giận ghét – Chớ ngoại tình – Đừng ly dị – Đừng thề thốt – Chớ trả thù; và 1 “Nên”: Phải yêu kẻ thù. 

Bài Tin Mừng tuần trước (CN VI/TN-A – Mt 5, 17-37) trích Lời Đức Giê-su dạy các môn đệ 4 “Đừng”; đến bài Tin Mừng hôm nay (CN VII/TN-A – Mt 5, 38-48), Người lại dạy thêm 1 “Đừng” nữa: Chớ trả thù. Vì sao con người hay trả thù? Chung quy cũng do tự ái quá cao mà thôi, bởi tự ái là gì nếu không phải là tự yêu mình. Khi chỉ biết yêu mình một cách thái quá thì sẽ cho là mình đúng, lúc nào và trong trường hợp nào cũng đúng hết. Bởi thế nên được người khen thì chẳng nói làm gì, nhưng bị chê thì sửng cồ lên ngay. Bị phê bình trúng tim đen thì bằng mọi giá sẽ tìm cách trả đũa. Nói cách khác, khi con người tự ái quá đáng, sẽ rất dễ giận ghét và từ giận ghét sẽ đưa đến hành động trả thù. 

Ngay trong Cựu Ước, Lề Luật cũng dạy: “Luật báo phục tương xứng: Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân.” (Đnl 19:21); “Nếu ai làm cho người đồng bào phải mang tật, thì phải xử với nó như nó đã xử với người ta: chỗ gãy đền chỗ gãy, mắt đền mắt, răng đền răng; nó đã làm cho người khác mang tật thế nào, thì người ta cũng sẽ làm cho nó như vậy.” (Lv 24, 19-20); “Nếu có gây tổn thương, thì ngươi phải lấy mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân.” (Xh 21, 23-24). Mới nghe qua những điều khoản đó thì thấy quả thật là Lề Luật quá khe khắt. Và cũng vì thế nên đã có những bài suy niệm cho rằng hành động như vậy là phản Ki-tô giáo. Sẽ có phản biện: Nếu là phản Ki-tô giáo thì tại sao Đức Giê-su không bãi bỏ mà Người lại dạy “Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn Lề Luật” (Mt 5, 17)? 

Thực ra, vấn đề cũng không đến nỗi nan giải cho lắm. Trước hết, cần phải hiểu Lề Luật của Cựu Ước dù sao cũng chỉ là luật do con người đặt ra, mà đối với con người thì chỉ thích sòng phẳng theo kiểu “ân đền oán trả” (đền ơn trả oán), nên mới đòi “mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân”. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là lề luật có tính răn đe: Chỉ có nghiêm ngặt như vậy mới có thể răn đe, ngăn ngừa người ta phạm tội. 

Coi lại câu chuyện Nguyên tổ phạm tội thì vấn đề sáng tỏ ngay. Thiên Chúa đưa ra giới luật “trái cấm” cũng là để răn đe. Nếu con người biết vâng phục thì đâu có sao. Đã không vâng lời, còn muốn trở nên “những vị thần biết điều thiện điều ác" (St 3, 5) ngang bằng với Thiên Chúa, biết là tội mà còn cứ cố tình phạm tội, rõ ràng Nguyên tổ loài người đã tự xử án mình. tự kết án mình vậy. Đức Giê-su Thiên Chúa cũng đã từng khẳng định: “Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan toà xét xử người ấy: chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết.” (Ga 12, 47-48). 

Không những chỉ khuyên “Chớ trả thù”. Đức Giê-su còn đi xa hơn: “Phải yêu kẻ thù”. Để cụ thể hóa vấn đề, Người lại tiếp tục dùng kiểu nói “Luật dạy rằng… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”, để răn dạy môn đệ: "Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi.” (Mt 5, 38-42). Đã không “ăn miếng trả miếng”, mà lại còn lấy đức độ mà đáp trả oán thù (dĩ đức báo oán), sẵn sàng chịu đựng gấp bội sự tàn độc của ác nhân, thì quả là… thiên nan vạn nan, khó lòng mà chấp hành. 

Con người chỉ có thể tự yêu mình (tự ái), khó lòng yêu được người khác, chớ đừng nói đến yêu cả kẻ thù. Mà có lẽ cũng chính vì thế nên mới có vụ “cửa rộng, cửa hẹp” ("Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.” – Mt 7, 13-14). Như vậy thì phải làm sao? Cái đó hoàn toàn tuỳ thuộc vào bản thân, bởi “Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước, con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy. Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử, ai thích gì, sẽ được cái đó.” (Hc 15, 16-17). Nếu không muốn bận tâm bận trí, không muốn hy sinh này, thiệt thòi khác, con người được quyền tự do chọn cho mình cửa rộng, còn ngược lại, sẽ được vào cửa hẹp. 

Nói cách khác, con người hoàn toàn tự do khi yêu hoặc ghét, Chúa không hề ngăn cấm hay bắt buộc, Người chỉ khuyên bảo, nhắc nhở thôi. Có lẽ cũng nhờ thế mà trong cuộc sống vẫn còn thật nhiều những con người sẵn sàng quyết tâm chọn cho mình cửa hẹp. Thế thì tại sao lại cứ đưa cái tự ái lố bịch của mình lên quá cao như thế? Vâng, hãy bình tâm lại mà  “xoay cái nhìn ra khỏi cái tôi”, để thấy được rằng mình đã “nhận” quá nhiều từ Thiên Chúa, kể cả của anh em đồng loại. Vậy tại sao lại cứ khép chặt cửa lòng, bịt chặt miệng túi, mà không biết đem chia sẻ với anh em những gì mình đã được nhận? Hãy nhớ rằng, nếu bản thân có đem “cho” anh em cái gì, thì cái đó cũng chẳng phải là của riêng mình, mà là của Thiên Chúa đã ban cho. Chính Lời Chúa đã dạy: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” (Mt 10, 8). 

Như vậy là đã rõ, Đức Giê-su không bãi bỏ Lề Luật, “dù một chấm một phết cũng không thay đổi”, mà Người chỉ “kiện toàn”. Nói cho dễ hiểu hơn thì Lề Luật vì do con người soạn thảo nên chưa đầy đủ, chưa nêu bật được cái cốt lõi của vấn đề (giữ Lề Luật để phụng thờ, tôn vinh Thiên Chúa). Vì thế, Đức Ki-tô mới dùng cách nói “Luật dạy rằng… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…” để các môn đệ hiểu được rằng những điều Lề Luật dạy chỉ là những “lý lẽ”, những “tư tưởng của loài người”, và cần phải nhìn vấn đề theo “tư tưởng của Thiên Chúa”, đó là “điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ.” (Mt 23, 23). Và cũng vì “điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và thành tín”, nên sau 5 lời khuyên “Đừng”, thì tiếp liền theo đó, Đức Ki-tô lại khuyên “Nên” (“Phải yêu kẻ thù”). Thay vì lấy oán báo oán (“dĩ oán báo oán”) thì hãy lấy ơn báo oán (“dĩ đức báo oán”). Cả 6 điều khuyên bảo “Đừng” và “Nên”, xét cho thấu đáo, đều nằm trong luật yêu thương, mà ở đây là Luật yêu thương của Thiên Chúa (vô hạn) chớ không phải của con người (hữu hạn). 

Nói về luật yêu thương thì chính là nói về nguyên lý tình yêu, nguyên lý ấy xuất phát từ Thiên-Chúa-Tình-Yêu. Vâng, kể từ khi Thiên Chúa dựng nên vũ trụ, muôn loài, thì đã vì tình yêu mà Người dựng nên loài người và đặt làm chủ mặt đất. Con người đầu tiên được sinh ra chỉ có một mình, Thiên Chúa lại thương "Con người ở một mình thì không tốt" (St 2, 18), nên ban cho một người bạn khác giới tính để từ đó có thể sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất. Sự đối kháng giới tính không nhằm loại trừ nhau mà là bổ túc cho nhau, hỗ trợ nhau nên hoàn thiện. Cũng vì tình yêu, không những Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Người, có nam có nữ, mà Người lại ban cho con người một đặc ân là được tự do đến gần như tuyệt đối. Cũng vì được tự do như vậy, nên con người đã vượt qua giới răn của Thiên Chúa mà phạm tội. Sau khi phạm tội, con người vẫn không bị trách phạt; chẳng những thế, còn được Thiên Chúa ban Con Một xuống thế để cứu chuộc, để giải thoát con người khỏi ách thống trị của tội lỗi và đem lại đời sống vĩnh cửu. 

Nói tóm lai, bản chất con người vốn dĩ là thích yêu hơn bị ghét, và nếu có yêu thì chỉ thích yêu mình hơn cả. Hơn thế nữa, khi thù ghét người khác thì lại không muốn người ta thù ghét mình. Nếu không vì thế, các bậc thánh hiền đã không mất công truyền dạy “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác), “ái nhân như ái thân” (yêu người như yêu mình). Thiên Chúa thì còn hơn thế nữa, tình yêu Người dành cho nhân loại đã lên tới tuyệt đỉnh: Vì tình yêu, Người đã ban cả Con Một làm giá chuộc muôn người. Và chính Con Một Thiên Chúa – Đức Giê-su Ki-tô – luôn luôn day: "Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó." (Mt 7, 12); “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,12); “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13, 15).

Ôi! Lạy Chúa! Chúa đã dựng nên con, đã ban cho con một tấm lòng, một trí khôn biết phân biệt thiện ác, biết yêu và ghét, và nhất là đã ban cho con sự tự do tuyệt đối, để con có thể tự quyết định cuộc đời của mình bằng cách lựa chọn một con đường. Con đã sai lầm trong lựa chọn để chỉ biết yêu mình trên hết, co mình vào cái vỏ ốc “ích kỷ” đến độ có thể “hại nhân” (“ích kỷ hại nhân”: lợi mình hại người). Xin Chúa đoái thương, ban cho con một tâm hồn quảng đại, một tấm lòng bao dung độ lượng; xin cho con biết yêu người như yêu chính mình, biết coi tất cả mọi người (kể cả những người thù ghét con) đều là anh em một nhà (“tứ hải giai huynh đệ”), cùng con một Cha trên trời. 

Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin giúp mọi người chúng con hằng để tâm suy nghĩ những gì là thiêng liêng cao thượng, và biết dùng lời nói việc làm để thực thi những điều đẹp ý Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Chúa nhật VII mùa thường niên). mục lục

DÁM YÊU LIỀU THƯƠNG

[Niệm ý Mt 5:38-48 ≈ Lc 6:27-35]

Hoàn thiện là yêu thương

Yêu thương để hoàn thiện

Nhất định không thù oán

Thứ tha hết mọi điều.

Yêu thương thì phải liều

Dám liều là can đảm

Yêu thương không chán nản

Phải yêu cả kẻ thù.

Đời cho thế là ngu

Nhưng lại là khôn thật

Tình yêu không hề chết

Đời sau vẫn còn yêu.

Yêu là chịu cô liêu

Như xưa trên Thập Giá

Chỉ một mình Con Chúa

Chết để cứu muôn người.

Yêu thương suốt cuộc đời

Mà không được đền đáp

Đó là tình lớn nhất

Chết cho cả kẻ thù.

Yêu thương thật lạ kỳ

Dù biết yêu là khổ

Mà vẫn không thấy sợ

Dù ba, bảy cũng liều.

Yêu thương là độc chiêu

Có khả năng hóa giải

Nên khôn, không còn dại

Kẻ thù hóa người thân. mục lục

Viễn Dzu Tử

YÊU THƯƠNG THÙ ĐỊCH

(Cảm nhận, suy niệm Mt 5.38-48)

Tin Mừng Chúa dạy hôm nay:

Yêu thương thù địch, điều này nhớ ghi

Dĩ ân báo oán, thực thi

Không là nhu nhược, nhưng vì tình thương.

Vững tâm nhẫn nại coi thường

Tha nhân xúc phạm, sẵn sàng thứ tha

Nhân từ quảng đại chính là

Nêu gương bác ái vượt qua hận thù.

Dĩ hòa, biết mấy công phu

Lại thêm cầu nguyện Chúa phù hộ cho

Mong sao kẻ ác biết lo

Cải tà qui chính truyện trò với ta.

Tình thương Thiên Chúa chan hòa

Cộng đồng nhân loại thăng hoa, thái bình… mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan