SUY NIỆM LỜI NGÀI -CHÚA NHẬT LỄ LÁ_A

01-04-2020 237 lượt xem

(Kiệu Lá) Mt 21,1-11 hoặc Ga 12,12-16 

BĐ 1: Is 50, 4-7;

Thánh vịnh Đáp ca: Tv 21,8-9. 17-18a. 19-20. 23-24;

BĐ 2: Pl 2, 6-11;

Tin Mừng: Mt 26, 14 – 27,66 hoặc Mt 27,11-54

Mục Lục

HÃY CAN ĐẢM LÊN VÌ CÓ CHÚA CHE CHỞ - ĐTC Phanxicô

HAI SẮC THÁI CỦA MẦU NHIỆM VƯỢT QUA - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

CHÚC TỤNG ĐẤNG NGỰ ĐẾN NHÂN DANH CHÚA JM. Lam Thy ĐVD

VÀO THÀNH ĐỂ CHỊU CHẾT Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, O.P.

Ý NGHĨA CUỘC ĐỜITrầm Thiên Thu

NHẬN RA TRÁCH NHIỆM VÀ XIN ƠN SÁM HỐI - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

HOSANNA! VẠN TUẾ! THIÊN CHÚA ĐÃ ĐẾN - Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

XIN THƯƠNG XÓT CHÚNG CON - Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

CHIÊM NGƯỠNG, CẦU NGUYỆN VÀ TRI ÂN- Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

DỌN ĐỜI - Viễn Dzu Tử

CHÚC TỤNG ĐẤNG NHÂN DANH CHÚA(Thế Kiên Dominic)

-------------------------------------------------------------------------------------

HÃY CAN ĐẢM LÊN VÌ CÓ CHÚA CHE CHỞ

BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT LỄ LÁ CỦA ĐTC PHANXICO

"Trong cơn đại dịch này, chúng ta hãy can đảm lên vì có Chúa che chở và an ủi."

Bắt đầu bước vào Tuần Thánh tại Vatican, dù không có tín hữu hiện diện, ngày nào ĐTC Phanxicô cũng đều ca tụng các anh hùng.

Giữa cơn đại dịch này, khi chúng ta cảm thấy cô đơn và xuống tinh thần, thì Chúa Giêsu nói với tất cả chúng ta: Hãy can đảm lên vì có Thiên Chúa che chở và an ủi… Chắc chắn một tuần lễ trước Chúa Nhật Phục Sinh, ĐTC Phanxicô đã đưa ra những lời khuyên này, để nhắc nhở mọi tín hữu khi tham dự Thánh Lễ qua via streaming là: Chúa Giêsu cũng đã trải qua những cơn đau khổ và cảm thấy mình bị bỏ rơi, hoàn toàn chỉ còn lại có một mình Thiên Chúa Cha.

Trong bài giảng tại đền thánh Basilica Phêrô, không có một giáo dân nào tham dự vì tình trạng đại dịch Covid-19 nên mọi người phải ở trong nhà, Đức Phanxicô đã nhấn mạnh là Chúng ta đừng có sợ mà hãy để ý đến điều chúng ta đáng lẽ phải biết nhưng đã bỏ qua là: Hãy nhận thức rằng Thiên Chúa luôn luôn ở với chúng ta, và với Người thì chúng ta sẽ có mọi sự. 

Bài giảng của Đức Thánh Cha

Chúa Giêsu, “hoàn toàn quên mình và mặc lấy thân hình một người đầy tớ” (Pl 2:7). Chúng ta hãy đi vào Tuần Thánh với những lời này của thánh Phaolô, khi lời Chúa -như một điệp khúc- trình diễn Chúa Giêsu qua hình ảnh một người đầy tớ. Vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Người lại hiện thân là người nô lệ quì gối rửa chân cho các môn đệ. Vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Người lại được trình bày như một tên đầy tớ đau khổ nhưng chiến thắng (Is 52:13). Ngày mai thứ bảy, chúng ta sẽ nghe lời tiên tri Isaia nói về Người: “Hỡi người tôi trung mà Ta nâng đỡ” (Is 42:1). Thiên Chúa cứu rỗi chúng ta bằng cách phục vụ chúng ta. Chúng ta thường nghĩ là chúng ta phục vụ Thiên Chúa. Nhưng không phải, Chúa mới là đấng đã tự mình lựa chọn để phục vụ chúng ta, bởi vì Người yêu chúng ta trước tiên. Yêu thì khó, nhưng được yêu thì không khó. Và phục vụ thì lại càng khó hơn nếu chúng ta không tự để cho Chúa phục vụ chúng ta.

Nhưng Thiên Chúa đã phục vụ chúng ta thế nào? Bằng cách hy sinh mạng sống Người cho chúng ta. Chúng ta được Chúa yêu quí; Chúa rất xứng đáng với chúng ta. Thánh nữ Angela thành Foligno đã nói có lần nghe Chúa Giêsu nói: “Tình yêu của ta đối với con thì không phải là chuyện đùa”. Tình yêu của Chúa đối với chúng ta khiến Người phải tự hy sinh gánh lấy tội lỗi của chúng ta. Điều đó đã làm chúng ta kinh ngạc: Thiên Chúa cứu rỗi chúng ta bằng cách gánh lấy tất cả mọi hình phạt của tội lỗi chúng ta. Không than van, nhưng với lòng khiêm tốn, nhẫn nhục và vâng lời của một đầy tớ, hoàn toàn vì tình yêu. Và Chúa Cha đã gìn giử Người trong khi Người phục vụ, không vất bỏ ác quỉ tội lỗi đã vùi dập Người, nhưng lại thêm sức mạnh cho Người trong lúc đau khổ để vì sự thiện mà Người lướt thắng mọi tội lỗi, vì tình yêu mà yêu cho đến cuối cùng.

Chúa phục vụ chúng ta cho đến cực điểm đau khổ của những người bị phản bội và bỏ quên.

Bị phản bội. Chúa đau khổ vì bị môn đệ phản bội, bán Chúa và chối Chúa. Bị phản bội bởi những người mới đây hát hosanna tung hô Chúa để rồi lại la lớn: Đóng đanh nó vào thâp giá! (Mt 27:22). Chúa bị phản bội bởi tôn giáo đã kết án Chúa một cách bất công, bởi chính trị đã rửa tay trước mặt Chúa để chối tội. Chúng ta có thể nghĩ đến tất cả những thứ phản bội lớn bé mà chúng ta đã gặp trong đời. Nó rất kinh khủng khi nhận ra người mình tin tưởng nhất lại phản bội mình. Từ thâm sâu dưới đáy lòng, một nỗi thất vọng nổi lên cho thấy cuộc đời chẳng có ý nghĩa gì cả. Nó xẩy ra bởi vì chúng ta sinh ra để được yêu và để yêu; nhưng đau khổ nhất là bị phản bội bởi người đã hứa trung thành và kế gần mình nhất. Chúng ta không thể mường tượng được nổi nỗi đau khổ ấy nó lớn lao thế nào khi mà Chúa là Tình Yêu lại bị phản bội.

Chúng ta hãy nhìn chúng ta từ bên trong. Nếu chúng ta thành thực với chính mình, chúng ta sẽ thấy cái bất trung của chúng ta. Biết bao nhiêu là sai lầm, là đạo đức giả, là hai lòng! Bao nhiêu là ý hướng tốt bị phản bội! Bao nhiêu là lời hứa bị vất bỏ! Bao nhiêu là cam kết bị bỏ qua không thực hiện! Chúa biết lòng chúng ta hơn là chúng ta. Chúa biết chúng ta yếu đuối băn khoăn thế nào, bao nhiêu lần chúng ta sa ngã, khó khăn thế nào để đứng dậy cũng như đương đầu với những vết thương để làm cho chúng lành. Và Chúa đã làm những gì để đến với chúng ta và giúp đỡ, phục vụ chúng ta? Người nói với chúng ta qua tiên tri Hosea: “Ta sẽ chữa chúng khỏi tội bất trung, sẽ yêu thương chúng hết tình” (Hs 14:5). Người chữa lành chúng ta bằng cách gánh hết tội bất trung lên mình và tẩy sạch tội phản bội khỏi chúng ta. Thay vì mất can đảm vì sợ sa ngã, bây giờ chúng ta hãy nhìn lên thánh giá để thấy Chúa chấp nhận, và hãy nói: “Lạy Chúa, con là kẻ bất trung, xin Chúa hãy nhận lấy con. Chúa mở rộng cánh tay ôm con, Chúa phục vụ con với tình yêu thương, Chúa tiếp tục yểm trợ giúp đỡ con…Và vì vậy con sẽ tiếp tục dấn thân.

Kinh truyền Tin Angelus ngày Chúa Nhật Lễ Lá của Đức Thánh Cha: ‘Chúng ta hãy bước vào Tuần Thánh với trọn niềm tin’

Bị bỏ rơi. Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói từ trên Thánh Giá một điều, một điều duy nhất thôi: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Người bỏ rơi con?” (Mt 27:46). Đây là những lời kêu rất mạnh mẽ đầy quyền lực. Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì chính mình bị bỏ rơi và nay đã qua đi. Nhưng Thiên Chúa Cha vẫn còn ở với Chúa. Bây giờ, trong vực thẳm của cô đơn, lần đầu tiên Chúa kêu Chúa Cha bằng tên thực là “Thiên Chúa”. Và với “giọng thật lớn” Chúa thảm thiết hỏi “tại sao?”: “Tại sao Chúa cũng lại bỏ con?” Những lời này thực ra là ở trong một thánh vịnh (Tv 22:2). Những lời này cho chúng ta thấy là Chúa Giêsu đã mang chính cái kinh nghiệm cô đơn cùng cực của Chúa vào trong lời cầu nguyện của Chúa. Một kinh nghiệm bản thân về nỗi thống khổ cô đơn như bị bỏ rơi hoàn toàn mà Phúc Âm đã trích lại chính những lời này của Chúa: Eli, Eli, lama sabachthami? (Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Người bỏ rơi con?).

Tại sao tất cả những sự việc này lại xẩy ra? Lại một lần nữa, nó đã được thực thi vì chúng ta và để phục vụ chúng ta. Vì thế, khi chúng ta bị xô vào đường cùng không còn lối nào để thoát, ngay cả Thiên Chúa hình như cũng không thấy đáp ứng. Nhưng hãy nhớ rằng chúng ta không cô đơn đâu. Chúa Giêsu đã có kinh nghiệm về việc bị bỏ rơi hoàn toàn trong một tình trạng mà Người chưa bao giờ có. Nhưng bây giờ Chúa đã có nó rồi thay cho tôi, cho các anh các chị, các ông bà, cho tất cả chúng ta. Vậy thì “Đừng có sợ, các con không cô đơn đâu. Ta đã lãnh mọi kinh nghiệm về cô đơn để luôn luôn ở gần bên các con.” Đó là khoảng đường nối dài, cách mà Chúa Giêsu phục vụ chúng ta: Người xuống tận cùng đáy vực thẳm của mọi đau khổ đắng cay đi tới phản bội và bỏ rơi.

Hiện nay, trong thảm cảnh của đại dịch, trước những an toàn giả tạo đang rối mù, trước rất nhiều hy vọng  bị phản bội trong ý nghĩa bỏ rơi đang đè năng tâm can chúng ta, Chúa Giêsu đang nói với mỗi một người chúng ta: “Hãy can đảm lên, hãy mở lòng ra với tình yêu của ta. Con sẽ cảm thấy được Thiên Chúa an ủi và che chở giúp đỡ”. 

Anh chị em thân mến,

Chúng ta có thể làm gì để so sánh với Thiên Chúa là đấng đã phục vụ chúng ta đến độ bị phản bội và bị bỏ quên? Chúng ta có thể từ chối không phản bội Người là đấng đã tạo ra chúng ta, không bỏ rơi những điều thực sự cần thiết trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta được sinh ra trong thế giới này là để yêu Chúa và thương người. Mọi sự rồi sẽ qua đi, chỉ có việc đó còn lại. Thảm kịch mà chúng ta đang cảm nghiệm tóm lại cho chúng ta thấy là phải coi trọng cái gì nó quan trọng, và đừng để bị cuốn hút vào những điều không quan trọng. Cũng nên nhận chân là đời chẳng có công dụng gì cả nếu nó không được dùng để phụng sự tha nhân. Vì đời được đo lường bằng tình yêu.

Vậy trong tuần thánh này, ở trong nhà, chúng ta hãy đứng trước Thánh Giá Chúa là thước đo tình yêu Chúa đổ ra cho chúng ta đầy đủ nhất, và trước mặt Thiên Chúa là đấng đã phục vụ chúng ta đến độ đã hy sinh mạng sống của Người; chúng ta hãy cầu xin hồng ân Chúa để sống để phụng sự. Chớ gì chúng ta giang tay ra vươn tới những người đang đau khổ và những người cần được giúp đỡ nhất. Đừng quá quan tâm đến những gì chúng ta thiếu hay không có nhưng là những gì tốt mà chúng ta có thể giúp cho tha nhân.

Hỡi người tôi trung của ta mà ta nâng đỡ. Thiên Chúa Cha, người nâng đỡ chúa Giêsu trong cơn khổ nạn cũng nâng đỡ chúng ta trong những cố gắng phục vụ. Yêu thương, cầu nguyện, tha thứ, săn sóc tha nhân, trong gia đình và ngoài xã hội: tất cả những việc này chắc chắn là khó khăn. Nó có thể giống như Đường Thánh Giá. Nhưng con đường phục vụ thì là con đường chiến thắng và hy sinh mạng sống, nhờ đó chúng ta mới được cứu rỗi. Tôi muốn nói điều này, đặc biệt với những bạn trẻ, vào ngày này là ngày được đề tặng cho các bạn từ 35 năm nay.

Các bạn thân mến, hãy nhìn vào những anh hùng thực sự, họ đang đi vào ánh sáng của những ngày này: Họ không phải là những người nổi danh, giầu có và thành công, họ chỉ là những người dám hy sinh để phục vụ tha nhân. Hãy xung phong đặt mạng sống của mình trên đường phục vụ. Đừng sợ hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân. Các bạn sẽ được trả công! Vì sự sống là một tặng phẩm mà chúng ta nhận được chỉ khi nào chúng ta dám hy sinh, và niềm vui thâm sâu tuyệt vời nhất chỉ đến khi chúng ta nói Vâng Tôi Yêu, mà không có chữ nếu hay nhưng. Như Chúa Giêsu đã từng làm như vậy cho chúng ta. mục lục.

+ PHANXICÔ

Vatican April 5, 2020 - 12:11

Theo Zenitz; Bản anh ngữ của Deborah Castellano Lubov/Bản gốc tiếng Ý

Chuyển ngữ: Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Nguồn: Zenizt.org/articles/pope-on-palm-sunday-in-midst-of-pandemic-courageously-be-certain-god-who-sustains-you-will-console-you-full-text/

HAI SẮC THÁI CỦA MẦU NHIỆM VƯỢT QUA

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Nội dung chính yếu của cử hành phụng vụ Tuần Thánh là cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Ngài là người tôi tớ đau khổ của Đức Giavê. Ngài đón nhận Thập giá tủi nhục thất bại, và đã biến đổi Thập giá thành nguồn ơn cứu độ, tình thương tha thứ cho nhân loại tội lỗi.

Phụng vụ bước vào Tuần Thánh với khởi đầu là Chúa nhật Lễ Lá. Cử hành phụng vụ hôm nay khởi sự bằng việc làm phép lá và đi kiệu lá. Cộng đoàn đi kiệu để tưởng niệm việc Chúa Cứu Thế khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem. Ngay sau đó là Thánh Lễ tưởng niệm cuộc Thương khó, đặc biệt với việc đọc Bài Thương khó.Việc cử hành hôm nay mang hai sắc thái có vẻ nghịch nhau : mới mừng cuộc khải hoàn của Chúa Kitô, rồi lại cảm thông nỗi thống khổ của Người. Phụng vụ hôm nay kết hợp hai khoảnh khắc trái ngược nhau; cuộc chào đón Đức Giêsu vào Giêrusalem và thảm kịch Thương khó; lễ hội “Hosanna” và những tiếng la ó lặp đi lặp lại “Đóng đinh nó vào thập giá!”; cuộc khải hoàn và sự thất bại bề ngoài qua cái chết trên thập giá.

Bài Thương khó kể lại từng chặng đường đau thương của Đấng Cứu Thế. Ba môn đệ thân tín đã bỏ rơi Thầy. Giuđa chỉ điểm bắt Thầy bằng một nụ hôn giả dối. Các môn đệ sợ hãi bỏ Thầy mà chạy trốn. Phêrô thề là không hề quen biết Thầy. Chúa Giêsu cô đơn trước đám đông cuồng nộ. Họ bị kích động đòi đóng đinh Ngài. Họ coi Ngài còn thua Baraba là tên phiến loạn. Họ khạc nhổ, đánh đập, vả tát vào mặt, dùng roi quất vào da thịt. Đôi bàn tay bầm tím xuyên thâu những mũi đinh nhọn. Đôi bàn chân bị đinh đóng xuyên qua cây gỗ. Đầu đội mão gai nhọn. Lưỡi đòng đâm cạnh sườn, máu và nước chảy ra. Một người bị lột bỏ trần trụi. Hai tay bị giang thẳng trói xiết chặt vào thanh gỗ ngang. Hai chân bị trói vào thanh gỗ dọc phơi ngoài trời nắng gắt cho đến chết. Chết vì nghẹt thở do các cơ vòng ngực, cơ bắp tay không còn sức trương ra, co vào để rồi thu nhận và tống không khí. Tử tội bị đóng đinh nơi cổ tay, nơi bàn chân càng thê thảm bội phần vì đau đớn nhức nhối, sức người rướn lên để thơ, mau kiệt sức và chóng chết. Bị sỉ nhục. Bị cười nhạo báng. Bị khinh khi. Kẻ qua người lại đều nhục mạ Ngài, vừa lắc đầu vừa nói: mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi ! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!. Các thượng tế kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Ngài mà nói: Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là vua Israel ! Bây giờ hắn cứ xuống khỏi thập gía đi, thì chúng ta tin hắn liền!. Cả những tên cướp cùng chịu đóng đinh cũng sỉ vả Ngài như thế.

Cái chết cô đơn, cái chết đau khổ đến với Chúa Giêsu như một chén đắng mà Chúa Cha trao phó. Chúa Giêsu xin vâng ý Cha, nhưng không vì thế mà bớt sự đau đớn. Trong Vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu than thở: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).Theo thánh ý Chúa Cha, “Chúa Giêsu đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây Thập giá”( Pl 2,8).

Cuộc khải hoàn rước lá của Chúa Giêsu là một dấu chỉ của chiến thắng vinh quang chung cuộc. Việc kiệu lá cho thấy rõ ý nghĩa đích thực của đau khổ và thập giá. Tương tự trong sự kiện “biến hình” trên núi Tabo: Chúa Giêsu cho ba tông đồ thoáng thấy vinh quang thần tính. Khi xuống núi, Ngài ra lệnh cho ba tông đồ phải bảo mật cho đến khi Con Người sống lại từ cõi chết, nghĩa là cho đến khi ý nghĩa của biến cố được tỏ bày. Cũng chính ba tông đồ thân tín chứng kiến cơn hấp hối của Chúa ở vườn Cây Dầu. Sau Phục sinh, Chúa Kitô cũng giải thích cho hai môn đệ trên đường Emmau: “Đức Kitô không phải chịu đau khổ như thế rồi mới vào vinh quang của Người sao ?” (Lc 24,26).

Như vậy ngay từ Lễ Lá, hai sắc thái, hai cục diện của mầu nhiệm Vượt Qua được trình bày rõ ràng. Lễ Lá trình bày hai cục diện theo thứ tự đảo ngược : vinh quang trước, khổ nạn sau. Nhưng thứ tự đó biểu lộ thực chất của mầu nhiệm Vượt Qua. Mầu nhiệm Vượt qua cơ bản là một mầu nhiệm đạt tới vinh quang và sự sống. Sự chết chỉ là bước đi qua, là phương tiện để đạt tới mục đích là vinh quang Phục Sinh. Khổ đau của Thập Giá Đức Kitô không bao giờ là nỗi đau của hận thù, oán ghét mà luôn mang dáng đứng của tình yêu và sự khoan dung tha thứ. Trên thập giá, Chúa Giêsu đã cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Xin Cha tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”. Hơn thế nữa, Ngài công bố ơn cứu độ của Thiên Chúa ngay trên thập giá, lúc mà thế trần nhìn thấy Ngài trần trụi và yếu đuối nhất, khi Ngài ôm trọn con người tội lỗi trần gian qua hình ảnh tên gian phi biết cúi mình nhận ra Chân Lý: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" (Lc 23,43). Chúa Giêsu đã xóa màu đen ghê tởm của sự dữ trong lòng con người qua việc phục hồi giá trị của mỗi nhân vị và đưa nhân loại đến với Thiên Chúa qua Tình Yêu toàn tha của Ngài. Chúa Giêsu đã dùng cạn hết mọi dấu chỉ của thế trần để biểu lộ Tình Yêu thâm sâu của Ngài cho chúng ta. Đó là màu trắng thanh khiết nhất và là ánh sáng đẹp nhất mà nhân trần này có thể chiêm ngưỡng.

Trong cuộc thương khó, Chúa Giêsu không oán trách hay hận thù ai, Ngài vượt lên trên tất cả bằng tình thương tha thứ. Chúa Giêsu đã biểu lộ sức mạnh của tình yêu, sức mạnh của niềm tin và phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa. Chính sức mạnh tình yêu đã làm mọi chia rẽ được hàn gắn, mọi hận thù được xóa bỏ và mọi xa cách được nên hiệp nhất. Chúa Giêsu đã hợp nhất nhân loại trong trái tim rộng mở của Ngài, trái tim chỉ có tình yêu thanh khiết. Ngài nâng con người lên giá trị cao hơn trong sự kết hiệp với tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu Nguyên Tuyền. Tình yêu ấy không làm mờ đi bóng cây thập giá nhưng lại mang một ý nghĩa và sắc màu huyền diệu lung linh.

Bước vào Tuần Thánh, chúng ta cùng theo Chúa Giêsu trên con đường Thập giá.

Theo Chúa không chỉ khi gặp may mắn, thành công, bình an mà còn chấp nhận khi bị bỏ rơi, khước từ, đau khổ, thất bại.

Theo Chúa không là con đường “xuôi chèo mát mái” hoàn toàn hạnh phúc an lành, mà còn là con đường chọn lựa quyết liệt với những quyến rũ của vật chất, đam mê, hưởng thụ, danh vọng, quyền lực thế gian.

Theo Chúa Giêsu là đi con đường thập giá vừa lên dốc, vừa nhiều ổ gà ổ voi và vừa là con đường một chiều. Con đường ấy hẹp chứ không thênh thang theo những trào lưu dễ dãi, giả dối, ích kỷ, hận thù, bạo lực... nên cần phải sống từ bỏ, hy sinh, trung thực, yêu thương, bao dung.

Tuần Thánh, cùng đi vào hành trình thương khó của Chúa, chúng ta gặp thấy nhiều tình huống tăm tối của “nhân tình thế thái” như vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết. Nhưng trên hết, chúng ta gặp được một tình yêu. Tình Yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh đối với Chúa Cha và lòng xót thương với nhân loại. Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ. Cảm nếm và thông phần với nỗi khổ đau thân xác và tinh thần của Chúa Giêsu, nhưng vẫn luôn nhận ra lòng xót thương nằm ẩn dưới từng phản ứng của Ngài theo Tin Mừng kể lại. Càng suy nghĩ về cuộc khổ nạn, chúng ta càng yêu Thập giá của Chúa hơn, yêu thập giá của mình hơn và kính trọng thập giá của người khác hơn.

Theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá là một thách đố lớn trong bối cảnh thời nay. Xác tín rằng, có Chúa cùng đồng hành, Ngài luôn thấu hiểu nâng đỡ, Ngài chia sẻ những khó khăn, thử thách, đau khổ với chúng ta trên hành trình theo Ngài. Nếu can đảm cùng chịu đau khổ và đóng đinh cùng Ngài, chúng ta sẽ được hạnh phúc và vinh quang phục sinh với Ngài. mục lục.

CHÚC TỤNG ĐẤNG NGỰ ĐẾN NHÂN DANH CHÚA

JM. Lam Thy ĐVD

Hôm nay, Phụng vụ Lời Chúa trình thuật “Đức Giê-su mạc khải Người là Đấng Thiên Sai”. Tuy nhiên, Người là Đấng Thiên Sai giầu lòng thương xót, đem an bình, hòa giải đến cho thế gian. Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai đem hòa bình cho nhân loại, nhưng thực tế, người Do Thái cứng lòng, đặc biệt những vị lãnh đạo tôn giáo, các Kinh sư, Biệt phái và Pha-ri-sêu lúc đó đã căm thù, ghen ghét Đức Ki-tô vì Người không đi theo đường lối của họ. Do đó mới có bản án bất công.

Trong Tuần Thánh, Giáo hội cử hành mầu nhiệm cứu độ mà Chúa Ki-tô đã hoàn tất vào những ngày cuối cùng Người ở trần gian, từ lúc Người vào thành Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a, đến cuộc Thương Khó hồng phúc và Phục Sinh vinh hiển. Mùa Chay kết thúc ngay trước Thánh lễ Tiệc Ly (Thứ năm Tuần Thánh). Mở đầu Tuần Thánh là Chúa nhật Lễ Lá gồm 2 phần chính: Phần đầu là cuộc rước kiệu lá kính nhớ Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem và được dân chúng tôn vinh nhiệt liệt: “Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời.” (Mt 21, 1-10). Phần thứ hai là Tam Nhật Vượt Qua tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa. Trong một Thánh lễ tưởng niệm 2 biến cố trái ngược nhau: Tôn vinh # Hạ bệ.

Vì thế, có một nhận định xem ra có vẻ khó hiểu và khắc nghiệt: “Giữa Chúa nhật Lễ Lá và Thứ sáu Tuần Thánh phản ánh cả cuộc đời Ki-tô hữu”. Tuy nhiên, bình tâm mà suy xét sẽ thấy tuy khó hiểu và khắc nghiệt, nhưng lại rất chính xác. Nói cách cụ thể thì Chúa nhật Lễ Lá và Thứ sáu Tuần Thánh phản ánh đúng thực chất tâm trạng con người (nói chung), và cách riêng là các Ki-tô hữu. Chúa nhật Lễ Lá dân chúng Do Thái tung hô, chúc tụng, tôn vinh Chúa Ki-tô rất nồng nhiệt, bằng những lời lẽ tưởng chừng như chân thành nhất (“Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời” – Mt 21, 9); vậy mà chỉ mấy ngày sau, cũng chính những người hoan hô ấy lại hò reo: "Đóng đinh nó vào thập giá!" Thậm chí khi Tổng trấn Phi-la-tô thấy không cứu vãn được tình thế, đã lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói: "Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy!", thì đám đông còn gào thét như thách thức: "Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi! " (Mt 27, 24-25). Thế đấy! 

Cứ tưởng giữa tôn vinh và hạ bệ ít ra cũng phải có một khoảng cách thời gian khá xa, thật không thể ngờ nó lại đi liền với nhau trong gang tấc. Vừa mới "hoan hô" một ông tổng thống, thủ tường, nhưng khi nghe phía đối lập phản đối, hạ bệ ông ta, thì lại thấy cũng đúng, và cũng "đả đảo" liền. Thậm chí có nhiều nguyên thủ quốc gia vừa mới đắc cử với số phiếu áp đảo, ngồi chưa nóng ghế, đã bị biểu tình phản đối, đòi truất phế ngay tức thì. Đấy mới chỉ là nói về những sự kiện hữu hình xảy ra trên bình diện xã hội loài người, riêng về mặt tâm linh thì còn hơn thế nữa. Trong khi vừa ở toà hoà giải ăn năn sám hối về những lỗi phạm của mình, mới chỉ bước khỏi toà vài bước nếu gặp chuyện trái ý thì ngay lập tức nổi đoá văng tục liền (dù có thể chưa văng thành lời nói trên miệng, thì cũng thầm thĩ trong lòng!), vừa mới rước lễ trong thánh lễ, ra khỏi nhà thờ gặp phải một "người bạn quấy rầy" thì lập tức biểu lộ "nộ khí xung thiên" ngay.

Ôi chao! Nhiều, nhiều lắm những cảnh vừa mới tuyên xưng đức tin, tôn vinh Thiên Chúa, thì ngay lập tức đã chối bỏ, hạ bệ. Như thế thì chẳng phải cái ranh giới giữa tôn vinh và hạ bệ trong thế giới loài người chỉ trong gang tấc đó sao? Cứ nhìn vào các Tông đồ tiên khởi thì đủ biết: Vì sao các ngài đi theo Đức Ki-tô? Vì tin tưởng Người chính là vị cứu tinh cho cuộc đời của mình. Cụ thể như Phê-rô khi nghe Đức Ki-tô hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" thì tuyên xưng liền: "Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống." (Mt 16, 16) và khi nghe Thầy tiên báo sẽ chối Thầy, thì ngay lập tức khẳng định chắc nịch: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy". Thực ra, cũng không chỉ có một mình Phê-rô đâu, mà "Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy" (Mt 26, 35). Như thế thì chẳng phải là tôn vinh đó sao? Nhưng đến khi Thầy gặp nạn thì  "Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết" (Mt 26, 56), còn Phê-rô lẽo đẽo theo sau và chỉ cần một tớ gái nhà Cai-pha vặn hỏi đã vội vàng "Tôi thề là không biết người ấy." (Mt 26, 74). Bỏ trốn hết, chối Thầy như vậy thì có khác gì đả đảo, hạ bệ? 

Ngày xưa thì như thế, còn ngày nay hẳn là còn hơn thế nữa là cái chắc. Ở Việt Nam tuy có gần 130.000 người chấp nhận cái chết chớ không chịu hạ bệ Ki-tô (bước qua, đạp lên thánh giá, bỏ đạo), nhưng con số người sẵn sàng đạp lên thánh giá (chớ đừng nói chỉ bước qua), sẵn sàng gỡ bỏ bàn thờ để chưng hình lãnh tụ (hạ bệ Giê-su, tôn vinh lãnh tụ), sẵn sàng ghi vào sơ yếu lý lịch là "không tôn giáo" (chối đạo)... thì không hiểu còn đông gấp bao nhiêu lần? Ngay đến cả những người bề ngoài thì rất siêng năng đi lễ, đọc kinh, cầu nguyện, nhưng chỉ cần một người nghèo khó (một hành khất, chẳng hạn) đến "quấy rầy" thì ngay lập tức "Không có gì hết! Cút đi chỗ khác!" Than ôi! "Bề ngoài thơn thớt nói cười, Mà trong nham hiểm giết người không đao!" (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Vậy thì tôn vinh và hạ bệ có cách xa nhau không?

Có thể sẽ có phản biện: "Đó chỉ là cách bi thảm hoá vấn đề, làm gì có chuyện ngoài miệng thì tôn vinh, trong lòng thì hạ bệ?" Nếu chỉ nhìn một chiều thì có thể cho đó là bi thảm hóa vấn đề; nhưng nếu chịu khó "xoay cái nhìn ra khỏi cái tôi" (Sứ điệp Mùa Chay 2011, số 3) sẽ thấy ngay chính trong con người của mình cũng chẳng ít lần không chỉ hạ bệ Chúa suông thôi đâu, mà còn đóng đinh Chúa nữa là khác. Cũng xin nhấn mạnh ở đây về vấn đề đóng đinh Chúa, không nhất thiết là cứ phải thật sự trực tiếp bắt trói Chúa, cầm búa đóng đinh vào tay chân Chúa đâu. Cũng chẳng có cái vụ bắt bước qua hoặc đạp lên thánh giá như ngày xưa, mà hình thức bách hại Đạo Chúa còn tinh vi khủng khiếp hơn nhiều. Cứ thử gẫm suy cho thấu đáo mà xem, có đúng là chúng ta gây chia rẽ bất hoà với anh em nhiều hơn là xây dựng, đoàn kết nhau không? Có phải là chúng ta đố kỵ ghen ghét nhiều hơn là yêu thương đùm bọc nhau không? Những cái mà chúng ta cư xử với anh em như vậy chẳng phải là chúng ta đã làm cho Chúa đó sao? Đấy, vấn đề là ở chỗ đó. 

Chúa nhật Lễ Lá mở đầu Tuần Thánh và kỷ niệm việc Chúa Giê-su được tôn vinh, nhưng đồng thời Chúa nhật Lễ Lá cũng còn gọi là Chúa nhật Chịu Nạn (Chúa Giê-su bị hạ bệ và giết chết). Trong một Chúa nhật tưởng niệm hai mặt trái ngược nhau của cuộc đời. Tôn vinh tung hô đó, hạ bệ phế truất đó. Vừa mới "Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời." (Mt 21, 9), thì tiếp liền theo đó, đã "Đóng đinh nó vào thập giá!" (Mt 27, 23). Câu chuyện "khẩu Phật tâm xà" (miệng Phật, lòng rắn) cứ tưởng chỉ có trên lý thuyết, không ngờ đó lại là "chuyện thường ngày ở huyện"! 

Người tín hữu ngày hôm nay cần phải nhớ Lời Chúa: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu!" (Mt 7, 21). Ngoài miệng thì không ngớt tung hô Chúa, nhưng trong lòng thì lạnh tanh, chẳng một chút cảm xúc. Thậm chí, ngoài miệng nói một đàng, trong lòng nghĩ một nẻo. Vừa mới tung hô Chúa nơi thánh đường, về tới khu xóm đã hiềm khích, đố kỵ, ghen ghét với người này nguời khác, thậm chí cả với người thân trong gia đình, như thế thì nào có khác gì hạ bệ Chúa? Đó phải chăng là một di chứng "lầm than luân lý có thể được gọi là một sự bắt đầu tự sát" như Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã viết trong Sứ điệp Mùa Chay 2018?

Vâng, "Điều không kém phần gây lo âu chính là lầm than luân lý, nó hệ tại trở nên nô lệ cho những tật xấu và tội lỗi. Bao nhiêu gia đình lo âu vì có một trong những phần tử của mình, thường là người trẻ, nghiện ngập rượu, ma túy, cờ bạc và dâm ô! Bao nhiêu người đã đánh mất ý nghĩa cuộc sống, thiếu những viễn tượng tương lai và mất hy vọng! Và bao nhiêu người bị bó buộc sống trong lầm than luân lý do những điều kiện xã hội bất công, thiếu công ăn việc làm, khiến họ không còn phẩm giá mang cơm bánh về nhà, thiếu bình đẳng trong các quyền giáo dục và sức khỏe. Trong những trường hợp ấy, lầm than luân lý có thể được gọi là một sự bắt đầu tự sát." (Sứ điệp Mùa Chay 2018).

Căn bệnh trầm kha "lầm than tinh thần"chỉ có hy vọng được chữa khỏi khi xác tín "Tin Mừng là thuốc giải độc đích thực chống lại lầm than tinh thần: Ki-tô hữu được mời gọi mang vào mọi môi trường lời loan báo giải thoát, theo đó có sự tha thứ tội lỗi đã phạm, Thiên Chúa cao cả hơn tội lỗi chúng ta và Ngài yêu thương chúng ta một cách nhưng không, luôn luôn, và chúng ta được dựng nên để hiệp thông và sống vĩnh cửu. Chúa mời gọi chúng ta hãy trở thành những người hân hoan loan báo sứ điệp từ bi và hy vọng ấy! Thật là đẹp khi cảm nghiệm niềm vui loan truyền Tin Mừng đó, chia sẻ kho tàng đã được ủy thác cho chúng ta, để an ủi những con tim tan vỡ và mang lại hy vọng cho bao nhiêu anh chị em chúng ta đang bị bóng đêm bao phủ. Vấn đề ở đây là đi theo và noi gương Chúa Giê-su, Đấng đã đi đến với người nghèo và tội nhân như một mục tử đi tìm con chiên bị lạc mất, và Ngài đến gặp chúng ta với đầy tình yêu thương. Khi hiệp nhất với Chúa, chúng ta có thể can đảm mở ra những con đường mới để loan báo Tin Mừng và thăng tiến con người." (Sứ điệp Mùa Chay 2018).

Nhìn những cảnh người đời có lập trường xoay như chong chóng, người Ki-tô hữu ngày hôm nay hãy vững một niềm tin, kiên định lập trường chọn "Con Đường Giê-su" mà tiến bước. Muốn được vậy thì cần phải sẵn sàng "xoay cái nhìn ra khỏi cái ”tôi” của mình, để khám phá người ở cạnh chúng ta và nhận thấy Thiên Chúa nơi khuôn mặt của bao nhiêu anh chị em chúng ta" (Sứ điệp Mùa Chay 2017, số 3); ngõ hầu được "tái sinh bởi nước và Thánh Linh”, và "tái khẳng định quyết tâm vững vàng đáp ứng hoạt động của Ơn Thánh để làm môn đệ của Chúa" (Sứ điệp Mùa Chay 2017, số 2). Nào, "Mạnh bạo lên, can đảm lên! Đó chẳng phải là lệnh Ta đã truyền cho ngươi sao? Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới." (Gs 1, 9).  

Ôi! "Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã muốn cho Ðấng cứu chuộc loài người phải sống kiếp phàm nhân và chịu khổ hình thập giá để nêu gương khiêm nhường cho thiên hạ noi theo. Xin cho chúng con biết đón nhận bài học Người để lại trong cuộc thương khó, và được thông phần vinh quang phục sinh với Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển tri cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen” (Lời nguyện nhập lễ - Lễ Lá). mục lục.

VÀO THÀNH ĐỂ CHỊU CHẾT

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, O.P.

Nét bi đát của cuộc khải hoàn

Để sửa soạn vào thành, Đức Giêsu sai hai môn đệ đến ngôi làng trước mặt để mượn tạm con lừa. Có lẽ không nơi nào cho thấy sự mâu thuẫn như trong biến cố này: một bên là Thiên Chúa uy quyền, một bên là “tính con người”. Cả hai đều thể hiện trong con người Đức Giêsu. Đó là sự pha trộn giữa quyền năng Thiên Chúa và sự lệ thuộc, giữa giàu sang và bần cùng. Và đó cũng là hiệu quả của mầu nhiệm nhập thể.

Vì lòng yêu thương con người, Đấng vốn giàu có đã trở nên khó nghèo, để con người được giàu có. Trong cuộc đời, có lần Đức Giêsu đã mượn chiếc thuyền của dân chài làm chôỵ đứng giảng dạy; lần khác Người đã mượn hai cái bánh và năm con cá của cậu bé vô danh để làm phép lạ nuôi cả đám đông; sau này, khi trút hơi thở cuối cùng, Đức Giêsu còn mượn tạm ngôi mộ để gửi tấm thân trong khi đợi ngày sống lại vinh hiển.

Vẫn có những chuyện bi đát như thế trong cuộc đời Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người. Nhưng chưa hết.

"Hãy bảo thiếu nữ Xi-on

Kìa Đức Vua đến với ngươi

khiêm tốn ngổi trên lưng lừa

lưng lừa con là con của thú vật chở đồ" (Mt 21,5)

Thời đó, các vị hoàng đế thường ngồi trên chiến mã, oai hùng tiến vào thành phố. Ngược lại, ở đây, Đấng khải hoàn khiêm tốn ngổi trên lưng lừa con. Nếu Phi-la-tô có dịp đứng quan sát cảnh này, hẳn ông phải bật cười vì tính cách khôi hài của con người tự xưng là Vua. Con người ấy đang ngổi trên lưng một con vật biểu tượng của sự tự huỷ, tượng trưng cho việc tiến dần đến cái chết.

Nếu Đức Giêsu tiến vào thành phố trong tiếng nhạc hùng tráng, trong tư thế của người chiến thắng, chắc sẽ có kẻ nghĩ rằng Người là Đấng giải phóng về mặt chính trị. Trái lại, Đức Giêsu chọn những hoàn cảnh để chứng thực cho lời tuyên bố: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”. Như thế, chẳng có gì cho thấy vị vua này có thể là đối thủ của Xê-da.

Phía sau những lời tung hô

Khi Đức Giêsu đến gần thành phố, một “đám rất đông” dân chúng ra đón Người. Trong số đó, không chỉ có những người cư ngụ tại Giêrusalem, nhưng còn có những người từ nơi khác về thủ đô dự lễ, và dĩ nhiên, cả những người Pha-ri-sêu.

Trong những lần trước đây, Đức Giêsu luôn ngăn cản lòng nhiệt thành, sự phấn khởi của dân chúng. Người đã lánh mặt khi đám đông hứng khởi, Người tránh tạo nên những quang cảnh náo nhiệt (x. Mt 16,20; Mc 5,43; Mc 9,9; Ga 6,15). Vậy mà, trong khi Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem, các người Pha-ri-sêu phải thốt lên: “Kìa thiên hạ theo ông ấy hết” (Ga 12,19).

Điều này ngược hẳn với thái độ của Đức Giêsu. Trước đây, Người xoa dịu sự hứng khởi của dân chúng, còn bây giờ, Người lại khơi lên. Tại sao vậy ?

Bởi vì “Thời” đã đến. Lúc này, sẽ đến giờ Người công khai tỏ cho dân chúng biết về uy quyền của Người, và đây là lần cuối cùng. Đức Giêsu biết rõ điều này sẽ đưa Người lên đỉnh Can-vê, đến việc Thăng Thiên và thiết lập vương quốc trên trần gian. Đây là cơ hội cuối cùng để Đức Giêsu đưa ra tiếng nói quyết định và đặt con người trước lựa chọn: hoặc tuyên xưng, hoặc từ khước.

Những cái áo được trải trên đường, những ngành ô-liu được phất cao; đám đông vui mừng tung hô:

“Hoan hô Thế tử nhà Đa-vít, hoan hô!

Vạn phúc Đấng ngự đến nhân danh Chúa!

Hoan hô Chúa ngự chốn cửu trùng” (Mt 21,9).

Đức Giêsu là Hoàng tử thuộc dòng dõi Đa-vít. Người là Đấng được sai đến để thực hiện công trình của Thiên Chúa. Hosana, khởi đầu là một lời cầu nguyện, giờ đây trở thành bài ca chiến thắng để đón tiếp Đấng Cứu Tinh. Mặc dù đám dân đang reo hò không hiểu rõ lý do Người được sai đến, họ cũng chẳng hiểu được bình an do Người mang lại, nhưng họ cũng biết rằng Người từ Thiên Chúa mà đến.

Đúng là một cuộc khải hoàn, nhưng Đấng Cứu Thế biết rõ rằng lời tung hô “Hosana” sẽ được đỗi thành “đóng đinh nó đi”, và vòng gai sẽ thay cho ngành vạn tuế. Ngày hôm nay, người ta trải áo dưới chân Người, nhưng ngày thứ Sáu tới đây, cả áo của Người họ cũng lột hết. Mặc dù Người là Vua, và dân chúng nhận rằng Người là Ngôn Sứ, là Thầy… nhưng Đức Giêsu biết rõ hoàng cung được dành cho Người chính là đổi Can-vê.

Lạy Chúa,

dù con có thế nào chăng nữa,

cũng xin cho con được tung hô Chúa trong ngày hôm nay.

Ngày thứ Sáu, tất cả tội lỗi của con sẽ bị phơi trần,

nhưng con biết lòng thương xót của Chúa

sẽ ngập tràn trên con:

đó là ngày Phục Sinh.

Cùng với tất cả mọi người

con sẽ reo lên

“Vạn phúc Đấng ngự đến nhân danh Chúa”

Đó là hy vọng, là niềm cậy trông

cho suốt cả hành trình tăm tối của con. Amen. mục lục.

Ý NGHĨA CUỘC ĐỜI

Trầm Thiên Thu

 

Lá Biếc Cùng Lá Xanh Vẫy Chào Chúa

Người Già Với Người Trẻ Mừng Đón Vua.

Cuộc đời không là cuộc dạo chơi, mà là cuộc đấu tranh – khó nhất là chiến đấu với chính mình, vượt qua “cái tôi” tồi tệ của mình. Và người ta vẫn nói rằng “đời là bể khổ.” Khổ đủ thứ, khổ mọi chiều – ngang, dọc, trên, dưới, cao, thấp, dài, ngắn.

Người ta chỉ thở dài chứ không thở ngắn. Thở dài thườn thượt vì khổ, biết là khổ mà chẳng ai định nghĩa được thế nào là khổ một cách chính xác và thỏa mãn nhất. Theo cách tương đối, có thể tạm hiểu với công thức giản lược: Đau khổ = Ưu sầu + Nước mắt. Tất nhiên phải “trừ” loại nước mắt vui mừng, dù hai loại nước mắt đều có vị mặn. Người ta dễ dàng lấy vạt áo lau khô những “giọt mặn” rỉ ra từ đôi mắt, nhưng rất khó xóa “vết mặn” khỏi trái tim mình. Thật vậy, sướng hay khổ còn do mỗi người có khái niệm riêng. Có những triết lý dễ hiểu, có những triết lý khó hiểu, thậm chí là không thể hiểu: Triết lý sống động của Thập Giá. Đó cũng là loại triết lý của sự đau khổ rất đặc biệt.

Chân phước Charles de Foucauld phân tích chí lý: “Trên thế giới đau thương này có một niềm vui mà các thánh và các thiên thần trên thiên đàng không được hưởng – đó là được cùng đau khổ với người yêu dấu của chúng ta. Dù cuộc sống có gian truân đến đâu, chuỗi ngày thê lương của chúng ta có lê thê đến mấy,… chúng ta cũng đừng bao giờ rời xa chân Thập Giá trước khi Chúa muốn. Thầy Chí Thánh thật nhân lành đã cho chúng ta, những tâm hồn yêu mến Thập Giá, được cảm nghiệm sự ngọt ngào của nó, nếu không phải luôn luôn, thì ít ra là vẻ đẹp và sự cần thiết của nó.”

Là con người, chắc chắn chẳng ai chờ đợi niềm đau nỗi khổ, thế nhưng đau khổ vẫn luôn có giá trị tích cực mà chúng ta phải cố gắng hiểu suốt cả đời. Đại văn hào Victor Hugo nhận xét: “Đau khổ cũng như hoa quả. Chúa không khiến nó mọc lên trên những cành quá yếu ớt để chịu nổi nó.” Còn Elbert Hubbard nói: “Nếu bạn đau khổ, hãy cảm ơn trời! Vì đó là dấu hiệu chắc chắn cho thấy bạn đang sống.” Ý tưởng thâm thúy. Chính đau khổ lại khiến người ta nên khôn, một sự thật vô cùng kỳ lạ!

Cuộc sống đời thường cho thấy rằng những con người có cách sống tốt đẹp là những người từng bị thất bại, từng đau khổ, từng tranh đấu, từng mất mát, và họ đã tìm được con đường ra khỏi vực sâu, thoát khỏi đường hầm. Những con người này có lòng cảm kích, sự nhạy cảm và thấu hiểu đối với cuộc đời, chính cuộc đời đã làm cho họ biết cảm thông, biết quan tâm chia sẻ và yêu thương sâu sắc. Rõ ràng không phải tự nhiên mà có, nhưng phải phấn đấu không ngừng – tức là gian nan, vất vả, đau khổ,...

Quả thật là kỳ diệu đối với triết lý đau khổ. Cái xui có sần sùi nhưng là cái bùi nhùi chùi bóng cuộc đời. Kinh Thánh cho biết rằng hung tin dồn dập, nhưng ông Gióp vẫn bình tĩnh. Ông trỗi dậy, xé áo mình ra, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và cầu nguyện: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, con sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21) Mặc dù đau khổ đến tột cùng, nhưng “ông Gióp KHÔNG hề phạm tội cũng KHÔNG buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa.” (G 1:22) Hai cái “không” của ông thật tuyệt vời. Ai hiểu được như vậy thì cuộc đời sẽ thanh thản, bình an, bình lặng nhưng êm đềm.

Như để tự an ủi để vượt qua đau khổ, người ta thường nói: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn le lói suốt trăm năm.” Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hiểu theo góc độ nào đó về Chúa Giêsu, Đấng nhập thể làm người. Kinh Thánh cho biết cuộc đời Ngài đầy đau khổ ê chề, thế nhưng Ngài vẫn có được khoảnh khắc huy hoàng là được thiên hạ tung hô lúc Ngài cưỡi trên lưng lừa khi vào Thành Giêrusalem. Và giờ của Ngài đã đến!

Hôm nay, Giáo Hội sử dụng bài ca thứ ba trong các Bài Ca của Người Tôi Trung, tuy ngắn gọn mà súc tích: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui.” (Is 50:4-5) Vẫn giữ được lòng trung tín trong lúc đau khổ như vậy thì không dễ chút nào, đức tin phải thực sự mạnh mẽ lắm.

Trong đại dịch hiện nay, mỗi chúng ta đều cần có đức tin như vậy để không bị chi phối, không bị hoảng loạn, biết sống liên đới và nâng đỡ nhau, không suy diễn lệch lạc gây ảnh hưởng xấu tới đức tin chân chính Kitô giáo.

Có điều kỳ diệu là nỗi đau khổ không làm người ta yếu đuối mà lại làm tăng sức chịu đựng: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng.” (Is 50:6-7) Thật là kỳ diệu, những người không có niềm tin Kitô giáo chắc chắn không thể hiểu được, và sẽ cho những người chịu đau khổ là những người điên khùng.

Trong khi đau khổ tột cùng, Thánh Vịnh gia đã thốt lên: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!” (Tv 22:7-9) Thách thức quá lớn, khoảng cô đơn quá rộng, thật ê chề nhục nhã quá đi!

Người ta cảm nhận chí lý: “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí.” Điều đó như một quy luật muôn thuở, giống như định mệnh vậy. Đau khổ này chồng lên đau khổ khác: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa.” (Tv 22:17-20) Không còn gì để mất nữa, khốn khổ tột cùng, lo sợ run cả người, nguyện cầu không ngừng, thế nhưng vẫn chẳng nghe động tĩnh gì. Trong cơn đại dịch hiện nay, cả thế giới cũng đang có cảm giác như vậy!

Tuy nhiên, dù có thế nào thì vẫn một niềm tín thác, vẫn xưng tụng Thiên Chúa, vì đó là mục đích sống của tín nhân: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Giacóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Israel tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:23-24) Và chẳng có gì tách tín nhân ra khỏi Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô. (Rm 8:39)

Sống nhờ hơi thở cầu nguyện. Cầu nguyện cũng là dưỡng chất tâm linh. Cầu nguyện mà không nghe động tĩnh gì, đó là dấu chỉ chắc chắn rằng Chúa đang xót thương. Lại thêm một điều kỳ diệu. Muốn hiểu được triết lý này thì cần phải có niềm tin Kitô giáo. Với người ngoài Kitô giáo hoặc vô thần, họ cho đó là “bùa mê, thuốc lú,” ai tin như vậy đều bị họ coi là dại dột, là dốt nát, là ngu xuẩn hoặc điên rồ. Nhưng cái dại đó lại là cái khôn kỳ diệu.

Thật vậy, Thánh Phaolô phân tích: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” (Pl 2:6-7) Chúa Giêsu không chỉ tự nguyện như vậy, mà còn hơn thế nữa: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2:8) Đúng là mầu nhiệm, do đó mà khó hiểu. Tuy nhiên, “khó hiểu” chứ không phải là “không thể hiểu.” Nghĩa là vẫn có thể hiểu – hiểu bằng đức tin và đức mến.

Dù là dạng tình yêu nào thì cũng cần “chất” đau khổ, có đau khổ mới chứng tỏ tình yêu chân chính. Đại văn hào Victor Hugo nói: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa; chết vì yêu là sống trong tình yêu.” Chết mà là sống. Người đời mà còn nhận định được như vậy thì kỳ lạ thật!

Sự đau khổ luôn có giá trị nhất định và thực sự độc đáo. Gian nan dẫn đến thành công, đau khổ đưa tới vinh quang. Tương tự, sự chết là đường dẫn tới sự sống, là cửa ngõ mở lối vào cõi trường sinh. Thánh Phaolô kết luận: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa.” (Pl 2:9-11) Ai tin nhận Ngài sẽ được sống đời đời. (Ga 3:16; Ga 6:47)

Khi Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem cũng là lúc Ngài bắt đầu đi vào cõi đau khổ, rồi từ “biên giới” đầy gian khổ là Vườn Dầu tiếp tục dẫn tới “cửa ải” sự chết là Núi Sọ, thế nhưng từ Núi Sọ “chết chóc” ấy lại dẫn tới cửa sự sống là Nước Trời. Một bản đồ lòng vòng như mê cung nhưng lại thú vị và hấp dẫn, có biết bao người mong được sử dụng loại bản đồ này, và nhiều người đã đạt được mục đích – các thánh nhân, đặc biệt là các vị tử đạo. Lối hẹp mà hóa đường rộng, vị cay đắng trở thành vị ngọt ngào.

Dù vui hay buồn, dù tốt hay xấu, chuyện gì đến cũng sẽ đến. Đó là điều tất yếu của cuộc đời. Ngày Chúa Giêsu được người ta tiếp đón và chúc tụng nhưng Giáo Hội sử dụng bài thương khó – bộ phim trĩu nặng u buồn.

Một người trong Nhóm Mười Hai, Giuđa Ítcariốt, đành lòng bán Thầy mình để lấy một số tiền. Từ lúc đó, gã cố tìm dịp thuận tiện để nộp Thầy mình. Vật chất và tiền bạc có ma lực cực mạnh khiến người ta mù quáng, không còn đủ lý trí sáng suốt để phân biệt đâu là phải – trái. Ma lực đó khó cưỡng lại, nên nhiều người chết vì nó!

Vào ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giêsu xem Ngài muốn họ dọn Tiệc Vượt Qua ở đâu. Ngài dặn dò họ kỹ lưỡng từng chi tiết.

Hàng hôn buông xuống. Thời điểm quan trọng. Đức Giêsu vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. Đang tiệc vui, bỗng dưng Ngài bảo có người sẽ nộp Ngài. Các môn đệ ngạc nhiên và buồn lắm, họ hỏi nhau để biết ai là thủ phạm. Không ai biết. Ngài nói: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26:23-24) Giuđa chột dạ nhưng vẫn giả nai: “Thầy ơi, chẳng lẽ con sao?” Và Ngài xác nhận là đúng, không sai!

Cũng trong dạ tiệc đó, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.” (Mt 26:26) Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội.” (Mt 26:27-28) Đây là giây phút linh thiêng và xúc động, nhưng lại có nỗi buồn khi Ngài bảo: “Từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy.” (Mt 26:29) Buồn thật. Và nỗi buồn đó như đang thấm vào mỗi chúng ta trong đại dịch Corona này!

Hát thánh vịnh xong, Thầy trò cùng ra núi Ôliu. Bấy giờ Đức Giêsu nói với các ông về nhiều điều cần thiết, vừa cảnh báo vừa trăn trối. Nghe Thầy nói đích danh mình là sẽ chối Thầy ba lần. Ông Phêrô nói chắc: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy.” (Mt 26:35) Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy. Nhưng rồi điều gì đến vẫn cứ đến. Sự thật là sự thật, và lời tiên báo cũng ứng nghiệm.

Bước vào Vườn Dầu – Ghếtsêmani, Ngài bảo mọi người ở lại, chỉ dẫn theo Phêrô và hai người con ông Dêbêđê đi theo. Ngài bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến cực độ nên phải thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy.” (Mt 26:38) Ngài đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” (Mt 26:39) Nhân tính thật yếu đuối, nhưng Ngài vẫn quyết tuân phục Ý Cha cho đến cùng, không theo ý riêng.

Khi trở lại chỗ ba đệ tử, Ngài thấy họ ngủ say, và Ngài nói: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy CANH THỨC và CẦU NGUYỆN, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.” (Mt 26:40-41) Cuộc chiến tâm linh thật khó khăn, nhưng không thể không chiến đấu.

Nói xong, Ngài lại đi cầu nguyện lần thứ hai: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha.” (Mt 26:42) Rồi Ngài quay lại, thấy các môn đệ vẫn đang ngon giấc, mắt họ nặng trĩu. Có lẽ họ thấm mệt vì có chút men và trời đã quá khuya. Phàm nhân là thế. Ngài để cho các ông ngủ mà đi cầu nguyện lần thứ ba, cũng với lời như trước. Rồi Ngài đến chỗ các môn đệ, đúng lúc kẻ nộp Ngài vừa tới. Giờ G đã điểm!

Tỏ ra tất thản nhiên và lịch sự, Giuđa đến chào và hôn Thầy, nhưng đó không là dấu yêu thương mà là dấu “chỉ điểm” cho những kẻ ác bắt Thầy. Phêrô nóng gáy nên rút gươm chém đứt tai Man-khô, đầy tớ của thầy thượng tế. Nhưng Chúa Giêsu chữa lành cho gã và bảo Phêrô không nên dùng vũ khí. Họ liền ập tới bắt trói Ngài. Thấy vậy, các môn đệ tá hỏa và chạy trốn, có kẻ mất dép, có kẻ tuột cả áo. Ai cũng nói mạnh, nhưng cũng chỉ lẻo mép nói suông. Phàm nhân yếu đuối và hèn nhát lắm, đúng là “nói trước bước không qua.”

Những kẻ thủ ác bắt Đức Giêsu và điệu đến thượng tế Cai-pha. Phêrô đi theo xa xa, đến tận dinh thượng tế, rồi vào bên trong ngồi với bọn thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao.

Chúa Giêsu im lặng dù người ta chất vấn đủ thứ. Bởi vì có nói với họ thì cũng như nước đổ lá môn, nói với cục đá còn hơn. Cuối cùng, vị thượng tế hống hách nói: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không?” (Mt 26:63) Nghe chừng đạo đức lắm vì ông ta dám “nhân danh Chúa” mà tra xét. Lúc này Chúa Giêsu phải lên tiếng: “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến.” (Mt 26:64) Như giọt nước làm tràn ly, vị thượng tế liền xé áo mình ra và bảo Đức Giêsu nói phạm thượng, rồi ông ta hỏi mọi người nghĩ sao, họ liền đồng thanh: “Hắn đáng chết!” Cố chấp và đồng lõa, thật đáng sợ!

Rồi có kẻ khạc nhổ vào mặt và đấm đánh Ngài, kẻ khác tát Ngài, họ toa rập với nhau lăng mạ Ngài.

Cuộc đời có những điều tất yếu, chuyện gì sẽ đến rồi cũng đến. Phêrô được Thầy báo trước, nhưng cũng không thể vượt qua chính mình. Thiên hạ thấy ông nên bàn tán xì xầm, ông sợ nên không dám nhận mình là người quen với Đức Giêsu, và còn thề độc là không hề quen với người đang bị hành hạ bên trong kia. Và rồi có tiếng gà gáy, ông sực nhớ lời Đức Giêsu đã nói: “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần.” (Mt 26:34) Ông ra ngoài và bật khóc. Có lẽ từ đó, ông rất sợ tiếng gà gáy mỗi sáng, nhưng chắc cũng phải cảm ơn con gà trống.

Theo thông lệ mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn phóng thích một người tù, tuỳ ý dân. Khi ấy có một tù nhân khét tiếng là Baraba. Người ta đồng ý thả hắn và cương quyết giết Đức Giêsu. Philatô thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Ngài, thế nhưng vì địa vị chức tước mà ông làm ngơ công lý, vợ ông bảo đừng nhúng tay vào vụ xử vụ này, và ông “ngây thơ” đi rửa tay để chứng tỏ mình vô can. Rất rõ nét thói giả hình, sự hèn hạ và khốn kiếp.

Quả thật, chính Philatô đem Đức Giêsu vào trong dinh và tập trung cả cơ đội quanh Ngài. Chúng lột áo Ngài ra, khoác cho Ngài tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Ngài một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng, chúng khạc nhổ vào Ngài và lấy cây sậy mà đập vào đầu Ngài. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, cho Ngài mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Mọi thứ diễn tiến đúng quy trình của những kẻ mặt người mà lòng dạ ma quỷ.

Dọc con đường lên Núi Sọ, chúng gặp một người Kyrênê tên là Simôn, chúng bắt ông vác thập giá của Ngài, vì thấy Ngài yếu sức, sợ Ngài không thể đến nơi xử tử. Những người nói mạnh hứa chắc, những người tín cẩn, những người được chữa lành, những người được ăn no nê, họ ở đâu lúc dầu sôi lửa bỏng thế này? Tại sao chỉ thấy một mình ông Si-môn ngoại giáo vác đỡ Thập Giá cho Ngài? Cuộc đời là thế, con người là vậy ư?

Khi đến Núi Sọ, chúng cho Ngài uống rượu pha mật đắng, nhưng Ngài chỉ nếm một chút mà không chịu uống. Sau khi đóng đinh Ngài vào thập giá, chúng đem áo Ngài ra bắt thăm mà chia nhau, rồi ngồi canh giữ Ngài. Hôm đó, cùng bị đóng đinh với Ngài là hai tên cướp ở hai bên.

Ngay cả những kẻ qua người lại cũng buông lời nhục mạ và thách thức Ngài. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục thi nhau chế giễu Ngài vì họ tưởng mình đã hành động đúng với cảm giác hả hê chiến thắng. Thậm chí một tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng không tiếc lời sỉ vả và thách thức Ngài. Vào hùa với nhau làm việc xấu, thật tồi tệ!

Thật kỳ lạ, trời đang nắng mà bỗng dưng tối sầm từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (12 giờ trưa tới 15 giờ). Vào giờ thứ chín, trong nỗi cô đơn, Chúa Giêsu kêu lớn tiếng: “Êli, Êli, lêma xabácthani – lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27:46) Người ta cứ tưởng Ngài gọi ông Êlia, rồi một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Ngài uống. Rồi Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn. Sự tĩnh lặng như tấm màn phủ xuống...

Và ngay thời điểm đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới, rồi đất rung đá vỡ, mồ mả bật tung, xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ bất ngờ trỗi dậy. Thấy động đất và các sự lạ, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và phải thú nhận: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.” (Mt 27:54; Mc 15:39; Lc 23:47) Ít ra cũng biết chân nhận như thế, muộn còn hơn không. Sự thật minh nhiên, không thể chối cãi, dù người ta cố ý bóp méo cũng không thể.

Ngẫu nhiên mà kỳ lạ: chữ Thắng và chữ Thua cùng vần T. Ở đời cũng vậy, có khi cứ tưởng Thắng mà hóa Thua, nhưng có khi thấy Thua mà lại Thắng. Và chuyện gì sẽ đến cũng lại đến. Ước gì mỗi chúng ta đều như những chiếc lá luôn xanh biếc đức tin, luôn khiêm hạ và chân thành đón nhận Đức Kitô trong mọi hoàn cảnh, khi vui đã đành, khi buồn mới thực sự có giá trị. Đau khổ làm cho cuộc đời có ý nghĩa lạ lùng lắm.

Trong thời gian này, chúng ta phải “chay” mọi thứ vì đại dịch Corona, thực sự là nỗi khổ niềm đau, nhưng là dịp tốt để chúng ta xét mình để biết thiếu hay thừa cái gì mà biết thay đổi cho hợp ý Chúa.

Lạy Thiên Chúa chí thiện, trong lúc hoạn nạn này chúng con mới cảm nhận giá trị của đau khổ, biết thân phận con người mong manh mà thêm tín thác vào sự quan phòng của Ngài. Xin ban Thánh Linh để chúng con có thể hiểu được triết lý của Thập Giá, nhờ đó mà cố gắng đi xuyên qua đau khổ và luôn hướng về Ngài. Xin giúp chúng con đủ sức chịu đau khổ với Đức Kitô để được sống lại với Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen. mục lục.

NHẬN RA TRÁCH NHIỆM VÀ  XIN ƠN SÁM HỐI

Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG

Hôm nay Hội Thánh tưởng niệm cuộc vinh quang năm xưa của Chúa mình khi Người  tiến vào thành thánh Giêrusalem. Hội Thánh sống lại tâm tình của các trẻ em xưa tung hô vinh quang của Đức Chúa: “Hoan hô Con Vua David, hoan hô trên các tầng trời. Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến, hoan hô trên các tầng trời”. 

Mặc lấy tâm tình của trẻ em Dothái chứ đừng mặc lấy tâm tình của người Dothái xưa. Vì chính họ có mặt và tham gia cuộc rước trọng đại của Chúa, nhưng sau đó họ phản bội dữ dội. Sự phản bội lớn gấp nhiêu lần lời tung hô. 

Mặc lấy tâm tình của trẻ con, chúng ta hãy khiêm cung bái thờ Đức Chúa uy nghi, Chúa chúng ta. Còn xua đi hình ảnh người Dothái xưa để ta biết xua đi chính sự dữ còn ngự trị đâu đó trong tâm hồn mình.

Với hai hình ảnh: Một là sự đơn sơ của trẻ con, hai là sự bội phản một cách lạ lùng của người lớn, tôi mời anh chị em hãy tự vấn chính mình xem, ai phải chịu trách nhiệm về cái chết bi thương của Chúa, để rồi từ sự nhận ra trách nhiệm, ta sám hối thật lòng để thanh tẩy tâm hồn, để có cái nhìn mới mà nhận ra Chúa đang hiện diện trong đời ta, nơi môi trường ta sống.

1. Trách nhiệm cái chết của Chúa Giêsu thuộc về ai?

Dù cái chết của Chúa Giêsu là cái chết bị gây nên một cách quá độc ác, quá tàn nhẫn, nhưng người Kitô hữu không thể quy trách nhiệm cho người Dothái, vì chính Chúa Giêsu đã tha thứ cho họ (Lc 23, 34). Thánh Phêrô cũng đã từng coi hành vi thủ tiêu này là do họ “không biết” (Cv 3, 17). 

Chính Hội Thánh cũng đã tuyên bố tại Công đồng Vatican II: “Không thể quy trách nhiệm một cách hàm hồ những tội ác đã phạm trong khi Đức Kitô bị khổ nạn cho hết mọi người Dothái thời đó, cũng như cho người Dothái thời nay” (Tuyên ngôn về liên lạc giữa Hội Thánh với các tôn giáo ngoài Kitô giáo - số 4).

Bởi vậy, thay vì quy trách nhiệm cho dân tộc Dothái, đúng hơn chúng ta phải nói rằng: Mọi kẻ tội lỗi là thủ phạm gây ra cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. 

Vì tội lỗi, mỗi Kitô hữu đã xúc phạm đến chính Chúa Kitô, nên Hội Thánh không ngần ngại quy cho chính các Kitô hữu trách nhiệm nặng nề nhất  đối với những gì mà Chúa Giêsu phải chịu: 

“Chúng ta phải coi những kẻ sa ngã đi lại trong tội lỗi, là những người đã phạm lỗi tày trời ấy. Bởi lẽ, chính tội ác của chúng ta đã làm Đức Giêsu Kitô phải chịu khổ hình thập giá, thì chắc chắn rằng những ai chìm đắm trong gian tà cũng ‘tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa, và đã công khai sĩ nhục Người’ (Dt 6,6). Và phải nhìn nhận rằng, tội ác của chúng ta trong trường hợp này nặng hơn tội của người Dothái. Vì theo thánh Phaolô, ‘nếu họ đã được biết vua vinh hiển, họ đã chẳng đóng đinh Người vào thập giá’ (1Cr 2, 8)… Không phải quỷ dữ đã đóng đinh Người trên thập giá; chính bạn cùng với chúng đã đóng đinh Người vào thập giá; và còn đang đóng đinh Người nữa, khi bạn thích thú trong thói xấu và tội lỗi” (GLCG số 598).

2. Sám hối để thanh tẩy chính mình

Tại một vùng của Pháp, dân chúng có tập tục rất lạ. Đó là sáng sớm Chúa nhật Phục sinh khi hồi chuông đầu tiên của nhà thờ vang lên, tất cả mọi người đều trổi dậy chạy ra giếng làng rửa mặt với dòng nước mát lạnh.

Nhiều bạn trẻ không hiểu vì sao lại chạy ra giếng rửa mặt, trong khi ngày nay gia đình nào cũng có các vòi nước trong nhà. 

Lúc ấy các cụ già giải thích: Đó là hình thức cầu nguyện bằng hành động, qua đó dân làng cầu xin Thiên Chúa ban cho họ đôi mắt đức tin mới, để họ thấy Chúa Giêsu Phục sinh đang hiện diện sống động giữa họ.

Cũng thế, ta rất cần một đôi mắt đức tin mới để nhận biết Thiên Chúa. Tự đánh thức tâm hồn mình bằng việc ăn năn, sám hối tội lỗi của bản thân, chính lá lúc chúng ta mang cặp mắt mới để nhận ra con người hèn hạ của chính mình. 

Những người đồng hương của Chúa, vì mang con mắt cũ kỹ, con mắt định kiến, thiển cận và hẹp hòi, đã không nhận ra Chúa Giêsu. Họ không nhận ra Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. 

Họ không tin Người là một tiên tri, lại càng không thể tin Người là Đấng Cứu Thế, và chắc chắn họ chẳng ngờ mình là đồng hương với chính Con Thiên Chúa. 

Vì thiếu cặp mắt mới, cặp mắt của yêu thương, đón nhận, thiếu cặp mắt của đức tin, chỉ mang cặp mắt của lòng ghanh ghét, ích kỷ, họ đã giết Chúa. 

Đóng đinh Chúa vào thánh giá, họ nghĩ rằng mình đã chiến thắng Chúa Giêsu như chiến thắng một kẻ thù không đội trời chung với họ. 

Đấng Cứu Chuộc họ, lại bị chính họ giết chết, vì thế người Dothái trở thành kẻ bất hạnh vì mãi mãi vẫn tách biệt ơn cứu độ, và xa cách vô cùng với Đấng Cứu độ mình, Đấng mà lẽ ra, cha ông họ chính là những người đầu tiên được diễm phúc lãnh nhận.

Chúng ta hãy thật lòng nhìn nhận tội của mình để mặc lấy cặp mắt mới của đức tin mà trung thành thờ lạy Chúa. 

Chúng ta xin Chúa hãy loại bỏ những gì là định kiến, là thiển cận, hẹp hòi nơi tâm hồn mình. 

Xin Chúa ban cho ta cặp mắt mới, không phải cặp mắt trên gương mặt của mỗi người, nhưng là cặp mắt của lòng tin, để nhờ ánh sáng đức tin soi chiếu, ta nhận ra Chúa đang hiện diện giữa cuộc đời ta, hiện diện nơi anh em của ta.

Giờ đây, khi đã hiểu trách nhiệm của mình trong cái chết của Chúa và tỏ lòng thành muốn ăn năn tội, bạn và tôi thành tâm dâng lời cầu nguyện, xin Chúa rộng lòng khoan thứ cho chúng ta:

Lạy Chúa, như thánh Phaolô trên đường về Đamas,

Xin cho con trở nên mù lòa vì ánh sáng chói chan của Chúa,

Để nhờ biết mình mù lòa, con được sáng mắt.

Xin cho con cặp mắt mới, để nhận ra ánh sáng của Chúa,

Xin cho con đừng sợ ánh sáng của Chúa,

Bởi đó là ánh sáng phá tan bóng tối trong con,

Và đòi buộc con phải hoán cải tâm hồn mình.

Xin cho con đừng cố chấp ở lại trong đui mù,

Đừng ở lại trong đen tối của ánh mắt ích kỷ, ghen tương,

Nhưng xin cho con khiêm tốn,

Nhận ra sự tối của chính mình, 

Mà mở lòng đón lấy những tia sáng của thánh ý Chúa,

Những tia sáng của những tấm lòng tốt quanh con,

Để con vươn lên tiến về phía Chúa.

Xin cho con tìm chân lý,

Để chân lý sẽ giải thoát nội tâm của con.

Vì nếu được giải thoát, con sẽ bình an trong Chúa. Amen. mục lục.

HOSANNA! VẠN TUẾ! THIÊN CHÚA ĐÃ ĐẾN

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Để chuẩn bị Tuần Thánh chúng ta không thể không biết đến cuốn sách của ĐGH Biển Đức XVI: “Đức Giêsu thành Nazareth – Từ lúc đi vào Jerusalem đến lúc Phục Sinh” (Ignatius Press, San Francisco-USA-2011). Thiết tưởng tất cả mọi người Công giáo từ giáo sĩ, linh mục, giám mục đến giáo dân nên đọc để có thể gặp được con người Giêsu thành Nazareth và thấu hiểu trọng điểm của màu nhiệm niềm tin mà chúng ta sẽ ôn lại trong tuần thánh này. Chuẩn bị Tuần Thánh và đại lễ Phục Sinh, không có cách nào hay hơn là đọc và suy niêm kiệt tác này. Nó sẽ giúp chúng ta hiểu biết hơn về Đức Giêsu, đồng thời giúp chúng ta cầu nguyện và rao truyền Lời Chúa hiệu quả hơn. 

Hằng năm, vào Tuần Thánh, chúng ta vẫn theo Chúa Giêsu đi lên Jerusalem giữa rừng người tung hô vang trời “Hosanna! Hoan hô! Hoan hô đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến!” Quả là một ngày tràn ngập ánh sáng, đầy vui tươi, hớn hở, vang động tiếng nguyện cầu, nhưng ảm đạm ở cuối trời là cả một nguồn sóng ngầm đầy oán ghét hận thù, tang thương và chết chóc. Chúng ta cũng bị cuốn hút vào đám đông tung hô Đấng Thiên Sai là Vua khi Người từ núi cây dầu đi xuống… không phải rầm rộ với đoàn xe hộ tống, nhưng ngồi trên lưng một con lừa con. 

Quí vị nghĩ sao về quang cảnh tưng bừng, người người tung hô Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Vua hòa bình và hy vọng khi Người đi vào Jerusalem để rối 5 ngày sau, những tiếng hoan hô vãy chào biến thành lời chửi rủa, đòi kết án tử hình, đóng đinh Chúa vào thập giá.

Việc âm mưu giết Chúa của một số người và những vị lãnh đạo tôn giáo thời đó là một tội ác tày trời, và chúng ta hôm nay cũng đều là những kẻ đáng trách. Tội của họ và của chúng ta đã làm Chúa phải chết trên thập giá. Chúng ta biết vì đâu mà Chúa phải chết như vậy. Dĩ nhiên không phải vì bản tính thâm độc của những kẻ chủ trương giết Chúa hơn 2.000 năm trước, mà cả một vòng tròn tội ác lẩn quẩn đủ thứ như ganh ghét, hận thù, ác độc, gian dối, bạo động, quỉ quái, lưu manh… từ xưa đến nay vẫn còn tiếp tục đóng đanh Chúa, treo Chúa trên thập giá giữa những người anh chị em huynh đệ của mình. 

CÂU CHUYỆN CHÚA KHỔ NẠN THEO MÁTTHÊU 

Khi viết câu chuyện khổ nạn của Chúa (Mt 26:14-27:66), Mátthêu đã theo sát chuyện của Máccô, nhưng bỏ một phần (Mc 14:51-52) và thêm một phần (Mt 27:3-10,19). Phần ông thêm vào, một phần là những tin tức mà ông biết được từ đâu đó, một phần là cảm nghiệm thần học của riêng ông (Mt 26:28) “…về sự tha thứ tội lỗi” (Mt 27:52). Ngoài ra, Mátthêu cũng thay đổi một ít chi tiết nhỏ của Máccô. Tuy nhiên cũng không có gì mới lạ hơn câu chuyện của Máccô. 

Đọc Mátthêu, chúng ta có cảm tưởng cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu là một định mệnh vì Chúa đã chấp nhận nó như là bổn phận của mình do Thiên Chúa Cha sắp đặt và sự chống trả mãnh liệt với tử thần chỉ là tự nhiên. Trong chương đầu sách “Giêsu thành Nazareth” phần “Đi vào Jerusalem”, ĐGH Biển Đức muốn chúng ta coi Zachariah 9:9, bản văn mà Mátthêu và Gioan đã trích dẫn với mục đích làm nổi bật ngày “Chúa Nhật Lễ Lá”: “Hãy nói với thiếu nữ Zion, kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi, hiền hậu ngồi trên lưng lừa con, một con vật chở đồ” (Mt 21:5; Zech 9:8; Ga 12:15).

ĐGH Biển Đức viết: “Chúa Giêsu là Vua phá hủy mọi khí cụ chiến tranh, Vua hòa bình, Vua bình dị, Vua nghèo khó. Và sau cùng chúng ta thấy Người trị vì một vương quốc trải dài từ biển này tới biển kia, bao trùm toàn thế giới. Chúng ta cũng được nhắc nhở về một tân thế giới bao quanh vương quốc của Đức Giêsu trải rộng từ biển này đến biển kia trong những cộng đồng bẻ bánh hiệp thông với Đức Giêsu Kitô, như là một vương quốc hòa bình của Chúa. Không một vương quốc nào giống như vậy…” 

HOSANNA NGHĨA LÀ GÌ?

“Hosanna” nguyên thủy là lời các tư tế trong đền thờ chúc lành cho khách hành hương, nhưng khi nó được tiếp nối bởi lời tung hô “Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến” thì có nghĩa là Đấng Thiên Sai, Đấng mà Thiên Chúa Chỉ Định và Hứa Hẹn. Lúc đó nó trở thành lời chào mừng Đức Giêsu là Đấng mà mọi người mong đợi, một người nhân danh Thiên Chúa mà đến.

Có người hỏi tại sao lại dùng từ “Hosanna” là tiếng Do Thái / Hebrew mà không chuyển dịch qua tiếng Hy Lạp? Từ Hosanna theo nghĩa Hy Lạp là “Lạy Con vua Đavít, xin hãy cứu giúp. Chúc phúc Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến. Lạy Đấng tối cao, xin hãy cứu giúp chúng tôi.” Đám đông tung hô chào mừng Chúa Giêsu trong khi hô to Hosanna, xin cứu giúp, tay cầm cành lá vạn tuế vẫy chào theo nghi thức phụng vụ lễ sukkot đã bị chính trị hóa thành lễ độc lập, lễ Hanukkah đầu tiên của dân Do Thái. Dùng nghi thức phụng vụ để chào mừng Đức Giêsu hẳn có một mục đích. Tiếp theo cuộc khải hoàn của Đức Giêsu đi vào Jerusalem là việc Chúa thanh tẩy đền thánh (Mt 21:14-16). Đây là khung cảnh tranh đua giải phóng của anh em nhà Macabê đã được tính toán trước hầu nung nấu hy vọng về một Đấng Thiên Sai. Khi dân chúng tay cầm cành lá vạn tuế vẫy chào, miệng hô to Hosanna hẳn họ đã biết điều họ làm. 

Cảm xúc họ biểu lộ khá phức tạp: Vui mừng ca ngợi Thiên Chúa lúc đi vào thành, hy vong giờ điểm của Đấng Thiên Sai đã đến, đồng thời cầu xin cho vương quyền Đavít tức vương quyền Thiên Chúa ngự trị trên Israel sẽ được tái lập (Jesus of Nazareth, tr.8-10). Tiếng kêu cứu xin giúp đỡ khẩn cấp “Hosanna” có một giá trị phổ quát, nó luôn luôn thích ứng với mọi hoàn cảnh của con người, nó là lời kinh độc ngữ có tác động ảnh hưởng chính trị lật đổ những kẻ áp bức ở bất cứ nơi nào, hiện tại cũng như thời thượng cổ, vì vậy nó phải được thay  đổi và tìm hiểu. 

VỊ NGÔN SỨ TỪ NAZARETH 

Ngay từ khởi đầu khi người ta nghe nói về một ngôn sứ đến từ Nazareth, thì người đó cũng chưa xuất hiện và đối với Jerusalem cũng chẳng có gì là quan trọng, dân địa phương cũng không biết ông ta là ai. Đám đông tôn vinh Đức Giesu ở cổng thành lúc đó cũng không phải là đám đông sau này đòi đóng đinh Chúa trên thập giá. Cả hai bộ mặt trong câu chuyện này đều không nhận ra được Chúa Giêsu vì họ lẫn lộn giữa dửng dưng và sợ hãi. Điều này đã được ĐGH Biển Đức XVI mô tả như là một cảnh bi thương của thị trấn mà Đức Giêsu đã nhiều lần nói tới, có khi rất gay gắt khi Người biểu lộ cho biết thời cánh chung. 

Ý NGHĨA CỦA KHỔ NẠN THEO MÁTTHÊU 

Đối với Mátthêu, điểm mốc lịch sử của Đức Giêsu là cái chết và sự Phục Sinh của Người. Ngay khi Chúa vừa chịu chết, thì một đời sống mới bắt đầu xuất hiện: Đất trời rung động, đá bể làm đôi, mồ mả mở cửa, các thánh đi ra khỏi mồ và khải hoàn đi vào thị trấn của Chúa. Khi viết những lời này, Mátthêu đã nêu ra một viễn tượng vĩ đại về những bộ xương khô như nói trong Êdêkien 37. Thiên Chúa thở thần khí vào những bộ xương đó và họ sống lại từ cõi chết rồi trở thành người mới. Mátthêu tin rằng một đời sống mới cho toàn thể thế giới xuất hiện từ cái chết của Đức Kitô; một cộng đồng sơ khai đã xuất hiện từ cuộc sống gần chết vì sứ mệnh của người Kitô giáo Do Thái  đối với Israel hầu phát triển một thế giới ở Địa Trung Hải và rèn luyện những người Do Thái và dân ngoại thành những người mới. ‘Chết-Sống Lại’ không phải chỉ là một hình thức định mệnh của Đức Giêsu mà còn là một hình thức định mệnh cho chính cộng đồng lịch sử. 

Ý NGHĨA CỦA KHỔ NẠN THEO THỜI NAY 

Cuộc khổ nạn theo Mátthêu có ý nghĩa gì đối với chúng ta ngày nay? Nó tùy theo cái nhìn Kinh Thánh của mỗi người về tình trạng hiện tại của Giáo Hội và thế giới. Chúng ta nhận sứ mệnh đi diễn hành và làm mục vụ không phải chỉ từ Giáo Hội mà còn từ thế giới bên ngoài nơi chúng ta  sống. Thảm kịch ghê gớm về cuộc khổ nạn mà Mátthêu diễn tả cho thấy những điều mà ta gọi là “biến cố thế tục”, ngay cả những điều bị phá hủy, làm tổn thương và khủng bố hay làm cho mù quáng đã đưa chúng ta về phía trước của tương lai của Chúa và đặt thành giai đoạn để Chúa biểu lộ mình cho chúng ta.  

THỜ LẠY CHÚA TRONG THÁNH THỂ 

Để kết luận xin lấy những lời ĐGH Biển Đức XVI suy niệm về bài Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá:

“Giáo Hội thờ lạy Chúa trong phép Thánh Thể như là đấng đang và đã đến giữa Giáo Hội. Giáo Hội cũng đồng thời thờ kính Người là đấng đang tiếp tục đến, là đấng dẫn dắt chúng ta đi về phía Người. Là những khách hành hương, chúng ta đi lên với Người; là một khách hành hương, Người đến với chúng ta và đem chúng ta lên cùng Người khi Người chịu chết trên thập giá và sống lại, để cuối cùng đi về một Jerusalem thực sự đang triển nở giữa thế giới hiệp thông, liên kết chúng ta với thân thể Người.” (Jesus of Nazareth tr.11). mục lục.

-----------------------------------------------------------------------------

XIN THƯƠNG XÓT CHÚNG CON

Từ trước khi nộp đơn vào Chủng viện, tôi xác tín, trở thành linh mục triều, đời mình gắn liền với giáo dân, gắn liền nỗi vui buồn trong mỗi tâm sự anh chị em bày tỏ, gắn liền mọi cử hành phụng tự vì lợi ích thiêng liêng của giáo dân.

Vậy mà đã là Chúa nhật thứ hai trong hai Chúa nhật liên tiếp (thứ V mùa Chay và lễ Lá) lần đầu tiên trong đời, tôi dâng thánh lễ, dù giáo xứ có hơn hai ngàn giáo dân, lại không một bóng người. 

Một mình bước ra cung thánh, dẫu biết, khi dâng thánh lễ, là cả cộng đoàn Hội Thánh hữu hình và vô hình cùng lúc tham dự vào hy tế của Chúa. Tuy nhiên, dưới con mắt nhân trần, vì thiếu những khuôn mặt của nhiều giáo dân quanh mình, tôi vẫn thấy một mình đơn lẻ nơi bàn thờ.

Chưa bao giờ tuần Thánh lại diễn ra trong nỗi đìu hiu như những gì đã chứng kiến và sẽ còn chứng kiến. Nỗi nghẹn ngào làm cổ họng nhiều lần như thắt lại, như có ai bóp chặt... 

Ngày đầu của tuần Thánh mà không một tiếng của bất cứ loại xe cộ nào chạy vào bãi, không một tiếng hát, không một lời cầu kinh của hàng lớp giáo dân, không một tiếng chân trẻ con chạy phía ngoài hiên nhà thờ...

Thói quen, trước giờ lễ, tôi đi một vòng nhà thờ. Kia là các thanh niên hút thuốc, tán gẫu... Chỉ giải tán khi thấy bóng cha xứ. Dù vậy, có kẻ nấng ná rít ngụm khói cuối cùng như tiếc nuối trước khi quăng mẫu thuốc lá dở...

Kia là các bà mẹ trẻ đang nựng con, hay bóc một gói bánh, hay mở nắp một hộp sữa cho con mình...

Tôi quá quen tiếng chuông điện thoại và sau đó là bóng một người hấp tấp rời khỏi nhà thờ, một lúc sau lại len lén bước vào chỗ của mình...

Hoặc hình ảnh thân thương vô cùng của mấy cụ bà đang sốt sắng cầu nguyện trước tượng đài Đức Mẹ... Thương bóng dáng thấp thoáng của các huynh trưởng, giáo lý viên, vì săn sóc các thiếu nhi, đôi lúc chạy ra, chạy vào. Hơn tháng rồi, lớp giao lý đã dừng.

Chỗ này là chiếc xe lăn, người đàn ông bị tai biến, được vợ con đẩy lên  bậc thềm nhà thờ. Dẫu bệnh, vẫn không muốn xa rời thánh lễ Chúa nhật...

Tôi nhớ như in khuôn mặt những anh chị em phục vụ trong từng thánh lễ. Họ hiện diện với tôi qua quá nhiều thánh lễ mà tôi không thể nhớ hết số lần. Làm việc bên cạnh tôi, họ đỡ đần tôi không biết bao nhiêu công việc lớn nhỏ... 

Tôi thèm nhìn lại những khuôn mặt thân thương của giáo dân mình, nhất là những người ngồi ở những hàng ghế đầu. Đó là những hàng ghế ít ai tranh ngồi, nên chỗ họ ngồi hầu như trở thành cố định, trở thành "độc quyền".

Ở xa xa, sau những hàng ghế ấy, có người đã có giọng "lạc tông", đọc kinh "không giống ai", lại còn đọc to, từng làm cộng đoàn không ít khó chịu.

Tôi thuộc làu từng giọng solo của các ca viên trong ca đoàn, đến nỗi chỉ cần tiếng hát cất lên, tôi có thể gọi tên của từng bạn trẻ ca viên trong xứ tôi.

Tôi thèm tiếng chào của các thiếu nhi khi bước vào nhà thờ, hay gặp chúng trên sân. Tiếng chào cứ nhao nhao, đến nỗi nghe không kịp, đáp không xuể...

Đội giúp lễ của tôi có đến vài chục em. Là con trai, nhưng chúng nhiều chuyện vô cùng. Nhiều lần tôi phải la rầy vì dù trong phòng thánh, chúng vẫn "vô tư" "to mồm". Sao giờ mọi thứ xa vắng, tôi nhớ chúng đến vậy... 

Đặc biệt, nhiều em trung thành trong bổn phận đến nỗi không bỏ sót thánh lễ nào, dù sáng sớm, dù trời mưa, trời lạnh... Ước trở lại ngày không xa, khi tôi bước vào cung thánh, chúng hiện diện bên cạnh như đã từng có xưa nay.

Bây giờ, tôi thấy nhà thờ như rộng gấp nhiều lần, những dãy ghế như dài thườn thượt. Gác chuông chẳng cần tỉnh giấc. Cây đàn, những chiếc micro, máy vi tính, những chiếc TV... như chẳng buồn nhớ đến sứ mạng của mình...

Giữa những nỗi nhớ lặng thầm, xem ra đơn độc, là linh mục của Chúa, tôi thấm thía ngọn roi Chúa quất trên loài người để giáo dục họ. Tôi tin Chúa “dùng khổ đau mà mở mắt” loài người. (G 36, 15).

Dịch bệnh "đồng hành" từ trước mùa Chay, tiếp tục theo trọn mùa Chay, bây giờ tiến vào tuần Thánh. Vẫn chưa biết, đến Phục sinh, điều gì sẽ diễn ra.

Vì thế, càng tiến sâu vào những mầu nhiệm trọng đại, chúng ta càng được Lời Chúa hối thúc: “Các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van” (Ge 2, 12). Hay Chúa Giêsu luôn mời gọi: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3, 2).

Chỉ có khiêm nhường thống hối mới là thai độ đúng để đáp lại ngọn roi của tình yêu giáo dục mà Chúa dành cho nhân loại giữa lúc đớn đau này. Riêng bản thân, trong lúc chỉ thăm thẳm một mình, tôi nhận diện lại chính mình để xin ơn Chúa tha thứ cho tôi. Xin Chúa hoán cải và làm mới tâm hồn tôi.

Trong nỗi nhớ mọi người, tôi xin ơn tha thứ cho họ. Càng trống vắng trong từng thánh lễ, tôi càng nài xin để họ có nhiều ơn Chúa, nhất là ơn hoán cải.

Xin Chúa ban bình an cho từng người. Xin Chúa chở che loài người, thúc giục loài người thống hối, cho họ biết đứng lên, rũ bỏ những gì cũ kỹ của tâm hồn mà mặc lấy sức sống mới của Chúa. Xin Chúa đưa thế giới đi qua  đại nạn.

Trong tinh thần sám hối, cậy trông ơn tha thứ cho mình, cho toàn thế giới, tôi cất lời Thánh vịnh (122) để van nài tình yêu thương xót của Chúa. 

Nếu bạn kiên nhẫn đến cuối bài viết mộc mạc này, xin cùng tôi cầu nguyện: Xin xót thương chúng con, lạy Chúa, xin xót thương. Con ngước mắt nhìn lên Chúa, Đấng ngự trên các tầng trời. Như mắt gia nhân nhìn vào tay ông chủ, như mắt nữ tỳ nhìn vào tay bà chủ, mắt chúng con cũng nhìn lên Chúa là Thiên Chúa, tới khi nào được Chúa xót thương. Lạy Chúa, xin xót thương chúng con. mục lục.

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG

CHIÊM NGƯỠNG, CẦU NGUYỆN VÀ TRI ÂN

Ngày 31 tháng 3 năm 2020,  lúc 15:59

Hôm nay ĐTC Phanxicô dâng Thánh Lễ tại nhà nguyện Casa Santa Marta cầu cho những người vô gia cư và những nạn nhân Coronavirus. Bình thường thánh lễ ĐTC làm trong nhà nguyện riêng này chỉ có một nhóm tín hữu nhỏ tham dự, nhưng vì tình trạng đặc biệt của đại dịch Covid-19 nên thánh lễ hoàn toàn có tính riêng tư. Nhưng mọi người có thể hiệp thông bằng lời nguyện và qua via streaming. Bất cứ ai muốn tham dự thánh lễ do ĐTC làm tại nhà nguyện Santa Marta, trong thời gian này, thì có thể coi live TV hay Youtube Vatican dù ở xa.

Chủ đề bài giảng: CHIÊM NGƯỠNG, CẦU NGUYỆN VÀ TRI ÂN

“Vào thời gian này, mọi người đều phải ở trong nhà, nên mọi người hãy nhìn vào một thực tế là những người vô gia cư. Họ không có nhà để ở. Chúng ta hãy giúp đỡ họ và Giáo hội hân hoan đón chào họ”

Trong bài giảng hôm nay, ĐTC suy niệm về biểu tượng CON RẮN được nói đến trong hai bài đọc ngày Thứ Ba của tuần lễ 5 mùa Chay (Ds 21:4-9 và Ga 8:21-30).

Ngay từ những ngày khởi đầu -ĐTC suy niệm- loài người đã phạm tội nhưng lại vô ơn. Ngài khuyên chúng ta phải biết ơn Chúa như thế nào vì Chúa đã gánh tội của chúng ta để rồi cứu chuộc chúng ta.

ĐTC nhấn mạnh, Chúa Giêsu đã tự mình gánh lấy tội lỗi của tất cả mọi người chúng ta.

“Vì đã có mối thù truyền kiếp nên các nhà thông luật đã không ưa Người,” ĐTC nhắc lại và nói: “Tất cả những chuyện đó là có thật. Nhưng sự thật đến từ Thiên Chúa là Người đến thế gian để gánh lấy tội của chúng ta đến một mức độ là Chúa tự biến mình thành người có tội….Tội lỗi của chúng ta thì rõ ràng ở đó.”

“ĐTC khuyên chúng ta hãy biết ơn nhiều hơn nữa. Người Kito Hữu phải biến cử chỉ đó thành thói quen nhìn lên Thánh Giá Chúa “ở trên cao”, dưới “ánh sáng cứu chuộc” và nên nhớ Chúa không làm bộ đau khổ và giả vờ chết.”

“Mà đúng ra” – ĐTC nói, “đó là lúc Chúa hoàn toàn chịu thua,” vì Người hoàn toàn cô đơn với gánh nặng của tội lỗi chúng ta mà Người đưa vai gánh đến độ bị tiêu tan hết chẳng còn gì nên có cảm giác như bị Chúa Cha bỏ rơi.”

“Quả là khó có thể hiểu được việc này,” – ĐTC nói, và ghi nhận. Chúng ta có thể nghĩ như thế được không? Chẳng bao giờ chúng ta có thể đi đến kết luận được.”

“Chúng ta chỉ có thể chiêm ngưỡng, cầu nguyện và tri ân,” - ĐTC nói.

Trước khi kết luân, ĐTC khuyên các tín hữu hãy chia sẻ cùng nhau ý nghĩ đó trong hoàn cảnh hiện nay với tinh thần hiệp thông, và kết thúc thánh lễ bằng Phép Chầu Thánh Thể.

Dưới đây là Lời Nguyện của ĐTC. Chúng ta hãy cùng hiệp thông.

Lạy Chúa Giêsu, con quì gối dưới chân Chúa, con xin dâng lòng thống hối và ăn năn lên Chúa vì chúng con chẳng là gì cả trước dung nhan thánh Chúa. Con thờ lạy Chúa trong phép Mình Thánh Chúa là Tình Yêu. Con ao ước được nhận Chúa vào căn nhà khốn khổ của con mà hồn con thì đã hiến dâng lên Chúa. Trong khi chờ đọi được diễm phúc đón nhận Mình Thánh Chúa, con muốn Chúa đến ở trong lòng con. Xin Chúa hãy đến với con – Lạy Chúa Giêsu, chớ gì con có thể đến với Chúa. Chớ gì tình yêu Chúa đốt nóng toàn thân con, trong khi con còn sống và lúc con chết. Con tin vào Chúa. Con hy vọng nơi Chúa. Con yêu mến Chúa. Amen.

Toàn bài giảng của ĐTC Phanxicô

Con rắn chắc chắn không phải là con vật dễ thương; nó luôn luôn được đồng hóa với tội ác. Trong khải huyền, con rắn đúng là một con vật mà ma quỉ dùng để cám dỗ ngườ ta phạm tội. Trong sách Khải Huyền, tội ác được gọi là “rắn già, rắn cổ”, lúc đầu nó cắn, truyền nọc độc, phá hủy và giết. Vì vậy không thể để nó thành công được. Nếu nó thành công là vì có người nghĩ đến những điều tốt đẹp cho nó, đó chỉ là tưởng tượng. Nhưng nếu chúng ta tin nó là chúng ta phạm tội. Đây là câu chuyện xẩy ra cho dân Israel: Họ không thể chịu đựng được cuộc hành trình dài. Họ mệt mỏi. Họ trách Chúa, chửi ông Maisen. Phải chăng đây cũng giống như câu chuyện này? Tại sao các ngươi mang chúng tôi ra khỏi Ai Cập rồi mang lên đây? Để chúng tôi sắp chết ở nơi hoang địa này? Không đồ ăn, không nước uống. Chúng tôi chán ghét cái thứ manna vô vị này rồi.” (Ds 21:4-5) Và, chúng ta thấy trong những ngày trước đây, trí tưởng tượng của họ luôn luôn hướng về Ai Cập: “Nhưng, chúng ta vui vẻ ở đây mà, chúng ta ăn ngon lành….. “Và hình như giờ đây Chúa cũng không thể chịu đựng được nữa cái dân tộc này. Chúa nổi giận. Cơn giận của Chúa đôi khi cũng thấy tỏ lộ….Chúa sai bảy con rắn độc đến để cắn chết họ.” Nhiều người đã chết” (Ds 21:5). Rắn luôn luôn là hình ảnh của tội ác. Khi đó dân chúng nhìn thấy tội lỗi trong con rắn. Họ nhìn thấy trong con rắn một cái gì đã gây ra tội ác. Lúc đó họ đi đến với ông Maisen và thưa: “Chúng tôi có tội, vì chúng tôi đã nói phạm thượng đến Thiên Chúa và ngài; xin ngài hãy cầu xin Chúa đuổi những con rắn đi khỏi chúng tôi (Ds 21:7). Họ đã hối hận. Đây là câu truyện ở trong hoang địa. Ông Maisen cầu nguyện cho dân Israel và Thiên Chúa đã nói với Maisen: “Hãy làm một con rắn thật dữ và đặt nó lên đầu một cái cột thật cao; hễ ai bị rắn cắn mà nhìn nó thì sẽ khỏi” (Ds 21:8).

Điều đó cho tôi thấy có phải đấy là thờ ngẫu tượng không? Con rắn ở đó, nó là một ngẫu tượng. Nó cho ta sức khỏe…Chẳng có gì là không hiểu nổi. Theo lý luận thì không thể hiểu được, bởi vì đây là một lời tiên tri báo trước chuyện sắp xẩy ra. Bởi vì chúng ta cũng nghe trong Phúc Âm một lời tiên tri giống như vậy: “Khi các ngươi nâng Con Người lên thì các ngươi sẽ biết ta chẳng bao giờ làm điều gì mà do tự ta làm cả” (Ga 8:28). Chúa Giêsu bị kéo lên thập giá. Ông Maisen làm con rắn và giơ nó lên cao. Chúa Giêsu sẽ bị đưa lên cao, giống như con rắn, thì người sẽ ban ơn cứu độ. Tuy nhiên, cốt ý của lời tiên tri, thực sự là Chúa Giêsu đã tự mình gánh lấy tội vì chúng ta, chứ Người không phạm tội, Người tự làm cho người thành tội, như thánh Phêrô đã nói trong thư của ngài: “Chính Người đã mang tội của chúng ta lên thân thể Người” (1 Pr 2:24). Khi chúng ta nhìn lên cây Thánh Giá, chúng ta nghĩ về Chúa đau khổ: tất cả đều là sự thật. Tuy nhiên, chúng ta ngừng lại chốc lát trước khi đi vào trọng tâm của sự thật đó: lúc này Chúa hình như là kẻ có tội nặng nhất: Chúa làm cho Chúa nên tội, Chúa lấy tất cả mọi tội lỗi của chúng ta đặt lên vai Chúa. Chúa chẳng làm gì để đến nỗi phải như vậy. Thánh giá thì là thật, là hành hạ tra tấn. Các nhà thông luật thì hận thù Chúa nên không ưa Chúa; tất cả những thứ đó đều là thật. Tuy nhiên sự thật đến từ Thiên Chúa là Người đến thế gian để gánh lấy tội của thế gian, đến độ biến Chúa thành tội, đủ thứ tội. Tội lỗi của chúng ta thì ở đó. Chúng ta phải tập cho thành thói quen là nhìn lên Thánh Giá Chúa đúng ý nghĩa của nó, là sự thật chính xác nhất; đó là ánh sáng của cứu chuộc. Nơi Chúa Giesu tự mình làm nên tội, chúng ta thấy Chúa hoàn toàn thất bại. Chúa không giả vờ chết. Chúa không làm bộ đau khổ, làm bộ cô đơn và bị bỏ rơi…”Lạy Cha, lạy Cha…, tại sao cha lại bỏ con? (Mt 27:46; Mc 15:34).” Một con rắn: Ta bị nâng lên như một con rắn, như tất cả những gì là tội lỗi xấu xa.

Không dễ gì có thể hiểu được những việc này; và nếu suy nghĩ chúng ta sẽ không bao giờ đi đến kết luận được. Chúng ta phải chiêm ngưỡng, cầu nguyện và tri ân.

ĐTC kết thúc bài giảng bằng giờ Chầu Mình Thánh Chúa và Phép Lành Tòa Thánh. Ngài kêu gọi tất cả mọi người cùng thông công.

Lời nguyện của ĐTC Phanxicô

Lạy Chúa Giêsu của con, con tin Chúa thực sự hiện diện trong phép Mình Thánh Chúa trên bàn thờ này. Con yêu Chúa trên hết mọi sự và con ước ao Chúa ngư trong lòng con. Vì con không thể nhận Bí Tích Mình Thánh Chúa bây giờ, xin Chúa ít nhất ngự vào tâm hồn con cách thiêng liêng. Vì Chúa đã đến, con chấp nhận Chúa và hiệp nhất với Chúa. Xin Chúa đừng bao giờ để con xa lìa Chúa. 

Trước khi rời nhà nguyện, kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng (Regina caeli / Hail Queen of Heaven) được đọc vang lên

“Lạy Nữ Vương Thiên Đàng….. mục lục.

+ PHANXICÔ

Vatican March 31, 2020- 15:59

Chuyển dịch: Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Theo Zenitz bản tiếng Anh của Deborah Castellano Lubov-Bản gốc tiếng Ý

Nguồn: https://zenit.org/articles/contemplate-pray-give-thanks-our-proper-response-for-jesus...

DỌN ĐỜI

Chúa Giê-su chịu chết trên thập giá

Vì xót thương, cứu tội nhân chúng con

Cho chúng con thoát khỏi kiếp trầm luân

Được diễm phúc giao hòa cùng Thiên Chúa.

Xin Chúa giúp chúng con biết chuẩn bị

Xứng đáng nhận ơn cứu độ Ngài ban

Cho chúng con biết chân thành ăn năn

Thanh tẩy hồn để bước vào Tuần Thánh.

Chúa Giê-su là Ngôi Hai chí thánh

Nhưng hy sinh, chấp nhận mặc xác phàm

Chịu đau khổ và còn chịu chết oan

Nhưng Ngài chẳng than van vì thương xót.

Chúa vào thành oai phong và hiển hách

Nhưng là đường dẫn tới cuộc khổ đau

Xin dọn đời để Con Chúa bước vào

Hồn hân hoan đón Con Vua Đa-vít. mục lục.

Viễn Dzu Tử

CHÚC TỤNG ĐẤNG NHÂN DANH CHÚA

(Cảm nhận và suy niệm Mt 21,1-11)

Vào Tuần Thánh ngày đầu là Lễ Lá

Chúa Giê Su long trọng tiến vào Thành

Vua khiêm nhường tỏ uy quyền của mình

Trước khi chết để cứu chuộc nhân loại.

Để hoàn tất Ý Chúa Cha sủng ái

Đem Tin Mừng rao giảng khắp dân gian

Treo cao gương nghèo khó chẳng tham lam

Tình  yêu Chúa  được coi là chân lý.

Người tín hữu hôm nay đầy sinh khí

Miệng tung hô, tay cầm lá vẫy cao

Cùng đồng thanh chúc tụng như thuở nào

Vạn tuế Đấng ngự đến nhân danh Chúa!!!

Đây mầu nhiệm Tình Yêu bất biến

Thiên Chúa thương loài nhân thế tội tình

Mà đành lòng hiến mạng Đấng Cứu Tinh

Khi hoàn tất, sống lại lập Vương Quốc Mới. mục lục.

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan