Thánh Giuse thực hiện ý Chúa trong thinh lặng

22-02-2021 59 lượt xem

Mặc dù các sách Tin Mừng không ghi lại bất kỳ lời nào mà Thánh Giuse có thể đã nói, nhưng dù sao thì sự im lặng hùng hồn cho phép chúng ta có cái nhìn thoáng qua về tính cách của ngài. Đứng đắn. Vâng lời. Trinh khiết. Khiêm tốn. Im lặng (chiêm niệm).

Người chồng, người bảo vệ và giám hộ của Chúa Cứu Thế và Đức Trinh Nữ. Thánh Giuse đã trải qua những khó khăn giống như tất cả chúng ta trong cuộc sống, nhưng Ngài đã sống một cuộc đời gương mẫu. Thánh Giuse là người có đức tin vững vàng và tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Thiên Chúa là trước hết và quan trọng nhất, trên tất cả mọi sự, trong cuộc đời của Thánh Giuse. Tóm lại, Ngài là một người ngay thẳng có đức tin và những đức tính nổi bật. Như vậy, Ngài là một hình mẫu tuyệt vời cho chúng ta trong nền văn hóa vốn phóng túng ngày nay.

Đối với Thánh Giuse, làm theo ý muốn của Thiên Chúa là điều tối quan trọng. Thánh Giuse không bao giờ thắc mắc những gì Chúa nói với Ngài và thực hiện những lời thúc giục của Chúa mà không do dự hay chậm trễ - phản ứng của Ngài là ngay lập tức và Ngài thực hiện nhiệm vụ theo cách Chúa muốn. Sau khi thiên thần hiện ra với Ngài trong giấc mơ, bảo đảm với Ngài rằng con của Mẹ Maria đã được thụ thai bởi Chúa Thánh Thần, Thánh Giuse đã đưa Mẹ Maria về nhà làm vợ. Sau chuyến viếng thăm của các vị Hiền Sĩ, khi nhận được lời cảnh báo của thiên thần, Thánh Giuse không lãng phí thời gian, ngay lập tức đứng dậy, mang theo gia đình nhỏ của mình và trốn sang Ai Cập vào nửa đêm để thoát khỏi cơn thịnh nộ chết người của vua Hêrôđê. Sau đó, sau cái chết của Hêrôđê, thiên sứ một lần nữa hướng dẫn Thánh Giuse rằng đã đến lúc trở về đất Ítraen, và có lẽ Ngài dự định trở về Bêlem ở Giuđê, nhưng thay vào đó Ngài đã chọn đi đến Nadarét ở Galilê khi được thiên thần cảnh báo rằng con trai của Hêrôđê đang cai trị xứ Giuđêa thay cho ông ta. Khi Thiên Chúa bảo Thánh Giuse đứng dậy và ra đi, Thánh Giuse không ngần ngại đứng dậy và ra đi.

Thánh Giuse là một người hành động, vâng theo ý muốn của Thiên Chúa đối với Ngài trong những công việc bình thường của cuộc sống hằng ngày. Ngài yêu thương, bảo vệ và chu cấp cho Hài Nhi Giêsu và Đức Trinh Nữ Maria một cách trung thành và dịu dàng. Ngài đã giữ ngày Sabát và đến Đền thờ ở Giêrusalem để dự Lễ Vượt qua. Ngài đã làm những điều bình thường của cuộc sống hàng ngày, bình thường với tình yêu thương.

Theo gương Thánh Giuse, chúng ta có thể thấy an tâm đáng kể khi biết mình đang trung thành làm những việc bình thường, nhỏ bé mà Chúa muốn chúng ta làm.

ĐỨC TIN CỦA THÁNH GIUSE

Thiên sứ của Chúa hiện ra với Giuse trong một giấc mơ và nói: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1:20-21).

Thánh Giuse là người mà chúng ta ít biết đến, nhưng chúng ta hãy nghĩ về tầm quan trọng của vai trò của Ngài trong lịch sử cứu độ. Ngài đã được giao phó Con Thiên Chúa như đứa con bé bỏng của mình. Lúc đầu, Ngài bối rối không biết làm thế nào mà Maria lại có thai, nhưng khi nhận được lời của thiên thần trong giấc mơ, Ngài đã nhận trẻ này là của mình và chăm sóc bằng tình yêu của một người cha.

Điều quan trọng cần lưu ý là Thánh Giuse đã ôm Chúa Hài Đồng chỉ vì một giấc mơ. Nhưng phải chăng đó chỉ là một giấc mơ? Tất cả chúng ta đều có nhiều giấc mơ và một số trong số chúng rất kỳ lạ và vô lý. Vậy tại sao Thánh Giuse lại dựa vào tính xác thực của giấc mơ này?

Câu trả lời cho câu hỏi này khá đơn giản. Dù ước mơ của Ngài chỉ là như vậy - một giấc mơ đi kèm với ân huệ của niềm tin. Thánh Giuse biết, với một sự chắc chắn vượt ra ngoài lý trí của con người, rằng tiếng của Thiên Chúa đã nói với Ngài và Ngài đã đáp lại với đức tin quảng đại.

Chúng ta có thể không có những giấc mơ qua Thiên Chúa nói với chúng ta dưới hình thức một thiên thần, nhưng Thiên Chúa nói với chúng ta cả ngày. Ngài nói trực tiếp với tâm trí và trái tim của chúng ta, và thông qua sự chăm sóc và trung gian của vô số các thiên thần theo nhiều cách khác nhau. Các thiên thần của Chúa không ngừng mang đến cho chúng ta những thông điệp và nguồn cảm hứng thiêng liêng. Câu hỏi là liệu chúng ta có đang lắng nghe hay không.

Nghe tiếng nói của Thiên Chúa, qua trung gian của các thiên thần, không phải là chúng ta nhìn thấy hoặc nghe các thiên thần nói, theo nghĩa đen. Đúng hơn, đó là việc nhận ra ngôn ngữ tình yêu được nói với chúng ta và mời gọi chúng ta đến với đức tin.  

Hãy lắng nghe trong sự thinh lặng của trái tim bạn, ngày hôm nay, và cho phép bạn noi theo chứng tá rạng ngời của Thánh Giuse khi Ngài đáp lại thánh ý Chúa với đức tin và sự tin cậy trọn hảo.

Lạy Chúa, con khao khát được nghe giọng nói ngọt ngào của Ngài. Con khao khát được biết tất cả những gì Chúa truyền cho con và tất cả những gì Chúa truyền cảm hứng cho con trong cuộc sống. Xin ban cho con ân sủng mà con cần, để làm theo mọi cảm hứng trong cuộc sống để con có thể hoàn thành ý muốn hoàn hảo và thánh khiết của Chúa. Lạy Chúa, con tin vào Chúa.

SỰ IM LẶNG CỦA THÁNH GIUSE, ĐẤNG BẢO VỆ CHÚA CỨU THẾ

Thánh Giuse là một người ít lời, Ngài nói qua hành động của mình, và Ngài đã làm như sứ thần của Chúa đã truyền. Phản ứng của Thánh Giuse là hành động.

Một Nghị định của Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích đã được ban hành quy định việc nêu tên Thánh Giuse vào Lời cầu nguyện của mọi linh mục Công giáo trên thế giới khi đọc Kinh nguyện Thánh Thể. II, III và IV trong Thánh lễ.

Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp bước các vị tiền nhiệm của Ngài trong việc ghi nhớ ơn phúc khi tuyên phong Thánh Giuse làm gương mẫu cho các tín hữu thời nay. Thánh Gioan Phaolô đã viết một Tông huấn sâu sắc về Thánh Giuse, Vị Giám hộ của Chúa Cứu Thế.

Chúng ta hãy cùng nhau xem xét những gì các bản văn Kinh thánh cho chúng ta biết về Thánh Giuse. Dù không có nhiều từ ngữ, nhưng chúng có ý nghĩa sâu sắc đối với tất cả chúng ta khi chúng ta tìm cách sống thánh thiện, bất kể chúng ta ở địa vị nào trong cuộc sống hay trong ơn gọi. Chúng có tầm quan trọng đặc biệt đối với nam giới, nhưng chắc chắn áp dụng cho tất cả nam giới và phụ nữ. Trong câu chuyện thời thơ ấu do tông đồ và cũng là thánh sử Mátthêu cung cấp cho chúng ta, chúng ta nhận thấy sự tập trung đặc biệt vào Thánh Giuse, phu quân của Mẹ Maria. Sau khi truy tìm dòng dõi của Đấng Cứu Độ từ góc nhìn của Giuse, “Đây là gia phả Đức Giêsu Kitô, con cháu vua Đavít, con cháu tổ phụ Ápraham: Ông Ápraham sinh Ixaác; Ixaác sinh Giacóp; Giacóp sinh Giuđa và các anh em ông này; Giuđa ở với Tama sinh P-rét và Derác; …. Giacóp sinh Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu cũng gọi là Đấng Kitô”. (Mátthêu1:1-7), chúng ta được giới thiệu về phản ứng của Giuse trước lời mời gọi của Thiên Chúa. 

ĐÂY LÀ LỄ TRUYỀN TIN CỦA THÁNH GIUSE. 

Chúng ta thường quên rằng một thiên sứ đã hiện ra với Giuse, để chuẩn bị cho Ngài về vai trò quan trọng mà Ngài sẽ đóng trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa dành cho toàn thể nhân loại. Ngài được mời thực hiện quyền tự do con người của mình, đồng ý với lời mời của Thiên Chúa - và Ngài đã làm như thế. Phản ứng đầy nam tính của Ngài với Thiên Chúa nhắc nhở mọi người rằng hành động quan trọng hơn lời nói:

“Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-u, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (Mt 1:18-24) .

Từ thời xa xưa, các tín hữu Kitô giáo đã coi Thánh Giuse như một hình mẫu về đức tính nam nhi chân chính - và đó là lý do chính đáng. Lời đáp của Ngài với thiên sứ dạy cho tất cả mọi người cách chúng ta được kêu gọi để đáp lại những lời mời gọi của Thiên Chúa trong cuộc sống của chính mình. Chúng ta sử dụng một cụm từ để chỉ những người đàn ông cảm thấy thoải mái trong cuộc sống của mình và hài lòng với việc là đàn ông. Chúng ta nói về một người đàn ông như vậy - Ngài là một người đàn ông đúng nghĩa. Thánh Giuse là một con người đích thực. 

Giuse là một con người sống vì người khác. Mặc dù Kinh Thánh nói quá ít về Giuse, nhưng sự im lặng đó lại nói lên rất nhiều. Tại sao? Vì đối với Giuse, Ngài không phải là người quan trọng, những người khác mới là người quan trọng. Ngài yêu thương Mẹ Maria hơn cả bản thân mình và hành vi của Ngài là kết quả của tình yêu của Ngài. Ngài đã chuẩn bị sẵn sàng làm điều đúng đắn khi Mẹ bị phát hiện có con. Ngài có thể đã chọn cách khác. Cách cư xử nam nhi ngay thẳng này thật tươi mới làm sao trong thời đại mà con người thường thu mình lại khi đối mặt với khó khăn. 

Thánh Giuse là một người có đức tin và can đảm. Cùng với việc yêu người mình đã hứa hôn, Ngài còn can đảm yêu Thiên Chúa của mình. Ngài có một mối quan hệ cá nhân gần gũi, mật thiết với Thiên Chúa của Tổ phụ Ngài. Trên thực tế, theo một nghĩa nào đó, người đàn ông này chính là vị Tổ phụ cuối cùng, hoàn thành việc kế thừa. Nhở sự đáp trả trong đức tin, Ngài sẽ nhận được ân huệ tuyệt vời được hứa ban cho tất cả mọi người nam và nữ và được ôm trong tay mình Đấng mà tổ phụ của Ngài hằng mong ước được thấy. 

Sứ giả của Thiên Chúa, một thiên thần, đã đến thăm Giuse trong một giấc mơ. Giuse sẵn sàng đón nhận. Ngài không chỉ sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ mà còn sẵn sàng cho lời mời gọi mà cuộc gặp gỡ đó đưa ra để trút hết mình cho tình yêu và sống cho Tình yêu. Ngài đã nghe thấy thông điệp và không ngần ngại làm theo lời Thiên Chúa truyền dạy! Theo một nghĩa thực tế, đây là lời Fiat của Giuse, lời Xin Vâng của Ngài, thực hiện quyền tự do của con người để thúc đẩy kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa. Một niềm tin và lòng can đảm nam nhi như thế thật tươi mới biết bao trong thời đại đầy hèn nhát và nổi loạn này. 

Thánh Giuse là một người khiêm hạ. Không một chút bravado hoặc machismo (tự hãnh hay gia trưởng) nào trong người tôi tớ này của Thiên Chúa. Được đặt theo tên của vị Tổ phụ vĩ đại bị bán làm nô lệ ở Ai Cập; Ngài mang cái tên ấy với sự khiêm hạ tương tự. Như trong Cựu Ước, Giuse đã chấp nhận phần số của mình, từ chối cơn cám dỗ sống trong cay đắng hay trong thân phận nạn nhân và thực sự đạt đến vị thế cai trị Ai Cập, tha thứ cho chính những anh em đã bán mình làm nô lệ; cũng vậy, người con của Giao Ước Cũ này cũng ôm lấy Đấng sẽ thiết lập Giao Ước Mới trên bàn thờ Canvê. 

Khi làm như vậy, Thánh Giuse là gương mẫu cho tất cả những người chọn bước đi trên con đường thập giá. Thánh Giuse đã buông bỏ bản thân - và trở nên tràn đầy tình yêu và sự sống của Thiên Chúa. Ngài đã tự hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa qua việc chấp nhận ơn gọi đặc biệt và riêng có của mình như một người bảo vệ Đấng Cứu Chuộc. Hài nhi Giêsu, Thiên Chúa bằng xương bằng thịt, đã được trao cho Thánh Giuse. Là thợ mộc, Thánh Giuse đã dạy trẻ này cách làm việc với gỗ. Rốt cuộc thì đó cũng là thứ Ngài phải cho đi. Trong suốt những năm được gọi là “ẩn dật” này, Chúa Giêsu ở với Giuse và Giuse ở với Chúa Giêsu. 

Thánh Giuse tham gia vào kế hoạch cứu chuộc mầu nhiệm của Thiên Chúa một cách độc đáo chỉ bằng cách trở nên con người mà Ngài được kêu gọi trở nên. Thật là thách thức biết bao khi được kêu gọi trở nên như thế trong một thời đại chỉ biết yêu chính mình và tự ái quá quắt.

Kể từ thế kỷ thứ mười bốn, đã có một ngày cụ thể trong lịch La Mã được dành riêng để tôn vinh thánh Giuse. Ngài được xem như là Đấng Bảo trợ của Giáo hội hoàn vũ, của tất cả những người chồng và của công bằng xã hội. Ngài cũng đã được chỉ định làm đấng bảo trợ cho tất cả công nhân. Người thợ mộc này đã dạy Ngôi Lời nhập thể, Chúa Hài nhi, cách làm việc với gỗ. Người đàn ông này là cha nuôi của Ngôi Lời nhập thể của Thiên Chúa và ông yêu Chúa Giêsu bằng một tình yêu mẫu mực. 

Cũng chính Chúa Giêsu này đã học cách làm việc với gỗ từ bàn tay của Thánh Giuse, và trong năm 33 tuổi, Ngài đã cứu thế giới nhờ gỗ của Thập giá. Trong một thời đại đã lạc lối, bị phó mặc cho sự ích kỷ theo đuổi thú vui hão huyền, Thánh Giuse một lần nữa cần được nâng lên như một gương mẫu, đặc biệt cho những người khao khát bước theo Chúa Giêsu Kitô. 

Hơn hai thiên niên kỷ, sứ mệnh của Chúa Giêsu vẫn tiếp tục qua Thân mình Ngài trên trần gian, là Hội Thánh của Ngài. Chúa Giêsu đã giao phó công việc của sứ mệnh đó cho tất cả những người nam và nữ, những người chấp nhận lời mời làm cho chính mình ra trống không để được đổ đầy sự sống và tình yêu của Thiên Chúa và sau đó sử dụng trong sứ vụ cứu độ của Ngài dành cho thế giới. 

Qua Nước Hằng Sống được gọi là Phép Rửa, Thiên Chúa mời gọi mỗi người chúng ta gia nhập vào gia đình mới của Ngài, là Thân mình của Con Ngài, tức là Giáo Hội. Thiên Chúa vẫn đưa ra sứ điệp của Ngài cho những người, giống như Giuse, trau dồi đôi tai để lắng nghe và sau đó thực hiện đức tính nam nhi đích thực và hành động can đảm. 

Thiên Chúa vẫn mời gọi con người biến điều bình thường thành phi thường thông qua hợp tác và tham gia. Ngài thực sự đang tìm kiếm một vài người tốt lành như Thánh Giuse để làm việc trong xưởng thợ thế giới mà Ngài đã tạo ra để tái tạo nó một lần nữa trong Con của Ngài. Trong thời đại đang rất cần những người can đảm, chúng ta cần hướng đến người mang tên Giuse. Chúng ta cần noi gương Ngài bằng cách can đảm, khiêm hạ và trung thành yêu mến Chúa Giêsu Kitô. 

Chúng ta cần học cách dâng lời xin vâng của mình cho Thiên Chúa mà tình yêu thương luôn mời gọi chúng ta tham gia. Thánh Giuse là Thầy của chúng ta và chỉ đường cho chúng ta, là con người đích thực, kêu gọi mọi người theo Chúa Giêsu. Dạy chúng ta rằng hành động quan trọng hơn lời nói.

Vào năm 2005, Đức Bênêđictô XVI, đã nói một số lời đầy cảm hứng liên quan đến sự im lặng của Đấng trùng tên với mình:

“Sự im lặng của Ngài là một sự im lặng thấm nhuần chiêm niệm mầu nhiệm Thiên Chúa, một thái độ hoàn toàn sẵn sàng cho những ước muốn thánh thiêng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy để cho mình được lây nhiễm “sự im lặng của Thánh Giuse! Chúng ta rất cần điều sự im lăng đó trong một thế giới vốn thường quá ồn ào, không khuyến khích suy tư và không lắng nghe tiếng nói Thiên Chúa” (Đức Bênêđictô XVI, ngày 18 tháng 12 năm 2005)

Lời cầu nguyện liên quan đến sự im lặng của Thánh Giuse:

Sự im lặng của Thánh Giuse vang vọng trong một thế giới ồn ào biến một mớ tạp âm ích kỷ thành một giai điệu tự hiến dâng.

Sự im lặng của Thánh Giuse là hạt giống sinh hoa trái thánh thiện và lòng can đảm.

Sự im lặng của Thánh Giuse nhấn chìm tiếng ồn ào buồn bã và làm im đi tiếng than vãn của kẻ yếu đuối

Sự im lặng của Thánh Giuse lôi kéo thế giới đến hang Bêlem nơi Thiên Chúa sinh ra làm người và con người được tái sinh

Sự im lặng của Thánh Giuse lôi cuốn chúng ta quỳ gối thờ lạy Ngôi Lời trở thành xác phàm khiến mọi lời nói của loài người đều mất đi ý nghĩa.

Sự im lặng của Thánh Giuse điều khiển một bản giao hưởng im lặng khiến vũ trụ tĩnh lặng trong sự tôn thờ Đấng Sáng tạo Mới đang đến.

Chúng ta hãy im lặng đến với sự im lặng của Thánh Giuse.

Marta Timar - https://www.catholic.org

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ

Thánh Giuse: Mạnh mẽ và tĩnh lặng

“Những linh hồn có phần số phong phú này, hơn tất cả những linh hồn khác, thoát khỏi mọi loại thuyết định mệnh: họ phát tỏa, chiếu sáng với một sự tự do chói lọi.”

~ George Bernanos, “Những người bạn của chúng ta, những vị thánh”

Viết về sự thánh thiện thì không dễ dàng gì. Cũng đừng có ai mong muốn điều đó như vậy, bởi vì sự lưu loát là điều cuối cùng chúng ta cần khi giáp mặt với những mầu nhiệm của ân sủng. Đặc biệt điều này xảy ra khi bản thân tác giả có rất ít sự thánh thiện để khoác lác về sự thánh thiện. Nhưng, thế thì, ngay cả nhà văn lớn Bernanos, là người đã cất tiếng thể hiện linh hồn của nước Pháp Công giáo, đã có thể thoát khỏi những giới hạn do thực tế đó áp đặt. Khi được mời thuyết trình cho một nhóm các nữ tu - tất cả những nữ tử của Cha Charles de Foucauld tử vì đạo - về chủ đề sự thánh thiện, Bernanos đã thú nhận sự bất xứng hoàn toàn của mình, ông nói với khán giả rằng ông “liều lĩnh” biết chừng nào khi “dám nói về một đất nước mà tôi chưa bao giờ đặt chân đến… ” Và theo sự mạo muội của chính mình, mặc dù ông nhận mình là “một lữ khách dày dạn kinh nghiệm” đi dọc theo nhiều nẻo đường của thế giới Công giáo, nhưng ông sẵn sàng thừa nhận rằng ông “chưa bao giờ gặp một cư dân thực sự nào của đất nước này, dù chì là một người bản địa, cũng không…. ”

Tất nhiên, sự liều lĩnh dám tỏ ra mình là người hoàn toàn nực cười, nhận ra bản thân mình hoàn toàn không có khả năng, thậm chí càng rõ ràng lố lăng hơn trong trường hợp nói về những gương mẫu thực sự thánh thiện phi thường này. Ví dụ, sự thánh thiện tuyệt đối trong cuộc đời Thánh Giuse mà chúng ta đánh giá một cách đúng đắn là cao hơn bất kỳ một phàm nhân hay chết nào khác. Chắc chắn là ngoại trừ Chúa Kitô của chúng ta và Mẹ Cực Thánh Vô Nhiễm của Ngài, là Đấng đã được đầy ơn phúc hơn nhiều so với những gì thánh Giuse có thể khao khát trở thành. Điều đó hẳn thật gây bối rối cho người đàn ông tội nghiệp, ngày này qua ngày khác, thấy mình “phải sống” giữa Ngôi Lời Nhập Thể và Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội! Có gì ngạc nhiên đâu khi thánh Giuse không nói lên được lời nào? Phải chăng sự trầm lặng đó vẫn là tấm danh thiếp của ngài?

Mặt khác, Thánh Giuse có bao giờ là một người nói huyên thuyên không? Sự im lặng chắc chắn là hành trang mạnh mẽ của ngài trong suốt cuộc đời. Ngay cả sau khi thiên thần hiện ra trong giấc mơ để khuyên ngài đừng từ chối cho phép Đức Maria sống trong nhà của ngài, bởi vì đứa trẻ mà Mẹ sinh ra là Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã từ trời xuống để “cứu dân Ngài khỏi tội lỗi” (Mátthêu 1:21). Giuse vẫn không nói lời nào. Thay vào đó ngài hành động, với một sự nhanh nhạy đáng ngưỡng mộ và đáng kinh ngạc nhất. Nhưng đó khó có thể là một điều dễ dàng đối với ngài. Tuy nhiên, khi nhẫn nhục chịu đựng cụ thể như thế, ngài đã bộc lộ một trái tim chính trực và kiên quyết nhất. Thật vậy, khi sẵn sàng phục vụ người phụ nữ mình yêu thương, thay vì đưa cô ấy ra trước pháp luật, chúng ta thấy sự vĩ đại của người đàn ông, mà cuộc đời của ông héo mòn trong nỗi nhớ về một lời hứa xa xưa được ban cho dân Thiên Chúa, mà ngài với tư cách là một người con đích thực của dòng dõi Đavít đang khao khát được thấy điều đó hoàn thành. Và giữa những chi tiết chán ngấy nhất của một cuộc sống hoàn toàn bình thường, bị che giấu suốt những năm tháng ở Nadarét, ai sẽ sớm được thấy tất cả những gì đã được Thiên Chúa hứa hẹn giữa Mẹ và Con của Mẹ — những người mà ông, Giuse, đang được yêu cầu gìn giữ và bảo vệ bằng chính cuộc sống của mình?

Tại sao Giáo Hội lại áp dụng tất cả các tước hiệu đó cho một người không tiếng tăm gì và khiêm tốn như Giuse? Không có vị thánh nào khác nơi thiên đàng bảo trợ cho cả Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ. Cũng không có vị thánh nào mà những người lao động, hoặc những người sắp chết, có thể chạy đến kêu cầu với sự tin tưởng tuyệt đối, vì Ngài là đấng bảo trợ của họ? Chỉ có Thánh Giuse là người mà Giáo hội yêu cầu chúng ta tôn vinh như là hình mẫu của sự dũng cảm chịu đựng và sự hoàn thiện, và được coi như là Cha của tất cả những ai kêu cầu Ngài.

Tuy nhiên, đối với tất cả điều đó, trong câu chuyện đáng kinh ngạc về ơn cứu độ của chúng ta, phần riêng của Ngài được tỏ hiện ra rất nhiều, dù lờ mờ, trong câu chuyện kể, nhưng chính ngài lại không kể nó. Chứng tỏ sự khiêm tốn thì hùng hồn hơn cả lời nói. Tôi tự hỏi, điều gì đã đưa Ngài đến sự dâng hiến cực độ như thế, trong sự dâng hiến đó, tất cả cuộc đời và từng khoảnh khắc cuộc đời của Ngài là sự tận tụy hoàn hảo và không ngưng nghỉ đối với Mẹ Maria và Hài nhi mầu nhiệm mà Mẹ cưu mang? Một sự thuận phục mặc nhiên, chúng ta đừng quên, mà ngài không buộc phải gánh chịu, dù bằng bất cứ cách nào?

Cha Jacques Philippe, trong một cuốn sách nhỏ tuyệt vời mang tên Tự do Nội tâm [1], nhắc nhở chúng ta rằng kinh nghiệm về tự do đích thực rất thường xuyên đòi hỏi phải chấp nhận điều mà chúng ta không thể thay đổi. Cha gọi đó là “quy luật nghịch lý của cuộc sống con người”, phát triển từ sự thừa nhận rằng “người ta không thể thực sự tự do trừ khi người ta chấp nhận không phải lúc nào cũng được tự do”. Nói cách khác, những khoảnh khắc mà chúng ta có nhiều khả năng trưởng thành trong tư cách một con người – nghĩa là mở rộng tầm thánh thiện của chính mình, như nó vốn có - chính xác lại là những thời điểm mà chúng ta không còn cơ hội để thao túng và làm chủ tình hình. Nhưng vì cuộc sống chủ yếu là một ân huệ, vậy tại sao chuyện chúng ta không thể cai quản mọi thứ lại trở nên quan trọng?

Ánh sáng của nghịch lý đó đổ trên cuộc đời của Thánh Giuse buốt thấu như thế nào. Chẳng hạn, liệu chừng ngài có thể đã hình dung ra được một tình huống nào khác mà trong đó, xét theo bề ngoài, Ngài mất tự do hơn tình huống xuất phát từ việc vị hôn thê của Ngài sinh cho Ngài một đứa con không thuộc về Ngài không? Để cam chịu một tình huống không phải chính mình gây ra? Phải nói những dòng thoại của một kịch bản mà không phải do chính Ngài viết? Phải chăng Ngài không có lựa chọn nào khác? Cha Philippe nói với chúng ta rằng khi đối mặt với những hoàn cảnh mà chúng ta không lựa chọn, đặc biệt là khi những hoàn cảnh đó có vẻ nguy hiểm và xâm phạm, có ba khả năng xẩy ra với chúng ta. Trước hết, là sự lựa chọn nổi loạn, từ chối thẳng thừng và nổi loạn khi đối mặt với lệnh triệu tập mà chúng ta không yêu cầu và không hoan nghênh. Cha Philippe nói, rút lui khỏi thực tế trước mắt chúng ta “thường là phản ứng đầu tiên, tự phát, của chúng ta trước khó khăn hoặc đau khổ. Nhưng điều đó không bao giờ giải quyết được chuyện gì”.

Sau đó là chọn lựa từ chức, có nghĩa như “một lời tuyên bố về việc không còn quyền hạn gì nữa, không đi đến đâu. Đó có thể là một giai đoạn cần thiết,” Cha nói thêm, “nhưng nếu dừng lại ở đó thì cũng chỉ là vô ích.”

Điều đó để lại một lựa chọn thứ ba, đó là một thái độ tiếp thu dẫn đến sự đồng ý thực sự và lâu dài. “Chúng ta đồng ý với một thực tế mà ban đầu chúng ta coi là tiêu cực, bởi vì chúng ta nhận ra rằng điều gì đó tích cực có thể nảy sinh từ đó”. Và phẩm chất của niềm hy vọng ẩn giấu trong cử chỉ, cũng như trong việc Thánh Giuse sẵn sàng mở rộng lòng tín thác, trở thành ân sủng, cuối cùng đem lại ơn cứu rỗi. Cha Philippe xác quyết mạnh mẽ nhất về quan điểm này và đảm bảo với chúng ta rằng “điều quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta không phải là những gì chúng ta có thể làm được mà là nhường chỗ cho những gì Thiên Chúa có thể làm. Bí quyết lớn lao của tất cả hoa trái và tăng trưởng thiêng liêng là học biết cách để cho Thiên Chúa hành động.”

Đường học hành trong cuộc đời của Thánh Giuse rất dốc đứng và nhanh vội biết chừng nào. Ngài phải học cách buông bỏ cuộc sống của mình để cho Thiên Chúa đảm trách cuộc sống đó. Và Ngài phải làm điều đó ngay lập tức; rồi thì, cứ như thế lặp đi lặp lại. Không có nhiều người sẵn sàng buông bỏ con người mình nhiều như vậy. Thay vào đó, giống như Eliot's Prufrock [2], họ thích một cuộc sống “được đong đếm bằng từng thìa cà phê”. Thánh Giuse không như vậy. Cuộc sống của ngài là dấu hiệu thực sự của sự thánh thiện. Cương quyết dốc đổ mọi thứ, bởi vì không có gì ít ỏi hơn mà lại làm được việc. “Hầu hết mọi người”, Bernanos nói, “chỉ cam kết phần ít ỏi nhất của bản thân trong cuộc đời, một phần bé xíu đến nực cười trong con người họ, giống như những người giàu có bủn xỉn chỉ tiêu xài tiền lãi trên khoản thu nhập mà họ kiếm được. Một vị thánh không sống dựa trên lợi tức của thu nhập của mình, hoặc ngay cả trên thu nhập của mình; vị ấy sống bằng vốn liếng của mình, vị ấy cống hiến tất cả tâm hồn của mình… Cam kết tất cả tâm hồn của mình! Ồ, đó không chỉ đơn thuần là một hình tượng văn học.”

Và vì vậy, thánh Giuse, được nâng đỡ bởi đức tin do Thiên Chúa ban cho, sẽ ra khơi trong bóng tối hoàn toàn. Và trong khi Ngài không thể nhìn thấy bến cảng nơi mà sự ấm áp và an toàn đang vẫy gọi Ngài, Ngài vẫn không bị chìm, nhờ ân sủng của sự cậy trông, trong niềm khao khát lớn lao của mình đến được bến bờ bên kia. Giống như giọng nói trong Four Quartets [3] của Eliot, Ngài sẽ nói với linh hồn mình, "Hãy tĩnh lặng ... / Vì ... vẫn còn niềm tin”.

Nhưng niềm tin, hy vọng và tình yêu tất cả đều ở trong sự chờ đợi.

Hãy chờ đợi không ý kiến, vì bạn chưa sẵn sàng để suy nghĩ:

Như thế, bóng tối sẽ thành ánh sáng, và sự tĩnh lặng sẽ thành điệu múa.

Regis Martin - https://www.crisismagazine.com

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ 

Chú thích của người dịch:

[1] Trải nghiệm sự tự do của những người con của Thiên Chúa, cuốn Tự do Nội tâm khiến người ta khám phá ra rằng ngay cả trong những hoàn cảnh bên ngoài bất lợi nhất, chúng ta vẫn sở hữu trong mình một không gian tự do mà không ai có thể lấy đi được, bởi vì Thiên Chúa là nguồn gốc và bảo đảm của nó. Nếu không có khám phá này, chúng ta sẽ luôn bị hạn chế theo một cách nào đó và sẽ không bao giờ nếm được hạnh phúc thực sự. Tác giả Jacques Philippe phát triển một chủ đề đơn giản nhưng quan trọng: chúng ta có được quyền tự do trong lòng mình tỷ lệ thuận với sự phát triển của chúng ta trong đức tin, đức cậy và đức mến. Tác giả giải thích rằng sự năng động giữa ba nhân đức đối thần này là trọng tâm của đời sống thiêng liêng, và ông nhấn mạnh vai trò then chốt của nhân đức hy vọng (đức cậy) trong sự trưởng thành nội tâm của chúng ta. Được viết theo phong cách đơn giản và hấp dẫn, cuốn Tự do nội tâm tìm cách giải thoát cõi lòng và trí não để sống tự do thực sự mà Chúa mời gọi mỗi người.

[2] Bản tình ca của J. Alfred Prufrock, thường được gọi là Prufrock, là một bài thơ của nhà thơ người Mỹ T.S. Eliot, bắt đầu viết từ tháng 2 năm 1910, viết xong năm 1911 và in lần đầu ở tạp chí Poetry (Chicago) bốn năm sau đó (tháng 6 năm1915). Bản tình ca... là một vở kịch về "nỗi đau đớn của văn học," nó thể hiện ở dạng một độc thoại đầy kịch tính, và đánh dấu sự bắt đầu sự nghiệp văn học Eliot như là một nhà thơ có ảnh hưởng. Với vẻ chán nản, hối tiếc và sự khát khao nhận thức, một mặt nào đó cũng giống như vở kịch Hamlet với "to be, or not to be" (tồn tại hay không tồn tại). Chủ đề của Bản tình ca… là không thể yêu. Từ không thể yêu đến không thể sống cũng chẳng xa xôi gì, và bài thơ kết thúc bằng lời "ta chết chìm" (we drown).

[3] Bốn khúc tứ tấu (tiếng Anh: Four Quartets) – là một trường ca gồm 4 phần: Burnt Norton (1935), East Coker (1940), The Dry Salvages (1941) và Little Gidding (1942) của nhà thơ Mỹ đoạt giải Nobel Văn học năm 1948 T. S. Eliot. Đây là tác phẩm thể hiện quan niệm thơ ca và triết học của Eliot được hình thành trong những thập niên 20, 30, (thế kỷ XX) tiêu biểu là tác phẩm Ngày thứ tư lễ tro. Eliot kết hợp ở đây khái niệm về linh hồn bất tử của Kitô giáo với cách giải thích khoa học những phạm trù như thời gian, nơi chốn, sự vô tận, sự chuyển hoá liên tục thành những hình thái khác nhau của đời sống…

Regis Martin là Giáo sư Thần học và Phó Khoa của Trung tâm Veritas về Đạo đức trong Đời sống Cộng đồng tại Đại học Phanxicô Steubenville. Ông có bằng cử nhân và tiến sĩ thần học tại Đại học Giáo hoàng Thánh To6ma Aquinô ở Rôma. Martin là tác giả của một số cuốn sách, bao gồm Still Point: Loss, Longing, and Our Search for God (2012) và The Beggar's Banquet (Đường Emmaus). Cuốn sách gần đây nhất của ông, cũng được xuất bản bởi Emmaus Road, có tên là Witness to Wonder: The World of Catholic Sacrament.   

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.