SUY NIỆM CHÚA NHẬT IV MC_A

20-03-2020 282 lượt xem

1 Sm 16:1b,6-7,10-13a; Ep 5:8-14; Ga 9:1-41

Mục Lục

“TA LÀ ÁNH SÁNG TRẦN GIAN” - + ĐTC Phanxicô

“NGUỒN SÁNG THẬT” - + ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên 

ÁNH SÁNG ĐỨC TIN Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

KHÔNG XEM THẤY MÀ THẤY XEM THẤY LẠI NÊN ĐUI MÙ - JM. Lam Thy ĐVD

MỪNG VUI LÊN HỠI KHẮP MIỀN DƯƠNG THẾ - Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

HAI CÁCH NHÌN VÀ HAI LỐI SỐNG - Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

HÃY ĐỂ ĐÔI MẮT ĐƯỢC THẮP SÁNG - Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

NGƯỜI MÙ NHÌN THẤY, KẺ THẤY LẠI MÙ - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

XIN CHO CON ĐỪNG THẤY! - Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

NHÃN QUAN - Trầm Thiên Thu

CHÚA KITÔ LÀ ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNGLm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

MÙ LÒA - Viễn Dzu Tử

SỰ SÁNG THẾ GIAN - (Thế Kiên Dominic)

“TA LÀ ÁNH SÁNG TRẦN GIAN”

Chủ đề phụng vụ Chúa nhật IV mùa Chay là ÁNH SÁNG. Phép lạ chữa lành người mù bẩm sinh đã xác định Chúa Giêsu là “Ánh sáng trần gian”.

Dưới đây là bản dịch toàn bài giảng của ĐTC Phanxicô trước và sau khi đọc kinh Truyền Tin được loan truyền từ Thư viện của lâu đài các thánh tông đồ ở Vatican ngày 22 tháng 3 năm 2020 hồi 15:02.

Trước khi đọc kinh Truyền Tin

Anh chi em thân mến, Chào buổi sáng mạnh khỏe và vui tươi.

Chủ đề Chúa nhật IV mùa Chay hôm nay là Ánh Sáng. Bài Phúc Âm thánh Gioan (Ga 9:1-41) kể lại chuyện Chúa Giêsu chữa lành một người mù bẩm sinh, cho anh ta nhìn được như người bình thường. Phép lạ này đã xác quyết Lời Chúa Giêsu nói: “Ta là ánh sáng trần gian” (c.5), ánh sáng chiếu rọi nơi tối tăm của chúng ta. Chúa chứng minh điều này trên hai lãnh vực: thể xác và tinh thần: người mù trước tiên nhìn thấy được để rồi anh ta có niềm tin về Con Người (c. 35) tức là Chúa Giêsu. Đó là toàn thể câu chuyện. Chúng ta nên đọc bài Tin Mừng thánh Gioan hôm nay, chương 9 và tốt nhất là đọc cả đoạn này nhiều lần. Phép lạ Chúa Giêsu làm không phải để biểu dương một việc kỳ lạ, nhưng là để dẫn đến một niềm tin qua một hành trình biến đổi nội tâm.

Những nhà thông luật –lúc đó có cả một đám- thì ngoan cố, không công nhận phép lạ Chúa làm, đưa ra những nghi vấn xảo quyệt về người bệnh được chữa lành. Nhưng Chúa đã phản biện lại họ bằng những thực tế hiển nhiên: “Điều duy nhất tôi biết là tôi đã mù mà nay tôi nhìn thấy được”(c.25). Giữa lòng thiếu tự tin, tính thù hận của những kẻ ở chung quanh Chúa lúc đó và những thắc mắc nghi ngờ của họ về anh ta, anh ta đã đi theo một lộ trình dẫn anh ta từ từ khám phá ra được căn tính của Chúa là người đã làm cho anh ta nhìn thấy và anh ta tuyên xưng niềm tin của mình nơi Chúa. Trước tiên anh ta coi Chúa như một nhà tiên tri (c.17), rồi là đấng đến từ Thiên Chúa (c.33); sau cùng anh ta công nhận Người là Đấng Thiên Sai và phủ phục quì lạy trước mặt Chúa (cc. 36-38). Anh ta đã hiểu rằng, nhờ làm cho anh ta nhìn được, Chúa Giêsu đã thể hiện việc Thiên Chúa làm nơi anh” (c.3).

Chớ gì chúng ta cũng có được cảm nghiệm như vậy! Với ánh sáng đức tin, kẻ mù có thể tìm ra được căn tính mới của mình. Anh ta không phải là một “tạo vật mới”, có thể nhìn thấy cuộc sống của mình và thế giới chung quanh dưới một ánh sáng mới, bởi vì anh ta đã hiệp thông với Chúa Kitô, đi vào một chiều kích khác. Anh ta không còn là một hành khất bị cộng đồng hất hủi đá ra lề đường; anh không còn là một tên nô lệ mù lòa và bị thiên kiến. Hành trình ánh sáng của anh ta bây giờ là một ẩn dụ về công cuộc giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi. Tội lỗi thì như bức màn đen bao phủ mặt mũi chúng ta, cản trở chúng ta không nhìn thấy rõ ràng thế giới và cả chính chúng ta. Sự tha thứ của Chúa đã lấy đi bức màn đen tối ấy và ban cho chúng ta ánh sáng mới. Chớ gì mùa Chay là cơ hội tốt và thời gian quí hóa để chúng ta đến gần Chúa, xin Người tình thương xót với sự phù giúp của Mẹ Giáo Hội.

Người mù được khỏi, - bây giờ nhìn được bằng con mắt thể xác và con mắt linh hồn- chính là hình ảnh của mỗi người chúng ta sau khi chịu phép thanh tẩy, được tràn đầy ân sủng, được đem ra khỏi bóng tối, đặt vào ánh sáng của niềm tin. Tuy nhiên, chỉ nhận ánh sáng thôi vẫn chưa đủ, con người vẫn cần phải trở nên ánh sáng. Mỗi người chúng ta đều được kêu gọi để nhận ánh sáng Thiên Chúa và đem phân phát, tỏ lộ cho mọi người trong suốt cuộc đời chúng ta. Những Kitô hữu đầu tiên, những nhà thần học ở thế kỷ I đã nói là cộng đồng người Kitô hữu, chính là Giáo Hội, là “mầu nhiệm của mặt trăng” bởi vì nó cho ánh sáng nhưng không phải là ánh sáng của nó mà là ánh sáng nó nhận từ Chúa Kitô. Chúng ta cũng phải là “mầu nhiệm của mặt trăng”: phân phát ánh sáng mà chúng ta đã nhận từ mặt trời, là Chúa Kitô.

Thánh Phaolô ngày hôm nay đã nhắc nhở chúng ta về việc này: “Vì vậy, đi đứng thì anh em cũng phải nên như con trẻ của ánh sáng (vì hoa trái thì mang lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5:8-9). Hạt giống của đời sống mới đã được trồng trong chúng ta khi chịu phép thanh tẩy, nó giống như một tia lửa trước hết là làm cho chúng ta trở nên tinh tuyền, bằng cách thiêu hủy mọi tội lỗi chúng ta có trong tâm, và giúp chúng ta chiếu sáng và lan tỏa cùng với ánh sáng của Chúa Giêsu.

Chớ gì Mẹ Maria Cực Thánh giúp chúng ta noi gương người mù trong Tin Mừng để chúng ta có thể tràn ngập trong ánh sáng Chúa Kito và bước đi với Người trên đường cứu chuộc.

Sau khi đọc kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến,

Trong những ngày đầy thử thách này, lúc mà nhân loại đang rúng động vì đại dịch COVID-19, tôi đề nghị tất cả mọi Kitô Hữu hãy hợp nhất tiếng nói dâng lên Thiên Quốc. Tôi mời gọi tất cả các thủ lãnh các Giáo Hội và những nhà lãnh đạo của tất cả các cộng đồng Kitô Giáo hãy cùng với tất cả các Kitô Hữu của mọi niềm tin khác nhau cầu khẩn Thiên Chúa tối cao đầy quyền năng, đọc lời nguyện mà Đức Giêsu Chúa chúng ta đã dạy chúng ta.

Do đó tôi mời gọi tất cả cùng làm như vậy nhiều lần trong một ngày, và cùng đọc với nhau Kinh Lạy Cha vào thứ tư sắp tới, ngày 25-3-20 vào giữa trưa. Vào ngày mà nhiều Kitô hữu gọi là Lễ Truyền tin cho Đức Trinh nữ Maria nhập thể Ngôi Lời, để xin Chúa nghe lời nguyện hợp nhất của tất cả các môn đệ của người đang chuẩn bị mừng Chúa Kitô khải hoàn Phục Sinh.

Với cùng ý nguyện đó, vào thứ sáu tới, 27 tháng 3 hồi 6:00PM, tôi sẽ chủ tọa buổi cầu nguyện tại sân nhà thờ Basilica thánh Phêrô, quảng trường trống vắng. Từ đây trở đi tôi mời gọi tất cả mọi người cùng thông công tham dự cách thiêng liêng. Chúng ta sẽ lắng nghe Lời Chúa, sẽ cất cao lời cầu, sẽ chầu Mình Thánh Chúa, và cuối cùng tôi sẽ ban phép lành Urbi et Orbi với ơn toàn xá cho những ai có đủ điều kiện.

Chúng ta muốn đáp ứng cơn đại dịch coronavirus một cách toàn diện bằng lời nguyện, lòng trắc ẩn cảm thương và cử chỉ dịu hiền. Chúng ta hãy đoàn kết lại, hãy sát cánh cùng nhau với những người cô đơn và trong cơn thử thách. Sát cánh với các bác sĩ, các nhân viên y tế, các y tá nam nữ, những người thiện nguyện… Chúng ta sát cánh với những chính quyền đang phải đương đầu với những nhiệm vụ khó khăn vì thiện ích của chúng ta. Sát cánh với cảnh sát, quân nhân đang gìn giữ trật tự trên đường phố, để mọi yêu cầu của chính phủ đươc thi hành nghiêm minh vì thiện ích của tất cả chúng ta. Sát cánh với tất cả mọi người.

Tôi muốn bày tỏ sự gần gũi với dân chúng Croatia bị ảnh hương do tai nạn động đất. Chớ gì Thiên Chúa ban cho họ sức mạnh và đoàn kết để đương dầu với tai ương này. Và đừng quên mở Tin Mừng Gioan ra và thầm lặng đọc chậm chạp chương 9. Tôi cũng sẽ làm như vậy, và nó sẽ giúp chúng ta  mọi thiện ích.

Tôi cầu chúc tất cả anh chị em một Chúa nhật tốt lành. Cũng đừng quên cầu nguyện cho tôi. 

Chúc bữa ăn trưa ngon lành. Chào tạm biệt.

+ PHANXICÔ

Vatican, March 22, 2020 - 15:02

Biên dịch: Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Theo Zenit, bản Anh ngữ của Virginia M. Forrester, bản gốc tiếng Ý.  mục lục.

Nguồn: https://zenit.org/articles/angelus-address-on-the-fourth-sunday-of-lent-the-theme-of-the-liturgy-is-light-full-text/

“NGUỒN SÁNG THẬT”

+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

Tin Mừng các Chúa nhật Mùa Chay, chu kỳ phụng vụ năm A đều có chung một chủ đề là hướng các tín hữu đến bí tích Thanh tẩy, đồng thời diễn tả tiến trình đến với Chúa của các dự tòng. Vì thế, mỗi Chúa nhật đề cập tới một khía cạnh của bí tích này, cũng là mỗi khía cạnh thực tế và quan trọng của đời sống Kitô hữu.

Thánh sử Gioan kể lại phép lạ Chúa chữa người mù bẩm sinh được sáng mắt. Phép lạ này được thực hiện trong bối cảnh khá căng thẳng giữa Chúa Giêsu và người Do Thái. Những người này phản ứng dữ dội trước lời giảng của Chúa Giêsu. Trước đó, ở chương 8, Chúa Giêsu tuyên bố “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12). Lúc này, với người mù bẩm sinh cũng như với dân chúng, là lúc Chúa Giêsu chứng minh điều Người đã nói. 

Với lối hành văn rất tài tình và tinh tế, tác giả Tin Mừng đặt ra sự so sánh giữa mù lòa thể lý với mù lòa tinh thần. Những biệt phái và luật sĩ khước từ giáo huấn của Chúa. Họ giống như những người mù không thể chữa trị. Đó là bệnh mù lòa thiêng liêng. Thành kiến, hận thù nhốt chặt họ trong một quan niệm khắt khe, nên họ không thể nhận ra nơi vị Ngôn sứ thành Nagiarét lời loan báo tình thương. Họ cũng không muốn cho người khác được những điều tốt lành may mắn trong cuộc sống. Sự khắt khe máy móc của họ đếc mức khôi hài khiến độc giả bật cười ở chỗ người mù đã được sáng mắt quả quyết mình là người trước đây đã mù mà cũng không được. Thế mới thấy những ảnh hưởng và hậu quả tai hại từ những thành kiến trong cuộc sống của chúng ta. Những thành kiến này đôi khi dìm sâu con người, không cho họ cơ hội làm lại cuộc đời để sống như một con người bình thường. Những người Do Thái kỳ thị không muốn thấy anh mù được chữa khỏi. Họ không muốn nhận ra anh, điều đó có nghĩa là họ muốn cho anh mãi mãi là anh mù.

Nếu những người có hai con mắt tinh tường và lại còn học rộng tài cao hay ưa lý luận hạch sách, nay dưới ngòi bút của Thánh Sử, bị coi như những người mù, thì trái lại, người mù bẩm sinh từ trước tới nay không trông thấy gì xem ra lại rất sáng suốt và tinh tường. Những câu lý luận của  người trước đây đã mù, xem ra “ngớ ngẩn” mà lại rất có lý, làm đối phương phải cụt hứng: "Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy". Qua trình thuật của Thánh sử Gioan, quan niệm “mù-sáng” đưa chúng ta tới một lối giải thích mới: người sáng là người biết nhận ra những điều kỳ diệu xung quanh mình do Chúa thực hiện, và biết đón nhận nó với trái tim chân thành. Người mù là người mặc dù có đôi mắt sáng, nhưng cố chấp trong những thành kiến khắt khe và trái tim vô cảm.  

Người mù bẩm sinh được chữa lành đã can đảm nhận ra Đấng đã làm ơn cho mình và tuyên xưng Đức tin vào Đấng ấy, xem ra anh phải cô độc và chơi vơi trong cuộc chiến để xác định niềm tin, vì chính cha mẹ ruột của anh cũng tránh né trước lời hạch sách của những người đang hùng hổ gây chuyện. Chính vào lúc anh bị những người tự coi là “sáng” đuổi ra ngoài, thì Chúa Giêsu đến gặp anh và Người tỏ cho anh biết Người là ai. Những cố gắng hy sinh của Mùa Chay, nếu được thực hiện cách nghiêm túc như Giáo Hội mong muốn, sẽ giúp cho chúng ta gặp Chúa. Ngài vẫn ở đó, khi con người sẵn sàng can đảm buông hết mọi ràng buộc níu kéo, thì sẽ được gặp Chúa.

Cái nhìn của Đức tin sẽ giúp ta nhận ra những gì là chân thực. Việc ông Samuen chọn người làm vua kế vị Saun đã chứng minh điều đó. Con người thì nhìn xem bề ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn. Nhìn bề ngoài, Đavít không có tướng mạo làm vua, nhưng Chúa đã chọn ông vì Chúa thấy nơi ông một người có tâm hồn quảng đại. Trong khi đó, những người anh em khác của Đavít xem ra đầy đủ điều kiện theo cái nhìn loài người, thì lại không được chọn. Thiên Chúa luôn luôn có cách nhìn của Ngài. Cách nhìn ấy không giống cách nhìn của chúng ta.

Bí tích Thanh Tẩy cho chúng ta được trở thành con cái ánh sáng. Mùa Chay là thời điểm tái khám phá ra ánh sáng thiêng liêng ấy. Những bon chen bận rộn của cuộc sống hằng ngày có nguy cơ làm cho chúng ta bị chìm vào bóng tối thế gian. Đức Giêsu đã đến để kéo chúng ta ra khỏi bóng đêm của tội lỗi để đưa đến ánh sáng kỳ diệu của ân sủng. 

Tuy thế, chỉ nguyên tước hiệu người được thanh tẩy không đủ cho chúng ta có con mắt sáng. Đó còn là những nỗ lực cố gắng dần dần trong suốt cuộc đời. Bởi lẽ cuộc sống trần gian là cuộc giành giật không ngừng giữa bóng đêm và ánh sáng. Có những lúc bóng đêm lại được tô vẽ bằng những ngôn từ mỹ miều choáng ngợp dễ làm cho người ta bị lừa. Vì thế, Thánh Phaolô khuyên chúng ta:  “Anh em hãy ăn ở như con của sự sáng, bởi vì hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật” (Bài đọc II).

Lạy Chúa Giêsu là “Ánh sáng bởi Ánh sáng”, xin chiếu soi tâm hồn con. Amen. mục lục.

ÁNH SÁNG ĐỨC TIN

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trong những ngày này, cả thế giới đang lao đao vì những con virus Corona bé xíu. Số nạn nhân tăng luỹ tiến từng ngày khiến tất cả thế giới ít nhiều đều cảm thấy sợ hãi. Mọi lĩnh vực trong cuộc sống đều bị con virus nhỏ nhoi này làm tổn hại, đến độ có thể phá sản. Ngay cả lĩnh vực tôn giáo cũng không ngoại lệ. Các nhà thờ phải đóng cửa… Không một người vô tư nào có thể không cảnh giác và không thực hiện những biện pháp phòng ngừa để bảo vệ mình và người thân trước nguy cơ bị lây nhiễm.Từ cái ngày mà Covid-19 đi vào đời sống của con người cho tới nay, không biết rõ bao nhiêu người đã tử vong vì nó, bao nhiêu người đã chết ở các bệnh viện, và bao nhiêu người đã qua đời ở bên ngoài kia. Những điều tra và nghi vấn có thể sẽ chấm dứt khi thời gian trôi đi, và sẽ mãi là bí ẩn không lời giải?

1. Dịch virus Covid-19 có phải là dấu chỉ thời đại?

Nếu đọc qua những lá thư của Giáo Hội liên quan đến lần đại dịch này, chúng ta dễ dàng nghe được những lời mời gọi nguyện cầu và trở về với Thiên Chúa. Nhất là mùa dịch đang diễn ra trong Mùa Chay, lời gọi ấy lại càng thống thiết hơn. Hẳn nhiên, đó luôn là sứ mạng của Giáo Hội, để giúp con người trung tín vào Thiên Chúa. Trong cảnh dịch lan tràn như hiện nay, Giáo Hội càng nhìn thấy nơi đó một dấu chỉ lớn lao. Vì trong đau khổ và nghịch cảnh, một mặt người tín hữu dễ phớt lờ tiếng nói của Thiên Chúa trong biến cố này; mặt khác, Giáo Hội luôn giúp con người trở về với Thiên Chúa. Hoặc nói như Clive Staples Lewis: “Thiên Chúa thì thầm trong những lúc ta vui, Người thì thầm trong lương tâm ta. Nhưng Người nói lớn mạnh trong những đau khổ của ta. Những đau khổ đó là cái loa tăng âm để làm thức tỉnh một thế giới ngủ mê.” (x. Youcat số 51).

Chắc chắn virus Corona đang ảnh hưởng không chỉ đến tính mạng nhiều người, nó còn tác động đến hầu hết khía cạnh của đời sống. Có người ví đó như cuộc chiến tranh mà toàn thế giới phải chống chọi. Mỗi tín hữu cũng không miễn nhiễm với con virus này. Cứ nhìn thành đô Rôma tráng lệ, đông đúc người hành hương, thì trước virus Corona, mọi chương trình, thánh lễ công cộng đều tạm ngưng. Điều ấy có nghĩa là người ta đang có biện pháp cực mạnh để hy vọng ngăn ngừa được sức công phá của virus.

Trong bầu không khí ấy, dĩ nhiên, Giáo Hội thấy được nỗi đau đớn, hoảng sợ của người dân. Giáo Hội thấy nơi đó một lời mời gọi để con người cần hoán cải, sám hối và ăn năn nhiều hơn. Giáo Hội đang tiếp tục lắng nghe tiếng Chúa trong những biến cố của thế giới, nhất là lần đại dịch này. Phải chăng Thiên Chúa muốn nhắc cho con người về thân phận mỏng dòn, mong manh và phải chết ? Phải chăng con người toàn năng có thể làm được mọi thứ, có thể tiêu diệt được địch thù đang tấn công nhân loại ? Phải chăng virus Covid-19 là hệ quả của những lầm lạc và kiêu ngạo của con người ? Hình như con người chia phe nhóm đấu đá, đến nỗi hậu quả là chết chóc tang thương ? Hoặc là, virus này khiến thế giới bừng tỉnh về một viễn tượng thiên đường do chính con người có thể tạo nên bằng quyền lực, tranh giành và cố chấp ? v.v.

Danh sách câu hỏi trên đây có thể dài vô tận mà mỗi người có thể đặt ra trước con virus này. Đừng quên, Giáo Hội luôn nhớ sứ mạng của mình là chăm chú tìm kiếm, lắng nghe, khám phá tiếng nói, cũng như hoạt động của Thiên Chúa trong dòng lịch sử qua những dấu chỉ thời đại. Sẽ không thừa khi Giáo Hội thống thiết nhắc con cái mình về một dấu chỉ đang diễn ra trước mắt chúng ta. Đó là thời cơ để con người khiêm tốn hơn, nhìn nhận thân phận và vị trí của mình trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa (x. Dịch virus Covid-19 có phải là dấu chỉ thời đại? Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J; dongten.net).

Giờ đây, bất lực trước Corona, người ta mới thấy chốn nương tựa duy nhất của mình chỉ có thể là Thiên Chúa. Tất cả mọi tín đồ đều ngước nhìn về Thần Linh của mình, xin ơn khoẻ mạnh, bình an, xin cho các nhà khoa học sớm tìm ra thuốc chữa trị.

2. Hậu quả do tội của anh ta hay cha mẹ anh ta?

Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, các môn đệ có cuộc tranh luận với Đức Giêsu: Lý do nào dẫn đến nỗi đau của anh mù? Đó là hậu quả do tội của anh ta hay cha mẹ anh ta?

Đức Giêsu bác bỏ quan niệm của những người đương thời và cũng có thể là của một số trong chúng ta: anh ta không phải bị phạt vì đã phạm tội. Đức Giêsu không đưa ra một lời giải thích cho tất cả sự ác trên thế giới. Thay vào đó, Người lại nhắm đến những nhu cầu của người thanh niên đang đứng trước mặt mình. Việc anh mù được chữa lành biểu lộ sự hiện diện năng động của Thiên Chúa trong thế giới này. “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”.

Cha mẹ anh ta và cả những người láng giềng cùng những người Pharisêu đều đã không “nhận ra” công trình của Thiên Chúa được bày tỏ qua việc anh được chữa lành. Họ không trông thấy những điều Thiên Chúa đã thực hiện. Và anh mù cũng không hiểu ngay được rằng điều gì đã xảy ra cho mình. Anh dần biết rõ về Đức Giêsu sau khi bị các nhà cầm quyền liên tục chất vấn, và sau đó cuộc trò chuyện với Đức Giêsu đã cho anh được “sáng mắt”.

Đức Giêsu đã trông thấy và dừng lại trước “người mù từ thuở mới sinh”. Người không những chữa lành cho anh, mà sau đó còn đi tìm kiếm anh, trò chuyện với anh và đưa anh tới đức tin. Khi chữa cho anh mù được sáng mắt, Đức Giêsu đã cho anh bước những bước thật dài trên hành trình đức tin. Nhờ vậy, từ sự yếu kém ở chỗ chỉ coi Đức Giêsu như một con người bình thường, trải qua bao khó khăn thử thách, đức tin của anh đã tiến triển không ngừng và đạt đến mức thập toàn khi xác tín rằng Đức Giêsu là vị ngôn sứ, là người bởi Thiên Chúa mà đến, và là Con Người.

3. Ánh Sáng Đức Tin.

Trong thông điệp “Ánh Sáng Đức Tin”, Đức Giáo hoàng Phanxicô ban hành ngày 29.6.2013, có đoạn: “Đức tin như một thính giác và thị giác” gồm ba số 29, 30, 31. Đức tin là một hồng ân siêu nhiên Chúa ban cho con người. Đức tin trở thành ánh sáng hướng dẫn suốt hành trình cuộc đời mỗi người. Người “mù từ thưở mới sinh” đã nghe thấy, rồi cảm thấy Đức Giêsu và đã được Chúa mở mắt để anh ta nhìn thấy và tin vào Người.

“Thầy là Ánh Sáng trần gian. Ai theo Thầy sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có Ánh Sáng dẫn đến cõi trường sinh” (Ga 8,12). Đức Giêsu là ánh sáng, Người thi hành sứ vụ trong thế gian bằng lời nói và việc làm của mình. Người mời gọi thính giả và độc giả “làm sự thật” và “đến với ánh sáng”, “đi theo” Người để “không bước đi trong bóng tối” và “có ánh sáng của sự sống”. Đức Giêsu đề nghị với đám đông bước đi trong ánh sáng khi ánh sáng còn ở giữa họ. Người mời gọi họ “tin vào ánh sáng” để “trở nên con cái ánh sáng”. Như thế, người tin vào Đức Giêsu thì không ở lại trong bóng tối. Đức Giêsu nói đến những ai “thấy ánh sáng của thế gian này” thì không vấp ngã, còn những ai “ánh sáng không ở trong người ấy” thì vấp ngã (Ga 11,9-10). Nghĩa là “thấy Đức Giêsu” và “có Đức Giêsu ở với mình” thì sẽ vững vàng tiến bước trong ánh sáng của sự sống.

Hãy luôn cảm tạ Chúa vì Ngài đã ban cho chúng ta đôi mắt sáng suốt của đức tin, nhờ đó chúng ta biết được ý nghĩa của cuộc đời, thấy được con đường phải đi và những việc phải làm để đạt đến hạnh phúc thật.

Đôi mắt là tuyệt tác của thiên nhiên, là cửa ngỏ tâm hồn. Đôi mắt có thị giác và thị lực. Thị giác là khả năng của đôi mắt có thể thấy. Thị lực là mức độ thấy của khả năng ấy. Thấy nhiều hay ít. Thấy xa hay gần. Thấy rõ hay mờ. Người cận thị chỉ thấy được rất gần. Người viễn thị thì thấy xa hơn. Cần có thị giác tốt và thị lực tốt, đôi mắt mới sáng ngời. Thị lực còn là của trí óc và của con tim. Có người chỉ thấy được cái thế giới chật hẹp và ích kỷ của bản thân mình; có người thấy được hoàn cảnh, tâm tư và nguyện vọng của người khác. Thị lực còn là niềm tin.

Người mù tuy mù nhưng lại có thị lực tốt. Anh đã thấy được Ðức Giêsu là một ngôn sứ. Anh thấy nhiều cái mà những người sáng mắt không thấy. Anh thấy quyền năng và tình thương của Chúa có thể cho anh được sáng mắt. Anh thấy bằng lòng tin. Chính vì lòng tin này mà Chúa Giêsu đã thương cứu chữa cho anh sáng mắt. Anh mù, mắt không thấy Chúa, nhưng lòng đã thấy Chúa rồi vì anh có lòng tin. Thị lực lòng tin cho anh tiếp nhận ánh sáng tình yêu đầy tràn hy vọng. Ðức Giêsu đem lại ánh sáng cho người mù, còn những kẻ vốn nhìn thấy lại trở nên đui mù. Trước sự chống đối của người Pharisêu, Đức Giêsu trả lời: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn”.

Cầu nguyện

“Lạy Chúa là ánh sáng muôn đời… xin rộng ban ân sủng làm cho tâm hồn chúng con được bừng sáng huy hoàng, để chúng con hằng biết suy tưởng những điều đẹp lòng Chúa, và chân thành yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn” (lời nguyện nhập lễ).

Lạy Chúa, xin ban thêm ánh sáng đức tin cho chúng con: “Để trong hoàn cảnh thuận lợi hoặc khó khăn, khỏe mạnh hay dịch bệnh, Giáo Hội, Thiên Chúa vẫn luôn mời gọi mỗi người chúng con nhạy bén nhận ra dấu chỉ thời đại. Nó đang diễn ra trước mắt chúng con. Ước gì mỗi người chúng con luôn lắng nghe được tiếng nói của Chúa Thánh Thần đang lớn tiếng trong cơn dịch này”.

Lạy Chúa, xin ban thêm ánh sáng đức tin cho chúng con; dể con nhận ra Chúa nơi anh em với những cái hay cái tốt ; để con nhận ra Chúa nơi các kỳ công kiệt tác thiên nhiên, để con biết nhận ra Chúa nơi các vị Đại Diện Chúa.

Và lạy Chúa, xin cho con được thấy bản thân với những yếu đuối và khuyết điểm, biết nhận ra thân phận thụ tạo lệ thuộc Đấng Tạo Hóa; từ đó con biết được ơn phúc là do lòng Chúa yêu thương ban tặng, để con luôn biết dâng lời cảm tạ, tôn thờ, phụng sự và kính mến Chúa với cả tâm tình con thảo. Amen. mục lục.

KHÔNG XEM THẤY MÀ THẤY – XEM THẤY LẠI NÊN ĐUI MÙ

JM. Lam Thy ĐVD

Ở đời người ta thường nói: “Giầu hai con mắt, khó hai bàn tay”. Điều đó chứng tỏ khi diễn tả như vậy, người ta muốn cho mọi người thấy đôi mắt quý giá như thế nào và hai bàn tay cũng quan trọng không kém. Tin Mừng theo thánh sử Gio-an hôm nay cho thấy anh mù bẩm sinh vừa bị mù thể lý, vừa bị mù cả tâm linh. Anh mù này không thể thấy vũ trụ, vạn vật, thế giới, cũng không thấy được con người. Đây là sự thiệt thòi và đau khổ nhất cho anh. Tuy nhiên, sau cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su, cuộc gặp gỡ quý giá, anh mù đã được Chúa làm cho sáng mắt: cả đôi mắt thể lý và đôi mắt tâm linh.

Bài Tin Mừng hôm nay (CN IV/MC-A – Ga 9, 1-41) trình thuật về phép lạ Đức Ki-tô chữa cho một người mù bẩm sinh. Nội dung phép lạ lần này được thánh Gio-an tường thuật rất tỉ mỉ. Ngoài anh mù thể hiện lòng tin vào Người đã chữa lành cho mình, còn một số đông người Pha-ri-sêu không tin nên cứ tra vấn, vặn hỏi bệnh nhân (kể cả cha mẹ anh ta nữa) đủ điều, và cuối cùng trục xuất anh ra khỏi hội đường. Nghe tin ấy, Đức Giê-su gặp lại anh mù, hỏi: "Anh có tin vào Con Người không?" Anh đáp: "Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?" Đức Giê-su trả lời: "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây." Anh nói: "Thưa Ngài, tôi tin." Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.” (Ga 9, 35-38). 

Đám người Pha-ri-sêu khi nghe Đức Ki-tô khẳng định: "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!" (Ga 9, 39), liền ngớ người ra và hỏi lại: "Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?", khiến “Đức Giê-su bảo họ: "Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: "Chúng tôi thấy", nên tội các ông vẫn còn!" – Ga 9, 41). Như thế thì cũng chẳng khác nào nói: Anh mù vì tin mà được sáng mắt, nhưng nhóm người Pha-ri-sêu mắt vẫn sáng, nhưng không tin, nên cũng chẳng khác kẻ đui mù. “Thấy mà không thấy – không thấy mà thấy”, đó là một nghịch lý trong cuộc sống. Tuy rằng nghịch lý, nhưng lại là “chuyện thường ngày ở huyện”.

Thật thế, trên đời này không thiếu những người mù quáng tin vào một điều gì đó thì lại cứ cho những người không tin như mình là kẻ “đui mù”. Điển hình như trường hợp Sao-lô với biến cố Đa-mát: Khi còn sáng mắt nhưng vì nhiễm phải giáo lý sai lầm Pha-ri-sêu nên Sao-lô cũng chẳng khác chi người mù. Đến khi bị ánh sáng chói loà làm mù mắt (thể lý) ở Đa-mát thì lại là lúc được sáng mắt sáng lòng và trở thành một Tông đồ dân ngoại kiệt xuất Phao-lô. Mù mà sáng, sáng mà mù là thế đó! Nói cách cụ thể thì tuy anh mù bị mất ánh sáng thể lý nên không nhìn thấy bằng thị giác, nhưng “con mắt tâm linh” của anh lại nhìn thấy rất rõ Người Thầy Thuốc thần kỳ đã chữa lành bệnh cho mình. Còn đám người sáng mắt với một thị lực rất tốt, nhưng lại không tin vào những gì mình đã được mắt thấy tai nghe, nên chẳng khác chi kẻ đui mù. Vấn đề đặt ra là: Anh sáng mắt nhưng tâm hồn anh có sáng suốt hay không? 

Kể ra cũng thú vị, những người sáng mắt lúc nào cũng huênh hoang: "… chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến." (Ga 9, 28-29), đã khiến cho người mù cũng phải ngạc nhiên: "Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì." (Ga 9, 30-33). Thật là một bài giảng thuyết phục căn cứ trên hiện thực hơn là những lý luận sâu xa.

Những người từng đứng trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy, thì lại không biết một tí gì về Con Người đã được ông Mô-sê (nhờ được Thiên Chúa mạc khải) tiên báo. Trong khi đó, một anh mù từ lúc mới sinh (chắc chắn không được học hành và giả thử có được học thì cũng chẳng tới đâu) lại biết về Thiên Chúa còn hơn cả đám người sáng mắt, làm họ phát khùng ("Họ đối lại: "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?" – Ga 9, 34). Chẳng cần lý luận đanh thép, lý thuyết sâu xa, mà chỉ căn cứ vào thực tế (anh được chữa khỏi bệnh mù), mà anh mù đã khiến đám Pha-ri-sêu lâm vào thế… bí, và đành giở chiêu quyền lực: trục xuất anh khỏi hội đường! Thế đấy! Như vậy thì ai sáng, ai mù thực sự đây?

Chung quy thì cũng chỉ vì vấn đề cốt tuỷ: đức tin. Anh mù được chữa lành bởi anh tin vào Con Người; mà cũng không phải chỉ riêng anh, tất cả những người bệnh hoạn, tật nguyền đến với Đức Ki-tô đều được chữa lành vì “Đức tin của anh em đã chữa lành anh em”.Còn đám người Pha-ri-sêu thì mù vẫn hoàn mù, bởi họ không tin vào Con Nguời, mà chỉ tin vào những giáo lý sai lầm như Sao-lô trước khi biến cố Đa-mát xảy ra. Chính vì thế, nên mới thành chuyện: “Chúa nhật người mù bẩm sinh trình bày Chúa Ki-tô như ánh sáng thế gian. Phúc Âm gọi hỏi mỗi người chúng ta: “Phần anh, anh có tin nơi Con Người không?”, “Lạy Chúa, con tin!” (Ga 9, 35.38), người mù bẩm sinh vui mừng quả quyết như thế, anh nói nhân danh mọi tín hữu. Phép lạ chữa lành người mù là dấu hiệu chứng tỏ rằng, cùng với thị giác, Chúa Ki-tô cũng muốn mở cái nhìn nội tâm chúng ta, để đức tin của chúng ta ngày càng sâu xa hơn và chúng ta có thể nhận thấy nơi Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta. Chúa soi sáng mọi tối tăm trong cuộc sống và làm cho con người sống ”như người con của ánh sáng”. (Sứ điệp Mùa Chay 2018). 

Nói đi nói lại không gì bằng mượn chính ngay lời người mắc bệnh mù nội tâm và được chữa lành, để minh hoạ: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra; mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng: Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi!” (Ep 5, 8-14). 

Ôi! “Lạy Chúa là ánh sáng muôn đời chiếu soi mọi người sinh ra trong trần thế, xin rộng ban ân sủng làm cho tâm hồn chúng con được bừng sáng huy hoàng, để chúng con hằng biết suy tưởng những điều đẹp lòng Chúa, và chân thành yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện hiệp lễ CN. IV/MC-A). mục lục.

MỪNG VUI LÊN HỠI KHẮP MIỀN DƯƠNG THẾ

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Bước vào Chúa nhật  IV Mùa Chay (Lætare), Phụng Vụ của Giáo hội đang từ màu tím chuyển sang màu hồng, màu của bình minh, đánh dấu nửa chặng đường sám hối, nay Giáo hội tạm dừng để chuẩn bị tốt hơn niềm vui Phục Sinh, nghỉ để nhìn lại những gì ta đã làm trong ba tuần đầu của Mùa Chay, lấy thêm can đảm bước tiếp những chặng đường tới. 

"Mừng vui lên, Giê-ru-sa-lem ! Tề tựu cả về đây, hỡi những ai hằng mến yêu Thành ! Các bạn đang sầu khổ, nào hớn hở vui mừng và hân hoan tận hưởng, nguồn an ủi chứa chan." (Ca nhập lễ)  Hay lời của Thánh vịnh gia : "Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi : Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa. Vui lên nào...". Những lời trên diễn tả niềm vui ngập tràn và thiêng thánh. Giáo hội chúc mừng con cái mình đã hăng hái đi được nửa hành trình của Mùa Chay Thánh. Làm sao không thể không vui không mừng được. Mừng vui lên, hỡi những người trước kia ở trong sầu khổ, " Cùng Giê-ru-sa-lem khấp khởi mừng… được Thành Ðô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang…đón nhận dồi dào ơn an ủi …" (Is 66,10-11). 

Vậy đâu là lý do sâu xa để vui mừng?

Lý do ấy là: " Nhờ mầu nhiệm nhập thể, Người dẫn đưa nhân loại đang lần bước trong u tối đến nguồn ánh sáng đức tin. Nhờ phép rửa mang lại đời sống mới, Người giải thoát những kẻ sinh ra đã mắc tội truyền, và nâng lên hàng nghĩa tử của Chúa… " (Kinh Tiền Tụng Chúa nhật IV Mùa Chay năm A). 

Đoạn Tin Mừng thánh Gioan ghi lại hôm nay cho chúng ta câu trả lời cụ thể khi Chúa Giêsu chữa lành một người mù từ khi mới sinh. Câu Chúa Giêsu hỏi người mù là đỉnh cao của trình thuật : "Ngươi có tin nơi Con Thiên Chúa không?" (Ga 9,35) Như một "người" giữa bao nhiêu người khác, anh mù này mới gặp Chúa Giêsu, khác mọi người là anh coi Chúa Giêsu là "một ngôn sứ", sau cùng đôi mắt anh mở ra, từ ánh sáng của đôi mắt đến ánh sáng của đức tin, anh tuyên xưng Chúa Giêsu là "Chúa" và trả lời câu hỏi Người đặt ra cho anh : "Lạy Thầy, tôi tin!" (Ga 9,38). Như thế là đã rõ, Chúa Giêsu chữa người mù khỏi mù, anh thấy ánh sáng và anh tin vào Chúa Giêsu. Cũng như cả và nhân loại sau khi nguyên tổ phạm tội phải bước đi trong u tối, nay Chúa Giêsu đến, tự giới thiệu mình là Ánh Sáng thế gian dẫn đưa nhân loại khỏi bóng tối của tội lỗi, phục hồi phẩm giá địa vị làm con Thiên Chúa.

Chúa Giêsu là sự sáng thế gian

Người từ trời xuống thế, để cho phàm nhân được thấy Người và qua Người họ thấy Chúa Cha; chỉ có người mù mới không thể nhìn thấy Chúa. Người đã mở mắt người mù, để người mù thấy được Chúa Cha ở nơi Người. Người giới thiệu: "Ta là sự sáng thế gian" (Ga 9,5); "Là ánh sáng  thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người." (Ga 1,9) Người chữa lành sự mù quáng của con mắt đức tin nơi những người không thấy để mà tin. 

Ađam được Thiên Chúa sáng tạo với con mắt tinh tường, nhưng sau khi giao tiếp với con rắn xong, ông trở nên mù quáng (x. St 3, 1-7). Anh mù bẩm sinh vẫn ngồi… mà không xin bất kỳ một loại thuốc mỡ nào để chữa mắt mình ... anh chỉ hết mù khi anh tin (x. Ga 9,1-41). Chúa Giêsu, Vị thầy thuốc cao tay đã nhìn thấy những đau khổ của người mù ngồi đó và xin làm phúc, bằng quyền năng Thiên Chúa, Người đã làm phép lạ cho người mù được thấy.

Ađam được Thiên Chúa dựng tạo dựng bằng đất sét, bùn ướt : "Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người" ( St 2, 7), nay chất liệu ấy được Chúa Giêsu dùng để chữa lành đôi mắt. Người đã phục hồi thị giác cho người mù từ khi mới sinh bằng nước bọt nhổ ra trộn vào đất, anh người mù nói : " Người đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt " (Ga 9,1-11). Người là quả là Ánh Sáng chiếu sáng thế gian và cho con người được nhìn thấy ánh sáng.

Chúng ta là con cái ánh sáng

Từ ánh sáng đến đức tin hay từ đức tin đến ánh sáng tỏa sáng trên khuôn mặt của người mù giúp chúng ta hiểu rằng, ngày chúng ta chịu phép rửa tội, ánh sáng của Chúa Kitô cũng chiếu tỏa  trên chúng ta, chữa chúng ta khỏi sự mù quáng tội lỗi, làm cho chúng ta trở thành con cái ánh sáng. Đó là điều Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta : " Bây giờ anh em là ánh sáng trong Chúa" (Eph 5, 8). Thế nên, nhờ phép rửa trong Chúa Kitô, trước kia chúng ta là những người ở trong bóng tối, nay trở thành ánh sáng. Kể từ ngày hôm đó chúng ta là con người mới hoàn toàn.

Nhờ phép rửa tội, người kitô hữu trở thành " con của sự sáng " (Eph 5, 8) hay nói cách khác, trở thành " con cái Thiên Chúa " (1 Ga 3,1). Người con đích thực của Thiên Chúa là Chúa Kitô đã chiếu tỏa rạng ngời ánh sáng Chúa Cha, để bất cứ ai được tái sinh trong Người, có thể thông truyền ánh sáng đức tin ấy cho người khác, tức là sinh " hoa trái của sự sáng " (Eph 5, 9). Vì vậy, trong Mùa Chay này, chúng ta hãy để ánh sáng ấy chiếu tỏa trên chúng ta để qua chúng ta mọi người có thể tìm thấy Thiên Chúa là Ánh Sáng đích thực.

Chúa Giêsu là 'Ánh sáng thế gian' (Ga 8,12). Trong nghi thức Rửa tội, việc trao nến sáng và thắp sáng từ cây nến Phục Sinh tượng trưng Chúa Kitô Phục sinh, là dấu hiệu giúp chúng ta hiểu rõ những gì xảy ra trong Bí tích này. Khi chúng ta để cho mình được mầu nhiệm Chúa Kitô soi sáng, chúng ta sẽ cảm nghiệm niềm vui được giải thoát khỏi tất cả những gì đe dọa sự viên mãn của cuộc sống ấy. 

Lễ Phục Sinh đã gần kề, chúng ta hãy vui lên và khơi dậy nơi mình hồng ân đã lãnh nhận trong Bí tích Rửa tội, ngọn lửa ấy nhiều khi có nguy cơ bị dập tắt. Chúng ta hãy nuôi dưỡng ngọn lửa đó bằng kinh nguyện và lòng bác ái đối với tha nhân.

Xin Ðức Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo Hội, Mẹ của mỗi người chúng ta dẫn chúng ta đến gặp gỡ Chúa Kitô, là Ánh Sáng thật và là Ðấng Cứu Thế. Amen. mục lục.

HAI CÁCH NHÌN VÀ HAI LỐI SỐNG

Giuse Vinhsơn Ngọc Biển, SSP

Ở đời, khi nói về nỗi khổ thể lý của người bị mù lòa, người ta vẫn thường nói: “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”; còn đối với các nhà thi sĩ thì con mắt là một cái gì đó rất thơ mộng! Nó luôn gợi hứng cho những ai yêu mến thơ văn có thể nảy sinh sáng tác... Vì thế, có câu: “Mắt em là một dòng sông, thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em” (Lưu trọng Lư); hay đối với những nhà nhân tướng học thì: “Con mắt là phản ảnh của tâm hồn”; hoặc với các nhà khoa học thì: “Con mắt được coi như một chiếc máy chụp rất nhỏ nhưng rất tinh vi và phức tạp, chưa có một máy kỹ thuật số nào sánh kịp[...]. Con mắt thâu 80% số vốn kiến thức mà con người hấp thụ được...”.

Như vậy, con mắt quả là quan trọng, nên người ta rất sợ bị mù. Tuy nhiên, trong đời sống đức tin, cái mù lòa về mặt thể lý không đáng sợ cho bằng cái mù tâm linh.

Hôm nay, bài Tin Mừng cho chúng ta thấy Đức Giêsu đã làm phép lạ chữa người mù từ lúc mới sinh. Nhưng điều đặc biệt là nhờ con mắt đức tin của anh mù sáng, nên con mắt thể lý cũng nhờ đó mà được trông thấy. Ngược lại với nhiều người đương thời với anh. Tại sao vậy? Thưa, bởi vì có rất nhiều người hiện nay sáng mắt về thể lý, nhưng lại mù lòa về tâm hồn.

Qua câu chuyện Đức Giêsu chữa người mù từ lúc mới sinh, đã nảy sinh hai cách nhìn, hai lối hiểu khác nhau giữa Thiên Chúa, mà cụ thể là nơi Đức Giêsu và những người sống cùng thời với Ngài.

1. Hai cách nhìn và hai lối sống

Điều trước tiên, chúng ta cần nhận thấy là Thiên Chúa nhìn con người, sự vật hoàn toàn khác lối suy hiểu của con người. Nếu con người nhìn bề ngoài, thì Thiên Chúa nhìn thấu tận tâm can. Chuyện người phụ nữ bên bờ giếng Giacóp tuần trước là một chứng minh cụ thể! (x. Ga 4,5-42). Nếu các Pharisêu và phần đông người Dothái giữ luật chỉ vì giữ luật mà sẵn sàng trở nên vô cảm, dửng dưng trước nỗi khổ của anh em đồng loại, thì Đức Giêsu đã vượt lên trên luật để giải phóng con người, hầu đem lại cho con người được hạnh phúc, tự do đích thực, và dẫn đưa người ta vào trong đường lối nhân hậu, bao dung của Thiên Chúa. Vì thế: “... tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta”(Is 55, 8).

Trước mặt những người Pharisêu và người Dothái cũng như theo lỗi suy diễn của họ thì: Thiên Chúa, hay người của Thiên Chúa phải là Đấng tốt lành, thánh thiện, trung thành với Lề Luật và không bao giờ có thể gần gũi với những người tội lỗi... (x. Ga 9,16). Thật ra, nói như vậy thì không sai, nhưng chưa đủ, bởi vì nếu tách tình thương của Thiên Chúa ra khỏi xã hội, cuộc sống, cụ thể là những nơi, những người cần được cứu độ thì mâu thuẫn nội tại với Người, bởi vì: “Thiên Chúa là tình yêu”.

Tuy nhiên, thái độ của Đức Giêsu thì khác hẳn. Khi chữa cho anh mù được sáng đúng ngày cấm kị của người Dothái theo luật Môsê, Đức Giêsu đã khẳng định về sứ vụ Thiên Sai của mình, Ngài nói: “Chúng ta phải làm những việc của Ðấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu, Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian" (Ga 9,4-5). Và, Ngài cũng ngầm cho mọi người biết rằng Ngài đến từ Thiên Chúa, nên làm chủ luôn ngày Sabát và mặc cho nó một ý nghĩa đúng đắn khi nói: "Ngày sabát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sabát. Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày sabát" (Mc 2,27-28). Vì thế, nếu đã là phương tiện, thì nó chỉ đóng vai trò là phục vụ, nên không thể không cứu người, hoặc làm việc tốt chỉ vì vụ luật.

2. Sống sứ điệp Lời Chúa

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay như ngọn đèn soi rọi vào tận tâm hồn chúng ta để lộ ra sự ích kỷ, nghi kỵ và kiêu ngạo. Điều này được thể hiện rõ khi chúng ta không thể bỏ qua những sai sót cho anh chị em chúng ta, dẫu vẫn biết rằng, nhiều khi chính chúng ta tội lỗi hơn họ, nhưng chỉ vì chúng ta khôn khéo, lèo lái cách tinh vi mà người đời không biết, nên chúng ta vẫn “bình chân như vại” mà sẵn sàng lên án người khác. Vì thế, vẫn còn đó những chuyện đau lòng như:

Nếu ai đó một thời vướng vào cái tội gọi là “đầu trộm đuôi cướp” thì cả đời không thể thoát ra khỏi những ánh mắt coi thường, khinh khi, dẫu giờ này con người đó tốt lành, hoàn lương! Hay một cô gái nào đó chỉ vì trót dại, và cũng có thể vì hoàn cảnh bị ép buộc phải làm gái điếm... thì mặc cho cô ta đã hối hận, quay đầu trở về và hướng thiện, thì cũng không bao giờ tránh được sự dè bửu, chê bai và cả đời không bao giờ rửa hết nỗi nhục bán thân. Hoặc như một bạn trẻ nào đó, thời thanh niên, vì thiếu suy nghĩ, ham chơi, nên sa ngã vào con đường nghiện ngập, hút trích... những người này, dưới con mắt của chúng ta, họ là đồ bỏ, mà ngay cả những người có lòng giúp đỡ họ cũng bị khinh thường theo!

Chỉ đưa ra chừng ấy thôi thì cũng đủ cho chúng ta thấy là đã biết bao lần ta bỏ lỡ cơ hội như Chúa, đã bao lần ta đánh mất vai trò đồng hành, nâng đỡ và tỏa gương sáng cho anh chị em chúng ta để dìu họ bước lên. Không những thế, nhiều khi chúng ta lại cho rằng nếu tạo điều kiện thuận lợi cho họ, thì chẳng khác gì “vẽ đường cho voi chạy”; hay như một cơ hội để họ lợi dụng lòng tốt, rồi “ngựa quen đường cũ”, nên đôi lần chúng ta đã thẳng tay vùi dập, làm cho cuộc đời của họ bi đát hơn và không thể ngẩng đầu để tiến về phía trước với hy vọng thay đổi cuộc đời!

Thực ra, lối suy nghĩ trên có cơ sở hay nhiều người đã quá kinh nghiệm nên mới có những nhận định như thế! Tuy nhiên, nếu chúng ta thinh lặng và hồi tâm đôi chút, thì có lẽ chúng ta sẽ cảm thấy xấu hổ khi thấy cuộc đời của mình cũng nhem nhuốc hay còn tệ hơn như thế nữa! Nhưng điều nguy hiểm hơn cả, đó là chúng ta đã tước mất quyền phán xét của Thiên Chúa, và trở thành một vị thẩm phán mù lòa, ác đức, không giống Đức Giêsu. Lời của thánh Phaolô khuyên các tín hữu Rôma đáng để cho chúng ta suy nghĩ: “Hỡi người, dù bạn là ai đi nữa mà bạn xét đoán, thì bạn cũng không thể tự bào chữa được. Vì khi bạn xét đoán người khác, mà bạn cũng làm như họ, thì bạn tự kết án chính mình” (Rm 2,1).

Hình ảnh của Đức Giêsu, vị mục tử nhân từ, Đấng giàu lòng thương xót không hề có một thái độ như thế. Ngài sẵn sàng tháp nhập vào dòng người đến xin Gioan làm phép rửa thống hối, mặc dù Ngài vô tội. Con Thiên Chúa đã sẵn sàng trở nên một con người khiêm tốn, liên đới để cứu độ những người tội lỗi. Tinh thần ấy đã được Ngài sống và giảng dạy: “...giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối" (Lc 15,10); Và sứ mạng của Ngài là đến để cứu chữa những người tội lỗi, ốm đau, bệnh tật, vì người khỏe mạnh thì không cần đến thầy thuốc. Như vậy, những người thấp cổ bé họng, tội lỗi và bị loại ra bên lề lại là đối tượng số một của sứ vụ Thiên Sai nơi Đức Giêsu.

Nếu chúng ta là môn đệ của Đức Giêsu đúng nghĩa, thì chúng ta cũng phải coi những người anh em đó là đối tượng trọng yếu của Tin Mừng và sứ vụ nơi chúng ta.

Mong sao, mỗi người chúng ta hãy để cho Lời Chúa như ánh mặt trời chiếu rọi vào tận thâm sâu tâm hồn của mình, để con mắt đức tin của chúng ta sáng lên như anh mù khi xưa, hầu tránh đi tình trạng sáng con mắt thể lý, nhưng lại mù con mắt tâm linh. Amen. mục lục.

HÃY ĐỂ ĐÔI MẮT ĐƯỢC THẮP SÁNG

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Người được Chúa Giêsu chữa lành đôi mắt trong Tin Mừng theo thánh Gioan hôm nay là "người mù từ thuở mới sinh". Thái độ của anh đối diện với Chúa, với dấu lạ Chúa ban cho anh có nhiều biến đổi:

1. Khởi đầu, khi bị điều tra, anh nói về Chúa quá mơ hồ: "Người có tên là Giêsu trộn một chút bùn và xức vào mắt tôi" (Ga 9,11). Anh chưa có thể nói thêm bất cứ kinh nghiệm hay cảm nghiệm nào của chính anh về Chúa. 

2. Về sau, càng lúc anh càng thấm thía ân huệ mà mình đã nhận được, nhất là khi so sánh thái độ đố kỵ, hung hăng của những người có trách nhiệm khi đối diện với sự thật anh được chữa lành, cõi tâm hồn anh càng lúc càng biến đổi, càng lúc càng nhận ra Chúa. Anh khẳng khái nói về Chúa Giêsu: “Người là một vị ngôn sứ” (Ga 9,17).

Anh dám phản biện những lời kết án Chúa Giêsu là người tội lỗi: "Ông ấy có phải là người tội lỗi không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được" (Ga 9,25).

Khi bị tra khảo dồn dập, người từng bị mù còn dám trêu những kẻ đang đe dọa mình: "Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?" (Ga 9,27).

Càng lúc thái độ của anh càng mạnh mẽ. Anh cho thấy đức tin của mình vào Chúa Giêsu thật lớn, thật can đảm. Anh tuyên bố trước mặt những kẻ nắm quyền hành trong thế gian: “Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì” (Ga 9,31-33).

Hóa ra trước dấu lạ của Chúa, người mù không chỉ đã được sáng đôi mắt. Anh còn sáng cả tâm hồn, sáng cả một đức tin thật kiên cường.

Còn những kẻ chưa bao giờ mù đôi mắt, những kẻ cứ tưởng mình thật sáng suốt vì nắm giữ truyền thống tôn giáo lại là kẻ đui mù. Nguy hiểm và thật đáng sợ vì đây là sự đui mù về tâm linh, về nhận thức chân lý, về sự sống của đức tin.

1. Hành trình đức tin của người mù được chữa lành là khuôn mẫu cho hành trình đức tin của từng người. Chúng ta cần trưởng thành mỗi ngày một hơn trong hành trình sống của mình. 

Nhất là những lúc đối diện với nguy nan, thử thách, đối diện với những ai tấn công đức tin của mình, chúng ta càng phải mang trong tâm tư một tư thế của người hãnh diện về đức tin, một tư thế của người luôn xác tín: Chỉ một mình đức tin vào Chúa Giêsu mới là tất cả.

2. Cả thái độ ngạo mạn, kiêu căng của những người bị mù tối tâm hồn cũng thành bài học kinh nghiệm cho chúng ta.

Hãy nhìn vào đó để luôn khiêm nhường nhận ra Chúa, thờ lạy Chúa trong bất cứ những điều tốt đẹp nào, nếu nó mang lại giá trị thiêng liêng cho linh hồn.

Hãy loại khỏi trái tim những đố kỵ, thù hằn, ganh tỵ, ganh ghét, để con mắt tâm hồn được sáng mà nhận ra những huyền nhiệm của Thiên Chúa trong cõi đời, và trong từng hoàn cảnh của đời sống.

Hãy sống có tình người để có thể yêu cái đáng yêu của người khác, cảm thông cái khó khăn của người khác, vui mừng với cái tốt mà người khác có được, hạnh phúc trong niềm hạnh phúc của người khác, đau trong cái đau của người khác, khóc hay cười trong tiếng khóc hay nụ cười của người khác...

Dù bất cứ hoàn cảnh nào, hãy để đôi mắt được thắp sáng. mục lục.

NGƯỜI MÙ NHÌN THẤY, KẺ THẤY LẠI MÙ

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Đọc bài Tin Mừng Gioan hôm nay (Ga 9:1-41), cái hay là phần kết luận, nói về ý nghĩa “nhìn thấy” Chúa Giêsu. Tác động này nói lên mức độ mù lòa của mắt chúng ta, sự cảm nghiệm của chúng ta về việc Chúa Giêsu chữa lành bệnh và hiểu biết về con người Giêsu là ai. Giêsu là Thiên Chúa và là đấng Cứu Thế từ trời đến. Khởi đầu Tin Mừng Gioan, thắc mắc Đức Giêsu từ đâu đến đã được đặt ra. Ai đã sai người đến thế gian? Con người thành Nazareth đã học ở đâu mà có được nhiều kiến thức như vậy? Tại sao anh ta dám phá bỏ cả luật của Chúa? Những thắc mắc này có đầy dẫy trong câu chuyện người mù được nhìn thấy. 

Chữa người mù bẩm sinh trong ngày Sabbath là một chuyện lạ, bởi vì trong Cựu Ước sách Tobia (7:7;11:7-13;14:1-2) người mù được chữa lành không phải là mù bẩm sinh. Câu chuyện hôm nay, dấu hiệu thứ sáu trong Tin Mừng Gioan, được nêu ra để làm nổi bật lời Chúa Giêsu đã phán: “Ta là Ánh Sáng thế gian” (Ga 8:12; 9:5).

Bài tường thuật nói lên sự tương phản giữa Đức Giêsu là Ánh Sáng và dân Do Thái là những kẻ mù lòa (Ga 9:39-41). Cũng vậy, chủ đề Nước lại một lần nữa được đưa ra ám chỉ suối nước Siloam. Nhưng nực cười thay, Đức Giêsu lại bị dân Do Thái xét xử, mà xét xử bới Ánh Sáng thế gian xác thịt! (Ga 3:19-21). 

MỘT CUỘC TRANH LUẬN 

Hành động chữa sáng mắt người mù chỉ nói gọn trong hai câu, nhưng cuộc tranh luận lại kéo dài 39 câu và là chủ đề của câu chuyện!  Để trả lời những thắc mắc về nguồn gốc của Đức Giêsu, người mù trả lời: “Ông ấy đã chữa sáng mắt tôi”. Anh nghĩ ông ta từ đâu đến?  Người mù tuần tự làm sáng tỏ: Đức Giêsu là một người, là tiên tri và sau cùng anh tuyên xưng Người là Con Thiên Chúa. Những người Pharisêu lúc đầu công nhận người mù được chữa sáng, nhưng sau đó họ hồ nghi và cuối cùng chối bỏ nguốn gốc Thiên Chúa của Đức Giêsu.  

Câu chuyện thật đơn giản nhưng lại khiến những kẻ gọi là khôn ngoan đâm bối rối để rồi cuối cùng họ không công nhận người này là người mù mà họ đã thấy trước kia. Điều đó cũng dễ hiểu đối với những người Pharisêu, vì họ đã được huấn luyện theo nguyên tắc: quan sát, phân tích, diễn tả rồi cắt nghĩa hiện tượng trong những hoàn cảnh đặc biệt. 

QUÁ KHỨ CỦA NGƯỜI MÙ 

Người mù này thực sự không biết một tý gì về tôn giáo và cứu chuộc. Anh ta không phải là người ngoan đạo theo truyền thống hoặc kính nể những tổ phụ. Nhưng chắc chắn và rõ ràng nhất là hắn đã một thời sống trong tăm tối và bây giờ hắn đã thực sự sống trong thế giới chan hòa ánh sáng. Hắn biết và nhận ra điều đó. Còn một điều nữa đặc biệt và cần thiết là hắn muốn biết người làm cho hắn hết mù là ai?  

Tên mù này từ trước đã không biết một chút gì về tôn giáo, nhưng bây giờ thì hắn biết chắc chắn Đức Giêsu là người duy nhất đã chữa hắn khỏi mù, đã cứu hắn, đã cho hắn sự sống, cho hắn hy vọng và can đảm! Chúng ta đều biết người mù này không phải là người duy nhất công nhận “Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc, đã chữa cho hắn được sáng mắt”, nhưng là tất cả con cháu, bà con thân thuộc… của người mù, cả một đạo binh xuyên suốt lịch sử loài người trong đó có chúng ta. 

VẤN NẠN VỀ ĐAU KHỔ 

Cố gắng giải quyết vấn đề đau khổ và chết thường mang lại nhiều đau khổ lớn lao hơn là nỗi đau ban đầu. Người ta đặt vấn đề: Tại sao lại là tôi? Tại sao lại có đau khổ?” “Lỗi của ai mà tôi phải mù, điếc, câm, nghèo khó?” “Ý nghĩa của đau khổ và giá trị của nó?” “Ai đã tạo ra đau khổ?” “Tại sao tôi lại bị trừng phạt như vậy?”. Chúng ta thường bị ‘mù lòa’, ‘tối tăm’ nên không thể hiểu được ý nghĩa của đau khổ.

Nếu đọc bài Tin Mừng hôm nay như đọc một câu chuyện vui thì chúng ta đã bỏ mất một màn đối thoại đặc biệt và lý thú giữa Đức Giêsu và người mù được chữa sáng. Niềm Tin của anh ta đưa đến một hậu quả ghê gớm cho anh và tất cả chúng ta. Anh ta bị đuổi ra khỏi hội đường. Anh ta bị xa lìa khỏi luật Torah, khỏi gia đình, khỏi chiều thứ sáu ngày Sabbath cùng với gia đình và bạn bè – tất cả mọi sự, bởi lẽ anh đã đăm chiêu nhìn sâu và trực tiếp vào Ánh Sáng. Cái nhìn đăm chiêu và kiên quyết ấy đã chữa lành anh và anh nhìn được ánh sáng. 

CÁI MÙ LÒA CỦA CHÚNG TA NGÀY NAY

Nhiều người rất e dè không muốn biết nguồn gốc của ơn cứu độ và ai là người đem lại hy vọng và là nguyên cớ của niềm vui. Chúng ta ngại không muốn nhắc đến tên người đó, sợ phải nghe những điều mà người ta sẽ nói về Người. E dè vì chúng ta chưa sẵn sàng chấp nhận người đó là Đức Giêsu? Đôi khi chúng ta diễn tả sự mù tối của chúng ta như là không thấy cây trong một cánh rừng, nhưng đó chẳng qua là ngụy biện, cắt nghĩa loanh quanh. Buồn cười hơn nữa là nại cớ vì mù bẩm sinh nên không được học hỏi. Ngoài ra sự phách lối kiêu căng chính là cội nguồn của mù tối. Chúng ta cần có phép lạ để cải đổi những cái nhìn như vậy. Đã bao lần chúng ta hành xử như những kẻ đã cố gắng ngăn cản tên mù Bartimaeus (Mc 10:46-52) không cho hắn được nhìn gặp Chúa? Chúng ta có hăm hở và vui vẻ mang bạn bè, đồng nghiệp, người mình yêu đến trước mặt Chúa không? Chúng ta có dám không thèm đến với Chúa khi biết nếu không có Chúa ta sẽ không có sự sống?

Trong sứ điệp Mùa Chay 2011 (http://www.zenit.org/article-31816?l=english) ĐGH Biển Đức XVI đã viết về bài Tin Mừng hôm nay như sau: “Bài Phúc Âm này đặt vấn đề cho mỗi người chúng ta: Bạn có tin vào Con Người ấy không?”

“Lạy Chúa, con tin! (Ga 9:35; 38), người mù bẩm sinh vui vẻ tuyên xưng, cất lớn tiếng cho mọi người tin. Phép lạ chữa lành này là dấu hiệu mà Đức Kitô muốn, không phải chỉ ban cho chúng ta thị giác mà còn muốn mở rộng viễn kiến nội tâm của chúng ta, để niềm tin của chúng ta có thể trở nên thâm sâu hơn bao giờ hết và chúng ta có thể nhận biết Người là Đấng Cứu Chuộc duy nhất của chúng ta. Người soi sáng tất cả những gì tăm tối trong cuộc sống chúng ta và dìu dắt mọi người cả nam lẫn nữ đi trong cuộc sống như là “con cái của sự sáng.” 

NHỮNG VÌ SAO CỦA TIN MỪNG MÙA CHAY 

Câu chuyện chữa sáng mắt người mù trong Tin Mừng Gioan hôm nay đi song hành với những chuyện chữa lành người mù trong Máccô ở Bethsaida (8:22-26) và anh chàng tên Bartimaeus trên đường đi Jericho (10:46-52). Đây là những chuyện rất hiển nhiên không còn hồ nghi gì nữa và rất phổ thông trong Giáo Hội sơ khai. Đối với Giáo Hội hiện tại nó cũng rất đặc biệt.

Những phép lạ này đã làm mọi người rất ngỡ ngàng không thể tưởng tượng nổi. Người thường không thể làm được một việc quá phi thường như vậy. Nếu tôi đến gần được cửa thiên đàng, tôi sẽ xin thưa chuyện với những vì sao của Tin Mừng mùa chay như  người đàn bà Samaria (Ga 4), người đàn ông mù (Ga 9) và ông Lazarus bị bệnh nặng sắp chết (Ga 11). Họ là những người có diễm phúc được Đức Giêsu can thiệp làm cho họ trở thành những người mới chỉ bằng cách đụng vào người, nhìn vào mặt một cách trìu mến và bằng những lời nói đầy lòng trắc ẩn yêu thương. Tôi sẽ hỏi mỗi người đó những câu sau: “Người đó từ đâu đến? Quí vị cảm thấy gì khi nhìn thẳng vào mặt ông ta? Quí vị có cảm nghĩ thế nào khi ông ta nói chuyện với quí vị? Làm sao quí vị biết được ông ta chính là Thiên Chúa?

Hôm nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa đừng chấp nhận đêm tối và bóng đen hiện có trên thế giới và trong Giáo Hội, xin Người đem ánh sáng tới xóa tan bóng tói  âm u ấy đi. Xin Chúa ban cho chúng con cái nhìn cần thiết về Đức Giêsu, một cái nhìn đăm chiêu, chiêm nghiệm về một con người của hòa giải, là hy vọng, là ánh sáng và là an bình cho tất cả mọi người. 

ĐÔI LỜI KẾT: SỐNG MÙA CHAY TRONG TUẦN 

1- Suy nghĩ về lời nói của nhà văn Hoa Kỳ tên Samuel Langhorne Clemens, cũng gọi là Mark Twain (1835-1910): “Tử tế là sứ điệp mà người điếc có thể nghe và người mù có thể thấy”.

 Đọc chậm rãi những lời của Helen Keller (1880-1968), tác giả và họạt động chính trị, người mù và điếc đầu tiên đoạt văn bằng cử nhân văn chương. Helen đã vượt qua cảnh cô đơn do thiếu sót ngôn ngữ hầu như hoàn toàn, đã giúp người con gái bừng nở hoa khi nàng học truyền thông liên lạc. “Phải chăng tình yêu làm con người thành mù? Tôi không biết. Nhưng tình yêu có thể giúp người ta nhìn thấy. Tôi và nhiều người đồng ý cả ngàn lần.” 

2- Khía cạnh nào của Giáo Hội, xã hội và nền văn hóa thời nay cần phải được chữa lành, sửa đổi và tái tổ chức? Đâu là những điểm mù của chúng ta? Do đâu mà chúng ta có cái nhìn cận thị và viễn thị? Chúng ta thường thích độc thoại hơn là đối thoại, từ chối không muốn tin và chấp nhận những điều dù là đúng do những kẻ chống đối và không đồng ý với chúng ta không? Chúng ta có không chịu thích nghi với những cái hay đẹp của văn hóa thời đại mới quanh chúng ta, mà lại thích đối xử hẹp hòi, ngoan cố, giận dữ, ta đây? Tham lam, ích kỷ có làm mờ mắt bạn khiến bạn đối sử bất công, thiên vị với mọi người không? Tôi có bất nhã, cục cằn, vô lịch sự khi tiếp xúc với họ không? Tôi có đòi hỏi quá đáng những người mà tôi tiếp xúc không? Tôi có đối xử lịch sự với những người tôi gặp như những vật dụng tôi dùng hàng ngày không? 

3- Nên đọc mục # 106 “Tuyên xưng Lời Chúa và sự đau khổ’/ “The proclamation of the Word of God and the suffering”  trong Tông thư hậu thượng hội đồng “Verbum Domini”. 

106. Khi thượng hội đồng làm việc, các nghị phụ đã coi việc tuyên xưng Lời Chúa cho những kẻ đau khổ, cả về thể xác lẫn tinh thần là một nhu cầu. Trong thời đại đầy đau khổ thì những vấn nạn tối hậu về ý nghĩa đời sống con người lại càng trở nên cấp thiết hơn. Nếu lời của loài người trở nên câm lặng trước những bí mật của ác quỉ và đau khổ, nếu xã hội đánh giá đời sống chỉ khi nào nó đáp ứng được một số kết quả tiêu chuẩn và an toàn hạnh phúc, thì Lời Chúa làm cho chúng ta nhìn thấy chính những thời khắc đó đã được tình yêu Thiên Chúa “ấp ủ” một cách huyền diệu. Niềm tin phát sinh do gặp Lời Chúa sẽ giúp chúng ta nhận thức được con người xứng đáng được sống một cách đầy đủ và trọn vẹn ngay cả khi bệnh hoạn và đau khổ làm cho nó yếu đi. Thiên Chúa tạo dựng nên chúng ta là để được hạnh phúc và được sống, trong khi đó bệnh tật, chết chóc đến thế gian là do tội lỗi (Kn 2:23-24). 

Tuy nhiên Cha của sự sống chính là vị bác sĩ tuyệt hảo của loài người, Người không ngừng khom lung cúi đầu trên loài người đau khổ một cách âu yếm. Chúng ta chiêm ngưỡng sự tột đỉnh vinh quang của Thiên Chúa sát gần với nỗi khổ đau của chúng ta chính là nơi Chúa Giêsu, “Lời nhập thế. Người chịu đau khổ và chết cho chúng ta. Nhờ cuộc khổ nạn và cái chết của người, Người mang sự yếu đuối của chúng ta lên với người và biến đổi nó một cách trọn vẹn”. Chúa Giêsu còn liên tục ở gần những kẻ đau khổ và còn kéo dài nhờ tác động của Chúa Thánh Thần trong sứ mệnh của Giáo Hội, trong giảng dạy và các phép bí tích, nơi những người thiện tâm, các cơ quan bác ái thực thi với tình yêu huynh đệ trong các cộng đồng khiến mọi người nhận ra măt thật của Thiên Chúa và tình yêu của người. Thượng hội đồng tạ ơn Thiên Chúa vì những bằng chứng sáng ngời, thường là ẩn danh, của tất cả những Kitô hữu – linh mục, tu sĩ, giáo dân - đã đích thân làm và tiếp tục giúp tay, mắt và trái tim với Đức Kitô, một y sĩ thực sự của thể xác và tâm hồn. Thượng hội đồng khuyến khích tất cả chúng ta tiếp tục săn sóc những người tàn tật, bệnh hoạn và mang lại cho họ sự hiện diện sống động của Đức Giêsu Kitô trong lời nói và phép Thánh Thể. Những ai đau khổ cần được khuyến khích đọc Kinh Thánh để nhận ra được là chính những điều kiện của họ có thể giúp họ chia sẻ một cách đặc biệt sự đau khổ cứu chuộc của Đức Kitô hầu cứu chuộc nhân loại (2 Cr 4:8-11,14). 

4- Cầu nguyện bằng lời nguyện của Origen (185-253): “Xin được nhìn thấy”. Origen là một Kito hữu người Phi châu kiêm học giả và nhà thần học; ông cũng là một văn sĩ rất nổi danh thời Giáo Hội sơ khai. 

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy chạm mắt chúng con,

Như đã chạm mắt người mù,

Để chúng con nhìn thấy những vật hữu hình

Và cả những vật vô hình.

Xin Chúa mở mắt chúng con,

Để chúng con đăm chiêu ngắm nhìn

Không phải những thực tế hiện tại

Mà là những ân phúc tương lai.


Xin Chúa mở mắt lòng chúng con,

Để chúng con chiêm ngưỡng Thần Linh Thiên Chúa,

Qua Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa

Cùng với uy lực vinh quang của Chúa

Đến muôn đời. Amen. mục lục.

XIN CHO CON ĐỪNG THẤY!

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù” (Ga 9,39). Lời khẳng định của Chúa Giêsu xem ra khó nghe thậm chí thật khó hiểu nếu không ở trong ngữ cảnh lúc bấy giờ. Cùng với anh mù từ thưở mới sinh, chúng ta chân thành tin nhận “Người là ánh sáng thế gian” (Ga 9,5). Dưới cái nhìn đức tin này chúng ta có thể hiểu phần nào lời tuyên bố của Đấng Cứu Độ.

1.  Người làm cho kẻ tự cho mình là thấy, là sáng, là am hiểu, trở nên đui mù, nghĩa là nhận ra sự lệch lạc, sai lầm của mình:

Xem quả thì biết cây. Không ai hái được trái nho nơi bụi gai. “Trong nhóm Pharisiêu, người thì nói: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày Sabbat”, kẻ thì bảo: “Một người tội lỗi thì làm sao có thể làm đựơc những dấu lạ như vậy?”. Thế là họ đâm ra chia rẽ. Một dấu lạ vượt quá khả năng bình thường của con người là làm cho kẻ mù từ thưở mới sinh được trông thấy. Đúng là một dấu lạ tốt đẹp. Một hành vi tự nó là tốt đẹp được thực hiện trong một hoàn cảnh trái với quy định của luật lệ thì có còn là tốt đẹp chăng? Nếu luật lệ ấy thuộc hàng thiên luật (như luật tự nhiên, luật mạc khải) thì nói chung là không còn là tốt đẹp vì “mục đích không thể biện minh cho phương tiện”. Tuy nhiên nếu luật đó thuộc hàng nhân luật (như luật quốc gia, luật Hội Thánh…), thì các việc tốt đẹp cao cả như việc cứu sống người hay mở mắt người mù thì luôn ở trên các quy định của nhân luật. Chúa Kitô không chỉ một lần như trong câu chuyện hôm nay mà đã nhiều lần vạch trần sự sai lầm của một số người biệt phái, luật sĩ khi họ tuyệt đối hoá nhân luật như luật Lễ nghỉ hay các tập tục tiền nhân mà xem nhẹ và bỏ qua lề luật của Thiên Chúa như đức công bình và đạo yêu thương, lòng từ bi và tình thương xót.

Chước cám dỗ muốn tuyệt đối hoá các chỉ thị, các quy định hay luật lệ của mình, dù chỉ là phàm nhân, vẫn còn đó dưới mọi hình thức. Tình trạng “phép vua thua lệ làng hay đạo trời còn dưới ý con người” vẫn đang tồn tại cách này cách khác ngoài xã hội và có khi cả trong các tập thể tôn giáo. Xin cho ánh sáng Đấng Cứu độ chiếu soi sự u minh của những người tự cho mình là sáng nhưng thực ra đang ở trong mê lầm. “Nếu các ông đui mù thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: “Chúng tôi thấy”, nên tội các ông vẫn còn” (Ga 9,41).

2.  Người làm cho người không xem thấy được thấy: Con người thường xem xét dựa vào cái bên ngoài, còn Thiên Chúa thì thấy tận cõi sâu tâm hồn con người. Chính vì thế, để có một cái nhìn quân bình và toàn diện, cần phải biết nhìn theo cách nhìn của Thiên Chúa. Đức Kitô, cuộc đời, những lời giảng dạy và các hoạt động của Người chính là cách thế giúp ta nhìn nhận cuộc đời, con người, các sự vật, hiện tượng cách đúng đắn và chuẩn mực.

Chúa Kitô không chỉ dùng quyền năng làm cho anh mù từ thưở mới sinh được thấy ánh sáng tự nhiên, Người còn khai mở con mắt đức tin của anh khiến anh can đảm nhìn nhận và tuyên xưng Người là một vị Ngôn sứ cho dù phải bị trục xuất ra khỏi Hội đường. Các môn đệ vốn mù tối lầm lạc khi cho rằng anh mù từ thưở mới sinh là do tội của anh ta hoặc do tội của cha mẹ anh ta. Chúa Kitô đã mở mắt cho các ngài để các ngài nhận ra rằng có nhiều sự dữ là do tội lỗi con người gây ra nhưng cũng có nhiều sự dữ xảy ra mà chẳng do bởi lỗi của người này hay người kia. “Đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều là có thể được ” (Mt 19,26). Qua các sự dữ, Thiên Chúa có thể làm nổi rõ quyền năng và tình yêu của Người.

3.  Là ánh sáng thế gian, Chúa Kitô thúc bách ta phải thấy cả những điều ta không muốn thấy. Quả thật, rất nhiều khi ta bị cám dỗ “được không nhìn thấy” để khỏi phải vất vả, khỏi phải hy sinh hay khỏi phải dấn thân, chia sẻ… Mở cửa ra, nhìn thấy người tàn tật, thế là được mời gọi chia sẻ. Một đôi lần thì có thể được, nhưng một ngày mà đến ba bốn lần nhìn thấy thì sao đây? Thấy chuyện bất công là được mời gọi săn tay áo để tạo lập sự công bằng… Không nguyên chỉ vất vả mà còn biết bao điều phiền toái có thể ập đến. Lắm khi chưa được mạ thì má đã sưng hoặc cảnh ai thổi lữa người đó bỏng môi là điều dường như khó tránh.

Lạy Chúa xin cho con đừng thấy. Một lời cầu xin để mình được an phận. Ánh sáng đã đến thế gian. Chúa Kitô đã đến thế gian, Người làm cho kẻ mù được thấy và bắt kẻ không thích nhìn thấy cũng phải thấy, ngoại trừ chính họ tự ý bịt mắt không muốn nhìn. Không cứu sống là đang giết chết. Không làm điều lành là đã làm điều dữ (x.Mc 3,1-5). Phải làm ngay hôm nay những gì ta thấy phải làm theo khả năng và hoàn cảnh của mình.

Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm…Một lời cầu xin thật chính đáng và phải đạo mà Kitô hữu thường xuyên đọc. Thế nhưng khi Chúa cho ta thấy, cho ta biết việc phải làm thì sao đây? Có khi nào ta bị cám dỗ “ước gì đừng thấy, ước gì đừng biết” chăng? mục lục.

NHÃN QUAN

Trầm Thiên Thu

Mù Mắt Xác Thân Khổ Đời Thế Tục

Sáng Lòng Tin Kính Vui Sống Bình An

Nhãn quan là tầm nhìn – nghĩa đen, với nghĩa bóng là quan điểm, khả năng nhận thức, khả năng nhận xét vấn đề một cách đúng đắn. Nhãn quan cũng có mức độ khác nhau, tùy tầm nhìn sâu rộng hoặc hạn hẹp. Xét về con mắt, có thứ khiến người ta hợp nhãn hoặc mãn nhãn, nhưng có thứ lại khiến người ta “chói mắt” hoặc không muốn nhìn thấy.

Con mắt có thể tiết lộ nhiều thứ độc hại, bởi vì “Ai nhìn với con mắt đố kỵ là người xấu, nó ngoảnh mặt đi và khinh dể thiên hạ.” (Hc 14:8) Con mắt cũng là “đường dẫn” nhiều thứ xấu xa: “Có thụ tạo nào tệ hơn con mắt? Gặp chi nó cũng phát khóc vì thèm.” (Hc 31:13) Người ta so sánh: “Mắt láo liên như thằng trộm cắp.” Vì thế, Kinh Thánh khuyên cẩn trọng: “Hãy học cho biết đâu là khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là thông hiểu, đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng soi con mắt, và đâu là bình an.” (Br 3:14) Trong đó có con mắt. Không hề đơn giản!

Với kinh nghiệm sống, tiền nhân đã xác định: “Giàu hai con mắt, khó đôi bàn tay.” Điều đó chứng tỏ rằng đôi mắt sáng thực sự là điều cần thiết cho cuộc sống đời thường. Người mù bẩm sinh còn đỡ khổ hơn người lớn lên rồi mới bị mù. Người mù bẩm sinh vẫn cảm thấy “bình thường” vì họ không có khái niệm về chiều kích hoặc màu sắc. Người lớn lên mới bị mù chắc chắn cảm thấy khổ sở hơn vì đã trải nghiệm những khái niệm liên quan cuộc sống.

Đau đâu khốn đấy. Có hai con mắt mà một mắt có thị lực yếu, bị đau hoặc bị mờ, thậm chí chỉ là bụi vào mắt, cũng thấy khổ lắm rồi chứ nói chi bị mù hẳn. Hai con mắt mà “khác” một chút thôi cũng đủ biết khổ sở, tình trạng “bốn mắt” cũng chẳng thoải mái gì, khổ suốt, vì cứ phải lệ thuộc vào cái kính. Vướng víu!

Con mắt cũng có khả năng biểu cảm – biết khóc, biết cười, biết giận, biết thương. Khó nhận biết khi mắt cười, nhưng ai cũng nhận biết khi mắt khóc. Khóc cũng đa dạng: vì vui, vì buồn, vì khổ, vì thương, vì nhớ, vì tức, vì sợ, vì nũng nịu, vì giả bộ,… Tuy nhiên, đôi khi người ta cũng cần phải biết khóc, vì nước mắt có thể “cuốn trôi” nỗi buồn và làm sạch mắt nhờ chất mặn. Về tâm linh, cần phải khóc vì tội lỗi mình đã phạm – tội với Thiên Chúa và lỗi với tha nhân. Nhiều lắm, nhất là trong tư tưởng và những thiếu sót.

Thật kỳ lạ, con mắt còn có khả năng “bật mí” nhiều thứ khác, thế nên đôi mắt được coi là “cửa sổ” của tâm hồn. Qua hai “cửa sổ bé nhỏ” này, người ta có thể nhận biết người đối diện như thế nào. Cửa sổ nhỏ hơn cửa ra vào, thế nhưng đôi khi cửa sổ vẫn thực sự quan trọng. Đối với con người, ai yếu vía sẽ “tự quay đi” khi nhìn vào mắt của người “mạnh vía” hơn mình. Dòng nước mạnh sẽ “lướt” dòng nước yếu. Tự nhiên vậy thôi!

Tình trạng mù lòa đồng nghĩa với tối tăm, trái ngược với sáng sủa. Khiếm thị hoặc mù lòa về thể lý là tình trạng tồi tệ đối với một con người, nhưng “mù lòa tâm linh” không chỉ tồi tệ mà còn nguy hiểm. Thế nên Chúa Giêsu xác định: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Ga 9:39) Thật đáng sợ nếu chúng ta bị Ngài quở trách như vậy. Lúc đó, chúng ta hóa thành người “có mắt như mù.” Quá đỗi khủng khiếp. Chết chắc!

Khóc vì buồn, buồn vì tiếc. Nhưng có đáng tiếc hay không? Ngày xưa, Thiên Chúa nói thẳng với Samuel: “Ngươi còn khóc thương Saun cho đến bao giờ, khi ta đã gạt bỏ nó, không cho làm vua cai trị Israel nữa? Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Giesê người Bêlem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua.” (1 Sm 16:1) Thiên Chúa không đề cập con mắt, nhưng chúng ta biết Ngài nói đến mắt nhờ động từ “khóc” – liên quan nước mắt.

Chúng ta biết thông tin qua trình thuật 1 Sm 16:6-7, 10-13 rằng khi họ đến, ông Samuel thấy Êliáp, ông nghĩ: “Đúng rồi! Người Đức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Đức Chúa đây!” Thế nhưng Đức Chúa bảo ông Samuel: “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.” Cách nghĩ của Thiên Chúa hoàn toàn khác hẳn với loài người, tầm nhìn của Ngài cũng hoàn toàn khác với tầm nhìn của phàm nhân, kể cả tư tưởng – cách xa một trời một vực.

Theo cách nhìn của con người, chúng ta thường quan niệm rằng “quen sợ dạ, lạ sợ áo.” Vì nhìn thấy “con lợn béo” nên cho rằng “lòng nó ngon.” Thiên Chúa lại không có quan niệm niệm như vậy, Ngài không nhìn theo bề ngoài mà Ngài nhìn “thấu suốt” nội tâm. Tục ngữ Việt Nam nhắc nhở: “Chiếc áo không làm nên thầy tu.” Những người coi trọng bề ngoài là những người có nội tâm hời hợt, nông cạn – dạng “yếu bóng vía” hoặc “mắt kém.” Chúng ta thường dựa vào chức vụ hoặc bằng cấp (cả đời và đạo) để xác định “trình độ” của ai đó, nhưng thực sự là “bé cái lầm” mà thôi.

Rồi ông Giesê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Samuel, nhưng ông Samuel nói với ông Giesê: “Đức Chúa không chọn những người này.” Quả là “mắt thần” có khác! Rồi ông lại hỏi rằng các con ông Giesê có mặt đầy đủ chưa. Ông Giesê nói còn cháu út đang chăn chiên. Ông Samuel liền bảo ông Giesê cho người đi tìm nó về rồi mới nhập tiệc. Ông Giesê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. Đức Chúa nói với ông Samuel: “Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi! Chính nó đó!” Ông Samuel cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí Chúa nhập vào Đavít từ ngày đó trở đi.

Đáp ca hôm nay sử dụng cả 6 câu trong Thánh Vịnh 23 [22]. Đây là Thánh Vịnh phổ biến, quen thuộc, nói về niềm hạnh phúc được Chúa quan phòng và gìn giữ, đồng thời cũng đề cập lòng tín thác: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người.” (Tv 23:1-4) Đó là cách sống đức tin – phó thác cho Thiên Chúa định liệu mọi sự.

Kinh nghiệm dù nhiều hay ít cũng cho thấy đúng như vậy. Quả thật, khi có Thiên Chúa đồng hành thì “dầu qua lũng âm u” cũng “chẳng sợ gì nguy khốn,” bởi vì có “côn trượng Ngài bảo vệ” thì hoàn toàn “vững dạ an tâm.” Thánh Vịnh gia cho biết: “Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên.” (Tv 23:5-6) Có Chúa là có tất cả, vì chúng ta được đi trên “con đường sáng” chứ không tăm tối. Chẳng phải lo chi, mà có lo cũng chẳng xong, sợ cũng chẳng được: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.”

Rất thực tế, Thánh Phaolô nói: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.” (Ep 5:8-9) Có nghĩa là phải cẩn trọng xem “điều gì đẹp lòng Chúa,” chứ “đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối,” đặc biệt là “phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng.” (Ep 5:10-11) Ông giải thích: “Vì những việc chúng làm lén lút thì nói đến đã là nhục rồi. Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra; mà bất cứ điều gì lộ ra thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng: “Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Đức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi!” (Ep 5:12-14) Có lẽ ai cũng sợ sự vạch trần hoặc tố giác. Tại sao? Vì đồng lõa với bóng tối – lãnh địa của ma quỷ.

Mặc dù bóng tối rất mạnh, chỗ nào không có ánh sáng thì nó phủ đầy ngay. Nhưng nó mạnh mà yếu, vì chỗ nào có ánh sáng, dù chỉ le lói, nó cũng sẽ phải lui ngay. Bóng tối dày đặc của cả thế gian cũng không thể che khuất một đốm sáng. Quẹt một que diêm sẽ thấy “tác động” giữa ánh sáng và bóng tối. Ánh sáng rất cần, nhưng chúng ta phải cố gắng “tạo” ra nó. Có một câu danh ngôn liên quan ánh sáng và bóng tối, ý nói chúng ta phải không ngừng nỗ lực trong cuộc sống: “Hãy thắp lên một ngọn nến còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối.”

Chỉ là chuyện đời thường tạm bợ mà chúng ta còn phải cố gắng thì chuyện tâm linh càng phải nỗ lực hơn rất nhiều, không thể gặp chăng hay chớ hoặc tùy hứng.

Trình thuật Ga 9:1, 6-9, 13-17, 34-38 cho biết rằng cả Thầy Trò cùng nhìn thấy một người mù bẩm sinh. Các môn đệ hỏi Sư Phụ Giêsu: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” Ngài trả lời: “KHÔNG phải anh ta, cũng CHẲNG phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” Khi “thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện” là lúc Ngài được vinh danh.

Ngài nói rõ ràng, nhưng người ta vẫn chẳng “ngộ” ra sự thật, phải chăng vì không quan tâm? Thế nên trong cuộc sống, chúng ta vẫn “chắc nịch” cho rằng những người kém may mắn hơn mình (làm ăn thua lỗ, mùa màng thất bát, bị tai nạn, bị bệnh hoạn, bị xui xẻo, gặp hạn,…) đều là những người tội lỗi. Có người chỉ “để bụng,” nhưng có người lại dám “phán” rằng “Chúa phạt!” hoặc “Đáng đời!” Ôi, lạy Chúa, nói theo kiểu phim Hong Kong thì đúng là “thiện tai” thật!

Cũng chưa xong, người ta còn có thiên kiến – định kiến, thành kiến. Cùng sự cố như nhau (ví dụ: bệnh hoạn), với người không “hợp ý mình” thì người ta nói là do Chúa phạt, nhưng với người “hợp ý mình” thì lại nói rằng đó là Thánh giá Chúa trao. Đúng là “cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.” Nếp nghĩ lệch lạc đó chính là động thái “giết người” mà không cần vũ khí. Thật đáng quan ngại!

Sau khi cho các đệ tử biết lý do, Chúa Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa.” (Silôác [Siloah] nghĩa là Người Sai Phái. Hồ này ở phía Đông Nam Giêrusalem, cuối thung lũng Tyropeon.) Anh ta liền đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được. Chúa Giêsu có biệt dược độc đáo ghê đi, phải nói là “thần dược” hoặc “linh dược” mới đúng, mặc dù chỉ là “nước miếng trộn với bùn.” Hay quá chừng. Mấy lang băm chớ mà học đòi theo, kẻo các pháp sư phải sợ mà chạy có cờ, còn các lương y và bác sĩ danh tiếng phải tâm phục khẩu phục. Thật là tuyệt chiêu!

Người bàn ra, kẻ tán vào, xì xầm bàn tán theo ý kiến riêng, vì trước kia họ thường thấy anh ta ăn xin. Có người chắc chắn là chính hắn, có kẻ thì bảo không phải, kẻ khác lại bảo một người giống hắn. Chín người, mười ý, lắm lý nhiều ý, chẳng ai chịu ai. Thế rồi họ dẫn anh ta đến gặp nhóm Biệt Phái quái đản. Rắc rối là ngày Chúa Giêsu làm cho anh ta sáng mắt lại là ngày sabát. Nhóm Pharisêu hỏi thêm một lần nữa rằng tại sao anh ta sáng mắt, và chính anh xác nhận: “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” Trong nhóm Pharisêu, người thì bảo Chúa Giêsu không thể là người của Thiên Chúa vì Ngài không giữ ngày sa-bát, kẻ thì bảo rằng người tội lỗi không thể làm được những dấu lạ như vậy. Cũng chẳng ai chịu ai, thế là họ đâm ra chia rẽ. Ngộ dữ nghen, chuyện của người ta mà xía vô làm chi? Rồi họ lại hỏi ý kiến của anh ta về người đã chữa mắt. Anh ta nói ngay: “Người là một vị ngôn sứ!” Quá đúng. Nhưng cũng vì vậy mà nhóm Pharisêu phát tức, máu bốc tới chỏm đầu.

Sự thật rõ ràng, vậy mà người Do Thái vẫn không tin trước đây anh bị mù và bây giờ nhìn thấy, họ đã gọi cha mẹ anh ta đến. Họ hỏi anh có phải là con của họ hay không, cha mẹ anh xác nhận anh bị mù từ khi mới sinh, còn bây giờ anh sáng mắt thì họ không biết tại sao, cha mẹ anh bảo họ cứ hỏi anh ta là chính xác nhất. Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do Thái, những người sẵn sàng trục xuất khỏi hội đường bất cứ kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô. Thật tồi tệ đối với những kẻ lắm quyền nhiều chức!

Và một lần nữa, chính họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” (Ga 9:24) Nhưng anh ta bảo rằng ông ấy có phải là người tội lỗi hay không thì anh không biết, mà anh chỉ biết một điều là trước đây anh bị mù nhưng nay anh nhìn thấy được. Họ hỏi anh xem Chúa Giêsu đã làm thế nào mà anh sáng mắt, anh bảo rằng anh đã nói rồi mà họ không chịu nghe. Anh thẳng thắn nói rằng có phải họ cũng muốn làm môn đệ Chúa Giêsu hay không. Máu tự ái lại bốc lên nên họ không tiếc lời mắng nhiếc, thóa mạ: “Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Môsê. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Môsê; nhưng chúng ta không biết ông Giêsu ấy bởi đâu mà đến.” Đúng là “kẻ ngu mở miệng là tai họa đến gần.” (Cn 10:14) Y như rằng!

Chó đen giữ mực. Kẻ ngu si không kìm được giận dữ và để lộ điều dại dột. (Cn 12:16; Cn 13:16) Anh ta thấy khó hiểu, vừa gãi đầu vừa nói: “Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến thì ông ta đã chẳng làm được gì.” (Ga 9:30-33) Cái “nếu” của anh mù đưa ra thật độc đáo. Thế nhưng họ vẫn cố chấp và đối lại: “Trứng khôn hơn vịt. Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?” (Ga 9:34) Và rồi họ liền trục xuất anh. Người có tâm địa xấu là vậy, chỉ chờ có thế thôi. Không còn sĩ diện, “ngu si mà cứ tưởng mình ngay chính.” (Cn 12:15)

Chuyện anh ta bị trục xuất, Chúa Giêsu cũng biết, nên khi gặp lại anh, Ngài hỏi anh có tin vào Con Người không, anh ta hỏi Đấng ấy là ai để anh ta tin. Ngài trả lời: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” (Ga 9:37) Vô cùng bất ngờ nhưng anh lại thấy vui mừng và nói ngay: “Thưa Ngài, tôi tin.” (Ga 9:38) Nói xong, anh sấp mình xuống trước mặt Ngài. Đức tin của “cựu người mù” này lớn quá! Tại sao? Thong thường thì đa số hơn thiểu số, mặc dù nhiều người ghét Chúa Giêsu mà anh vẫn có lập trường rõ ràng của riêng mình, không chịu “gió chiều nào ngả theo chiều nấy.” Anh này thật diễm phúc – nhờ có đức tin mạnh mẽ.

Chúa Giêsu biết anh ta thật lòng nên cho biết: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Ga 9:39) Những người Pharisêu đang ở đó và nghe vậy liền lên tiếng: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?” Lại tự ái. Đầu óc “bã đậu” và “nhỏ nhen” như thế thì chả bao giờ khá lên được. Đầu óc gì mà nhỏ như hạt đậu, hẹp như ống hút nước vậy! Có lẽ lúc ấy Chúa Giêsu cũng phải lắc đầu, rồi Ngài thản nhiên bảo họ: “Nếu các ông đui mù thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng ‘chúng tôi thấy’ nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9:41) Kẻ chảnh thì thường ngu đột xuất, bây giờ lại tiếp tục ngu kinh niên, ngu tầm cỡ quốc tế luôn. Chán ngán quá!

Thế nhưng có lẽ chúng ta cũng đã có những lần giống như nhóm Pharisêu, chẳng “thoáng” hơn họ bao nhiêu. Và rồi chúng ta cũng vẫn cứng lòng, không chịu “cho vào tai” những lời “thuận ngôn,” không chịu “cân nhắc” lời hơn lẽ thiệt, không chịu “mở mắt” to để nhìn rõ vấn đề, thế nên lời nguyền rủa “có mắt như mù” cũng chẳng hề oan ức. Thế thì đáng lo sợ lắm!

Chắc chắn rằng mù lòa thì khổ lắm, khổ đủ thứ. Chỉ mờ mắt một chút đã thấy khổ rồi, càng khổ hơn nếu cận thị, viễn thị hoặc loạn thị. Nói chung là khổ hết ráo khi “cửa sổ tâm hồn” không bình thường. Thánh Vịnh gia nói: “Mở mắt coi, bạn liền thấy rõ thế nào là số phận bọn ác nhân.” (Tv 91:8) Do đó, luôn phải biết cầu nguyện: “Xin mở mắt cho con nhìn thấy luật pháp Ngài kỳ diệu biết bao.” (Tv 119:18)

Thời gian trôi qua mau chóng. Chúa Nhật IV Mùa Chay là “cột mốc” cho biết đã qua nửa Hành Trình Mùa Chay. Mỗi chúng ta đã “nhìn” thấy gì, “sáng” thêm chút nào? Có chữ bớt cận thị, viễn thị hoặc loạn thị chưa? Cận thị vì ảo tưởng mà mạo nhận là mình đạo đức tốt lành, viễn thị vì không thấy “giỏ tội” của mình ngay trước mặt, và loạn thị vì không lo đấm ngực mình mà cứ lo đấm ngực người khác. Mùa Chay không còn dài thời gian, chúng ta cùng tạ ơn Chúa và tiếp tục xin Ngài dìu dắt chúng ta đi hết chặng đường Mùa Chay đúng ý Chúa muốn.

Lạy Thiên Chúa, xin đừng trách mắng con khi thịnh nộ, đừng sửa trị con lúc nổi lôi đình. (Tv 38:2) Xin giúp con biết yêu thương chân thành, nhận ra Ngài nơi tha nhân – những người được tạo nên giống hình ảnh Ngài, đặc biệt là những người đau khổ, nghèo khó, hèn mọn. Xin cho người khác cũng nhận thấy có Ngài thực sự sống động nơi con. Xin nâng đỡ những người khiếm thị và những người chăm sóc họ. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục.

CHÚA KITÔ LÀ ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

Lời Chúa: "Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta sẽ được ánh sáng ban sự sống" (Ga,12).

Nhập lễ:

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 4 mùa chay hôm nay cho chúng ta thấy, Chúa Kitô là ánh sáng ban sự sống đã đến trong trần gian, để mở mắt thể xác và linh hồn cho những ai ngồi trong bóng tối của sự chết. Ai theo Người thì bước đi trong ánh sáng của ơn cứu độ:

Người mù từ thuở chào đời,

Nhờ tin vào Chúa, mắt ngời sáng lên!

Không tin, hồn tối như đêm,

Phép mầu Thánh tẩy làm nên con trời!

Giê - su ánh sáng ngàn đời,

Chiếu soi cuộc sống, vui tươi tâm hồn.

Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa mở mắt linh hồn chúng ta để chúng ta xác tín niềm tin vào Chúa và sống sao cho xứng đáng như con cái của sự sáng, hầu chúng ta sẽ được chung phần với Đấng là nguồn sự sáng trong vinh quang bất diệt. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối. 

Sám hối:

X. Lạy Chúa, Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì người đó mới được Chúa nghe lời. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa là ánh sáng ban sự sống đời đời cho chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời. 

CĐ: Amen.

Suy niệm:

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Trong công cuộc sáng tạo, Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Nói cách khác, con người là tác phẩm tuyệt vời của Đấng Tạo Hoá. Thiên Chúa đặt để con người trong vườn Eden để cho họ thừa hưởng và trông thấy vẻ đẹp những kỳ quan Thiên Chúa tạo dựng. Thế nhưng, tổ tông loài người đã nghe lời ma quỹ dụ dỗ và họ đã sa ngã phạm tội. Phải chăng, vì tội kêu ngạo đã làm cho đôi mắt tâm hồn của họ ra hoen ố không còn nhận ra ánh sáng tình thương của Thiên Chúa nên họ đã quay lưng lại với Ngài. Chính vì tội lỗi đã nhập vào thế gian nên làm con người phải đau khổ và phải chết. Để giúp con người có đôi mắt tâm hồn trở về tình trạng nguyên thuỷ và được sống trong ân sủng của Thiên Chúa, phụng vụ Lời Chúa hôm nay giới thiệu cho chúng ta: Chúa Kitô là ánh sáng ban sự sống. 

Thưa anh chị em, chúng ta vẫn thường nói: “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Nghĩa là đôi mắt phản ánh tâm hồn và tấm lòng con người. Bài đọc 1 hôm nay cho thấy Đavít là người con út của Giêsê, mà ban đầu ông coi thường không giới thiệu. Đavít “có mái tóc hoe, có đôi mắt xinh và gương mặt đẹp”. Đavít được Thiên Chúa tuyển chọn và sai Samuel xức dầu cho Ðavít làm vua thay thế vua Saulê đã lỗi nghĩa với Chúa. Và Chúa Thánh Thần hướng dẫn vua Ðavít từ ngày đó. Samuel được Chúa soi sáng và nhờ đó ông xác tín hơn vào việc Chúa làm: Không phải người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng nhìn thế, bởi vì “người phàm chỉ trông thấy điều lộ trước mắt, còn Thiên Chúa trông thấy điều ẩn kín trong lòng”. Chính nhờ cặp mắt đức tin giúp cho Samuel có cái nhìn của Thiên Chúa. Cũng thế, người mù trong Tin nừng hôm nay nhờ cặp mắt đức tin mà anh nhận ra và tuyên xưng Chúa Giêsu là con Thiên Chúa. Người mù từ lúc mới sinh là biểu tượng cho tình trạng loài người sau nguyên tội: Con người sinh ra trong tội và phải sống trong tối tăm. Nay Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng ban sự sống, đến trần gian để ban cho loài người ánh sáng mới của ơn cứu độ. Bằng quyền năng của một Vị Thiên Chúa làm người, Chúa Giêsu đã cho người mù được sáng mắt thể xác và sau đó, gặp lại anh lần thứ hai, Chúa Giêsu mở mắt linh hồn cho anh để anh nhận biết Người là Con Thiên Chúa mà thờ lạy Người: “Lạy Thầy, tôi tin! Và anh sấp mình thờ lạy Chúa”.

Có câu chuyện kể rằng, một vị ẩn sĩ hỏi các đồ đệ rằng: “Đâu là lúc đêm sắp tàn và ngày sắp đến ?” Nhiều câu trả lời của các học trò được nêu ra: Kẻ thì cho rằng đó là lúc ta có thể phân biệt từ xa một cây dừa với một cây cau. Người khác cho rằng đó là lúc ta có thể phân biệt được một con bò với một con trâu… Đáp án đúng nhất mà vị ẩn sĩ muốn dạy các đồ đệ như sau: “Đó là khi ta nhìn người khác và nhận ra họ là anh em của ta”.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Ngày sắp đến là khi ta nhìn người khác và nhận ra họ là anh em của ta. Với những người biệt phái, họ nhìn Chúa Giêsu với cặp mắt thành kiến theo lăng kính của họ, bởi thế họ đã không nhận ra Người: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa”. Tuy nhiên với anh mù thì khác, sau khi được Chúa Giêsu mở mắt thể xác anh cũng được Chúa mở mắt linh hồn, nhờ đó anh đã nhận ra Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và anh sấp mình thờ lạy Người. Đức tin của anh đã giúp anh nhận ra Chúa Giêsu là ánh sáng ban sự sống. Ngày nay nhờ bí tích rửa tội, chúng ta được Chúa Giêsu mở mắt linh hồn để đón nhận ánh sáng chan hoà của Chúa. Cặp mắt đức tin này quan trọng hơn cặp mắt thể xác, vì nó giúp chúng ta xem điều gì đẹp lòng Chúa. Thánh Phaolô nói: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật.” 

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta xác tín niềm tin vào Chúa và thực hành những điều Chúa dạy, để chúng ta bước đi trong ánh sáng ban sự sống của Chúa là nguồn hạnh phúc đích thực. Amen. mục lục.

MÙ LÒA

[Niệm ý Ga 9:1-41]

Mù lòa – khiếm khuyết xác thân

Thiếu gì khốn nấy, tất nhiên khổ rồi

Mỗi người chỉ một cuộc đời

Nhưng hai phần sống rạch ròi Hồn – Thân

Mù lòa hồn khốn đốn hơn

Đó là mê muội – bóng đêm gian tà

Tối tăm sự chết hiểm nguy

Quỷ ma rình rập sớm khuya hại người

Muốn mau thoát khỏi mù đời

Trước tiên phải thấy “cái tôi” của mình

Phải can đảm bỏ cho nhanh

Khiêm nhu, tin cậy vào tình Chúa ngay

Mù đời con chịu đắng cay

Cứu khỏi đọa đày, lạy Chúa từ nhân! mục lục.

Viễn Dzu Tử

SỰ SÁNG THẾ GIAN

(Cảm nhận và suy niệm Ga 9,1-41)

Môn đệ Chúa thấy người mù nọ

Thắc mắc xin Thầy tỏ cho hay

Tội ai hắn phải chịu đây?

Chúa rằng chẳng phải tật này tại ai. 

Mọi sự thế không ngoài Thánh Ý   

Khi Ta còn lưu ký trần gian

Tối tăm, tội lỗi ngập tràn

Ta là sự sáng sẵn sàng chiếu xa.

Nhờ nước miếng trộn hoà với đất

Hoá thành bùn, Chúa đắp mắt anh

Chúa rằng: đi rửa cho nhanh

Tại hồ lịch sử, sẽ dành ơn thiêng.

Được sáng mắt anh liền quay lại

Cả đoàn người xúm lại chứng minh

Rằng Chúa là Đấng Cứu Tinh

Riêng người Biệt Phái cố tình chẳng tin.

Nếu đã thấy, không tin là mù mở

Kẻ mù này muôn thuở đáng khinh

Quen đời, kiêu ngạo, cậy mình

Coi thường quyền phép cực linh Chúa làm. mục lục.

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan