Đức Giêsu Kitô bằng xương bằng thịt

22-07-2021 161 lượt xem

Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô, thời Phongxiô Philatô làm tổng trấn xứ Giuđêa, Hêrôđê làm tiểu vương xứ Galilê, người em là Philip làm tiểu vương xứ Iturêa và Trachonitis, và Lysanias làm tiểu vương xứ Abilene… (Lc 3,1).

Một số người tuyên bố Đức Giêsu Kitô chưa từng tồn tại. Người ta cho rằng cuộc đời của Đức Giêsu và Tin mừng chỉ là những huyền thoại được Giáo hội thêu dệt. Tuyên bố này chủ yếu dựa vào việc tin tưởng rằng không hề có hồ sơ lịch sử nào về Đức Giêsu.

Việc thiếu các bản báo cáo thế tục không gây quá nhiều ngạc nhiên đối với các Kitô hữu đương đại. Đầu tiên, chỉ một phần nhỏ trong số các bản văn ghi chép còn sót lại sau hai mươi thế kỷ. Thứ hai, có rất ít các ký giả ở Palestine vào thời Đức Giêsu. Thứ ba, người Rôma xem dân Do Thái đơn thuần chỉ là một trong số các sắc dân cần được khoan dung. Người Rôma xem thường họ. Cuối cùng, các lãnh đạo Do Thái cũng muốn nhanh chóng lãng quên Đức Giêsu. Các văn sĩ ngoại đạo chỉ chú ý giai đoạn sau khi Kitô giáo trở nên phổ biến và bắt đầu chi phối lối sống của họ.

Mặc dù các bản báo cáo ban đầu về Đức Giêsu có thể hiếm có, nhưng vẫn có một vài tài liệu còn sót lại nhắc đến Ngài. Không quá ngạc nhiên khi những bản báo cáo ngoài Kitô giáo sớm nhất là của người Do Thái. Flavius Josephus, qua đời năm 98, là một sử gia Do Thái làm việc cho Rôma. Ông đã viết những cuốn sách về người Do Thái cho dân Rôma. Trong tác phẩm của mình, cuốn Người Do Thái Cổ đại (Jewish Antiquities), ông từng đề cập đến Đức Giêsu. Trong một lần nhắc đến, ông viết:

"Vào thời này xuất hiện ông Giêsu, một con người khôn ngoan, đã làm nhiều việc lành và nhân đức của ông được người ta thừa nhận. Nhiều người Do Thái và dân các nước khác đã theo làm môn đồ của ông. Philatô đã kết án khiến ông chịu khổ hình và chịu chết. Tuy vậy, các môn đồ vẫn rao giảng về giáo lý của ông. Họ thuật lại rằng ông đã hiện ra với họ vào ngày thứ ba sau khi chịu xử tử trên thập tự; và ông vẫn còn đang sống. Có thể ông chính là Đấng Messiah, người mà các ngôn sứ đề cập đến khi tiên báo các điềm thiêng dấu lạ" [Josephus, Jewish Antiquities, XVIII 3.2].

Mặc dù có một vài hình thức khác nhau của bản văn đặc biệt này được bảo tồn qua hai mươi thế kỷ, chúng đều khớp với bản dịch được trích dẫn kể trên. Bản dịch này được xem xét cẩn trọng để sát với nguyên bản nhất – ít bị nghi nghờ là ngụy bản Kitô giáo nhất. Ở những chỗ khác trong cuốn sách này, Josephus cũng tường thuật việc hành quyết thánh Gioan Tẩy giả [XVII 5.2] và thánh Giacôbê Công chính [XX 9.1], thậm chí xem Giacôbê như “anh em của ông Giêsu, người đã được gọi là Kitô”. Nên lưu ý rằng, thì quá khứ của mệnh đề “ông Giêsu, người đã được gọi là Kitô” cho thấy đây không phải là ngụy bản Kitô giáo, vì một Kitô hữu thích viết “Đức Giêsu, người được gọi là Kitô” hơn.

Sách Talmud, một nguồn Do Thái khác, cũng đưa ra một vài tham chiếu mang tính lịch sử về Đức Giêsu. Theo Từ điển Di sản Hoa Kỳ (The American Heritage Dictionary), sách Talmud là “một bộ sưu tập các tác phẩm cổ của truyền thống Rabbi, bao gồm hai phần Mishnah và Gemara, thiết định nền tảng thẩm quyền tôn giáo cho Do Thái giáo truyền thống”. Dù không nhắc đích danh, các rabbi hậu thời vẫn định danh cho một nhân vật tên Giêsu. Những tham chiếu này về Đức Giêsu thể hiện sự thiếu thiện cảm đối với Ngài cũng như Giáo hội. Hơn nữa, những ghi chép kể trên được người Do Thái lưu giữ qua hàng thế kỷ, vậy nên không thể buộc tội các Kitô hữu giả mạo bản văn.

Sách Talmud chú thích về các phép lạ của Đức Giêsu. Không cố gắng phủ nhận chúng, nhưng cuốn sách quy gán các phép lạ này vào những loại hình ma thuật gốc gác Aicập. Ngoài ra, cuộc khổ hình của Đức Giêsu cũng được đề ngày thống nhất với Tin mừng, đó là “vào đêm trước Lễ Vượt qua” (Lc 22,1tt; Ga 19,31tt). Thêm một điểm tương đồng với Tin mừng (Mt 27,51), sách Talmud ghi chép về trận động đất và bức màn trong Đền thờ xé ra làm đôi khi Đức Giêsu sinh thì. Trong cuốn Cuộc chiến Do Thái, Josephus cũng xác nhận những sự kiện trên.

Vào đầu thế kỷ thứ II, những người Rôma đã viết về các Kitô hữu và Đức Giêsu. Năm 111, Pliny trẻ, khi đang làm thống đốc vùng Tiểu Á, đã viết cho Hoàng đế Trajan một bức thư:

…Họ thường tụ họp vào đúng ngày đã định… trước khi mặt trời mọc, đọc luân phiên một công thức ca tụng Đức Kitô là Chúa và cùng thề hứa với nhau, không phải để gây tội ác, nhưng là hứa không phạm tội ăn trộm, ăn cướp, ngoại tình, lỗi lời hứa, không từ chối góp tài sản khi bị đòi buộc. Sau khi thực hiện xong việc này, họ có thói quen chia tay nhau rồi lại họp nhau để dùng bữa… [Pliny, Thư 97].

Cần đặc biệt lưu ý cụm “Đức Kitô là Chúa”, một lời chứng sơ thời về niềm tin vào thần tính của Đức Kitô (Ga 20,28; P; ,6). Hơn nữa, thật thú vị khi đối chiếu đoạn văn này với Công vụ 20,7-11, một trình thuật về việc cử hành ngày Chúa nhật thuở ban đầu của Kitô giáo.

Kế tiếp, Tacitus, một sử gia người Rôma, được các học giả hiện đại kính trọng vì sự chính xác trong cách viết sử, đã viết vào năm 115 về Đức Kitô và Giáo hội:

"Người sáng lập giáo phái này có danh xưng là Kitô, kẻ bị hành quyết dưới thời hoàng đế Tiberiô bởi Quan khâm sai Phongxiô Philatô [*]. Sự mê tín nguy hại bị ngăn chặn một thời gian, nay lại bùng phát, không chỉ khắp xứ Giuđêa… nhưng còn khắp cả thành Rôma nữa…" [Tacitus, Annals, XV 44].

Dù xem thường đức tin Kitô giáo, Tacitus vẫn xem việc xử tử Đức Kitô như một sự kiện lịch sử, vạch ra những liên hệ với các sự kiện và các nhà lãnh đạo Rôma (x. Lc 3,1tt).

Những bằng chứng lâu đời khác về Đức Giêsu lịch sử có thể kể đến Suetonius với cuốn tiểu sử về Claudius, Phlegan với việc ghi chép lại hiện tượng nhật thực lúc cái chết của Đức Giêsu diễn ra, và thậm chí cả Celsus, một triết gia ngoại giáo. Phải nhớ rằng hầu hết những nguồn này không chỉ lâu đời mà còn chống Kitô giáo. Những tác giả cổ xưa này, kể cả các ngòi bút Do Thái, không hề mong muốn hay có ý định cổ võ Kitô giáo. Trên thực tế, Pliny từng trừng phạt các Kitô hữu vì đức tin của họ. Nếu Đức Giêsu là một huyền thoại, hoặc việc Ngài thụ hình là một trò lừa bịp, thì Tacitus đã phải báo cáo như vậy. Chắc chắn ông ta sẽ không liên kết việc xử tử Đức Giêsu với các nhà lãnh đạo Rôma. Các cây bút khác đều mô tả Đức Giêsu như một nhân vật lịch sử có thật. Việc phủ nhận độ chân thực của những nguồn sử liệu này khi đề cập đến Đức Giêsu sẽ tạo ra sự ngờ vực nghiêm trọng về phần còn lại của lịch sử cổ đại.

Cho đến giờ, những tác phẩm thế tục cổ xưa này không cho thấy Đức Giêus là Con Thiên Chúa hay thậm chí là Đấng Kitô, nhưng đấy không phải là mục tiêu của bài viết này. Những báo cáo này cho thấy có một con người nhân đức mang tên Giêsu đã sống vào đầu thế kỷ thứ nhất, và là người sáng lập một phong trào tôn giáo (ngày nay vẫn tồn tại). Nhân vật này ít nhất còn được gọi là Kitô – tức Mêsia. Các Kitô hữu thế kỷ thứ nhất cũng có xu hướng xem Ngài là Thiên Chúa. Cuối cùng, những tác phẩm này hỗ trợ cho các sự kiện khác được tìm thấy trong Kinh thánh xoay quanh cuộc đời của Ngài. Tuyên bố rằng Đức Giêsu chưa bao giờ tồn tại và cuộc đời Ngài chỉ là một huyền thoại sẽ gây nguy hại cho độ tin cậy của lịch sử cổ đại.

https://www.catholicnewsagency.com

Grêgôriô Võ Trần Nhựt chuyển ngữ

-------------------------------------------------------------

[*] Tacitus thường gọi Pontius Pilate với chức danh quan khâm sai (Procurator). Nhưng chức danh được công nhận rộng rãi nhất là quan tổng trấn (Prefectus), dựa vào một bản văn khắc trên tấm đá vôi để cung hiến ngôi đền vinh danh hoàng đế Tiberius khoảng năm 25-26:
[DIS AUGUSTI]S TIBERIÉUM
[…PO]NTIUS PILATUS
[…PRAEF]ECTUS IUDA[EA]E
[…FECIT D]E[DICAVIT]
Xin xem thêm: 
https://www.stbernardsparish.ca/a-bible-archaeology-moment-the-pilate-stone/

Từ Miriam ở Ai Cập đến Mariam ở Bêlem

Bài ca của nữ ngôn sứ Miriam 
Tranh của Luca Giordano (1632 - 1705)
Amy-Jill Levine
L’Osservatore Romano, 9/7/2021, no 28, tr. 6

Sách Thánh của người Do Thái nêu tên năm nữ “ngôn sứ”: bà Miriam (Xh 15,20), bà Đơvôra, (Tl 4,4), bà Khunđa (2 V 22,14; 2 Sbn 34,22), bà mẹ của con trai ông Isaia (Is 8,3), và bà Nôátgia (Nk 6,14). Giôen 3,1-2 và Êdêkien 13,17 đề cập đến các phụ nữ nói sấm ngôn, và sách Talmud, một bản tóm hậu Sách Thánh của Do Thái giáo, đã thêm vào bà Sara, Hanna, Abigail và Étte. Tân Ước nhắc đến vài phụ nữ nói sấm ngôn, gồm có bà Anna (Lc 2,36-37), bốn con gái ông Philípphê (Cv 21,9), và các phụ nữ ở cộng đoàn Côrintô (1 Cr 11,5).

Các ngôn sứ trong Kinh Thánh nói lên những sứ điệp công bình: họ cung cấp một nhãn quan về điều sẽ là, và có thể là. Thường thì họ thách thức hiện trạng. Khi có sự kháng cự, họ bày tỏ sự quyết chắc và lòng can đảm.

Miriam là mẫu gương cho các nữ ngôn sứ. Dù không biết được nguồn gốc của tên bà, song truyền thống Do Thái cũng đưa ra hai khả năng. Trước hết, nó có thể xuất phát từ một từ tiếng Hípri có nghĩa là “cay đắng”, phản ánh việc Miriam sinh ra trong nô lệ (xem Xh. 1,14). Cái tên cũng có thể đến từ một từ Do Thái khác có nghĩa là ”phản loạn”.

Theo sách Xuất Hành chương 2, người cai trị Ai Cập là vua Pharaoh đã ra lệnh dìm chết các con trai của những người nô lệ Do Thái. Một bà mẹ Do Thái đã đặt con trai mình vào thúng cói thả trôi trên sông Nil với hy vọng một người Ai Cập nào đó sẽ cứu nó. Con gái của vua Pharaoh thấy đứa bé, xác định nó là người Do Thái và cải lệnh cha bà đã nuôi nấng đứa trẻ. Người chị của đứa bé, sau này được xác định là Miriam, đã nói: “Bà có muốn con đi gọi cho bà một vú nuôi người Hípri, để nuôi đứa bé cho bà không?” (Xh 2,7). Miriam, một người Do Thái nô lệ, đã bảo vệ em mình và nói rộng ra là dân tộc mình.

Rốt cuộc thì người Do Thái cũng thoát ách nô lệ, “Ông Môsê và dân Do Thái” hát một bài ca mừng được Thiên Chúa cứu thoát (Xh 15,1). Song sách Xuất Hành 15,20-21 nói, “Nữ ngôn sứ Miriam, em ông Aharon, cầm lấy trống; mọi phụ nữ theo bà đi ra, đánh trống và nhảy múa. Bà Miriam xướng lên cho họ (giống đực, số nhiều) rằng: "Anh em (giống đực, số nhiều) hãy hát mừng Đức Chúa, Đấng cao cả uy hùng, kỵ binh cùng chiến mã, Người xô xuống đại dương". Miriam cổ vũ các ông cũng như các bà hát mừng Đức Chúa. Hơn nữa, vì các bà như Đêbôra (Tl 5), Hanna (1 Sm 2,1-10), và Giuđita (Gđ 16) — họ đều cử hành chiến thắng bằng bài ca, nên có thể bà Miriam đã sáng tác Bài ca của ông Môsê.

Cuối cùng, Miriam thậm chí còn thách thức cả ông Môsê. “Bà Miriam và ông Aharon phản đối ông Môsê về người đàn bà xứ Cút mà ông đã lấy, vì ông đã lấy một người đàn bà xứ Cút làm vợ” (Ds 12,1). Câu này không chỉ liệt kê bà Miriam trước anh mình là tư tế Aharon nhưng còn sử dụng một động từ Hípri có nghĩa là “nói” ở giống cái số ít. Khi một cú pháp Hípri sử dụng động từ số ít giống cái cho một chủ từ kép hỗn hợp (chẳng hạn Stk 33,7: “Đến lượt bà Lêa cùng với các con của bà đến gần và sụp xuống lạy. Sau đó Giuse và bà Rakhen cũng đến gần và sụp xuống lạy”) thì trọng tâm là người đàn bà.

Lời phàn nàn của Miriam không phải là một luận chứng chống lại hôn nhân hỗn hợp với một người phụ nữ xứ Cút (có thể là từ để chỉ xứ Ethiopia; một cách diễn tả khác bằng tiếng Aram của câu này đã che đậy từ “người đàn bà xứ Cút” này bằng từ “người đàn bà đẹp”). Đúng hơn, bà Miriam đang nói nhân danh người vợ này, vì ông Môsê không phải là người chồng tốt khi ông luôn giữ tinh sạch theo nghi thức vì phải thường xuyên tiếp xúc với Thiên Chúa. Khi bà (và ông Aharon) hỏi, “Đức Chúa chỉ phán với một mình Môsê sao? Người đã chẳng phán với cả chúng ta nữa ư?” (Ds 12,2). Thiên Chúa đã phạt bà Miriam bị bệnh cùi vì đã thách đố thẩm quyền ông Môsê, nhưng dân Israel chờ cho đến khi bà khỏi bệnh mới tiếp tục hành trình của họ. Ngôn sứ Mikha (6,4) xác định rằng Thiên Chúa đã sai “Môsê, Aharon, và bà Miriam” dẫn dắt dân chúng.

Hơn một thiên niên kỷ sau đó, một bà Miriam khác đã bảo vệ một con trẻ, bằng một bài ca, cũng thách thức quyền bính và cử hành chiến thắng của Thiên Chúa. Luca  1,27 xác định “một trinh nữ đính hôn với một người tên là Giuse … Tên người trinh nữ ấy là Mariam”, một từ Hy Lạp dịch từ “Miriam” trong tiếng Hípri.

Tên gọi này gợi lại bà Miriam trước kia, người đã dẫn dắt dân mình thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập. Nó cũng gợi lại bà vợ người Hasmonê của Hêrốt Đại đế là bà Mariamne, người đại diện cho Do Thái hơn là nhà cầm quyền Rôma. Khi Mariam hát, “Ngài đã đoái nhìn xuống nữ tỳ Ngài” (tiếng Hy Lạp: doule; Lc 1,48), chúng ta nhớ đến bà Miriam và dân tộc bà, bị nô lệ bên Ai Cập. Khi Mariam công bố: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường”  (Lc 1,52), chúng ta nhớ lại cuộc Xuất Hành. Bà Miriam và người trùng tên Mariam là những ngôn sứ mà lời và hành động của họ chống lại bất kỳ điều chi ngăn cản sự triển nở của con người.

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ - WQN

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan