SUY NIỆM CHÚA NHẬT V MC_A

27-03-2020 300 lượt xem

Lời Chúa: Ed 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 11,1-45

Mục Lục

HÃY RA KHỎI MỒ+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

BÊN MỘ LADARÔLm. Giuse Nguyễn Hữu An

THỰC MỤC SỞ THỊ JM. Lam Thy ĐVD

CHÚA KITÔ LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNGLm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

HAI CUỘC ĐỜI Trầm Thiên Thu

CHẾT ?Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

CHÚA KITÔ LÀ SỰ SỐNG - Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

Thơ HỒI SINH Viễn Dzu Tử

Thơ: TA LÀ SỰ SỐNG LẠI (Thế Kiên Dominic)

HÃY RA KHỎI MỒ

+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

“Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống”. Đó là một đề tài quan trọng trong Tin Mừng Thánh Gioan. Ý tưởng này được nhấn mạnh nhiều lần trong Tin Mừng thứ tư và trong các Thư được truyền thống Giáo Hội công nhận tác giả là Gioan. Khi nhấn mạnh đến đề tài này, tác giả Tin Mừng muốn trình bày Đức Giêsu chính là Thiên Chúa và là nguồn mạch sự sống. Bởi trong giáo huấn của Cựu ước, thì chỉ có Thiên Chúa mới làm chủ sự sống và sự chết. Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền mở huyệt và đưa những người trong âm phủ đi ra. 

“Hỡi dân Ta, này chính Ta sẽ mở huyệt cho các ngươi!”. Ngôn sứ Edêkien đã khơi lên nguồn hy vọng cho người Do Thái. Lời hứa “mở huyệt” này, vừa ám chỉ tới việc Chúa giải phóng Dân người khỏi ách nô lệ lúc bấy giờ để đưa về quê cha đất tổ, vừa hướng họ tới sự sống trường sinh vĩnh cửu, tức là sự sống Thiên Chúa sẽ ban cho con người sau khi chết. Theo giáo huấn của ngôn sứ Êdêkien, ngôi huyệt sẽ không còn là chỗ dừng chân mãi mãi, nhưng chỉ là tạm thời. Thiên Chúa quyền năng sẽ mở huyệt để thân xác con người không còn chết nữa, nhưng được sống với Chúa mãi mãi.

Chúa Giêsu nhiều lần khẳng định: chính Người là sự sống. “Ta là Đường, là Sự thật, và là Sự sống” (Ga 14,6). Trong các phép lạ Chúa làm, có những phép lạ cho kẻ chết sống lại, như trường hợp người thanh niên là con bà góa ở thành Naim, hay bé gái 12 tuổi đã chết mà Chúa cho sống lại. Phép lạ cho ông Lagiarô sống lại là một phép lạ điển hình, nhằm chứng minh những gì Chúa khẳng định về sự sống. Trong cuộc đối thoại với bà Mátta, chị của người chết, Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Chính Thày là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thày, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống mà tin vào Thày, sẽ không bao giờ phải chết” (11, 25-26). Cũng như lời Chúa tuyên bố qua ngôn sứ Êdêkien, lời Chúa Giêsu vừa nhắc tới sự sống trần gian, vừa hướng tới sự sống vĩnh cửu. Người là Thiên Chúa, Đấng có quyền làm cho kẻ đã chết được sống lại. Người cũng là Đấng ban cho con người sự sống đời đời. Lời hứa với người trộm lành trên cây thập giá đã chứng minh điều đó: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với tôi” (Lc  23,43). Đức Giêsu đã dùng quyền năng Thiên Chúa kêu gọi ông Lagiarô ra khỏi mồ. Sự kiện này đã giúp cho người Do Thái tin vào Chúa. Thánh Gioan diễn tả một Đức Giêsu thực sự là “người”. Người chạm đến nỗi đau của con người, rơi lệ trước đau khổ của người khác và đưa họ từ cái chết đến sự sống. Chúa Giêsu không giống như một nhà phù thủy, nhưng là Thiên Chúa làm người có trái tim nhân loại, sẻ chia và mang lấy nỗi đau của con người, nhường cho con người hạnh phúc và vinh quang.

“Tôi chính là Mục tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Những lời tuyên bố này cho thấy Chúa Giêsu hiến mình cho sự sống của con người. Hôm nay cũng như mọi thế hệ, Chúa vẫn tiếp tục hiến mình vì sự sống của chúng ta. Chuẩn bị cử hành mầu nhiệm thập giá và Phục sinh, đề tài “Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống” giúp chúng ta nhìn xuyên qua cái chết để thấy sự sống tuôn chảy từ thập giá. Nhờ cái chết của Chúa Giêsu mà nhân loại được sống. Người đã chết thay cho chúng ta. Người đã mang lấy án tử cho chúng ta được sống. Trên cây thập giá, Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu thành tội nhân vì chúng ta.

“Hãy ra khỏi mồ!”. Lệnh truyền này đã đưa ông Lagiarô từ cõi chết trở về cõi sống, đồng thời đem niềm vui cho thân bằng quyến thuộc. Mùa Chay là lời mời gọi đoạn tuyệt với tội lỗi để sống cuộc sống mới. Những thực hành Mùa Chay giúp ta ra khỏi nấm mồ tối của sự ích kỷ, chia rẽ và hận thù. Để bước ra khỏi huyệt mộ của tội lỗi, đòi hỏi mỗi chúng ta phải hy sinh cố gắng nhiều khi đến mức anh hùng. Vì thay đổi đời sống, hướng cuộc đời sang một ngã rẽ khác cũng có nghĩa là đoạn tuyệt với quá khứ, dứt bỏ mọi ràng buộc để được sống trong tự do của con cái Chúa, hướng về tương lai tươi sáng trong bình an. Nhờ cuộc sống mới, họ giống như người đang đi trong ánh sáng mặt trời, không sợ vấp ngã. Bà Mátta, chị của Lagiarô, mặc dù tuyên xưng đức tin một cách quả quyết, cũng không hy vọng em mình có thể sống lại. Bà nói với Chúa: “Thưa Thày, nặng mùi rồi, vì em con đã ở trong mồ được bốn ngày” (Ga 11, 39). Chính trong lúc không một tia hy vọng theo lý luận thông thường của con người, thì quyền năng Thiên Chúa đã được tỏ bày. Chúa Giêsu đem hy vọng cho con người vào lúc họ cảm thấy bi đát nhất ở ngõ cụt của cuộc đời. Một thân xác bắt đầu thối rữa, nhờ quyền năng của Chúa, vẫn có thể được hồi sinh. Một con người dù tội lỗi tràn trề, nếu biết dừng lại sám hối, vẫn có thể được ơn tha thứ.

Những ai đã can đảm và dứt khoát bước ra khỏi huyệt mộ thì sẽ sống một cuộc sống mới. Cuộc sống ấy không còn bị xác thịt chi phối nữa, tức là không còn bị những đam mê xác thịt ràng buộc và cản trở. Họ được tự do thanh thoát mặc dù vẫn sống trong thân xác còn mang nhiều yếu đuối. Chính Chúa Thánh Thần thúc đẩy và đổi mới chúng ta, nhờ đó chúng ta có sức mạnh để vươn lên trong sự sống mới này (Bài đọc II).

Giữa đại dịch COVID-19, chúng ta không khỏi hoang mang lo sợ. Cả thế giới cầu nguyện nhưng dường như Thiên Chúa không để ý quan tâm. Lời Chúa hôm nay khích lệ chúng ta: hãy hy vọng và tín thác. Thiên Chúa có chương trình và phương pháp riêng của Ngài. Đến như thân xác ông Lagiarô đã bốc mùi và phân hủy Chúa còn làm cho sống lại. Lời cầu nguyện của chúng ta chắc chắn được Chúa nhận lời, vào lúc Chúa muốn, theo như cách Chúa muốn và nhằm tới ích lợi thực sự của chúng ta. Bởi lẽ, Thiên Chúa là Cha nhân hậu, luôn muốn điều tốt cho con cái của mình. mục lục.

BÊN MỘ LADARÔ

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trong dịp hành hương Đất Thánh, tôi có đến thăm ngôi mộ Ladarô. Từ Vườn Cây Dầu, nếu đi băng đồi theo đường thẳng chỉ chừng 4 km, nhưng hiện nay nằm trong phần đất thuộc Palestine với bức tường bêtông ngăn lối cũ, nên phải đi vòng bằng xe bus khoảng 20 km mất chừng 30 phút. Bêtania tên hiện nay là El - Eizarya. Thăm căn nhà Bêtania. Viếng nhà thờ dâng kính cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Matta trước khi Chúa làm phép lạ cho Ladarô sống lại. Nhà thờ bằng đá không lớn lắm. Phía ngoài nhà thờ, ngay bên đường lộ, một hầm sâu với bậc thang đi xuống, là mộ Ladarô. Mộ đục sâu vào đá, mấy chục bước tam cấp đi xuống, ánh sáng mờ ảo hắt lên những phiến đá lạnh lẽo nhập nhoà lung linh nơi Ladarô đã an nghĩ bốn ngày.

Đứng trước mộ Ladarô, tôi nhớ đến đoạn Tin Mừng Ga 11,1-45.
Ladarô đau nặng, Matta và Maria sai người đến báo tin cho Chúa Giêsu hay : “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng”. Chúa bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang Thiên Chúa”.
Cho dù Ladarô đã chết, nhưng Chúa Giêsu vẫn nói với các môn đệ: “Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó để anh em tin”. Chúa Giêsu và các môn đệ lên đường tới Bêtania. Matta đón Ngài và biểu lộ niềm tin tưởng tuyệt đối: “Lạy Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Nhưng bây giờ con biết: bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy”.

Ladarô đã chết nhưng Matta tin chắc chắn Chúa có thể làm cho em trai mình được sống bởi vì Ngài là Đấng quyền năng. Chúa Giêsu mạc khải: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”. Với lời xác quyết vừa trang trọng vừa lạ lùng này, Chúa Giêsu đòi hỏi Matta phải xác tín: “Con có tin điều đó không?”. Matta tuyên xưng: “Thưa Thầy có, con vẫn tin Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian”.

Matta biết Chúa Giêsu là Đấng quyền năng, Ngài có thể truyền lệnh cho sự chết cũng như Ngài đã truyền lệnh cho sóng gió phải im lặng. Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ. Ngài truyền cho Ladarô sống lại bước ra khỏi mồ, sau khi đã cầu nguyện và cảm tạ Chúa Cha. Trước sự thật hiển nhiên này, một số người đã tin theo Chúa. Một số khác, nhất là các Biệt phái và các Thượng tế lại chống đối cách quyết liệt hơn nữa. Họ hội họp với nhau và quyết định kết án tử hình cho Chúa.

“Thầy là sự sống lại và sự sống”, lời tuyên bố của Chúa Giêsu trước khi làm cho Ladarô sống lại là một trong những lời kỳ diệu nhất đối với người thời đại cũng như bao người ngoài Kitô giáo và những người vô thần ngày nay. Nhưng đối với chúng ta, lời tuyên bố đó là chính nền tảng, và là hy vọng của cuộc đời.

Là Kitô hữu, chúng ta tin có tội lỗi, tin vào thánh giá, tin có sự đau khổ và sự chết, tin vào ơn tha thứ, tin vào niềm vui, vào sự giải thoát, tin vào sự sống và sự sống lại.

Chính vì thế mà tất cả những lời chứa đựng trong Kinh Thánh Tân ước được gọi là Tin Mừng. Chúa Giêsu Kitô chính là nội dung Tin Mừng. Thánh Phaolô thường gọi những lời thuyết giáo của Chúa là “Tin mừng Chúa Kitô” (x.1Tx 3,2; 1Cr 2,12; 4,4; 8,13; 10,14; Pl 1,27; Rm 15,19). Trong Tin Mừng bao giờ cũng nêu lên hai điểm chính yếu: Chúa Kitô đã chết và Ngài đã sống lại (x.1Tx 4,14; 2 Cr 13,4; Rm 4,24-25; 8,34; 14,9).

Sống và chết là qui luật tuần hoàn và phát triển của muôn loài muôn vật. Vạn vật tuy biến hóa, thay đổi hình dạng, nhưng nguyên khí vẫn là một. Trong sự biến hóa, thì chết là để phát sinh sự sống mới, vì : “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12, 24). Như vậy: chết là điều kiện nhất thiết để triển nở và thành toàn; chết là một sự thay đổi cách thái hiện hữu ở một mức độ sung mãn hơn. Dựa theo qui luật tuần hoàn và phát triển đó, chúng ta cảm nhận cách sâu xa khi Chúa Giêsu nói về sự sống con người : “Ai yêu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” (Ga 12, 25).

Chết và sống lại đó là hai sự kiện căn bản không thể tách rời. Không thể có sống lại nếu không chết. Trái lại, nếu Chúa Kitô chết không sống lại thì nói như Thánh Phaolô “đức tin của chúng ta chỉ là trống rỗng” (1Cr 15,14), nghĩa là vô giá trị, giả dối. Chết và sống lại là hai sự kiện “bất khả phân”. Hai sự kiện của một mầu nhiệm Chúa Kitô.

Bài Tin Mừng hôm nay chứng minh cách tổng hợp, Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa quyền năng vừa là con người yêu thương. Ngài là Thiên Chúa, vì có quyền năng làm cho kẻ chết sống lại. Là con người nhân ái đến thăm gia đình quý mến có người yêu thương đã chết, trái tim Chúa rung động trước những muộn phiền niềm đau chia ly trước sự chết. Chúa “thổn thức trong lòng và xao xuyến”. Chúa đã khóc khi đứng trước mộ Ladarô. Chắc hẳn Chúa đã tỏ ra xúc động rất nhiều đến nỗi những người có mặt ở đó đã phải thốt lên: “Kìa xem! ông ta thương anh Ladarô biết mấy!”.

Chúa đã cho Ladarô sống lại, hứa hẹn niềm hy vọng cho nhân loại: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”. Niềm hy vọng vào sự sống lại của những người đã chết được Thiên Chúa mạc khải dần dần, dựa trên niềm tin vào Thiên Chúa.Người “không phải Thiên Chúa của những người chết, nhưng của những người sống” (Mc 12,27).

Ladarô đi vào đường hầm của sự chết. Chúa đã gọi Ladarô quay trở lại: “Ladarô, hãy ra đây!... Người chết đi ra, chân tay còn quấn những mãnh vải…”. Ladarô xuất hiện với cùng một thân xác như khi đi vào mồ.

Trong Cựu Ước, ngôn sứ Êlia đã làm cho con trai của bà góa ở Sarépta sống lại (x.1V 17,17-24), ngôn sứ Êlisa cũng làm cho đứa con trai của bà Sunêm sống lại (x.2V 4,32-37). Trong Tân Ước, Phêrô đã làm cho bà Tabitha đã chết sống lại (x.Cv 9,39-42). Chúa Giêsu đã làm cho người chết sống lại ít nhất ba lần: cho con trai bà góa thành Naim (x. Lc 7,11-15), cho con gái một ông trưởng hội đường (x. Mt 9,18-26; Mc 5,35-43; Lc 8,49-56), và cho Ladarô. Cũng như những người được hồng ân sống lại từ cõi chết, Ladarô sau này sẽ lại chết, người thân phải mai táng anh lần nữa.

Chúa Giêsu đối đầu với sự chết ngay trong lãnh địa của nó. Ngài vào và ra khỏi đó như một người chủ vì Ngài nắm giữ chìa khóa sự chết và âm phủ (Kh 1,18). Ngài đã chịu chết nên Thiên Chúa đã ban triều thiên vinh quang cho Ngài (Dt 2,9); Ngài trở nên “trưởng tử giữa các vong nhân” (Cl 1,18). “Nhờ sự chết của mình, Chúa Giêsu đã giao hòa chúng ta với Thiên Chúa” (Rm 5,10) “để chúng ta được lãnh gia nghiệp đã hứa cho” (Dt 9,15). Đối với người Kitô hữu, chính cái chết thân xác mang một ý nghĩa mới. Chết không còn là một định luật con người đành phải tuân theo, đành phải chấp nhận hay một hình phạt do tội lỗi gây ra. Người Kitô hữu “chết cho Chúa”, như đã sống cho Chúa (Rm 14,7; Pl 1,20). Nếu họ hy sinh đổ máu để làm chứng cho Chúa, cái chết của họ là một hy lễ tiến dâng lên Thiên Chúa (1Tim 4,6) và đáng được triều thiên sự sống (Kh 2,10; 12,11).

Từ chỗ là do định luật thiên nhiên đáng lo sợ, cái chết trở thành cõi phúc “Phúc thay những người chết trong Chúa” (Kh 14,13), để được sống đời sống mới và ở đó “không còn sự chết nữa” (Kh 21,4). Đối với những ai sống lại với Chúa Kitô sẽ không có “cái chết lần thứ hai” (Kh 20,6). Như thế đối với người Kitô hữu, chết là một phúc lợi vì được chính Chúa Kitô là sự sống (Pl 1,21).

Thiên Chúa là Đấng có quyền trên sự sống của con người. Chúa Giêsu hứa ban sự sống lại vào ngày sau hết cho những ai tin vào Ngài. Chúa Giêsu đã nối kết niềm tin vào sự sống lại của con người với niềm tin vào chính sự sống lại của Ngài: “Ta là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25; 1Cor 15,16-19). Chúa Giêsu đã đưa ra một chiều kích hiện sinh mới, mở ra cho ta con đường tiến tới chân lý sự sống bằng sự chết mà Ngài đã thực hiện. Chính sự tử nạn và phục sinh của Ngài làm cho mọi cái chết trở thành Tin Mừng của sự sống.

Chúa Giêsu không chỉ yêu thương chúng ta bằng tình yêu thần linh của một vị Thiên Chúa, mà còn yêu bằng chính tình cảm đầy tính người của con người. Và dù mang tính con người, tình yêu ấy vẫn rất bao la, quảng đại và triệt để: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1b). “Đến cùng” ở đây là tới mức tận cùng của tình yêu con người, không ai có thể yêu hơn được nữa: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).

Sự chết và sống lại của Chúa Giêsu Kitô không những đã chuộc lại những gì con người đã mất do tội lỗi nhưng còn là một cuộc sáng tạo. Nhờ sự chết và sống lại mà Ngài đã nối nhịp cầu hiệp thông liên kết giữa Thiên Chúa và con người, thiết lập một tương quan mới Cha con. Nhân loại từ đây không những được ơn tha thứ, được gột rửa sạch tội lỗi để khỏi án chết đời đời, nhưng còn được trở nên con cái Thiên Chúa, được gọi Người là Abba, Cha ơi (Rm 8,15).

Sự sống mà Thiên Chúa ban cho con người khi sáng tạo là sự sống trong tương quan giữa Hoá Công và thọ tạo. Sự sống mà Chúa Kitô đem lại cho con người là sự sống trong tương quan giữa Thiên Chúa là Cha và loài người được nâng lên địa vị làm con. Sự sống “tự nhiên” là một thực tại khách quan. Sự sống mới hay sự sống”siêu nhiên” là một trạng thái ân tình mà con người phải đi vào để được thực sự thông hiệp với Thiên Chúa.

Tin và sống trong ân tình Chúa Kitô chính là chiến thắng sự chết, là mang trong mình mầm mống của sự sống đời đời. “Ai sống và tin vào Thầy thì sẽ không bao giờ chết” (Ga 11,26; 1Ga,14). “Không bao giờ chết” là không bao giờ mất hiện hữu trong tương quan với Ba Ngôi Thiên Chúa, không bao giờ mất sự sống trong tương quan ân tình với Người.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con. Xin cho chúng con được sống lại trong niềm tin vào Chúa để chúng con được sống dồi dào trong tình thương của Chúa. Amen. mục lục.

THỰC MỤC SỞ THỊ

JM. Lam Thy ĐVD

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay chọn đề tài sự sống lại và sự sống. Tuy nhiên đề tài ấy không chỉ dành riêng cho những ai sắp được rửa tội vào đêm Vọng Phục Sinh, mà còn cho tất cả chúng ta là những người cần được sống lại và sống đời sống thiêng liêng mỗi ngày. Quả thực đây là đề tài rộng lớn, một ít phút suy niệm không thể nào đủ, nên chúng ta sẽ dừng lại ở một vài điểm chủ yếu gặp được trong các bài đọc.

Bài Tin Mừng Chúa nhật V.MC-A (Ga 11, 1-45) trình thuật phép lạ Đức Giê-su cho anh La-da-rô chết chôn đã 4 ngày được sống lại. Sự kiện anh La-da-rô bị đau nặng đã được chị Mac-ta và Maria cho người đến báo tin cho Đức Ki-tô (chắc cũng có ý muốn xin Người chữa bệnh cho em mình); nhưng Người lại không tới liền mà mãi 4 ngày sau mới tới. Việc làm này mang ý nghĩa gì? Nếu Người tới liền, thì có thể anh La-da-rô sẽ không chết và như thế thì Đức Ki-tô cũng chỉ là một thầy lang giỏi chữa bệnh mà thôi. Còn nếu Người tới mà La-da-rô vẫn chết và dù sau đó có được Chúa cho sống lại, thì người đời (thông qua các môn đệ) vẫn bán tín bán nghi, không thể hiểu được rằng: "Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh." (Ga 11, 4). 

Đúng là các môn đệ đã không hiểu được ý nghĩa sâu xa trong Lời dạy của Đức Ki-tô, nên khi nghe Người nói: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu” và sau đó Người còn nói: "La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây." (Ga 11, 11), các ngài đã cho là La-da-rô chỉ ngủ thiếp đi và sau giấc ngủ sẽ khoẻ lại. Sự kiện này khiến kẻ viết bài này nghĩ tới lần Đức Giê-su chữa con gái ông trưởng hội đường (Mc 5, 35-43). Lần đó, Đức Giê-su cũng nói: "Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!" (Mc 5, 39). Con gái ông trưởng hội đường đã chết, mọi người thương cảm than khóc, thì Đức Giê-su lại bảo là “nó ngủ đấy”. Lần này, nếu các môn đệ có cho rằng La-da-rô ngủ thì cũng không lạ. Và vì thế, Đức Ki-tô phải nói rõ hẳn ra: "La-da-rô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy." (Ga 11, 14-15). 

Lời dạy của Đức Ki-tô: “Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin” (Ga 11, 15), đã minh hoạ rõ ràng là Người có chủ định để La-da-rô chết chôn được 4 ngày mới lại thăm và tỏ uy quyền của Thiên Chúa cho anh ta sống lại. Đúng là đáng mừng cho các môn đệ lúc nào cũng cứ “bán tín bán nghi” (nửa tín nửa ngờ), thì đây là dịp được “thực mục sở thị” (trông thấy nhãn tiền) một phép lạ chỉ có Thiên Chúa mới làm được. Vâng, Đức Giê-su không có mặt khi anh La-da-rô chết, và Người còn để anh được chôn trong hang đá tới 4 ngày, xác chết đã nặng mùi, như thế thì các môn đệ mới thực sự tin rằng anh La-da-rô đã chết (chớ không phải chỉ ngủ say). Và nhờ đó, khi Đức Ki-tô tới kêu anh ta ra khỏi mồ, mọi người mới tin thật rằng: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống." (Ga 11, 25). 

Quả thật, với các môn đệ lúc nào cũng bán tín bán nghi thì không còn cách nào để có thể củng cố đức tin cho các ngài hơn là dịp này. Được củng cố đức tin đến như thế, mà tới giờ phút phải bày tỏ niềm xác tín (Thầy bước vào cuộc khổ nạn, chết trên thập tự và sống lại hiển vinh) cũng vẫn còn nửa tin nửa ngờ. Đã không tin lúc Thầy còn sống và làm phép lạ, mà cả đến khi Thầy từ cõi chết sống lại hiển nhiên cũng vẫn hoài nghi. Tuy chỉ có một Tô-ma không có mặt lúc Thầy hiện ra nên mới bày tỏ sự hoài nghi: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." (Ga 29, 25); nhưng còn những vị được diện kiến Thầy mình phục sinh hiện ra thì đã tin chưa? Nếu tin thì sao lại xảy ra cảnh “các ông kinh hồn bạt vía tưởng là thấy ma!” (Lc 24, 37)? 

Ngay ở cái thế kỷ XXI này, sự hoài nghi còn vượt xa các Tông đồ tiên khởi. Hoá cho nên các ngài sống cách đây hơn 2000 năm, nếu cứ hay nửa tin nửa ngờ cũng chẳng có gì đáng phàn nàn, vì bản chất con người là thế. Các tông đồ ở liền bên với Thầy mà cũng chỉ tin khi được trông thấy nhãn tiền người chết “chôn trong mồ đã 4 ngày và nặng mùi rồi”, Đức Ki-tô không hề chạm đến anh ta mà chỉ hô lớn tiếng: "Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!", thì ngay lập tức anh ta bước ra khỏi mồ với khăn liệm còn quấn trên người. Một cách cụ thể thì các Tông đồ tiên khởi cũng như các Ki-tô hữu ở tiền bán thế kỷ XXI này vẫn rất cần được củng cố đức tin. Ấy cũng bởi vì: “Với Mác-ta, đang khóc thương cái chết của em trai mình là La-da-rô, Chúa Giê-su bảo: “Tôi đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa đó sao?” (Ga 11, 40). Ai tin, sẽ thấy; họ thấy bằng thứ ánh sáng đang soi sáng trọn cuộc hành trình của họ, vì ánh sáng này phát xuất từ Chúa Ki-tô phục sinh, sao mai không bao giờ lặn.”  (Thông điệp Ánh Sáng Đức Tin “Lumen Fidei”, số 1).

Cuối cùng thì vấn đề đặt ra là “nếu chị tin, chị sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa”. Các ngôn sứ thời Cựu Ước cũng không ngoại lệ. Thật thế, “Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ít-ra-en. Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là ĐỨC CHÚA, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta. Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh.” (Ed 37, 12-14). Vậy thì người Ki-tô hữu ở thế kỷ XXI này còn đợi gì mà không chân thành tái đặt trọn niềm tin của mình nơi Đấng đã phán dạy: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết." 

Để “tái đặt trọn niềm tin của mình” vào Đấng Phục Sinh, cũng tức là để củng cố đức tin cho bản thân, xin đừng ỷ tài cậy sức, mà hãy chạy đến với Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đức Tin, mà khẩn thiết van nài: "Lạy Mẹ, xin Mẹ giúp đỡ đức tin chúng con! Xin Mẹ gieo vào đức tin chúng con niềm vui của Đấng Phục Sinh. Xin Mẹ nhắc nhở chúng con rằng người tin không bao giờ đơn độc. Xin Mẹ dạy chúng con biết nhìn mọi sự bằng con mắt của Chúa Giê-su, để Người là ánh sáng soi đường chúng con đi. Và ánh sáng đức tin này luôn gia tăng nơi chúng con, cho tới hừng đông của ngày bất tận là chính Chúa Ki-tô, Con Mẹ, Chúa chúng con!" (Thông điệp Ánh Sáng Đức Tin “Lumen Fidei”, phần kết luận). Ước được như vậy. Amen. mục lục.

CHÚA KITÔ LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Sau khi Giáo hội ngưng nghỉ để (Lætare) chuẩn bị tốt hơn niềm vui Phục Sinh dù còn hai tuần nữa, nhưng niềm vui ấy đã ló rạng trong các bài đọc Chúa nhật hôm nay, tuy không nói về sự sống lại của Chúa Giêsu vì đó là điều tất yếu, nhưng nói về sự phục sinh của chúng ta, chính Chúa Kitô ban cho chúng ta: trỗi dậy từ trong cõi chết.

Phục sinh Ladarô báo trước cái chết của Chúa Giêsu

Sự kiện Ladarô sống lại như một bi kịch giữa Sự Sống và Sự Chết, giữa Đấng được Chúa Cha sai đến là Đức Giêsu Kitô, Chúa của Sự Sống, và thủ lãnh sự chết tiềm ẩn nơi: bệnh tật, cái chết của Ladarô, cũng như các âm mưu chống lại Chúa Giêsu.

Ngay từ đầu, Chúa Giêsu cho thấy những thử thách về bệnh tật của bạn mình, cũng như cái được cái mất trong cuộc thương khó của Người: "Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa" (Ga 11, 4). Chúa Giêsu biết rõ, Ladarô chết và việc của Người nên nói với các môn đệ: " Ladarô đã chết" (Ga 11, 14). Nhưng Người sẽ cho sống lại, vì "sáng danh Thiên Chúa" (Ga 11, 4).

Đây là phép lạ thứ bẩy và cuối cùng thu hút sự chú ý nhất của dân chúng vào Chúa Giêsu trước khi Người bị bắt. Khi loan báo cho các môn đệ biết về ý muốn trở lại Giuđêa của Chúa Giêsu để gặp Ladarô đã chết, các ông hết sức ngạc nhiên và lo lắng nên nói: "Thưa Thầy, mới đây người Do thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư? "(Ga 11, 8). Quả thật, các nhà lãnh đạo Do thái đã để mất Chúa Giêsu vào dịp này: "Bởi vậy từ ngày đó, họ quyết định giết Người" (Ga 11, 53 ). Nhưng phản ứng của Chúa Giêsu là: "Ladarô đã chết, chúng ta hãy đi với anh ta" (Ga 11, 15), Người sẽ đánh bại sự chết, cứu con người khỏi chết và ban cho sự sống.

Niềm hy vọng của chúng ta

Trọng tâm của Tin Mừng hôm nay là câu: "Ta là sự sống và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ "(Ga 11, 25-26). Nếu chúng ta đặt niềm tin vào Chúa Giêsu, Chúa Cha "Đấng đặt Thánh Thần của Ngài trong chúng ta, và chúng ta đang sống" sự sống của Người (Ez 1, 13) thì chúng ta sẽ được Thiên Chúa cho sống lại ngày sau hết.

Chúa cho Ladarô sống lại như Người đã làm cho con gái ông Giairô, con trai của bà góa thành Naim trở lại sự sống tự nhiên lần thứ hai trong một thời gian ngắn. Trái lại, "Ðức Kitô sống lại từ cõi chết, không còn chết nữa, sự chết không còn bá chủ được Người nữa" (Rm 6, 9) vì Người sống sự sống của Thánh Thần Thiên Chúa. Nhưng "nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em" (Rm 8,11). Sao chúng ta không thể hy vọng được.

Phần lớn chúng ta mong đợi trở lại cuộc sống tự nhiên. Chắc chắn chúng ta sẽ chết, bởi vì "thân xác chúng ta đã chết vì tội lỗi" (Rm 8, 10) nhưng "nếu Đức Kitô ở trong chúng ta" và chúng ta ở trong Người với đức tin sống động, thì linh hồn chúng ta sẽ sống bằng sự sống của Thiên Chúa và được tham dự vào sự bất tử của Người. Hơn nữa: chúng ta tin vào Phép rửa: "Vậy nhờ thanh tẩy, ta đã được mai táng làm một với Người trong sự chết, ngõ hầu như Ðức Kitô, nhờ bởi vinh quang của Cha, mà được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới ". (Rm 6, 4).

Thật là đại tin mừng: "Nơi Người là sự Sống, và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại.  Và sự sáng rạng trong tối tăm, và tối tăm đã không tiêu diệt được sự sáng" (Ga 1, 4-5). Nếu như tác giả Tin Mừng đã hai lần thuật lại điều Martha và Maria than với Chúa về đau khổ của hai bà: "Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết" (Ga 11, 32), há không phải muốn nhấn mạnh rằng, từ nay, tiếng khóc không còn nữa đó sao? Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Người hỏi: "Đã an táng Ladarô ở đâu?" (Ga 11, 32) Nước mắt Chúa như mưa, Ladarô như hạt giống, và ngôi mộ như một thửa đất. Chúa Giêsu hô lớn tiếng, tiếng Người làm cho sự chết run sợ, Ladarô đã bung lên như hạt giống, anh bước ra khỏi mồ và tôn thờ Đấng đã cho anh sống lại.

Mãnh lực của sự chết đã thống trị Ladarô bốn ngày. Chúa Giêsu đã đánh bại sự chết ngày thứ ba, đúng như lời Người đã hứa rằng, Ngài Người sẽ sống lại ngày thứ ba sau khi chết (x. Mt 16, 21).

"Hãy đẩy tảng đá ra" (11, 39). Cái gì vậy, Đấng đã làm cho kẻ chết sống lại, nay không thể mở cửa mồ hay phán một lời để di chuyển tảng đá đóng cửa mồ hay sao? Chắc chắn, Người có thế khiến tảng đá lăn ra khỏi mồ bằng lời Người phán, khi Người bị treo trên thập giá, Người đã từng chẻ đôi tảng đá và mở tung các cửa mồ (Mt 27,51-52).

"Hãy cởi ra cho anh ấy đi"(11, 44). Chúa bảo người chung quanh cởi cho anh để họ nhận ra chính anh là người họ đã bọc vào trong khăn an táng, thân xác đã phân hủy, nay sống lại nhờ quyền năng Chúa. 

Hình ảnh báo trước và là lời hứa phục sinh cho các dự tòng

Là người thật, Ðức Kitô đã khóc Ladarô, bạn hữu Người; là Thiên Chúa hằng sống, Người đã truyền cho Lagiarô sống lại ra khỏi mồ. (Kinh Tiền Tụng). Hôm nay Chúa cũng tuyên bố: "Ta là sự sống lại và là sự sống" và hỏi "Con có tin điều đó không?" Cùng với Mácta chị của Ladarô các anh chị em dự tòng thưa: "Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian” (Ga 11,). Chúa phục sinh Ladarô là hình ảnh báo trước sự phục sinh cho các dự tòng là những người mong đợi trong Đêm Vọng Phục Sinh. Khi dìm mình trong nước nước Rửa tội, người dự tòng được giải thoát khỏi sự chết và sống lại với Chúa Kitô. Sự sống lại này, như lời tiên tri Êdêkiên: "Ta sẽ mở cửa mồ cho các người, Ta sẽ kéo các người ra khỏi mồ" (Ez 37, 12-14). "Ta đặt thần khí ta vào tâm hồn anh em" (Ez 37, 6) : nhờ Phép Rửa tội, Thần Khí Đức Kitô ngự vào trong chúng ta (Rm 8, 8-11), Thần Khí kết hợp người chịu phép rửa trong tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con ; khi đón nhận, chúng ta được tham dự vào tình yêu này của Ba Ngôi Thiên Chúa. Amen. mục lục.

HAI CUỘC ĐỜI

Trầm Thiên Thu

Chết Đi Để Rồi Được Sống Lại

Sống Lại Rồi Sẽ Vui Trường Sinh.

Mỗi người chỉ có một cuộc đời, nghĩa là không thể rút kinh nghiệm cho lần khác theo kiểu luân hồi. Và chắc chắn KHÔNG hề có kiếp luân hồi. Nhưng về tâm linh, con người có hai cuộc đời, hai lần sống – đời này và đời sau.

Thế gian có nhiều loại “cuộc,” nhưng có lẽ đặc biệt nhất là cuộc đời, với đủ thứ nhiêu khê. Thế nên luôn phải chiến đấu không ngừng, người đời gọi là bể khổ, Chúa Giêsu bảo phải vác thập giá.

Khổ đủ kiểu nên phải chiến đấu đủ thứ. Thánh Augustino phân tích: “Việc suy niệm của chúng ta về đời sống hiện tại phải ở trong lời ca ngợi Thiên Chúa; bởi vì niềm hoan lạc của đời sống muôn đời mai sau sẽ là lời ca ngợi Thiên Chúa. Ai chưa thực tập điều ấy ngay từ bây giờ thì không thể phù hợp với đời sống tương lai. Những lời cầu nguyện hằng ngày của các tín hữu đền bồi những sai lỗi sơ sài nhỏ mọn thường ngày của họ, những điều mà cuộc sống này không thể tránh được.” Thánh José Escriva nói: “Bằng những giọt nước mắt, những giọt nước mắt nam nhi nóng hổi, anh em có thể thanh tẩy được quá khứ và siêu nhiên hóa cuộc sống hiện tại của mình.” Chân phước Julian Norwich chia sẻ: “Khi bị trở tính và cô quạnh trong nỗi ngao ngán, chán chường với cuộc sống và bực dọc với bản thân, tôi đã nhẫn nại để tiếp tục sống giữa những khó khăn… và lập tức sau đó, Chúa lại ban cho linh hồn tôi niềm an ủi và thanh thản trong hoan lạc và vững tin.” Đúng là đời này khổ thật!

Cuộc đời cũng là cuộc sống, có sự sống bắt nguồn từ Thiên Chúa là Nguồn Sống. (Tv 36:10) Mỗi người đều có hai sự sống: Sự sống thể lý và sự sống tâm linh. Sự sống tâm linh quan trọng vì đó là sự sống của linh hồn, mà chính linh hồn mới làm cho thân xác sống, nhưng chỉ có Thiên Chúa mới thực sự là Nguồn Sống. (Tv 36:10) Chúa Giêsu đã minh định: “Chính Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.” (Ga 14:6) Đúng như Thánh Vịnh gia đã phân tích: “Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy Sinh Khí lại, chúng tắt thở ngay mà trở về cát bụi. Sinh Khí của Ngài, Ngài gửi tới, chúng được dựng nên, và Ngài đổi mới mặt đất này.” (Tv 104:29-30)

Là người đời nhưng có những người “biết sống” rất khôn khéo. B. Brech nhận định: “Điều đáng sợ không phải là chết, mà là sống rỗng tuếch.” Còn Maxwell Winston Stone khuyên: “Đừng nghĩ đến cái chết về thể xác mà hãy trả lời câu hỏi: Bạn đã HOÀN THÀNH SỨ MỆNH CỦA CUỘC ĐỜI MÌNH chưa? Nhắc đến cái chết và chuẩn bị cho cuộc hành trình sang thế giới bên kia dường như khiến người ta bị quan, lo sợ. Nhưng theo nghĩa lạc quan, có một điều mới lạ sắp đến. Khi đó, bạn không còn cảm giác lo lắng hay sợ hãi nữa.” Rất độc đáo!

Thật vậy, “chính Ngài ban Sự Sống cho muôn vật, muôn loài,” (Nkm 9:6) nguyên tổ Ađam là người đầu tiên được đón nhận sự sống: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi Sinh Khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” (St 2:7) Được sinh ra làm người là hồng ân rồi, dù chúng ta như thế nào – thậm chí có người sống đời thực vật, chứ chúng ta không có quyền đòi hỏi hoặc chọn lựa: “Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên.” (1 Sm 2:6; x. Kn 16:13 và Tv 30:4) Chắc chắn bất cứ ai cũng không thoát khỏi tay Ngài. (Tb 13:2; Ed 43:13)

Có bị bệnh mới biết quý sức khỏe, có gặp nguy hiểm mới nhận thức sự sống rất cần, cụ thể là trong tình hình phức tạp của đại dịch Corona hiện nay. Vì thế, ai cũng phải ý thức có trách nhiệm bảo vệ sự sống – cho mình và cho người khác. Sự sống liên quan không khí, dưỡng khí hoặc ô-xy chúng ta hít thở từng phút, từng giây. Thiếu không khí vài phút thì mọi vật chết hết, cả sinh vật và động vật. Chính không khí là đại hồng ân Thiên Chúa trao ban cho mọi loài, chúng ta sử dụng liên tục mà vẫn coi thường, vô ơn bạc nghĩa, dám làm ô nhiễm môi trường, hủy hoại môi sinh, tiêu diệt sự sống. Đó là tự hại chính mình, tức là tự sát.

Từ ngàn xưa, qua ngôn sứ Êdêkien, chính Thiên Chúa đã truyền lệnh cho Israel: “Ngươi hãy tuyên sấm, hãy nói với chúng rằng Đức Chúa là Chúa Thượng phán như sau: Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Israel. Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta!” (Ed 37:12-13). Được ra khỏi huyệt mộ là thoát khỏi cõi chết, là được sống. Thật là đại phúc nhãn tiền!

Như để giải thích, Thiên Chúa cho biết: “Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh. Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta làm.” (Ed 37:14) Chúng ta được Thiên Chúa “thổi hơi” để ban Thần Khí, nhờ đó mà chúng ta sống. Và còn hơn là sống, bởi vì chúng ta còn được sống dồi dào, (Ga 10:10) đúng như Chúa Giêsu đã hứa. Lời Chúa xác quyết “Ta đã phán là Ta làm” khiến chúng ta an tâm. Quả thật, Ngài rất thẳng thắn và không bao giờ sai lời. Tuyệt vời là thế, bởi vì Thiên Chúa luôn trung tín và yêu thương trọn niềm.

Bất cứ ai ở trong bóng tối là CHẾT, ở trong ánh sáng là SỐNG. Tất cả chúng ta đã từng “chết” khi ở trong bóng tối – bóng tối tội lỗi. Vì thế, chúng ta luôn phải van xin: “Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa, muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con. Dám xin Ngài lắng tai để ý nghe lời con tha thiết nguyện cầu.” (Tv 130:1-2) Đó là lời cầu cấp tốc, lời cầu khẩn cấp, như tiếng còi vang lên từ xe cứu thương, cứu hỏa – và còn hơn thế nữa.

Chính điều đó lại là hồng ân, nghĩa là chúng ta biết kịp thời đánh moóc  SOS nên được sống, nhờ Thiên Chúa cứu vớt. Vâng, ước gì mỗi khi gặp hoạn nạn, chúng ta luôn biết cầu xin và thành tín: “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài.” (Tv 130:3-4) Tuy nhiên, muốn vậy cũng không hề dễ dàng nếu chúng ta không “hết lòng mong đợi và cậy trông ở lời Chúa.” (Tv 130:5) Thực sự muốn được sống thì phải tâm niệm rạch ròi: “Hồn tôi trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông. Hơn lính canh mong đợi hừng đông, bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Ngài chan chứa. Chính Ngài sẽ cứu khỏi tội khiên muôn vàn.” (Tv 130:6-8) Và chỉ một mình Ngài mới có thể cứu sinh mà thôi.

Thánh Gioan Eudes so sánh: “Không khí chúng ta thở, cơm bánh chúng ta ăn, trái tim đập trong lồng ngực chúng ta cũng không cần thiết để giúp chúng ta có thể sống đúng là một con người cho bằng lời cầu nguyện giúp cho chúng ta có thể sống đúng là một tín hữu.” Chuyện sống – chết liên quan cả xác và hồn. Cụ thể là thân xác, nhưng cũng cần phân biệt “xác thịt” và “tính xác thịt”. Đôi khi “tính xác thịt” còn nguy hiểm hơn “xác thịt.” Có lẽ vì thế mà Giáo Hội “đề nghị” lời cầu nguyện trong mầu nhiệm thứ 5 Mùa Thương: “Xin cho con biết đóng đinh tính xác thịt vào Thánh Giá Chúa.” Đặc biệt là chính Chúa Giêsu cũng đã cảnh báo: “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.” (Mt 26:41; Mc 14:38) Quả thật, không hề đơn giản!

Nếu nói vậy thì có lẽ có thể có người muốn “nổi loạn” và muốn “kiện” Chúa, vì cho rằng Ngài đã tạo nên một dạng thân-xác-yếu-hèn. Ý nói là Chúa đã “cài đặt” mặc định (default) như vậy rồi, y như máy vi tính đã “đóng băng” (Deep Freeze), chúng ta có thay đổi mọi thứ thì nó cũng trở về “mặc định” sau khi nó được khởi động lại (restart). Thế nhưng không phải như vậy. Lý do? Thứ nhất, đó là điều mầu nhiệm, chúng ta không đủ trình độ để hiểu thấu. Thứ nhì, đó là Thiên Chúa KHÔNG BAO GIỜ TẠO ĐIỀU XẤU, vì Ngài là Đấng chí thánh, nơi Ngài CHỈ CÓ ĐIỀU TỐT LÀNH mà thôi.

Tính xác thịt ra sao? Thánh Phaolô cho biết: “Những ai bị TÍNH XÁC THỊT chi phối thì KHÔNG THỂ vừa lòng Thiên Chúa.” (Rm 8:8) Thật nguy hiểm! Nhưng diễm phúc cho chúng ta bởi vì chúng ta được làm “con cái Thiên Chúa,” như Thánh Phaolô giải thích: “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Kitô thì không thuộc về Đức Kitô.” (Rm 8:9) Thế thì trên mức tuyệt vời rồi, và thực sự mỗi chúng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần. (1 Cr 3:16-17; 1 Cr 6:19)

Liên quan chuyện sống – chết, Thánh Phaolô vừa giải thích vừa xác định: “Nếu Đức Kitô ở trong anh em thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em ĐƯỢC SỐNG, vì anh em đã được TRỞ NÊN CÔNG CHÍNH. Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu SỐNG LẠI từ cõi chết, Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác của anh em được SỰ SỐNG MỚI.” (Rm 8:10-11)

Quyền sinh tử thuộc về Thiên Chúa, không một phàm nhân nào được làm hại sự sống của con người, dù sự sống đó chưa được sinh ra là một hài nhi. Đúng như vậy, bởi vì “Thiên Chúa nắm chủ quyền trên mọi xác phàm.” (Đn 14:5) Thật vậy, chính Chúa Cha đã ban cho Đức Kitô quyền trên mọi phàm nhân (Ga 17:12) và trên mọi chi tộc. (Kh 13:7)

Một câu chuyện cổ-tích-có-thật được Thánh sử Gioan kể lại qua trình thuật Ga 11:1-45 rất thú vị. Sự thể là có một người bị đau nặng tên là Ladarô, quê ở Bêtania, em trai của hai chị em cô Mácta và Maria (người sau này sẽ xức dầu thơm và lấy tóc lau chân Chúa Giêsu tại nhà ông Simôn Cùi – Mt 26:6-13; Mc 14:3-9; Lc 7:36-48; Ga 12:1-8). Anh Ladarô bị đau nặng và không tránh khỏi lưỡi hái tử thần. Nhà có đám tang.

Trước đó, khi thấy em trai bị bệnh nặng, hai chị em gái cho người đến báo tin buồn cho Đức Giêsu: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” Cách nói đó cho thấy Ladarô rõ ràng là “người mà Chúa Giêsu thương mến,” vậy mà Ngài vẫn thản nhiên bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.” Chúa Giêsu không dùng từ nào thừa hoặc thiếu, nhưng rất chính xác và đầy đủ, vì Ngài biết Ngài sắp làm gì.

Kinh Thánh cho thấy Chúa Giêsu quý cả ba chị em Mácta, Maria và Ladarô, nên lần đó Ngài đã lưu lại thêm hai ngày rồi mới cùng các môn đệ trở lại Giuđê. Các môn đệ thấy người Do Thái mới tìm cách ném đá Thầy, nên muốn can ngăn. Nhưng Ngài bảo: “Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. Còn ai đi ban đêm thì vấp ngã, vì không có ánh sáng nơi mình!” [*]

Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Ladarô, BẠN của chúng ta, đang yên giấc. Tuy vậy, Thầy đi ĐÁNH THỨC anh ấy đây.” Các môn đệ nói: “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại.” Họ không hiểu ý của hai từ “yên giấc” mà Ngài sử dụng, họ cứ tưởng Ngài nói về giấc ngủ bình thường. Thế nhưng Ngài muốn đề cập SỰ CHẾT. Và rồi Ngài nói rõ: “Ladarô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy.” Ôi chao! Thấy người ta chết mà lại bảo là “mừng.” Coi bộ “căng” thật! Nhưng đúng vậy, Ngài mừng vì Ngài không có mặt ở đó để người ta thêm tin khi thấy việc Ngài làm: Cải tử hoàn sinh cho anh bạn Ladarô. Cái gì cũng có lý do của nó!

Nhờ vậy, hôm đó các môn đệ đã đồng tâm nhất trí muốn “cùng chết với Sư Phụ.” Tốt lắm, ít ra cũng phải vậy. Dù CHƯA làm được điều mình muốn thì ít ra cũng biết MUỐN điều mình MUỐN THỰC HIỆN, ý muốn thực sự rất quan trọng để có thể thực hiện.

Kinh Thánh không nói rõ nhưng chắc hẳn Ladarô bệnh nặng lắm nên mới mau chết như vậy. Mặc dù đường không xa, nhưng khi Chúa Giêsu đến nơi thì người ta đã an táng Ladarô được bốn ngày rồi. Làng Bêtania cách Giêrusalem không đầy ba cây số, nhưng thời đó cuốc bộ suốt nên mất nhiều thời gian. Có nhiều người Do Thái đến phúng điếu và chia buồn với chị em Mácta và Maria, bởi vì nghĩa tử là nghĩa tận.

Hôm đó, khi nghe tin Đức Giêsu đến, cô Mácta liền ra đón Ngài, còn cô Maria thì cứ ngồi ở nhà, cứ bình thường, như không có gì quan trọng. Hay thật, có lẽ phong cách của cô rất thản nhiên. Nhà hiếu chưa yên chuyện buồn thì lại có chuyện khác. Cuộc đời đúng là rắc rối thật, không như mình tưởng.

Lòng buồn rười rượi, nhưng Mácta vẫn tin tưởng nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” Ngài bảo: “Em chị sẽ sống lại!” Mácta thưa rằng cô vẫn tin kẻ chết sống lại trong ngày sau hết. Và Ngài nói: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết.” Ngài hỏi Mácta có tin như vậy hay không, Mácta mạnh mẽ xác tín: “Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.” Là một nữ nhi mà có lời tuyên xưng thật tuyệt vời!

Và rồi Mácta đi nói nhỏ với Maria: “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy!” Nghe vậy, Maria vội đứng lên và đến với Đức Giêsu. Lúc đó, Ngài chưa vào làng, vẫn ở chỗ Mácta đã ra đón. Những người Do Thái thấy Maria vội vã đứng dậy đi ra thì cũng đi theo, vì họ tưởng cô ra mộ khóc em. Nhiều sự kiện đan xen nhau trong ngày hôm đó.

Vừa đến gần Đức Giêsu, Maria liền phủ phục dưới chân và nói: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.” Cả hai chị em đều đặt tình huống “nếu” với Đức Giêsu. Thật là tội nghiệp hết sức! Thấy cô khóc, những người Do Thái đi với cô cũng khóc, rồi Đức Giêsu thổn thức trong lòng và cảm thấy xao xuyến. Lúc đó chắc là Maria khóc em trai dữ lắm. Rồi Ngài hỏi xác anh ấy ở đâu. Họ mời Ngài đến xem, và Ngài đã khóc. Thấy thế, người Do Thái bảo nhau: “Kìa xem! Ông ta thương anh Ladarô biết mấy!” Có vài người thắc mắc là Chúa Giêsu đã từng mở mắt cho người mù mà sao lại không làm cho anh ấy khỏi chết. Nghe họ nói vậy nên Chúa Giêsu lại thổn thức trong lòng. Thương lắm chứ, thế nên Ngài đã “chạnh lòng thương” tới ba lần! Rồi Ngài đi tới mộ Ladarô, phiến đá vẫn đậy kín cửa hang. Ngài bảo lấy phiến đá ra. Mácta bảo nặng mùi rồi, vì Ladarô đã an táng được bốn ngày. Chúa Giêsu nhắc lại chuyện đức tin. Và không ai dám có ý kiến gì. Họ lăn tảng đá ra...

Lúc đó, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” Nói xong, Ngài kêu lớn tiếng: “Anh Ladarô, hãy ra khỏi mồ!” Thật lạ lùng, người chết bước ra trong khi vẫn còn quấn vải liệm. Chắc hẳn ai cũng vừa kinh ngạc vừa sợ hãi. Đức Giêsu bảo: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.” Hai bà chị cũng ngạc nhiên không kém, nhưng họ rất vui mừng không chỉ vì em trai sống lại, mà chính họ biết niềm tin của họ hoàn toàn chính xác: Đúng Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ phải đến thế gian này.

Có điều đặc biệt trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, đó là Thánh sử Gioan cho biết rằng những người Do Thái đến đám tang La-da-rô hôm đó đã chứng kiến việc Đức Giêsu làm, và có NHIỀU KẺ ĐÃ TIN VÀO NGÀI. Những người đã tin vào Chúa Giêsu là những người thực sự diễm phúc. Nhận biết và tin là một hành trình, nhưng không phải ai cũng làm được.

Liên quan đức tin, chợt nhớ lại một mối phúc đặc biệt mà chính Chúa Giêsu, sau khi phục sinh, đã nói với tông đồ Tôma: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin.” (Ga 20:29) Không thấy thì khó tin hơn, nhưng khó hơn mà tin thì mới có phúc hơn.

Lạy Thiên Chúa hằng sống, chúng con còn yếu đuối lắm, xin thêm đức tin cho chúng con, bởi vì không có Ngài thì chúng con không thể làm gì được. (Ga 15:5) Lạy Cha toàn năng, xin biến đổi đức tin yếu kém của chúng con thành đức tin mạnh mẽ nhờ Con Yêu Dấu của Ngài – Đức Giêsu Kitô, để chúng con vẫn mãi thuộc về Ngài dù SỐNG hay CHẾT. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

----------------

[*] Có lẽ vì “người Do Thái tìm cách ném đá Chúa Giêsu” nên ngày xưa, Chúa Nhật V Mùa Chay được các Kitô hữu “thân thương” gọi là “lễ ném đá.” Thời đó, các ảnh tượng trong nhà thờ đều được “che kín” bằng vải tím. mục lục.

CHẾT ?

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Là người như bao nhiêu người, Chúa Giêsu cũng xót thương, cũng rung động trước nỗi mất mát của người thân, bạn hữu. Chúa thật sự xót thương, thật sự rung động trước cái chết của chàng trai Lazarô, bạn của Chúa. 

Nhưng điều mà Tin Mừng muốn nói không dừng lại ở việc Chúa xúc động. Vượt trên cái chết rất đổi bình thường của Lazarô, là sự khẳng định quá sức phi thường của Chúa Giêsu: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ”.

Nhưng lời khẳng định của Chúa có xác đáng không, khi mà thực tế, chết là đau xót, là chia cắt? Chứng kiến cái chết của người thân, lòng ta se thắt lại. Ta muốn làm một cái gì đó để cứu giúp họ nhưng hoàn toàn vô vọng? 

Lời Chúa Giêsu: “Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ” có là lời đáng tin? Nếu đó là lời xác đáng, thì sự sống mà Chúa Giêsu nói là sự sống nào mà lại “không chết bao giờ”?

Mở đầu cho những lời ngậm ngùi trong bài Cõi đi về đã viết khá lâu, linh mục Giuse Nguyễn Hữu An không dấu nổi niềm đau của mình: “Mọi đám tang đều gieo vào lòng tôi một nỗi buồn tê tái”. Nhất là nhìn cảnh Thầy – “một thanh niên đang tuổi xuân ra đi mà mẹ già mắt mờ, lưng còng, tóc bạc đưa tiễn”, thì “chỉ  có đau thương, chỉ có buồn sầu và tiếng khóc, chỉ có nghẹn ngào và nước mắt” là đúng lắm. 

Chết là mất mát. Lứa tuổi cao niên, chết vẫn thấy đời người dang dở, lứa tuổi xuân thì còn dang dở biết bao nhiêu! 

Cái chết của Lazarô, người bạn của Chúa Giêsu, người được gọi là “người Thầy yêu”, không chỉ làm cho hai chị của mình và những người quen biết khóc thương, mà còn làm cho Chúa Giêsu, dù biết rằng sẽ cho anh sống lại, cũng đã “thổn thức và xúc động”. Điều đó càng làm nổi bật cái bi, cái khổ của nỗi chết. 

Nếu chỉ suy nghĩ như thế thôi, lời của Chúa Giêsu: “Ai tin Ta…”, đúng là không xác đáng. 

Nhưng không đúng! Lời ấy phải được suy niệm bằng đức tin, vì là lời của ĐỨC TIN. Chúa không hề bảo rằng: “Ai suy nghĩ về Ta…”,  mà lại nói rằng: “Ai tin Ta…”. 

Điều quan trọng không nằm ở chỗ biết suy nghĩ, nhưng quan trọng là suy nghĩ trong đức tin. 

Chỉ trong đức tin, lời Chúa Giêsu không những là lời xác đáng mà còn là lời ban niềm hy vọng. Một niềm hy vọng mãnh liệt vào sự sống phía sau cái chết, một sự sống “không chết bao giờ”.

Không ai sinh ra là để sống ở trần gian đời đời, nhưng sinh ra để rồi chết. Nếu không có đức tin, không mảy may biết một chút gì đến sự sống đời sau, cuộc đời thật bi đát. 

Bởi cuộc sống trần gian như một chuyến đi. Ở cuối hành trình của cuộc đời mỗi người không phải danh vọng, địa vị, hưởng thụ, giàu sang, tiền rừng, bạc bể mà là cái chết. Chấm dứt tất cả. 

Trong cái chết, con người ta cô đơn nhất. Dẫu có hai người sát cạnh nhau cùng chết, cũng khó có thể nói rằng: chết cùng, chết với. Mỗi người là một cái chết, rất tư riêng, không bao giờ hòa trộn, không bao giờ lẫn lộn. 

Trong cái chết, con người ta trở thành nghèo nhất: bỏ lại tất cả, chỉ có hai bàn tay trắng. Rõ ràng bi đát, rất bi đát…

Nhưng người Kitô hữu có đức tin. Họ xác tín mạnh mẽ vào Đấng là Thiên Chúa đã làm người chia sẻ đến cùng kiếp sống con người của họ. Người đã chết thật, nhưng đã đi bước trước để dạy họ  bài học của sự sống đàng sau cái chết: Người đã sống lại thật. 

Sự sống đàng sau cái chết mới là sống thật, sống vĩnh cửu. Một sự sống không có sự chết. Đấng Phục Sinh ấy, hôm nay, trong Tin Mừng, đã nói một cách tường tận, thẳng thắn với bà Martha, cũng là nói với bạn và tôi: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ”.

Tin vào Đấng tự mình phục sinh và hứa ban ơn phục sinh cho những ai tin, người Kitô hữu cảm nhận bình an trong cuộc sống. Đức tin giúp họ hiểu rằng, cái chết chỉ là sự biến đổi để trở về cùng Thiên Chúa. 

Nhờ đức tin, chúng ta nhận ra ý nghĩa của cuộc đời. Những cố gắng xây dựng cuộc đời sẽ cho ta hạnh phúc tương lai. Nếu hiểu như thế,  cuộc đời không bi đát, nhưng đáng yêu. 

Bạn và tôi có quyền hy vọng điều mà Chúa đã hứa: “Ai tin Ta sẽ không chết đời đời”!! 

Đức tin là chìa khóa mở cửa cho niềm hy vọng của chúng ta. mục lục.

TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Tuần này, Giáo Hội lại nhắc đến một phép lạ nữa mà Đức Giêsu đã làm trước thời điểm Người chịu chết. Anh chàng Ladarô đã chết 4 ngày được Chúa cho sống lại. Phải chăng Đức Giêsu muốn báo trước Người sẽ phục sinh và tất cả chúng ta cũng sẽ sống lại sau khi chết? 

Các bài đọc hôm nay đều nói về sự chết và sống lại với nhiều ý nghĩa khác nhau từ Cựu Ước đến Tân Ước.

VIỄN KIẾN BI HÙNG CỦA ÊDÊKIEN 

Trong bài đọc 1 hôm nay (Ed 37:12-14), Êdêkien dựa vào bối cảnh lịch sử để đưa ra viễn kiến về một thung lũng vĩ đại đầy xương khô, với tất cả những hình ảnh rất đặc biệt rải rác trong kinh thánh. Nó đưa chúng ta trở lại đầu thế kỷ VI BC, lúc mà Thiên Chúa dùng bàn tay Êdêkien để hành động trên dân Do Thái khi họ đang bị cầm tù ở Babylon. Tình trạng chính trị của Do Thái bị suy thoái chừng 150 năm. Thời điểm đảo ngược là năm 587 B.C. với những thất bại cuối cùng thật ghê gớm để rồi khởi đầu một cuộc lưu đầy vĩ đại của dân Do Thái cùng với nỗi tuyệt vọng ê chề, không quyền lực không sức mạnh. Trước bối cảnh thê lương đó, Êdêkien đưa ra một quang cảnh bi hùng, trong đó con người chết đi, tàn héo theo những bộ xương khô. Đúng là một bãi chiến trường ghê tởm, đầy xác chết nhầy nhụa ngổn ngang, một bãi tha ma hôi thối! 

Ngôn sứ Êdêkien đã nghe lời Chúa, miễn cưỡng phải nói tiên tri về những bộ xương này và làm cho chúng sống lại. Nhờ cuộc động đất kinh khủng mà các bộ xương đổ xô lại, đụng chạm nhau làm thành những tiếng kêu kỳ lạ. Các gân liên kết các xương lại với nhau, da thịt mọc ra làm thành những thân xác. Rồi hơi thở Chúa Thánh Thần được thổi vào từ bốn hướng của trái đất như tứ chi con người “làm nên sự sống và đứng dậy trên đôi chân, tạo thành một đạo binh vĩ đại hùng dũng”.

Ngày nay chúng ta hiểu biến cố đó chỉ là hình ảnh người chết sống lại. Dân Do Thái thời Êdêkien thì lại không tin vào quan niệm có sự sống sau khi chết. Đối với họ, một đạo quân oai hùng trùng trùng điệp điệp, đại diện cho dân tộc Do Thái phải là những người đến từ vương quốc phương Bắc trước kia đã trốn chạy đến Assyria và những người ở lại quê nhà bị lưu đầy ở Babylon. Họ được tái bố trí thành một dân tộc ngay chính trên quê hương họ và họ biết rằng chỉ có một Thiên Chúa thực của họ mới có thể làm được điều đó.

Qua nhiều thế kỷ, người Kitô hữu vẫn thường tuyên xưng niềm tin đó trong nghi thức phụng vụ vào đêm Chúa Kitô Phục Sinh để chào mừng những thành viên mới của Giáo Hội. Những lời tuyên bố hùng hồn của Êdêkien như muốn khơi động hình ảnh về một uy quyền tái sinh và tân tạo của Thiên Chúa Israel cho cuộc sống hiên tại và mãi mãi muôn đời. Từ nhiều thế kỷ, những tín hữu tin vào Thiên Chúa và tổ phụ Abraham, Isaac và Đức Giêsu vẫn để tâm trí đến viễn kiến của Êdêkien, bởi vì chúng ta tin đó là những hình ảnh của chính chúng ta. Chúng ta tin vào quyền năng tha thứ của Thiên Chúa, khả năng của Đức Kitô và truyền thống của Giáo Hội làm cho chúng ta sống lại, dù cho mọi sự mọi người chung quanh chúng ta chấp nhận đêm tối dày đặc, hiện trạng lâm chung, tử thần và vô vọng.

NHỮNG THÁCH ĐỐ CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU

Đọc thư thánh Phaolô gửi tin hữu Rôma (Rm 8:8-11), chúng ta học được bài học là nhờ thánh giá Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã tuyên phạt ma quỉ và phá vỡ mọi xiềng xích của  tội lỗi (c.3). Người Kitô hữu vẫn còn giữ nguyên xác thịt, nhưng chuyển đổi thành người mới có sự sống do thần khí Chúa Thành Thần điều khiển. Dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, người Kitô hữu có khả năng hoàn thành ước muốn của Thiên Chúa (Rm 8:4). Cùng một thần khí đã từng khuyến khích người Kitô hữu trở nên thánh cũng sẽ làm cho thân xác họ sống lại vào ngày sau cùng (c.11). Do đó cuộc sống của người Kito hữu là chứng nghiệm của một thách đố liên tục đã phá tan ước muốn xác thịt của ma quỉ tội lỗi bằng cuộc sống có Thần Linh Chúa ngự trị giúp đỡ (c.13).

CÁI CHẾT CỦA ĐỨC GIÊSU LÀ TẶNG PHẨM CHO CHÚNG TA

Câu chuyện Đức Giêsu làm Ladarô sống lại đã được thánh Gioan viết thành câu chuyện khá dài (Ga 11:1-44). Không kể cuộc tử nạn của Đức Kitô, câu chuyện này là cao điểm của các tín hiệu về Đức Giêsu. Chuyện xảy ra không xa trước thời điểm Chúa bị bắt, bị kết án và bị đóng đanh chết trên thập giá. Đây là lý do trực tiếp nhất mà những kẻ muốn giết Người nại vào để kết án, như Johannine đã khôi hài nói rằng: “Chúa tặng sự sống cho người thì lại bị người lấy mất đi sự sống”. Đức Giêsu biết rõ Ladarô bị bệnh nặng nhưng không đến ngay để chữa. Chúa có ý trì hoãn nhiều ngày sau khi Ladarô đã chết để cho các môn đệ biết rằng muốn hiểu thấu về ánh sáng cần phải có thời gian. Là những bài học khó hiểu khi đứng trước tử thần và nấm mồ bệnh hoạn, nhưng lại dễ hiểu dưới ánh sáng phục sinh của Đức Kitô và sự sống lại của Ladarô. Đức Giêsu đã quả quyết với Martha: “Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, ngay cả đã chết, cũng được sống lại; ai đang sống mà tin vào Ta thì sẽ không bao giờ chết (25).” Người còn hỏi thêm: “Chị có tin thế không?”(c25) Chúa luôn luôn thôi thúc chúng ta trả lời như Martha: “Thưa Thầy, chúng con tin, dù chúng con hồ nghi và ở trong đêm tối; chúng con tin Thầy, bởi vì Thầy có Lời Hằng Sống; chúng con muốn tin Thầy là đấng ban cho chúng con niềm hy vọng đáng tin cậy về sự sống ở bên kia cuốc sống, về sự sống đích thực và trọn vẹn trong vương quốc ánh sáng và an bình của Thầy.”

NẾU THẦY ĐÃ Ở ĐÂY THÌ….

Đã bao lần chúng ta kêu lên những lời thảm thiết đớn đau và thất vọng như Maria và Martha: “Lạy Thầy, nếu Thầy đã ở đây (c32) thì em con…. hay chị con, mẹ con, cha con, bạn con đã không chết.”Tuy nhiên câu chuyện đầy tang thương này đã cho chúng ta thấy Chúa là Thiên Chúa nhưng cũng biết buồn rầu và than khóc. Người Hy Lạp có lẽ cũng giống như Việt Nam chúng ta thường diễn tả tình cảm đó như là ‘nỗi lòng’ thổn thức xúc động (c.33). Thánh sử Gioan đã miêu tả Đức Giêsu cũng sao xuyến trong lòng và khóc thương cùng với mọi người (c.35) 

Đức Giêsu tỏ lộ cho chúng ta thấy Thiên Chúa là đấng duy nhất cùng đau khổ, cùng buồn phiền và cùng chết với chúng ta…

Nhưng Thiên Chúa không can thiệp để ngăn cản những thảm cảnh và đau khổ của cuộc đời. Nếu chúng ta có một vị thần chuyên làm những cuộc phục kích kiểu “Thần Máy / deus ex machina”để ngăn chặn thảm cảnh và tội lỗi, thì tôn giáo và niềm tin đơn thuần chỉ là ma thuật hay định mạng, và chúng ta chỉ là những con ‘chốt’ vô vị trên một bàn cờ của một tên thần kỳ quái nào đó. Vậy khi nào thì Thiên Chúa hiện diện giữa những thảm họa của con người? Thiên Chúa ở ngay đó, giữa tất cả mọi sự, giữa những quang cảnh vui tươi và than khóc. Đó là Thiên Chúa của chúng ta. Người hiện diện, đứng cạnh chúng ta trong tình liên đới loài người với nhau, và qua sự vinh quang của màu nhiệm nhập thể, người có đầy đủ và trọn vẹn bản tính con người.

TRÁI TIM CHẾT, THẦN TÍNH CHẾT

Câu chuyện Ladarô sống lại cũng cho chúng ta ý tưởng về một loại chết khác nữa. Chúng ta có thể coi như đã chết khi chúng ta chưa chết, lúc vẫn còn hiện diện trên trái đất. Đó không phải là cái chết của linh hồn do tội lỗi mà là do thiếu nghị lực, hết hy vọng, mất sức phấn đấu để tiếp tục sống, cái chết vô cảm vô thức. Chúng ta gọi loại chết đó là trái tim chết, thần tính chết. Rất nhiều người trong chúng ta đã chết như vậy hàng ngày vì những tình trạng buồn phiền bi thương trong cuộc sống. Ai có thể làm đảo lộn tình trạng đó để cho chúng ta được sống lại, trở về cuộc sống bình thường, phấn kích cuộc sống mới để ta được tự do ra khỏi nấm mồ đã từng trói buộc chúng ta trong ngục tối? Ai là người có thể làm đảo ngược tình trạng tuyệt vọng ấy? 

Đối với một số ‘bệnh’, loài người không có thuốc chữa. Những lời khuyên giải thường không mang lại kết quả. Nhiều người bệnh ở trong những tình trạng này không còn khả năng làm bất cứ điều gì, ngay cả cầu nguyện. Họ giống như Lazarus nằm bất động trong mồ. Họ cần những người khác làm một cái gì giúp họ. Đức Giesu đã có lần nói với các môn đệ: “Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho áo quần cho kẻ trần truồng, cho nơi trú ẩn cho kẻ không nhà, thăm viếng kẻ tật bệnh và tù tội, sau cùng chôn cất kẻ chết.”  Ngoài chuyện an ủi thể xác, Người cũng không quên nói: “Hãy chữa lành người bệnh, hãy làm người chết sống lại…”(Mt 10:8). 

Chỉ có một người duy nhất có thể xâm nhập vào vùng tử địa và tự mình chiến đấu với tử thần là có thể đem lại sự sống cho kẻ đã chết. Câu chuyện Ladarô sống lại chính là một biểu hiệu biến đổi cảnh bi thương thành hy vọng. Tình trạng bệnh hoạn và cái chết của Ladarô là cơ hội để cho vinh quang Thiên Chúa được thể hiện. Là Kitô hữu, chúng ta không thể thoát khỏi tử thần, nhưng chúng ta đến với nó trong niềm tin phục sinh.

NIỀM TIN PHỤC SINH 

Nhân câu chuyện Ladarô, chúng ta coi lại sứ điệp mùa Chay năm 2011 của ĐGH Biển Đức XVI. “Khi biết Ladarô được Chúa cho sống lại, chúng ta đã trực diện với một mầu nhiệm tối hậu về sự hiện hữu của chúng ta: “Ta là sự sống lại và là sự sống… Bạn có tin vậy không?(25-26). Đối với cộng đồng Kitô hữu, đây là lúc chúng ta phải cùng với Martha, đặt tất cả hy vọng của chúng ta nơi Đức Giêsu thành Nazareth mà nói:”Vâng, thưa Thầy, con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, đấng từ trời  đến” (c.27).   

“Hiệp thông với Đức Kitô trong cuộc sống giúp chúng ta lướt thắng sự cản trở của tử thần để có thể sống đời đời với Người. Tin tưởng kẻ chết sống lại, hy vọng vào đời sống vĩnh cửu giúp chúng ta hiểu rõ ý nghĩa cuối cùng của sự hiện hữu của chúng ta: Thiên Chúa tạo dựng nên người nam và người nữ để cho sống lại và có sự sống. Sự thật này có một ý nghĩa quyết định và thực sự đối với lịch sử loài người, đời sống cá nhân và xã hội của mọi người nam nữ, đối với nền văn hóa, chính trị và kinh tế. Không có ánh sáng niềm tin, toàn thể vũ trụ này sẽ kết thúc trong một nấm mồ không tương lai không hy vọng”.

ĐÔI LỜI KẾT: SỐNG MÙA CHAY TUẦN NÀY

1- Trước khi chết và sống lại, Đức Giêsu Kitô đã tuyên bố: “Ta là Sự Sống Lại và là sự sống” (Ga 11:25). Giám mục Gregory Nazianzus (328-389) vào thế kỷ IV đã nói về phép lạ ở Bethany như là một phép mầu báo trước Đức Giêsu chết và sống lại. Chúng ta hãy suy niệm những lời của thánh Gregory: 

“Người cầu nguyện, nhưng Người cũng nghe lời nguyện cầu.

“Người khóc, nhưng Người cũng làm ngưng nước mắt.

“Người hỏi Ladarô nằm đâu, vì Người cũng là con người.

“Người làm cho Ladarô sống lại, vì Người là Thiên Chúa.

“Như con chiên bị mang đi giết,

“Nhưng Người là chủ chiên dân Israel,

“Và bây giờ là Chúa toàn thế giới.

“Người bị hành hạ và đánh đập tang thương,

“Nhưng người chữa lành mọi tật bệnh và kẻ yếu đuối.

“Người bị treo lên và đóng đinh vào thập giá,

“Nhưng nhờ thập giá sự sống, Người cứu rỗi chúng ta…

“Người chết, nhưng Người có đủ quyền năng lấy lại sự sống;

“Màn phủ kín để cửa nhiệm màu thiên đàng mở rộng

“Đá che mồ chỉ là  khe hở, người chết vẫn sống lại.

“Người chết, nhưng Người ban sự sống, và cái chết của Người tiêu hủy tử thần.

“Người chôn kín trong mồ, nhưng Người vẫn sống lại.”

2- Hãy quan sát chung quanh bạn và tìm ra một hay hai người hầu như đã chết, nhất là chết trái tim và chết thần trí, không còn lương tri và tình cảm, những người đã mất cả ý chí và ước muốn sống vì những điều đau khổ, tàn ác ghê gớm đã xẩy ra cho họ. Hãy đến với họ và tâm tình với họ, làm cho thần trí họ, hồn họ, tim họ sống lại vui tươi, cởi trói cho họ để họ được hoàn toàn tự do trong an bình của Đức Giêsu Kitô. mục lục.

CHÚA KITÔ LÀ SỰ SỐNG

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang

Lời Chúa: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống” (Ga 11,25).

Nhập lễ:

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 5 mùa Chay hôm nay cho chúng ta thấy, Chúa Kitô đã mở cửa mồ Ladarô và ban cho anh được sống lại. Phép lạ hồi sinh Ladarô đã chết 4 ngày trong Tin Mừng hôm nay, mời gọi chúng ta tin nhận Chúa Kitô là Con Thiên Chúa và là Chúa của sự sống:

Nhìn xem phép lạ hiển vinh

La-da đã chết phục sinh nhãn tiền

Chúa là sự sống vô biên

Muôn loài muôn vật dưới quyền quản cai

Ai tin vào Đấng Thiên Sai

Trường sinh bất tử do Ngài phong ban.

Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta xác tín niềm tin của chúng ta bằng việc lắng nghe Lời Chúa, sám hối chân thành, ăn chay cầu nguyện, sống bác ái yêu thương như Chúa truyền dạy để được sống lại hưởng phúc muôn đời. Tâm tình đó, giờ đây chúng ta thành tâm sám hối.

Sám hối:

X. Lạy Chúa, Chúa là sự sống lại và là sự sống, ai tin vào Chúa sẽ không chết muôn đời. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa đã hiến thân chịu khổ hình thập giá vì chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời. 

CĐ: Amen.

Chia sẻ:

Kính thưa quý ông bà và anh chị em,

Từ ngàn xưa, con người đã từng ước mơ được trường sinh bất tử như Tần Thuỷ Hoàng, hay Từ Hy Thái Hậu. Trường sinh bất tử là sống lâu, sống thọ, không bao giờ chết. Thế nhưng con người đã đi vào cõi cát bụi hư vô. “Sinh ký tử quy”: sống gởi, chết về là thế. Để cũng cố niềm tin của những người dự tòng và các Kitô hữu tín thác tuyệt đối vào Chúa Giêsu, phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 5 mùa chay hôm nay dẫn đưa chúng ta đến niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, Đấng đã sống lại và là sự sống.

Thưa anh chị em,

Ngôn sứ Êdêkien trong bài đọc 1 hôm nay đã thuật lại cho chúng ta rằng, dân Israel đang bị lưu đày ở Babylon. Đối với họ, tương lai hoàn toàn mù mịt. Nhiều người đã tỏ ra thất vọng, sống cho qua ngày, coi mình như đã chết. Thiên Chúa sai ngôn sứ Êdêkien đến an ủi và báo cho dân Do thái đang bị lưu đày biết rằng: Thiên Chúa yêu thương họ, một ngày không xa nữa tương lai huy hoàng sẽ được mở ra. Ngài sẽ giải cứu họ khỏi kiếp lầm than cơ cực và đưa họ về quê cha đất tổ. Họ không phải chết nhưng được sống. Điều đó cho thấy, Thiên Chúa của dân Israel không phải là Thiên Chúa của kẻ chết nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống.

Trang Tin mừng hôm nay Thánh Gioan thuật lại cho chúng ta thấy điều đó. Việc Chúa Giêsu làm cho Ladarô đã từ cõi chết được sống lại trước mặt nhiều người chứng kiến, giúp cho chúng ta xác tín Chúa Giêsu Kitô là Chúa của sự sống: Ladarô đã chết được 4 ngày, theo thường tình thân xác bắt đầu tan rữa và đã nặng mùi rồi. Nhưng Chúa Giêsu đã đến truyền lệnh mở cửa mộ ra, đòi chị em Mácta và Maria phải chứng minh cho mọi người thấy, là Ladarô đã chết thật và phải tin vào Người. Sau khi cửa mộ đã được mở ra, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện cùng Chúa Cha và Người kêu lớn tiếng: “Ladarô! hãy ra đây!”. Ladarô đã chỗi dậy từ cõi chết và đi ra khỏi mồ trước sự chứng kiến và ngỡ ngàng trước mặt mọi người. Sau đó Chúa Giêsu truyền cởi dây băng và khăn liệm cho anh.

Quả thật, Chúa Giêsu Kitô đã mở cửa mộ cho người chết và ban cho họ sự sống mới. Người là Chúa của sự sống, hơn nữa chính Người đã sống lại từi cõi chết nên Người sẽ làm cho xác phàm của chúng ta được sống nhờ Chúa Thấnh Thần ngự trong mỗi người chúng ta.

Kính thưa quý ông bà và anh chị em,

Thế giới đang trong những ngày khủng hoảng và lo sợ với đại dịch Coronavirus. Tính đến trưa 28/3 cả thế giới có hơn 600.000 người bị nhiễm và hơn 27.000 người tử vong. Qua biến cố đại dịch này, Thiên Chúa muốn con người hãy xác tín niềm tin hơn nữa và tín thác tuyệt đối vào Chúa Giêsu Kitô không chỉ bằng môi miệng hay trong lòng trí nhưng còn bằng hành động cụ thể: từng ngày, từng việc biết tìm gặp Chúa Giêsu và đón nghe cùng thực hành Lời Người.

Phép lạ Chúa Giêsu phục sinh Ladarô đã chỗi dậy từ cõi chết, Người muốn hé mở cho chúng ta thấy viễn tượng sống lại trong ngày cánh chung. Biến cố Chúa Giêsu đến với gia đình chị em Mácta, Maria và Ladarô đã để lại mạc khải cho chị em này  sự thật căn bản về sự sống đời đời: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ”. Chúng ta đã biết những gì xảy ra sau lời tuyên xưng đức tin đầy khiêm tốn và can đảm của hai chị em Martha và Maria: “Lạy Thầy, con tin”. Vâng, sống mà không có niềm tin thì kể như là đã chết, thế giới đi vào ngõ cụt.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta biết khiêm tốn thưa lên cùng Chúa như Martha và Maria: Lạy Chúa, con tin. Để với niềm tin vừa được xác tín, chúng ta được sống và sống lại với Chúa. Amen. mục lục.

HỒI SINH

[Niệm ý Ga 11:1-44]

Thiên Chúa là sự sống

Và là sự phục sinh

Của tất cả thụ tạo

Mà Ngài đã tạo thành.

La-da-rô đã chết

An táng bốn ngày rồi

Nhưng được Chúa đánh thức

Anh sống lại ngay thôi.

Có thần khí Thiên Chúa

Thì sẽ được hồi sinh

Con người dù đã chết

Cũng sẽ được phục sinh [*]

Xin Thiên Chúa dạy dỗ

Biết miệt mài đêm ngày

Tìm sự sống vĩnh cửu

Ngay từ cõi đời này.

Quyết tâm noi gương Chúa

Dám từ bỏ chính mình

Quan tâm việc bác ái

Chăm cầu nguyện, hy sinh. mục lục.

Viễn Dzu Tử

[*] Ed 37,12-14.

TA LÀ SỰ SỐNG LẠI…

 (Suy niệm Ga 11,24-27)

 Suy lời Chúa hôm nay, lòng phấn khởi

Chúa Ngôi Hai đã xuống thế làm người

Chúa Giê Su đã chịu chết cứu đời

Khi hoàn tất, Ngài tự quyền sống lại…

Trong sự tích La Da Rô sống lại

Chúa công khai cho biết quyền năng Ngài

Ngài chính là Con Thiên Chúa làm người

Sẽ chịu chết cho đời, rồi sống lại.

Chúa lại phán: và Ta là Sự Sống

Sự sống đây, là sự sống đời đời

Thiên Chúa ban cho kẻ tin vào Ngài

Ơn Cứu độ nên của chung nhân loại.

Lời Giáo Hội khuyên ta năng suy niệm 

Phép lạ Chúa làm, mầu nhiệm thật cao sâu

Luôn vững tin vào sự sống đời sau

Vượt cửa Tử, sẽ phục sinh theo Chúa. mục lục.

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan