SUY NIỆM CHÚA NHẬT II MC_A

05-03-2020 218 lượt xem

 

Mục Lục

ĐẤNG ĐANG BIẾN HÌNH GIỮA CHÚNG TA+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

HIỂN DUNG THÁNH GIÁ Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CÁI TRƯỚC RƯỚC CÁI SAUTrầm Thiên Thu

KHỔ NẠN VÀ PHỤC SINHLm. Antôn Nguyễn Văn Độ

HIỂN THỊ CHÂN DUNGJM. Lam Thy ĐVD

LÊN NÚI THÁNH Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

TRÊN ĐỈNH TABORViễn Dzu Tử

CHÚA BIẾN HÌNH - (Thế Kiên Dominic)

ĐẤNG ĐANG BIẾN HÌNH GIỮA CHÚNG TA

+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Chúa nhật trước, Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay, Phụng vụ dẫn chúng ta vào sa mạc để chứng kiến Chúa Giêsu chịu cám dỗ. Chúa nhật hôm nay, chúng ta được mời gọi cùng lên núi để chiêm ngưỡng Chúa Giêsu biến hình. Hai sự kiện diễn tả hai khía cạnh cuộc đời Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể: trong sa mạc, Chúa thể hiện nhân tính của Người: yếu đuối, mỏng giòn, đói khát; trên núi cao, Chúa tỏ ra thiên tính của Người: cao cả, sáng láng, thánh thiện. Hai nhân vật quan trọng của Cựu ước cũng xuất hiện để đàm đạo với Chúa, kèm theo lời chứng của Chúa Cha: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy nghe lời Người”.

Khi tường thuật sự kiện Chúa biến hình trên núi, thánh Matthêu mở đầu bằng chi tiết “sáu ngày sau”. Vậy, sáu ngày trước đó là sự kiện gì? Đó là lời loan báo cuộc thương khó lần thứ nhất. Đối với các môn đệ, việc Đức Giêsu chịu thương khó là điều không thể chấp nhận được. Vì vậy, Phêrô đã can gián và thậm chí còn trách Người. Sự can gián của Phêrô bị Chúa quở trách là Satan (x. Mt 16 21- 23). Cùng với việc loan báo cuộc thương khó, Đức Giêsu cũng đưa ra những điều kiện cần phải có để trở nên môn đệ của Người, đó là vác thập giá theo Chúa. Như thế, việc Chúa Giêsu biến hình trên núi nhằm mục đích khai trí các môn đệ, để các ông hiểu hơn về thân phận và sứ mạng của Người. Qua sự kiện này, Chúa muốn khẳng định với các ông: dù Người có phải trải qua cuộc thương khó, nhưng Người sẽ chiến thắng sự chết và sẽ trỗi dậy. Ba môn đệ là Phêrô, Gioan và Giacôbê ngỡ ngàng trước việc Chúa Giêsu thay hình đổi dạng, vì lúc đó, các ông được thấy Chúa với một hình dạng hoàn toàn khác so với từ trước tới nay. Sự kiện này làm các ông bàng hoàng và sợ hãi.

Hai nhân vật của Cựu ước hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu, đó là Môisen và Êlia. Môisen là người dẫn đưa Dân tuyển chọn ra khỏi Ai Cập. Ông cũng là người được Chúa trao bia Giao ước và được người Do Thái tôn kính như tác giả của sách Luật. Êlia là vị ngôn sứ đã luôn “đứng hầu cận trước nhan Chúa hằng sống (x. 1 V 17). Trên núi Carmel, ông đã giúp dân Do Thái từ bỏ việc tôn thờ ngẫu tượng để chỉ một lòng tin vào Thiên Chúa. Ông là biểu tượng cho những người được Thần Khí của Thiên Chúa hướng dẫn và là những người phát ngôn nhân danh Thần Khí. Giống như Chúa Giêsu, cả hai vị này đã ăn chay 40 đêm ngày (x. Xh 24,18; 1 V 19,8). Cả hai vị đều được diễm phúc nhìn thấy Thiên Chúa (x. Xh 33,18-23; 1 V 19,12-13). Qua sự kiện biến hình, Môisen và Êlia đàm đạo với Chúa Giêsu. Họ được chiêm ngắm Con Thiên Chúa, Đấng liên kết hai nhân vật này nơi nhân tính của Người, tức là Người vừa là người ban lề luật, vừa là ngôn sứ. Thánh Máthêu trình bày Chúa Giêsu như Môisen mới. Một số bản văn của Tân ước cũng trình bày Chúa Giêsu như Êlia mới. Người đã liên kết truyền thống lề luật và truyền thống ngôn sứ nơi chính bản thân Người. Bởi lẽ hai truyền thống “lề luật” và “ngôn sứ” là tóm lược toàn bộ Kinh Thánh Cựu ước.

Cùng với chứng từ của Môisen và Êlia, còn có chứng từ khác quan trọng hơn nhiều, đó là lời phán từ trời: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy nghe lời Người”. Đức tin Kitô giáo khẳng định: đó là lời của Chúa Cha. Qua lời này, Chúa Cha nói lên tình thương mến của Ngài với Chúa Con, đồng thời nhắc bảo chúng ta: hãy nghe lời Người. Theo Thánh Gioan Thánh giá, Chúa Cha chỉ nói một lời và một lần nơi Chúa Con. Chúa Con là Lời của Chúa Cha. Nơi Chúa Con, có đầy đủ tất cả những gì Chúa Cha muốn ngỏ với nhân loại.  Vì thế, “hãy nghe lời Người” tức là đón nhận những gì Chúa Cha muốn mạc khải qua Chúa Con, nhờ đó, loài người được cứu thoát. “Hãy nghe lời Người”, đó cũng là đón nhận và thực hành giáo huấn của Đức Giêsu. 

Phụng vụ hôm nay còn cho chúng ta nghe tường thuật về ơn gọi của Áp-ram, tổ phụ của dân Do Thái. Một lời gọi đơn sơ: “hãy đi đến đất Ta sẽ chỉ cho”. Áp-ram đã vâng lời, đã lên đường. Ông không tính toán, không vặn hỏi, nhưng hoàn toàn phó thác. Ông Áp-ram đã nghe lời Chúa và đã thực thi lời Ngài. Ông đã trở nên mẫu mực cho tất cả những kẻ tin ở mọi thời đại (Bài đọc I).

Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Qua mầu nhiệm Nhập thể, Người trở nên hoàn toàn giống chúng ta - ngoại trừ tội lỗi. Qua mầu nhiệm nhập thể, Người “biến hình” để trở nên giống như người trần thế. Trên núi cao, khi Chúa “biến hình” lại là lúc Chúa trở về tình trạng thiêng thánh nguyên thuỷ. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu đang “biến hình” giữa chúng ta. Quả vậy, chúng ta đâu có nhìn thấy Người bằng con mắt thể lý. Chúa hiện diện qua Lời Chúa, qua cộng đoàn cầu nguyện, qua người nghèo khổ và nhất là trong Bí tích Thánh Thể. Chúa đang biến hình trong đời sống của chúng ta. Mùa Chay là thời điểm giúp chúng ta nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện, để chúng ta gặp gỡ Người. Thánh Phaolô nhắc chúng ta hãy nhận ra Đức Giêsu là Con yêu dấu của Chúa Cha. Người là Đấng tiêu diệt thần chết và đang hiện diện giữa chúng ta (Bài đọc II).

Sau khi chứng kiến Chúa Giêsu biến hình, ba môn đệ xuống núi, có Chúa cùng đi. Các ông trở về với đời thường, với tâm trạng được biến đổi và với quan niệm mới mẻ về Đấng Thiên Sai. Sự kiện Chúa biến hình trên núi cũng nhắc chúng ta cần phải biến đổi đời sống, biến đổi hình ảnh của Chúa trong đời và biến đổi nhận định về tha nhân. Hãy nghe lại lời của Chúa Cha: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy nghe lời Người”. Lời đầu tiên Chúa Giêsu nói với các môn đệ liền tiếp sau đó là: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!”. Hôm nay Chúa vẫn đang nói với chúng ta những điều ấy. Đừng sợ trước thân phận yếu hèn và tội lỗi, hãy trở về với Chúa vì Chúa bao dung nhân từ. Đừng sợ khi giúp đỡ anh chị em bất hạnh cô thế, cô thân, vì Chúa sẽ thưởng cho lòng quảng đại rộng rãi của chúng ta. Đừng sợ trước những bất ổn của cuộc ống do bạo lực, cạnh tranh và chia rẽ, vì Chúa hiện diện giữa cuộc đời. Người là Đấng đang biến hình giữa chúng ta. mục lục

HIỂN DUNG THÁNH GIÁ

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

“Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông”. “Sáu ngày sau” tức là sáu ngày sau khi thánh Phêrô tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”. Thời gian này Chúa và các tông đồ đang về Giêrusalem. Tại Giêrusalem Người sẽ chịu tử nạn.

Cuộc tử nạn gần kề, Chúa muốn các môn đệ phải biết rõ: 

1. Người là ai. Điều này được giải quyết phần nào qua lời đại diện của thánh Phêrô: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". 

2. Người giải phóng nhân loại qua cuộc thương khó, tử nạn, và phục sinh. Điều này các tông đồ chưa vững, do đó thánh Phêrô ngăn Chúa sau khi Chúa báo trước Người sẽ chịu nạn. 

Như hầu hết người Dothái đương thời, các tông đồ tin Đấng Thiên Sai uy quyền sẽ chinh phục và thống trị nhân loại. Các ông không thể chấp nhận Đấng Thiên Sai phải chịu đau khổ và chết trên thánh giá.

Vì thế, Chúa Giêsu đưa ba tông đồ lên núi, chứng kiến cuộc hiển dung huy hoàng của Người để các ông: 

- Xác tín mối liên hệ của Người với Thiên Chúa. Chúa Giêsu không làm gì mà không theo thánh ý Thiên Chúa. Hôm nay, chính Thiên Chúa đã xác nhận mối liên hệ này: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.

- Xác tín khổ nạn Chúa Giêsu sẽ chịu là con đường duy nhất đẹp lòng Thiên Chúa. Các ông sẽ tham dự vào khi “uống chén đắng” với Người.

- Xác tín, theo kế hoặch cứu độ của Thiên Chúa, Chúa Giêsu sẽ nên rực rỡ trong vinh quang phục sinh như những gì các ông đang chứng kiến.

- Được củng cố đức tin qua việc nhìn thấy vinh quang trước khi các ông chính thức “uống chén đắng” với Chúa Giêsu.

Nếu Chúa Giêsu đi qua thánh giá rồi mới vào vinh quang, các tông đồ, những người mà Chúa Giêsu yêu quý, cũng không đi ngoài con đường ấy. 

Cũng vậy, ta cần tháp nhập vào thánh giá Chúa để tiến đến vinh quang. Thánh giá hôm nay là sự đồng hành với cuộc đời mà ta đang nếm trải. 

Thánh giá cuộc đời mang nhiều màu sắc. Nó là những dằn xé, thử thách, bấp bênh, dao động, hoàng cảnh… mà ta phải đối mặt. Nó có thể là những đau khổ bên ngoài thân xác, hay nỗi đau thấu tận tâm hồn… 

Thánh giá cuộc đời hiện lên ngay trên chính đôi tay sần sùi, chai sạn. Thánh giá hằn lên mái tóc nhuộm gió sương, quất vào đôi vai oằn nặng, đè lên đôi chân trong từng bước đi khó nhọc… 

Thánh giá khắc trên những vầng trán suy tư, những dấu chân chim quần thâm phía sau đôi mắt đầy vẻ mỏi mệt, thao thức. 

Thánh giá in dấu trên những khuôn mặt đăm chiêu, lo lắng đến phờ phạc, đến nhợt nhạt và tái tím… 

Giữa nỗi thương đau khi dịch bệnh đang làm cả thế giới hoang mang, là đầu mối gây chết chóc cho nhiều ngàn sinh mạng, làm lung lay nền kinh tế toàn cầu và từng quốc gia..., thánh giá mà nhân loại phải chung vai là chính những âu lo, những sợ hãi chưa biết đến khi nào chấm dứt.

Cách riêng với Kitô hữu, thánh giá không chỉ là đau khổ như bao đau khổ trong đời. Thánh giá không chỉ bởi kiếp nhân sinh đầy bon chen, đầy nhọc nhằn mà mỗi kíp người phải gánh lấy. 

Thánh giá còn là mọi hình thức bách hại, cấm cách, chà đạp niềm tin mà bao nhiêu kẻ có quyền, bao nhiêu hệ thống chánh trị gây ra… 

Người ta khiếp sợ danh “Kitô hữu”, vì đó là Danh của Chúa chúng ta. 

Người ta khiếp sợ vì Danh mà khi nghe đến, “cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Phili 2, 10). Càng khiếp sợ, họ càng ra sức bóp nghẹt sự tự do diễn tả đức tin của chúng ta… 

Trước những “thánh giá” chất chồng như thế, ai mà không khao khát cảm nếm sự hiển dung của Chúa. Bởi sự hiển dung củng cố đức tin của các tông đồ, thì cũng là sức mạnh cho lòng tin chúng ta. 

Nhưng chúng ta sẽ không bao giờ còn chứng kiến cuộc hiển dung trên núi như các tông đồ. Hiển dung hôm nay trước mắt mỗi người còn quang trọng hơn, đó là hình ảnh CÂY THÁNH GIÁ CỦA CHÚA GIÊSU. 

Chính Chúa Giêsu từng nói đến "HIỂN DUNG THÁNH GIÁ": "Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu" (Ga 8, 28). Hoặc: "Ông Abraham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của Tôi" (Ga 8, 56). Hoặc: "Trước khi có Abraham, thì Tôi, Tôi Hằng Hữu!" (Ga 8, 58).

Cây Thánh Giá: lời khẳng định chung quyết về một Tình Yêu có một không hai trên cõi đời: THIÊN CHÚA HIẾN THÂN CHO CON NGƯỜI. 

Bởi nơi Thánh Giá, không chỉ là Tình Yêu của Chúa Giêsu, nhưng là chính Tình Yêu của Thiên Chúa rực sáng. 

Với tôi, biểu lộ Tình Yêu trên Thánh Giá của Chúa là cuộc hiển dung huy hoàng mà Chúa bày tỏ để củng cố sức mạnh lòng tin, khi tôi phải chấp nhận thánh giá của bản thân trong từng ngày sống. Thánh giá của đời tôi sẽ được đền bù, được đáp trả bằng chính Tình Yêu của Đấng đã chết vì tôi.

Nhờ Tình Yêu của chính Thiên Chúa, nơi Thánh Giá, tất cả Vinh Quang của Chúa Giêsu được bày tỏ một cách cụ thể nhất, trọn vẹn nhất, hơn cả vẻ đẹp trên núi Hiển Dung xưa. 

Hãy nhìn lên Thánh Giá chiêm ngưỡng Vẻ Đẹp của Chúa Giêsu, để biết Người là Thiên Chúa quyền năng, chiến thắng tội lỗi, đánh bại tử thần. 

Hãy nhìn Thánh Giá để thấy niềm tin của từng người được củng cố và thêm vững mạnh. 

Hãy nhìn Thánh Giá để nhận ra tình thương của Thiên Chúa, tập hiển dung với Chúa Giêsu bằng cách sẵn lòng đón nhận đau khổ trong đời.

Vì Thánh Giá là cuộc HIỂN DUNG MỚI, nên chấp nhận và tháp nhập thánh giá đời mình vào Thánh Giá Chúa, tôi sẽ hiển dung với Người. 

Hiển dung trong chính cuộc đời hôm nay: đó là đau khổ của tôi được thăng hoa để trở thành phương thế cứu độ tôi. Và hiển dung mai ngày: đó là tiến về cuộc Hiển Dung đời đời cùng với Đấng đã hiến mình vì tôi. mục lục

CÁI TRƯỚC RƯỚC CÁI SAU

Trầm Thiên Thu

Con Chúa Biến Hình Trên Núi Thánh

Tín Nhân Thay Đổi Giữa Gian Trần

Trong cơn đại dịch Corona hiện nay – năm Con Chuột Chù 2020, con virus bé nhỏ đã khiến người ta hoảng loạn chỉ vì mất niềm tin hoặc không muốn tin vào Thiên Chúa. Chỉ tìm hạnh phúc đời này (thỏa mãn “cái tôi” để được sung sướng thể xác) nên người ta hoàn toàn thất vọng. Nếu nhận ra “khoảng trống” trong tinh thần như vậy mà nhận ra Thiên Chúa quyền linh thì thật là hạnh phúc. Nếu không nhận ra Ngài thì thật bất hạnh. Đã và đang có những người tìm mọi cách trục lợi để sướng cái thân mình, bất chấp đau khổ của người khác. Chắc chắn những kẻ tà tâm như vậy không thể nào có hạnh phúc đích thực – dù chỉ là tạm thời. Nỗi đau tinh thần mới thực sự đáng sợ.

Cuộc sống luôn có những hệ lụy tất yếu – có loại có thể lý giải, có loại không thể lý giải theo lý trí phàm nhân. Người Việt vẫn thường nói: “Đầu xuôi, đuôi lọt.” Tất nhiên chỉ thường xuyên chứ không luôn luôn như vậy. Theo kiểu “trước thế nào sau cũng tương tự” thì kết quả có thể tốt và lành, hoặc hậu quả có thể xấu và dở.

Giả sử cuộc đời này không là “bể khổ trần ai” thì chắc chắn sẽ nhàm chán, và rồi con người càng dễ hư thân – sướng quá hóa rồ! Nhờ đau khổ mà người ta mới biết quý hạnh phúc mà cố gắng vươn lên. Ấy vậy mà vẫn thấy có những con người bất chấp, xả láng, ngang ngược, không sợ gì, dám làm những chuyện tày trời chỉ vì “cái tôi” quá lớn với thói ích kỷ và kiêu ngạo.

Được làm người ở trên đời, dù giàu hay nghèo, sang hay hèn, cao hay thấp, lớn hay nhỏ, nam hay nữ,… chắc chắn ai cũng mưu cầu hạnh phúc – một quyền cơ bản của con người và mơ ước chính đáng. Thật vậy, hạnh phúc là niềm mơ ước cháy bỏng suốt đời của bất kỳ ai. Tuy nhiên, hạnh phúc đa dạng với nhiều mức độ. Hạnh phúc ở gần chứ không xa, nhưng hạnh phúc cũng dễ khiến người ta ảo tưởng nếu đòi hỏi thái quá. Cũng như tình yêu, chẳng ai có thể định nghĩa chính xác thế nào là hạnh phúc. Tất cả chỉ là tương đối – tương đối tuyệt đối và tuyệt đối tương đối.

Thế gian là cõi tạm, thế nên chẳng có gì vĩnh cửu, ngay cả những gì chúng ta có cũng không là của mình. Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc cao cấp của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó, nhưng vẫn không vĩnh viễn. Hạnh phúc mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí, là cảm giác thoải mái khi đạt được một giá trị, một mục đích, một kết quả... nhưng điểm khác nhau nằm ở tính hữu hình hay vô hình của giá trị, mục đích, kết quả đạt được về nhiều lĩnh vực: tình yêu, thành công, nổi tiếng, giàu có, thỏa mãn,... Hạnh phúc và sung sướng có nghĩa gần giống nhau, hạnh phúc hiểu theo nghĩa tinh thần, trừu tượng; sung sướng hiểu theo nghĩa vật chất, cụ thể.

Tất nhiên ai cũng phải đi tìm, nếu muốn tận hưởng hạnh phúc. Đi tìm hạnh phúc không phải là sẽ “nhặt” được nó như nhặt được một vật thể, cũng không thể ngồi chờ sung rụng, mà phải chủ động “tạo” ra nó. Nghĩa là chấp nhận với những gì mình có hiện tại thì sẽ có hạnh phúc. Thế nhưng không hề dễ thực hiện được động thái “chấp nhận” như vậy. Biết đủ thì vẫn đủ, đòi hỏi thì chẳng bao giờ đủ!

Sống vì người khác là một cách sống hạnh phúc. Chúa Giêsu gọi là phục vụ – từ bỏ chính mình, dám quên mình, can đảm dấn thân. Người ta có câu nói đơn giản mà chí lý mang tính nhân bản: “Người đi trước rước người đi sau.” Hạnh phúc đơn giản chỉ thế thôi.

1. PHÍA TRƯỚC

Người ta có kinh nghiệm hay: “Nói trước bước không qua.” Và người ta cũng duy tâm thế này: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.” Chắc chắn vậy thôi. Nói mộc mạc bình dân là “mình tính không bằng trời tính.” Có đau khổ mới biết thế nào là hạnh phúc, có bị tù đày rồi mới biết tự do rất giá trị. Người kiên trì chịu gian nan vất vả mới nên người, thành nhân tài. Chính đau khổ là “chất xúc tác” cho những tác phẩm giá trị. Càng dày kinh nghiệm thì tác giả càng có được những tác phẩm hay. Những người giỏi đều là những người đã từng vật lộn với cuộc sống khó khăn vô cùng. Giàu có và sung sướng không tạo vĩ nhân: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả – Anh hùng hào kiệt có hơn ai?” (chí sĩ Phan Bội Châu). Khổ luyện là mẫu số chung. Không khốn khổ khó khôn khéo.

Ngày xưa, ông Áp-ram được lệnh của Đức Chúa: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” (St 12:1-3) Một lời hứa tuyệt vời!

Thế nhưng không phải là điều dễ dàng, mà phải giằng co. Thật vậy, đang an cư lạc nghiệp, đùng một cái phải ra đi, nếu đức tin không mạnh mẽ thì liệu có dám ra đi? Ba lần dời nhà bằng một lần cháy nhà. Chắc chắn là rất khó ra đi, vì giằng co dữ dội và cần phải can đảm mà dứt khoát ngay. Cũng vẫn khó ra đi dù biết rõ nơi đến như thế nào – phải ra đi vì đất quy hoạch, bị giải tỏa, có nguy cơ bão lũ hoặc động đất,… huống chi ra đi mà không biết nơi đó ra sao, tương lai thế nào. Vậy mà “ông Áp-ram ra đi như Đức Chúa đã phán với ông.” (St 12:4a) Không chỉ có vậy, khi rời Kha-ran, “ông Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi” (St 12:4b) chứ đâu còn trẻ trung gì nữa. Quả thật, đức tin của ông lớn quá! Cũng vì thế, ông được đổi tên Áp-ram thành Áp-ra-ham, nghĩa là “người cha vĩ đại của muôn dân tộc.” (Hc 44:19) Đức tin vô cùng quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt là đời sống tâm linh. Có đức tin vững vàng, người ta rất thanh thản, không bị giằng co, và chắc chắn Thiên Chúa “chẳng để chính nhân phải nghiêng ngửa bao giờ.” (Tv 55:23)

Có lệnh thì làm ngay, ông Áp-ram làm theo hướng dẫn của Thiên Chúa: “Đem theo vợ là bà Xa-rai, cháu là ông Lót, và mọi tài sản họ đã gầy dựng được, cùng với gia nhân họ đã có tại Kha-ran. Họ ra đi về phía đất Ca-na-an và đã tới đất đó.” (St 12:5) Ông Áp-ram ra đi với niềm tín thác vào Thiên Chúa quan phòng, đồng thời ông còn vâng lời tuyệt đối. Kinh Thánh xác định: “Vâng lời trọng hơn của lễ.” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9; Tv 51:18) Vì vâng lời vô điều kiện, ông an tâm và vui vẻ – tức là ông thực sự hạnh phúc. Niềm hạnh phúc của người biết tín thác vào Thiên Chúa thì miên man và lâng lâng khó tả, không gì có thể “ngăn cản” sự sung sướng của con người đó.

Kinh Thánh cho thấy rằng Thiên Chúa đã hứa gì thì luôn chắc chắn: “Lời đã hứa, Ngài giữ vẹn toàn, bởi vì Ngài vẫn luôn công chính.” (Nkm 9:8) Cuộc sống cũng chứng tỏ điều đó qua kinh nghiệm sống của chúng ta. Thiên Chúa luôn giữ đúng lời, vì đó là luật, Ngài làm ra luật nên Ngài tôn trọng luật, như Chúa Giêsu nói: “Trời đất qua đi còn dễ hơn là một cái phết của Lề Luật rụng mất.” (Lc 16:17) Thánh Vịnh gia cũng xác nhận: “Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất.” (Tv 33:4-5) Thiên Chúa tốt lành vĩnh hằng, bất biến.

Vốn dĩ là tình yêu và giàu lòng thương xót, Thiên Chúa luôn quan tâm thụ tạo mà Ngài đã tác tạo nên giống hình ảnh Ngài: “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn. Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi Người luôn che chở phù trì.” (Tv 33:18-20) Với niềm thành tín, Thánh Vịnh gia xác định và bộc bạch: “Vâng, có Người, chúng tôi mừng rỡ, vì hằng tin tưởng ở Thánh Danh.” (Tv 33:21) Thật vậy, nếu không có Ngài thì mọi loài đều biến thành hư vô ngay lập tức. Kinh Thánh cho biết: “Kẻ tế thần khác ngoài Đức Chúa, sẽ bị Đức Chúa loại trừ.” (Xh 22:19)

Chính Thiên Chúa cũng đã cảnh báo thẳng thắn: “Những kẻ coi trọng Ta thì Ta coi trọng, còn những kẻ khinh dể Ta thì bị khinh thường.” (1 Sm 2:30) Chắc chắn mọi kiêu nhân đều bị Thiên Chúa hạ bệ. (Hc 1:30; Hc 10:14; Is 23:9; Đn 4:34; Lc 1:52) Thật vậy, gieo gì thì gặt nấy, “Gieo gió thì phải gặt bão.” (Hs 8:7) Bởi vì “Thiên Chúa không để cho người ta nhạo báng đâu!” (Gl 6:7) Đây là vài trường hợp cụ thể:

[1] Chàng ca sĩ John Lennon trong ban nhạc The Beatles (Anh) đã trả lời báo chí trong một cuộc phỏng vấn: “Đạo của Chúa Giêsu đã đến ngày cuối cùng, nó sẽ biến mất. Tôi chẳng cần bàn cãi về vấn đề này mà chắc chắn như vậy! Chúa Giêsu thì tốt, nhưng những lời dạy của Ngài quá đơn giản. Giờ chúng tôi nổi tiếng hơn Ngài nhiều.” Và rồi năm 1980, anh ta bị bắn chết bằng 6 phát súng của một fan cuồng.

[2] Tổng thống Tancredo Neves (Brazil) nói: “Nếu có 500 phiếu ủng hộ tôi thì dù Thiên Chúa có muốn xóa bỏ chức tổng thống của tôi cũng không thể!” Vâng, Ngài không bỏ chi hết, và ông đã đắc cử tổng thống. Thế nhưng ông bị bệnh và chết trước khi đăng quang năm 1985.

[3] Kỹ sư Thomas Andrew, người Mỹ, đã thiết kế con tàu Titanic, hiên ngang nói với phóng viên: “Nó an toàn đến nỗi Thiên Chúa cũng không thể nhấn chìm nó được!” Tuy nhiên, Titanic đã va vào tảng băng và chìm xuống đáy Đại Tây Dương vào giữa đêm khuya, trung tuần tháng 4-1912.

[4] Năm 2005, tại Campinas ở Brazil, một nhóm bạn trẻ say xỉn đi đón một cô gái. Người mẹ cầm tay cô dắt ra tận nơi vì lo lắng khi thấy họ say xỉn mà lái xe, bà nói: “Cầu xin Chúa đi với con và gìn giữ con.” Cô gái nói: “Nếu Chúa muốn đi cùng thì phải ngồi trong cốp xe chứ trong này chật rồi!” Vài tiếng sau, truyền hình đưa tin về một vụ tai nạn nghiêm trọng, chiếc xe bị biến dạng hoàn toàn, trong đó có nhóm bạn trẻ kia.

Thiên Chúa nhân lành, Ngài không tạo sự ác, chỉ tại con người kiêu ngạo nên tự rước họa vào thân mà thôi. Dù biết Thiên Chúa tận tình như vậy, chúng ta vẫn không được ỷ lại, mà phải liên lỉ cầu nguyện: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.” (Tv 33:22) Tương tự câu trong Kinh Lạy Cha: “Xin Cha tha nợ chúng con NHƯ chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Quan trọng ở chữ NHƯ – nghĩa là chúng ta trông cậy ở mức nào thì được nhận lòng thương xót như vậy, chúng ta tha thứ cho người khác thế nào thì được nhận ơn tha thứ như thế. Đó là công bình, là công lý, và cũng là chân lý. Không thể CHO ít mà đòi NHẬN nhiều. Thiên Chúa không bao giờ “bù lỗ” kiểu ích kỷ đó!

Mặc dù Thánh Phaolô căn dặn riêng với Ti-mô-thê, nhưng cũng là nói với mỗi chúng ta hôm nay: “Anh đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng.” (2 Tm 1:8) Tất cả mọi người đều phải nỗ lực, không ngoại bất kỳ trừ ai.

Mà tại sao chúng ta phải nỗ lực làm chứng như vậy? Lý do tất yếu: “Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Kitô Giêsu, nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Kitô Giêsu đã xuất hiện. Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử.” (2 Tm 1:10) Rất rõ ràng, rất cụ thể.

Nếu chúng ta có thể thực hiện được như vậy thì chắc chắn sẽ được tận hưởng niềm hạnh phúc trong Đức Kitô, được trường sinh và vĩnh cư trong Vương Quốc Hằng Sống mà Ngài đi dọn sẵn cho chúng ta. Đó mới thực sự là niềm hạnh phúc vĩnh viễn. Chúa Giêsu đi trước và sẽ rước chúng ta đi sau.

2. PHÍA SAU

Ngày xưa, ông Giô-suê đã nói với dân: “Nếu anh em lìa bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần ngoại, Người sẽ quay lại chống anh em, giáng họa xuống anh em và tiêu diệt anh em, dù TRƯỚC ĐÂY Người đã giáng phúc cho anh em.” (Gs 24:19) Nhưng đối với dân thành Ni-ni-vê, trước đó tội lỗi và bất hạnh mà sau đó được hạnh phúc nhờ biết sám hối. Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Ngài hối tiếc về tai hoạ Ngài đã tuyên bố sẽ giáng trên họ, Ngài đã không giáng xuống nữa. (x. Gn 3:1-10) Rõ ràng việc sám hối có thể đảo ngược tình thế và thay đổi số phận con người. Tùy ý, “ai thích cái gì sẽ được cái đó.” (Hc 15:17)

Hạnh phúc luôn mỉm cười với những ai kiên trì và dũng cảm đi xuyên qua gian khó. Ai khổ luyện thì sẽ thành tài. Vất vả trồng cây thì sẽ có ngày hưởng trái ngọt. Đó là quy luật chung muôn thuở, như người Việt cũng nói: “Có công mài sắt, có ngày nên kim.” Đó là điều tất nhiên và hoàn toàn hợp lý!

Triết gia và thần học gia Albert Schweitzer (1875-1965, Pháp) có cách nhận xét rất cụ thể nhưng chí lý: “Cuộc sống trở nên khó khăn hơn khi chúng ta sống vì người khác, nhưng nó cũng trở nên đẹp đẽ và hạnh phúc hơn.” Ông không bi quan mà rất lạc quan, biết rõ điều trước để được điều sau.

Cái gì phải đến rồi cũng sẽ đến. Tránh trời không khỏi nắng, chẳng thoát mưa. Sáu ngày sau khi tiên báo về cuộc thương khó, Đức Giêsu đem theo các môn sinh thân tín là Phêrô với hai anh em Giacôbê và Gioan. Ngài đưa các ông tới một ngọn núi cao, rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Khi đó, dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng. Các ông chưa hết ngỡ ngàng thì bỗng các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Ngài. Sự kiện này gây ngạc nhiên nhưng vô cùng thú vị.

Trong khi quá hưng phấn, ông Phêrô thưa ngay với Sư Phụ mà không cần so đo tính toán: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia.” (Mt 17:4) Muốn dựng lều cho cả ba vị chứ không hề nhắc tới lều cho ba anh em. Sao cũng được, ở “khách sạn ngàn sao” chẳng thành vấn đề, miễn sao được tận hưởng niềm hạnh phúc tuyệt vời mà thôi. Đó là lúc các ông được nếm thử hạnh phúc Nước Trời, nhờ đó mà cố gắng chịu gian nan. Khổ trước phước sau.

Rất lạ lùng, từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Sướng quá chừng luôn! Khi ông Phêrô chưa dứt lời thì bất ngờ có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17:5) Trước đó, sau khi Thánh Gioan Tẩy giả làm Phép Rửa cho Chúa Giêsu tại sông Giođan, Chúa Cha cũng xác nhận tương tự về Đức Kitô Giêsu: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 3:17) Không có gì để nghi ngờ về mặc khải này. Đích thực là thiên khải rồi.

Nhưng lần mặc khải này khác hẳn, bởi vì các ông vừa nghe tiếng nói đó thì kinh hoàng và ngã sấp mặt xuống đất. Lạ lùng lắm, hết hồn luôn! Nhưng may là ba anh em vẫn bình an vô sự, mặc dù té lăn cù trên đá sỏi lởm chởm. Thấy thế, Chúa Giêsu đến chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!” (Mt 17:7) Các ông ngước mắt lên, không còn thấy ai ngoài Sư Phụ. Kỳ lạ thật đấy, chả hiểu ất giáp gì ráo trọi. Nhưng vẫn thích, mọi thứ rất tuyệt vời!

Trong lúc trên đường đi từ trên núi xuống, Chúa Giêsu căn dặn các ông “đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.” (Mt 17:9) Không thấy Kinh Thánh cho biết các ông có nói gì hay không, có lẽ các ông chỉ biết im lặng vì chưa hiểu hết ý Thầy, mà các ông cũng không dám hỏi Thầy điều gì. Tất cả đều rất lạ lùng, không như suy nghĩ của loài người.

Lạy Thánh Phụ chí ái, xin tha thứ cho chúng con về những ước mơ đã không hợp Thánh Ý Ngài, xin hướng dẫn tư tưởng của chúng con, xin ban thêm các ơn cần thiết để chúng con đủ sức vượt qua mọi trở ngại suốt chặng đường lữ hành trần gian. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục

KHỔ NẠN VÀ PHỤC SINH

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Trang Tin Mừng (Mt 17,1-9) Chúa nhật II Mùa Chay năm A, đưa chúng ta lên núi cùng với các Tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan chiêm ngắm Chúa Giêsu biến hình, một biến cố ngoại thường trước khi tiến sâu vào Mùa Chay Thánh, cao điểm là Tuần Thương Khó, cử hành Cuộc Khổ Nạn, cái chết và sự phục sinh vinh quang của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Phêrô, Giacôbê và Gioan thật diễm phúc, vì đã được Chúa Giêsu cho nếm trước vinh quang Phục sinh: điều thuộc về thiên giới nhưng xảy ra trên trần gian. Ba ông thấy Thầy dung mạo biến đổi khác thường, khuôn mặt Người sáng chói như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết (Mt 17,). Các ông đã quá quen với hình ảnh của Thầy trong dáng vẻ thường ngày của con một người trần thế, nay đứng trước sự huy hoàng chói lọi, bao trùm toàn bộ con người của Thầy, lại có thêm Môi-sen và Êlia xuất hiện bên cạnh đàm đạo với Thầy khiến các ông kinh ngạc. Sửng sốt quá, Phêrô thốt lên: "Lạy Chúa, chúng tôi được ở đây thì tốt lắm, nếu Chúa ưng, chúng tôi xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môi-sen và một cho Êlia" (Mt 17,4). Lúc ông còn đang nói thì một đám mây sáng bao phủ các ngài.

Một đám mây bao phủ các tông đồ gợi cho chúng ta nhớ lại đám mây bao phủ dân Israen trong thời kỳ Xuất hành (x. Xh 40,35), hay khi Đức Maria đón nhận tin truyền từ Sứ Thần cho Trinh Nữ: “Quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà” (Lc 1,35). Lúc Chúa Giêsu biến hình, từ trong đám mây bao phủ ấy có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Tiếng Chúa Cha từ trong đám mây xác nhận Chúa Giêsu là Con yêu dấu, và Ngài mời gọi chúng ta “Hãy vâng nghe lời Người”

Quả thật, Chúa Giêsu là Ngôi Lời nhập thể của Chúa Cha (x. Ga 1,14). Người luôn nói Lời của Thiên Chúa cho loài người (x. Ga 3,34). Chúa Cha muốn các môn đệ và qua các ông Lời Chúa Giêsu cần phải được mọi người đón nhận và vâng nghe. Nghe lời Chúa Cha tuyên phán, các môn đệ kinh hồn bạt vía, ngã sấp xuống. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: “Các con hãy đứng dậy, đừng sợ” (Mt 17).

Đừng sợ, các ông sợ gì và tại sao lại sợ? Thưa, các ông sợ đau khổ, sợ thập giá, nhất là sợ cái chết bi thương như Thầy đã loan báo: “Người phải đi Giêrusalem và chịu nhiều đau khổ do hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục, và bị giết đi, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16, 21). Lời loan báo trên chẳng những làm cho Phêrô và hai ông kia, mà thậm trí cả nhóm môn đệ bị khủng hoảng. Phêrô đã phủ nhận và can ngăn Thầy. Ông phủ nhận là điều dễ hiểu, bởi các môn đệ trông đợi một Ðức Messia quyền năng, mạnh mẽ, thống trị, thế mà nay Chúa Giêsu lại tự giới thiệu mình như một người đầy tớ khiêm hạ, hiền lành của Thiên Chúa, đầy tớ của con người, sẽ phải hy sinh mạng sống, bước qua khổ đau và cái chết. Đương nhiên là câu hỏi lớn nảy sinh trong đầu: Làm sao có thể theo Một Bậc Thầy và một Ðức Messia mà cuộc sống trần thế của Người kết thúc như thế được? Các môn đệ nghĩ như vậy. Việc Chúa biến hình là câu trả lời cho các ông. 

Biến cố này giúp các môn đệ đương đầu trước cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Cả chúng ta ngày hôm nay nữa cũng hiểu rằng cuộc khổ nạn của Chúa Kitô là một mầu nhiệm, một hồng ân tình thương vô biên của Thiên Chúa, nhất là hiểu rõ hơn sự phục sinh của Người. Để hiểu các biến cố ấy, cần biết trước rằng Ðấng đang chịu đau khổ và được vinh quang không phải chỉ là một con người, nhưng là Con Thiên Chúa, Ðấng cứu độ chúng ta qua tình yêu trung thành cho đến chết. Qua đó Chúa Cha lập lại lời tuyên bố về Chúa Con, đã xảy ra bên bờ sông Giordan sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa và Chúa Cha nhắn nhủ chúng ta : "Các ngươi hãy nghe lời Người" (Mt 17,).

Bước tiếp vào Mùa Chay Thánh, biến cố Chúa biến hình loan báo trước Mầu Nhiệm Vượt Qua, mời gọi chúng ta mở rộng cặp mắt tâm hồn chiêm ngắm Mầu Nhiệm Ánh Sáng của Thiên Chúa trong lịch sử cứu rỗi.

Chúa biến hình vinh quang sáng láng để nêu gương cho chúng ta, giúp chúng ta biến đổi: từ con người tối tăm tội lỗi nên con người tươi sáng hoàn hảo; từ con người ích kỷ tham lam thành người sẵn sàng yêu thương hy sinh và phục vụ mọi người; từ con người kiêu căng tự đắc thành người khiêm nhu tin tưởng và phó thác vào Chúa.

Lạy Chúa, xin thương giúp chúng con hiểu được ý nghĩa của Thập Giá và xin ban ơn để chúng con biết sống Mầu Nhiệm Thập Giá Chúa trong cuộc đời chúng con, hầu mai ngày được sống lại với Chúa trong vinh quang với. Amen. mục lục

HIỂN THỊ CHÂN DUNG

JM. Lam Thy ĐVD

Việc cần phải làm trong Mùa Chay Thánh là: ăn chay, cầu nguyện, và bố thí. Ba việc này diễn tả ba chiều kích, ba mối tương quan giữa người tín hữu với Thiên Chúa và với anh em. Tương quan với Thiên Chúa là cầu nguyện, với tha nhân là bố thí và với chính mình là ăn chay. Ba tương quan này đồng hành với nhau và thể hiện cùng một lúc trong đời sống thường nhật của người Ki-tô hữu. Người tín hữu cần đi ra một nơi riêng, leo lên núi trong một nơi thinh lặng, để tìm lại chính mình và lắng nghe tiếng Chúa là hồng ân. Tuy nhiên, không thể ở lại đó, mà cần phải xuống núi gặp gỡ tha nhân để chia sẻ với họ ơn thánh đã nhận được. Ðây là sứ mạng của người tín hữu, những người đã chịu phép rửa tội, lắng nghe Lời Chúa và chia sẻ cho người khác những kiến thức đã thu thập được.

Tiêu đề bài Tin Mừng Chúa nhật II Mùa Chay có sách Tin Mừng ghi là “Đức Giê-su hiển dung” (Mt 17, 1-9; Lc 9, 28-36), có sách ghi là “Đức Giê-su biến đổi  hình dạng” (Mc 9, 2-8). Tuy có tiêu đề khác nhau, nhưng trong nội dung thì cả 3 sách Tin Mừng nhất lãm đều dùng cách viết “Đức Giê-su biến đổi hình dạng” để trình thuật biến cố lạ lùng này (“Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông.” – Mt 17, 1-2). Như vậy thì Đức Ki-tô hiển dung hay biến hình? 

Hiển dung là biểu lộ cái diện mạo thực (chân dung) ra một cách rõ ràng. Còn biến hình là thay đổi hình dạng. Đức Giê-su biến đổi hình dạng thường ngày sang một hình dạng khác hẳn, rực rỡ hơn, chói loà hơn gấp bội, là Người muốn cho các môn đệ và mọi người biết ngoài bản tính loài người chứa trong thân xác phàm tục, Người còn một bản tinh nữa là bản tính Thiên Chúa. Chân tướng sự vịêc là điều Người muốn công nhiên mạc khải: Chân dung của Người chính là dung mạo đích thực của Thiên Chúa. Nói cách cụ thể, trong cùng một Con Người là Đức Giê-su Ki-tô có 2 hình dạng: Dung mạo bình thường là bản tính loài người, còn chân dung – bản chất đích thực của Người – là bản tính Thiên Chúa. Nói Đức Giê-su biến hình là muốn nói Người đã biến đổi từ hình dạng bình thường của loài người sang hình dạng Thiên Chúa. Còn nói hiển dung là muốn nói – qua việc biến đổi hình dạng bên ngoài – Đức Ki-tô muốn biểu lộ chân dung đích thực của Thiên Chúa (Ngôi Lời nhập thể) vốn ẩn kín bên trong chàng thanh niên Giê-su Na-da-ret. 

Khi ba môn đệ theo Đức Giê-su lên núi Ta-bo, thì các ngài vẫn thấy Thầy của mình với dung mạo bình thường như các ngài đã được chứng kiến, được “thực mục sở thị” trong suốt ba năm theo Thầy đi khắp đó đây. Nhưng đến khi Thầy cầu nguyện thì “... Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.” (Mt 17, 2). Sự kiện Chúa Giê-su biến đổi hình dạng đã khiến các môn đệ – trong đó có thánh Phê-rô – hoảng sợ. Sự hoảng sợ lần này khác với lần được chứng kiến “Đức Giê-su đi trên mặt biển” (Mt 14, 22-32). Lần trước, thánh nhân cho là mình gặp ma, nhưng lần này thánh nhân đã tin Thầy mình đích thị là Thiên Chúa, và chỉ có như thế Thầy mình mới hội kiến, đàm đạo với ông Mô-sê và ông Ê-li-a (đã khuất bóng từ trước đó mấy trăm năm) được.

Từ hình dạng con người trần thế bình thường biến sang chân dung Thiên Chúa, Đức Giê-su muốn cho mọi người – thông qua các môn đệ thân tín của Người – hiểu rõ được Người chính là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, như Lời phán dạy của Thiên Chúa Cha từ trong đám mây sáng ngời bao phủ các môn đệ: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!" (Mt 17, 5). Lời phán dạy của Thiên Chúa Cha lần này y hệt lần Đức Giê-su chiu phép rửa trên sông Gio-đan ("Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." – Mt 3, 17). Nhờ thế, giúp củng cố đức tin, đồng thời, cũng chính là giúp biến đổi con người các môn đệ và những kẻ đến với Đức Giê-su Ki-tô. 

Nói Chúa Hiển Dung là nhằm mục đích củng cố đức tin của các môn đệ, nhưng vì sao lại phải như vậy? Ấy là vì trước đó không lâu, Đức Giê-su đã loan báo biến cố Thương Khó lần thứ nhất cho các môn đệ: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sống lại". Các môn đệ đã không chịu hiểu và cũng không muốn tin rằng Thầy mình sẽ đi vào con đường thập giá quá đau khổ và nhục nhã đó. Riêng Phê-rô thì đã kéo riêng Thầy mình ra và trách Người rằng: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”; khiến Đức Giê-su phải nặng lời quở mắng: "Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." (Mt 16, 21-23).

Một sự kiện minh họa lòng tin của các môn đệ còn chưa vững là khi Chúa Hiển Dung, thì “ông Phê-rô và đồng bạn thì ngủ mê mệt” (Lc 9, 32); nhưng khi tỉnh hẳn, các ông nhìn thấy vinh quang của Đức Giê-su, và hai nhân vật đứng bên Người (là ông Mô-sê và ông Ê-li-a), thì "các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất.” (Mt 17, 6). Rồi sau đó, tại vườn Ghết-sê-ma-ni, trong khi Thầy cầu nguyện đến độ đổ cả mồ hôi máu ra, mà các ông vẫn ngủ ngon lành, khiến Người phải thốt lên: "Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn." (Mt 24, 43-44). Cứ tưởng như vậy thì các môn đệ sẽ “tỉnh ngủ”, để hiểu ra rằng thời giờ đã cận kề, đây là lúc cần phải canh thức và sẵn sàng chờ đón mọi biến cố; nhưng thật không ngờ các ngài lại tiếp tục ngủ, ngủ miết tới lúc Thầy phải đánh thức lần nữa: "Lúc này mà còn ngủ, còn nghỉ sao? Này, đến giờ Con Người bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi. Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới!" (Mt 26, 40-46). 

Như vậy, sau biến cố Chúa Hiển Dung, các môn đệ có được củng cố lòng tin để vững bước cùng Chúa trên con đường thập giá hay không? Cứ xem khi Đức Giê-su bước vào cuộc Thương Khó thì đủ biết: Trong số 12 Tông đồ là những môn đệ thân tín nhất của Đức Giê-su, thì vị đứng đầu (Phê-rô) đã chối Chúa tới 3 lần trước một người tớ gái nhà Cai-pha, một Giu-đa It-ca-ri-ốt thì bán Chúa để lấy 30 đồng bạc, các vị còn lại thì bỏ Người mà chạy trốn hết, để một mình Chúa đơn độc đi vào cuộc Thương Khó. Duy chỉ có được một Gio-an là theo Thầy tới tận chân thập giá, nhưng cũng chỉ lẽo đẽo theo từ xa xa, đến độ khi Thầy yếu nhọc quá sức, quân dữ phải bắt một dân ngoại là Si-mon vác đỡ Thánh giá cho Người (“Đang đi ra, thì chúng gặp một người Ky-rê-nê, tên là Si-môn; chúng bắt ông vác thập giá của Người.” – Mt 27, 32). 

Quả thật Chúa luôn luôn muốn củng cố lòng tin cho các môn đệ, nhưng vấn đề đặt ra là lòng tin ấy có thực sự được củng cố hay không, còn tùy thuộc vào chủ thể các môn đệ. Một cách cụ thể là nếu chủ thể không chịu mở cửa tâm hồn ra đón nhận, thì những ân sủng Thiên Chúa ban cũng chẳng khác gì “nước đổ đầu vịt, nước đổ lá môn” mà thôi. Vâng, “Thiên Chúa có thể dựng nên chúng ta mà không cần hỏi ý kiến chúng ta, nhưng Người không thể cứu rỗi chúng ta nếu chúng ta không ưng thuận.” (Thánh Au-gus-ti-nô). Và cũng chính vì quá rõ lòng dạ con người là như vậy, nên Đức Giê-su luôn dạy các môn đệ phải tỉnh thức và cầu nguyện ("Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối." – Mc 14, 38). Không những Người dạy dỗ, mà còn làm gương mẫu cụ thể nữa (Người luôn cầu nguyện cùng Chúa Cha, nhất là những dịp Người chịu để ma quỷ cám dỗ như khi Người vào sa mạc ăn chay 40 đêm ngày, hoặc lần cầu nguyện đổ cả mồ hôi máu ra nơi vườn Ghết-sê-ma-ni).

Mùa Chay chính là thời gian để người tín hữu chọn lựa một hành động thiết thực: hoặc xé áo, hoặc xé lòng. Muốn xé áo thì dễ thôi, chỉ cần một động tác nhỏ là khoác lên mình bộ vó kiêu căng tự phụ, bộ áo lười nhác ích kỷ, không thèm đếm xỉa đến mọi người xung quanh. Tuy nhiên, để xé lòng thì không dễ dàng đâu, bởi phải quyết tâm không khua chiêng gõ mõ khi cầu nguyện, không méo miệng ngoẹo đầu rầu rĩ khi ăn chay, không biểu ngữ khoa trương khi làm từ thiện, không sáo rỗng màu mè khi an ủi anh em, không hứa lèo hứa cuội khi hoà giải, không mặc áo thày tu khi mình không phải là tu sĩ, không đánh trống bỏ dùi, tiền hậu bất nhất khi đòi đi theo Thầy Chí Thánh. Chỉ có như vậy, kèm theo sự sám hối chân thành, mới thực sự hoán cải, đổi mới con người của mình, để được biến đổi toàn diện (biến hình) theo Chúa. 

Đúng là rất khó khăn để có thể làm được như thế. Khó, nhưng không phải là không thực hiện được, khi biết cậy dựa vào Thần Khí, “Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ.” (2 Tm 1, 7). Muốn tránh khỏi mưu ma chước quỷ hằng ngày cám dỗ, người tín hữu không thể ỷ vào sức mình vì "tinh thần thì hăng hái nhưng thể xác lại yếu đuối" mà  phải cậy trông vào Thiên Chúa, cầu nguyện để Người soi sáng và ban thêm sức mạnh và lòng dũng cảm. Chỉ có như thế mới mong biến đổi con người của mình (như xưa Chúa đã biến hình trên núi Ta-bo). 

Quả thực Tin Mừng về cuộc Hiển Dung của Chúa đặt trước mắt người Ki-tô hữu vinh quang của Đức Giê-su, báo trước cuộc phục sinh vinh hiển của Người. Từ đó giúp người tín hữu ý thức mình được dẫn lên núi cao (Mt 17, 1) như các Tông Đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, để tái đón nhận hồng ân được làm con Thiên Chúa trong Trưởng Tử Giê-su Ki-tô, qua Lời phán dạy: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 21, 6). Vâng, người Ki-tô hữu luôn được mời gọi cùng đi lên núi cao để được ngụp lặn trong hào quang vinh hiển của Thiên Chúa, ngõ hầu hoán cải, biến đổi toàn diện con người của mình sao cho ”trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô” (Pl 3, 10). Ước được như vậy. Amen. mục lục

LÊN NÚI THÁNH

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Giữa hai lần báo trước biến cố Thương Khó và Phục Sinh, Đức Giê-su đưa ba môn đệ ra khỏi đời thường để bước vào thế giới của Thiên Chúa. Ở đó, những điều xảy ra nhằm mặc khải căn tính của Đức Giê-su. Biến cố trên núi cao báo trước sự Phục Sinh của Đức Giê-su vì Người có nguồn gốc thần linh, Người có Cha là Thiên Chúa, Người là Con và được Chúa Cha yêu thương. Chính Chúa Cha ra lệnh cho các môn đệ lắng nghe giáo huấn của Đức Giê-su.

Trình thuật bắt đầu bằng sự tách biệt với đời thường về thời gian, về không gian và về con người: “Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao” (Mt 17,1).

Về thời gian là “sáu ngày sau”, đánh dấu sự phân cách với những gì đã xảy ra trước đó một tuần. Về nơi chốn: ba môn đệ được tách riêng ra một nơi và được đưa lên một ngọn núi cao. Về con người: chỉ có ba môn đệ được chọn: “Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an”.

Sau khi được tách biệt khỏi thời gian và không gian bình thường, những gì xảy ra trên núi thuộc về một thế giới khác. Đó là thế giới của Thiên Chúa, thế giới không còn khoảng cách thời gian và không gian, thế giới mà ngôn ngữ không thể diễn tả được. Trong khoảng khắc thần linh đó, mặc khải của Thiên Chúa được tỏ bày qua thị giác (để thấy) và qua thính giác (để nghe).

Đức Giê-su được biến đổi hình dạng trước mặt ba môn đệ: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”. Nếu dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời thì làm sao các môn đệ có thể nhìn mà không bị mù mắt. Nếu y phục của Đức Giê-su trở nên trắng tinh như ánh sáng thì làm sao các môn đệ có thể thấy được, vì không ai thấy được ánh sáng mà chỉ có thể thấy sự phản chiếu của ánh sáng nơi sự vật mà thôi.

Thực ra, đây là cách diễn tả những thực tại thần linh bằng thứ ngôn ngữ thị kiến của sách Khải Huyền. Ba môn đệ đang đối diện với thế giới của Thiên Chúa, đối diện với những thực tại thuộc về Thiên Chúa, đối diện với vinh quang của Thiên Chúa, nên ngôn ngữ loài người hoàn toàn bất lực. Ngôn ngữ loài người không mô tả được, chỉ vì điều xảy ra không có trong kinh nghiệm cuộc sống thường ngày của con người. Bằng ngôn ngữ, sách Khải Huyền chỉ có thể mô tả những thị kiến về thế giới thần linh bằng các từ: “như”, “giống như”, “tựa như”… còn điều trông thấy thì không thể mô tả được. Chẳng hạn Gio-an mô tả thị kiến ở Kh 4,2-3: “Lập tức tôi xuất thần. Kìa một cái ngai đặt ở trên trời và có một Đấng ngự trên ngai. Đấng ngự đó trông giống như ngọc thạch và xích não. Chung quanh ngai có cầu vồng trông giống như bích ngọc”. Kh 4,6 viết: “Trước ngai có cái gì như biển trong vắt tựa pha lê”. “Trông giống như…”, “như…”, còn thực sự thế nào thì không mô tả được.

Có thể nói, trên núi cao, giữa trời và đất, ba môn đệ được thấy “thị kiến” về Đức Giê-su trong thế giới của Thiên Chúa, chỉ có thể mô tả bằng so sánh “như”: “Chói lọi như mặt trời”, “trắng tinh như ánh sáng”, nghĩa là dung nhan của Đức Giê-su không phải là mặt trời, và y phục của Người cũng chẳng phải là ánh sáng, chỉ là “như”, “giống như” mà thôi.

Trong thế giới thần linh ấy, các nhân vật sống cách nhau hàng thế kỷ có thể ngồi lại đàm đạo với nhau. Theo Kinh Thánh, Mô-sê dẫn dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập vào thế kỷ XIII TCN, Ê-li-a là ngôn sứ dưới thời vua A-kháp, thế kỷ VIII TCN và Đức Giê-su thế kỷ I SCN. Nội dung đàm đạo không được kể ra, nhưng điều chắc chắn là có trao đổi giữa các nhân vật. Trong thế giới trên cao, điều nhấn mạnh là tương quan giữa người sống và người đã khuất, là nối kết giữa các thế hệ với nhau, như thể khoảng cách thời gian không còn nữa. Ba môn đệ là chứng nhân cuộc đàm đạo nhưng nội dung lại vượt ra ngoài sự nắm bắt của người phàm.

Mặc khải bằng thị kiến kết thúc với sự lên tiếng của con người, cụ thể là Phê-rô, và chuyển sang hình thức mặc khải thứ hai: “Tiếng nói từ đám mây”: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” (17,5). Từ kinh nghiệm thị kiến, thấy bằng mắt, chuyển sang mặc khải bằng lời qua tiếng phát ra. Các môn đệ chỉ có thể lãnh hội được nội dung bằng cách “nghe”. Tiếng phát ra từ đám mây không phải là tiếng con người, tiếng này có nguồn gốc từ trời và bí ẩn. Lối hành văn phù hợp với bối cảnh của biến cố trình bày mặc khải của Thiên Chúa.

Đối diện với thế giới của Thiên Chúa và vinh quang của Người, các môn đệ đã “kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất” (17,5). Chính Đức Giê-su đã đưa các ông trở lại đời thường bằng cách chạm vào các ông và nói: “Chỗi dậy đi, đừng sợ”, các ông ngước mắt lên và mọi chuyện lại trở về thực tế. Nhưng biến cố ấy, những gì đã thấy, những lời đã nghe, sẽ không bao giờ rời khỏi các ông. (x. Suy niệm CN 2 Mùa Chay A, Giu-se Lê Minh Thông, O.P.)

Ba môn đệ thân tín được Đức Giê-su dẫn lên núi Tabor. Ở đó cả ba nhìn thấy vinh quang của vương quốc Thiên Chúa chói sáng nơi Đức Giê-su. Trên núi, đám mây thánh thiện của Thiên Chúa bao phủ họ. Trên núi, trong cuộc đàm đạo của Đức Giê-su Hiển Dung với Lề luật và Tiên tri, họ hiểu rằng, giờ của ngày Lễ Lều đích thực đã đến. Trên núi, họ cảm nghiệm, Đức Giêsu chính là Tora sống động, là lời trọn vẹn của Thiên Chúa. Trên núi, họ thấy “quyền lực” của vương quốc đang đến trong Đức Ki-tô. Nhưng chính trong sự gặp gỡ đáng sợ với vinh quang của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, họ phải học biết điều thánh Phao-lô nói trong lá thư thứ nhất gởi giáo đoàn Cô-rin-tô với các môn đệ thuộc mọi thời đại: “Chúng tôi rao giảng một Đức Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, Người là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1,23-24). Sức mạnh của vương quốc tương lai xuất hiện nơi Đức Giê-su Hiển Dung, Đấng nói với các chứng nhân Cựu ước về sự cần thiết của cuộc khổ nạn như con đường tiến đến vinh quang (x. Lc 24,26-27). Như thế, họ được tiền dự vào ngày quang lâm; nhờ đó dần dần họ được dẫn vào mầu nhiệm sâu thẳm của Đức Giê-su.(x.Đức Giêsu thành Nazareth, Lm Aug Nguyễn Văn Trinh biên dịch, trang 273).

Đức Giê-su đưa các môn đệ lên đỉnh núi Tabor chiêm ngắm vẻ đẹp của thế giới thần linh, sau đó Ngài đưa các môn đệ xuống núi chuẩn bị vác thập giá lên núi Sọ. Xuống núi để chu toàn nhiệm vụ trần gian. Đức Giê-su phải chịu khổ nạn, chịu chết rồi mới Phục Sinh mở lối vào thiên đàng. Hai đỉnh núi: núi Ta-bor và núi Sọ cách nhau không xa về địa lý nhưng lại là con đường vạn lý. Chỉ có con đường tình yêu mới nối liền hai núi mà thôi.Với Đức Giêsu, vinh quang núi Ta-bor chỉ là chốc lát, chỉ là khởi đầu, chỉ là lời báo trước cho mầu nhiệm núi Sọ nơi vinh quang vĩnh cửu sau cuộc Khổ Nạn. Còn với Phê-rô, đây là vinh quang của ơn cứu độ, và ông phải dấn mình vào: ông tưởng rằng không cần có thập giá vẫn có vinh quang. Mãi đến sau này, sau biến cố Phục Sinh, ông mới hiểu rõ và thuật lại toàn bộ sự kiện (x. 2 Pr 1,16-20).

Thánh Phê-rô cùng các Tông đồ còn phải vượt qua những yếu đuối, sa ngã, còn phải nỗ lực vượt qua mọi khó khăn thử thách, còn phải chịu đau khổ vì Thầy chí thánh, còn phải trải qua cái chết đớn đau rồi mới tới được Núi Thánh thiên quốc như lòng mong ước. Các ngài chỉ đi một con đường Thầy mình đã đi qua. Đó là con đường tình yêu.

Trong cuộc sống người tín hữu, lên núi chính là những giây phút dành cho việc cầu nguyện, tiếp xúc thân mật với Chúa. Đó là những buổi tham dự Thánh lễ, kinh nguyện, những giờ cầu nguyện riêng tư, những buổi Tĩnh Tâm. Cần phải dành những giây phút lên núi với Chúa : Núi của thánh lễ, núi của cầu nguyện, núi của sám hối, núi của những dịp tĩnh tâm. Đó là những giây phút lên núi để gặp gỡ Chúa, để lắng nghe, để chiêm niệm, để biến đổi bản thân mình.

Kỷ niệm ngọt ngào trong những giờ sống hạnh phúc bên Chúa sẽ là sức mạnh nâng đỡ ta trong những thách đố của đời sống. Núi Thánh sẽ trở thành quê hương yêu dấu để tâm hồn ta luôn hướng về, dù còn phải vượt qua rất nhiều trở ngại cách ngăn. Thiên Đàng thoáng thấy qua những giờ kết hiệp với Chúa sẽ là nguồn động viên giúp ta chu toàn mọi nghĩa vụ của con người. Như thế, khi đã xuống núi rồi, ta vẫn còn mong ước sẽ trở lên núi mỗi khi có dịp.

Chúng ta có sẵn sàng nhận lời mời của Chúa Giê-su để cùng với Người “lên núi” không? Mỗi lần Cầu Nguyện, Tĩnh Tâm, Linh Thao, Dâng Lễ, lắng nghe Lời Chúa, đón nhận các Bí Tích, là chúng ta được “lên núi” với Chúa. Nhiều lần “lên núi” như thế là để thực tập cho quen với một lần “lên Núi Thánh” là đỉnh cao cuối cùng trong Nước Trời. mục lục

TRÊN ĐỈNH TABOR

[Niệm ý: Mt 17,1-8]

Theo Thầy lên núi Ta-bor

Tưởng đâu Thầy muốn tỉ tê điều gì

Nào ngờ Thầy chẳng nói chi

Mà lại chuyện trò với mấy vị kia.

Một người tên gọi Mô-sê

Một người thì đúng Ê-li-a rồi

Mặt Thầy sáng tựa mặt trời

Áo Thầy chói lọi sáng ngời trắng tinh.

Đỉnh Ta-bor thật an bình

Ở đây mãi mãi, tốt lành biết bao

Ba người sẽ có ba lều

Còn mình không có, chẳng sao đâu mà.

Bỗng dưng mây trắng chói lòa

Từng vòng cuồn cuộn phủ che ba người

Và rồi chỉ thấy Thầy thôi

Hai ông kia đã về trời cao xa.

Niềm vui hạnh phúc bất ngờ

Nhưng mà ngắn ngủi nên mơ ước nhiều

Khổ đau đếm chẳng xuể đâu

Đi đâu cũng khổ, nơi nào cũng lo.

Tuyệt vời là đỉnh Ta-bor

Chớ dừng ở đó, Can-vê phải trèo. mục lục

Viễn Dzu Tử

CHÚA BIẾN HÌNH

(Phỏng theo Mt 17,1-9)

Theo Chúa ba môn đệ

Chúa rời bỏ các ông

Chúa lên gần đỉnh núi

Đứng dưới đủ chờ trông.

Chúa biến ngay hình dạng:

Y phục Ngài trắng tinh

Trang nghiêm và lộng lẫy

Đây chính Chúa Thiên Đình.

Tức thời, ngay lúc ấy,

Êlia và Môsê

Hai ông cùng tới nghe

Và đàm đạo với Chúa.

Ba Tông đồ ngất ngây

Phêrô chạy lên ngay:

“Lạy Thầy, đây nơi thánh

Ở đây tốt lắm thay!

Con xin dựng ba lều

Một dâng Chúa Thánh Triều

Còn hai dành Êlia 

Và Môsê kính yêu.”

Bỗng từ trong đám mây

Vang vang Lời Chúa phán:

“Con yêu dấu Ta đây

Hãy nghe Lời Người dạy.”

Các ông chợt nhìn quanh

Hai Tiên tri biến mất

Chỉ còn Thầy trò mình

Sự kiện xảy rất nhanh.

Chúa từ trên núi xuống

Truyền lệnh môn đệ mình

Đừng kể với ai trước

Khi Chúa sẽ Phục sinh.

Các ông vâng lệnh Chúa

Nhưng thắc mắc hỏi nhau

Từ cõi chết sống lại

Ý lời này ra sao??? mục lục

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan