Cha mẹ của Thánh Giuse là ai?

02-01-2021 190 lượt xem

Juspe de Ribera | Bảo tàng Brooklyn

Thân phụ mẫu của người cha nuôi Chúa Giêsu đã nuôi dưỡng “một người công chính”, người sẽ bảo vệ Đấng Cứu rỗi trần gian.

Nếu Giáo hội thừa nhận cha mẹ của Đức Trinh Nữ Maria là thánh Gioakim và Anna, thì thực tế đã không nói gì về cha mẹ của Thánh Giuse, cha nuôi của Chúa Giêsu.

Tại sao?

Không giống như trường hợp của Thánh Gioakim và Anna, chúng ta được biết rất ít về cha mẹ của thánh Giuse. Tuy nhiên, chúng ta biết chắc chắn về thân phụ của ngài, thậm chí điều đó có thể khiến chúng ta lẫn lộn lúc ban đầu.

Trong Tin mừng Mátthêu, Thánh Giuse được liệt vào danh sách là con của ông “Giacóp” (Mt 1,16). Tuy nhiên, theo Luca, thân phụ của Giuse được cho là “Êli” (Lc 3,23). Những thông tin giữa Tin mừng Mátthêu và Luca liệu có khác nhau không?

Nhà hộ giáo Jimmy Atkin đã đưa ra lời giải thích hợp lý được nhiều học giả Kinh thánh chấp nhận:

“Nhà sử học Julius Africanus, người gốc Israel, thế kỷ thứ II, đã ghi lại các thông tin được cung cấp bởi những gì còn sót lại của gia đình Chúa Kitô vào thời của ông. Theo gia phả, ông nội của Thánh Giuse là Mattan đã cưới bà Esta, người này sinh cho ông một người con tên là Giacóp. Sau khi Mattan chết, bà Esta tái giá với một người trong họ là Melchi (được kể trong Luca), và bà đã sinh một người con trai tên là Êli (với người Do thái vào thời điểm đó, hôn nhân giữa những người trong họ hàng với nhau rất phổ biến). Do đó, Giacóp và Êli là hai anh em cùng mẹ khác cha. Êli chết mà không có con, cho nên Giacóp kết hôn với quả phụ này và sinh ra Giuse. Xét về mặt sinh học Giuse là con của Giacóp nhưng là con của Êli theo luật" (Eusebius, Lịch sử Giáo hội 1:6:7).

Việc nhận con nuôi rất phổ biến trong văn hóa của người Do thái, và nó ảnh hưởng trực tiếp đến phả hệ. Nếu một người được sinh ra trong một dòng tộc cụ thể, nhưng sau này người đó được nhận làm con nuôi thì anh ta cũng sẽ mang họ mới. Ngoài ra, theo giải thích của Akin, “việc nhận con nuôi có thể xảy ra ngay cả sau cái chết”. Nghĩa là “nếu một người đàn ông chết mà không có con, thì bổn phận của người anh (em) của ông là phải kết hôn với người chị (em) góa bụa đó và sinh con thay cho anh trai. Sau đó, người con trai này sẽ được “nhận làm con nuôi” bởi người đã khuất và coi như con của ông trong gia phả”.

Vì thế, nhiều người tin rằng Giacóp là cha “chính thức” của Thánh Giuse và là người đã nuôi dưỡng ngài trở thành “người công chính”.

Về phần thân mẫu của Thánh Giuse không có chứng từ nào nói về điều này, ngay cả trong các truyền thống xa xưa nhất. Mẹ Cecilia Baij, nhà ngoại cảm thế kỷ XVIII, tuyên bố rằng đó là bà “Rachel”. Khả năng điều này có thể đúng. Vì Rachel là cái tên rất phổ biến, dường như cũng nối kết cái tên Giuse này với “Giuse” đầu tiên trong Cựu ước, có cha là Giacóp (Israel) và mẹ là Rachel (x. St 35). Dù sao, những thị kiến của của Mẹ Cecilia Baij, được coi là “mạc khải tư” không được Giáo hội Công giáo chấp nhận.

Cho dù thân phụ mẫu của Thánh Giuse là ai, họ cũng đã nuôi dưỡng một người con đạo đức, người đã trở nên quan trọng trong lịch sử cứu rỗi và là cha nuôi xứng đáng của Chúa Giêsu.

Philip Kosloski
Võ Tá Hoàng chuyển ngữ - GPQN

 

Chúa Giêsu và Thánh Giuse có thực sự là thợ mộc không?

Nhìn vào bản gốc tiếng Hy Lạp, bản dịch tiếng Latinh và bối cảnh lịch sử của chính Chúa Giêsu người ta có thể trả lời câu hỏi này… hay không?

BIEDNY CZŁOWIEK

Truyền thống và lòng sùng kính phổ biến thường mô tả Chúa Giêsu và Thánh Giuse là thợ mộc, làm việc cùng nhau, chia sẻ cả xưởng làm việc và dụng cụ trong khi đóng ghế dựa, ghế đẩu và bàn. Thậm chí một số bức tranh trường phái Barốc [1]  của Tây Ban Nha còn cho thấy một Giêsu rất trẻ với một dằm gỗ nhỏ đâm vào ngón tay, một giọt máu nhỏ chảy ra từ đó, hoặc một Giêsu mang một khúc gỗ trên vai trong xưởng thợ, như thể báo trước cái chết của Ngài sau đó trên thập giá. Nhưng đó có phải là những gì bản văn Kinh thánh thực sự muốn nói không? Nhìn vào bản gốc tiếng Hy Lạp, bản dịch tiếng Latinh và bối cảnh lịch sử của chính Chúa Giêsu người ta có thể trả lời câu hỏi này hay không.

Dĩ nhiên rồi, hầu hết các bản dịch sử dụng từ “thợ mộc” để mô tả công việc làm ăn trao đổi của Chúa Giêsu và Thánh Giuse. Nhưng từ Hy Lạp chúng ta đọc trong Tin mừng Mátthêu và Máccô có thể được đọc theo nhiều cách khác nhau. Từ mà các Tin Mừng sử dụng là téktōn, một thuật ngữ phổ biến được sử dụng cho các nghệ nhân, thợ thủ công và những người làm việc với gỗ (vì vậy, vâng, chữ đó có thể dịch là “thợ mộc”), nhưng cũng thật thú vị, chữ đó có thể nói đến thợ xây đá, thợ xây, công nhân xây dựng, ngay cả nói đến những người xuất sắc trong công việc buôn bán trao đổi của họ và có thể dạy cho những người khác (như maestro [2] trong tiếng Ý ). Bản dịch tiếng Latinh mà chúng tôi tìm thấy trong Thánh Kinh bản Vulgata, faber, thực sự giữ được những ý nghĩa rất khác nhau mà tiếng Hy Lạp téktōn có được. Một faber là một thuật ngữ chung được sử dụng cho những công nhân và các thợ thủ công nói chung. Một faber chắc chắn có thể làm việc như một thợ mộc nhưng chỉ đôi khi thôi, còn một lignarius là một thợ mộc như một nghề phụ.

Giáo sư James D. Tabor, một học giả Kinh thánh tại Đại học Bắc Carolina, đã gợi ý rằng “người xây dựng” hay ‘thợ xây đá” sẽ là một cách dịch tốt hơn cho từ téktōn của Hy Lạp trong trường hợp của Chúa Giêsu, vì những lý do rất cụ thể. Một mặt, lời rao giảng của Chúa Giêsu thường sử dụng các phép ẩn dụ được truyền cảm hứng từ việc xây dựng: Ngài thường nói đến “đá góc tường” và “nền móng vững chắc”. Ngoài ra, với thực tế là khu vực nơi Chúa Giêsu sống và chết không thực sự phong phú về cây cối, và hầu hết các ngôi nhà trong thời của Ngài đều được xây bằng đá, vì vậy nghĩ rằng Chúa Giêsu và Thánh Giuse có thể đã làm việc trong ngành xây dựng thì có lý hơn.

Nhưng điều đó cũng không dễ dàng. Trong bản Septuagint [3] (bản dịch đầu tiên của Kinh thánh Do Thái từ tiếng Do Thái và tiếng Aram [4] sang tiếng Hy Lạp), chúng ta thấy từ téktōn của Hy Lạp đã được sử dụng để phân biệt thợ mộc với các công nhân khác trong sách tiên tri Isaia, và trong danh sách các công nhân làm công việc xây dựng hoặc sửa chữa Đền thờ ở Giêrusalem trong quyển thứ hai Sách Các Vua. Sự phân biệt này đã có từ xưa, vì người Hy Lạp đã thường xuyên sử dụng từ téktōn để chỉ một người thợ mộc, sử dụng từ lithólogos cho thợ đá và từ laxeutés cho thợ xây. Cách sử dụng phổ biến của từ này được các tác giả của Tin mừng thừa hưởng, là những người đã quen thuộc với Kinh Thánh Bản Bảy Mươi, nghĩ vậy là hợp lý.

Nhưng so sánh tiếng Hy Lạp trong Bản Bảy Mươi với tiếng Do Thái gốc được tìm thấy ở sách tiên tri Isaia cũng là cần thiết. Từ Hy Lạp téktōn là từ thường được sử dụng để dịch chữ kharash có gốc trong tiếng Do Thái, là từ thường được sử dụng cho “thợ thủ công”. Tuy nhiên, téktōn xylon là cách dịch từng chữ của tiếng Do Thái kharash-'etsim, “thợ thủ công chuyên về gỗ”, thực tế được tìm thấy trong Isaia 44:13. Nhưng học giả kinh thánh Géza Vermes người Hungary cho rằng có thể téktōn của Hy Lạp không được dịch từ tiếng Do Thái kharash, mà thay vào đó, nó tương đương với naggara trong tiếng Aram. Vermes lập luận, trên thực tế khi Kinh Talmud [5] gọi ai đó là “thợ mộc”, thì đó có thể ám chỉ một người đàn ông rất uyên bác. Thế thì, điều này có nghĩa là các tác giả của các sách Tin mừng muốn chỉ ra rằng Thánh Giuse thực tế là một người đàn ông thông thái, người không chỉ khôn ngoan mà còn là người giỏi chữ nghĩa Kinh Torahơ [6], chứ không có ý nói đến công việc làm ăn của Ngài.

Chú thích của người dịch:

--------------------------------------

[1] Baroque

[2] bậc thầy.

[3] Aram là ngôn ngữ của Chúa Giêsu, người đã nói Phương ngữ Galilê trong sứ vụ công khai của Ngài, cũng như ngôn ngữ của các phần lớn trong các sách kinh thánh của Daniel và Ezra, và cũng là một trong những ngôn ngữ của Talmud.

[4] Bản Bảy Mươi.

[5] Tiếng Do Thái: תַּלְמוּד Talmud nghĩa là "giảng dạy, học tập", “ nghiên cứu ") là một văn bản trung tâm của giáo sĩ Do Thái giáo (rabbinic). Toàn bộ kinh Talmud bao gồm 63 bài luận, trong bản in tiêu chuẩn dài hơn 6.200 trang. Nó được viết bằng tiếng Tanait Do Thái và tiếng Aram. Talmud bao gồm những ý kiến của hàng ngàn giáo sĩ Do Thái  trong nhiều chủ đề, bao gồm cả pháp luật, đạo đức, triết học, phong tục, lịch sử, thần học, truyền thuyết và nhiều chủ đề khác. Talmud là cơ sở cho tất cả các bộ luật của cộng đoàn Do Thái giáo.

[6] Tiếng Hebrew: תּוֹרָה, "Hướng dẫn", "Dạy dỗ", hoặc những gì thường được dịch là Ngũ Thư, là khái niệm trung tâm trong truyền thống Do Thái giáo. Torah bao gồm các câu chuyện nền tảng của người Do Thái: lời gọi của Thiên Chúa để hình thành nên dân tộc họ, những thử thách và đau khổ của họ, và giao ước của họ với Thiên Chúa, trong đó bao gồm việc tuân giữ cách sống được hiện thực hóa trong một tập hợp các nghĩa vụ tôn giáo và luân lý cũng như các luật pháp dân sự (halakha).

Daniel Esparza

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ từ https://aleteia.org

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.