Mười điều răn được phân chia như thế nào

31-08-2021 73 lượt xem

Bản văn ghi lại mười điều răn mà chúng ta đọc trong Kinh Thánh không được trình bày theo kiểu đánh số… vậy phải phân chia nó như thế nào cho hợp lý nhất?

Chúng ta đọc thấy trong Thánh vịnh 32 (33) như sau: “Hãy tạ ơn Người, họa với tiếng cầm, hãy đàn ca Người, hòa theo tiếng sắt thập huyền” (Tv 32,2). Bạn đã bao giờ hát đối đáp từng câu của mười điều răn? Trong phụng vụ của Giáo phận Anh giáo được Tòa thánh phê chuẩn, mười điều răn thỉnh thoảng được công bố lúc bắt đầu Thánh lễ theo thể thức kinh cầu. Vị linh mục xướng: “Thiên Chúa truyền dạy những lời này và phán…”, rồi ngài thuật lại từng điều một. Sau mỗi điều, ca đoàn và cộng đoàn hát lên: “Lạy Chúa, xin tỏ lòng thương xót trên chúng con, và hướng lòng chúng con tuân giữ lề luật này”.

Tôi lớn lên cùng với thực hành này hàng tháng, và việc Giáo hội kết hợp nó vào trong phụng vụ chính thức thật là một điều vừa thú vị vừa có đôi chút lạ lẫm – hơi lạ bởi vì cách phân chia mười điều răn theo Anh giáo khác với lễ nghi Latinh truyền thống của Công giáo. Hai cách phân chia khác nhau ra sao và lý do của chuyện này là gì? Chúng ta sẽ bàn thêm sau.

Tuy nhiên thập huyền cầm nhắc nhớ chúng ta, tất cả các dây của chúng đều dùng để ca ngợi Thiên Chúa. Thánh Augustinô chọn câu thánh vịnh trích ở trên và xem nó là dịp để giảng dạy về mười điều răn. Ở nơi khác, trong những chú giải tuyệt vời của ngài về các thánh vịnh (loạt bài giảng đầu tiên tại Hippo), ngài khuyên bảo chúng ta rằng, chúng ta sẽ là lời ngợi ca sống động dâng Thiên Chúa nếu chúng ta sống tốt lành. Do đó, không đáng ngạc nhiên khi ngài lấy hình tượng của chiếc thập huyền cầm làm biểu tượng cho một đời sống công chính – cụ thể là sống theo mười điều răn. Một đời sống tương hợp với các giới răn chính là một bài ca ngợi khen ngân lên gấp mười lề luật.

Nhưng Lề luật chỉ có hai điều trước khi trở thành mười. Như Đấng Cứu độ đã dạy, nó được tóm lại thành “điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất”: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”, và điều thứ hai cũng “giống với” điều trước: “ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”.

Vì lẽ này, thánh Augustinô dạy chúng ta rằng tấm bia Lề luật thứ nhất của Môsê liên quan đến tình yêu Thiên Chúa, còn tấm thứ hai liên quan đến tình yêu người thân cận. Như vậy, có ba điều luật trên một tấm bia và bảy điều luật trên tấm còn lại. Cũng giống như tấm bia đầu tiên bắt đầu với cội nguồn sự tồn tại của chúng ta là Thiên Chúa Cha, rồi sau đó hướng đến các Ngôi vị Thần linh ở điều thứ hai và ba, thì tấm thứ hai gồm bảy điều, cũng bắt đầu với cội nguồn của đời sống trần thế và những người gần gũi chúng ta nhất là các bậc cha mẹ, rồi sau đó tiến tới những mối tương quan và các khía cạnh khác của đời sống mà qua đó chúng ta thể hiện tình yêu người thân cận của mình; chúng gộp lại thành mười điều.

Sự phân chia này luôn được Giáo hội Tây phương sử dụng. Có sự thống nhất trong cách phân chia giữa những người Công giáo Rôma và những người thuộc phái Luther, những người ủng hộ cách sắp xếp của thánh Augustinô. Còn trong Giáo hội Đông phương cũng như tất cả người Do Thái và các tín đồ Tin lành trừ phái Luther, họ cũng dùng mười điều răn nhưng phân chia chúng thành năm điều cho mỗi bảng mà không qui chiếu đến trật tự dựa trên việc tóm kết các điều răn theo đức ái. Dĩ nhiên truyền thống nào cũng đáng quí.

Giáo lý Hội thánh Công giáo cho chúng ta biết chính xác điều mà tôi vừa trình bày:

“Việc phân chia và đánh số các điều răn có thay đổi theo dòng lịch sử. Quyển Giáo Lý này theo cách phân chia của thánh Augustinô đã trở thành truyền thống trong Hội Thánh Công Giáo. Các giáo phái Luther cũng theo cách phân chia này. Các giáo phụ Hy Lạp phân chia hơi khác; cách chia này còn gặp thấy trong Giáo Hội Chính thống và các cộng đoàn Cải Cách.

Mười Điều Răn nêu ra các đòi hỏi của tình mến Chúa yêu người. Ba điều răn đầu đề cập đến tình yêu đối với Thiên Chúa, và bảy điều sau, đến tình yêu đối với tha nhân.

‘Như Chúa đã đúc kết tất cả lề luật và các tiên tri vào trong hai giới răn yêu mến...; Mười Điều Răn cũng được chia thành hai bảng. Ba điều khắc trên một bảng, và bảy điều trên bảng kia’" (GLHTCG 2066-2067).

Vì thế, hoàn toàn sai lầm khi tuyên bố rằng sự phân chia điều răn thứ nhất thành hai điều là một biến thể của đạo Tin lành nhằm phản đối việc tôn kính ảnh tượng của Công giáo, khi dành điều răn thứ hai riêng biệt để chống lại việc thờ các ngẫu tượng. Không phải vậy, các giáo phụ Đông phương, những người dạy phải tôn kính các ảnh tượng thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả các giáo phụ Tây phương, giải thích việc đánh số này như là sự cấm đoán các ảnh tượng trong phụng tự, nhưng chỉ cấm các ảnh tượng ngụy thần; còn Thiên Chúa thật, các thiên thần và các thánh của Người không phải là ngẫu tượng. Và cuối cùng, bất kỳ ai viếng thăm một nhà thờ Tin lành thuộc bất kỳ chi phái nào ngày nay, chí ít sẽ thấy ở đây một số ảnh tượng của Đức Giêsu, các tông đồ hay Thánh gia thất. Nếu bạn thăm một nhà thờ thuộc phái Luther ở Đức, bạn luôn luôn thấy thánh giá trên bàn thờ, các họa tiết của bàn thờ với hình ảnh của Đức Mẹ và Hài nhi, và cả một số các vị thánh không xuất hiện trong Kinh thánh. Quả thật, điều răn thứ hai theo cách đánh số Công giáo, truyền phải tôn kính Thánh danh, dạy chúng ta tôn kính một dấu chỉ, một biểu tượng, một ý niệm khả thính, vì cũng như một bức tranh, một từ ngữ đại diện cho đối tượng mà nó định danh. Về mặt này, có một sự khác biệt nhỏ giữa một từ ngữ và một bức tranh. Và đáng buồn là theo kinh nghiệm của tôi, những người Tin lành mộ đạo hiếm khi kêu danh Đức Chúa cách vô cớ hơn những người Công giáo mộ đạo! Như vậy, họ cũng tôn kính các ảnh tượng, và đôi khi làm điều đó tốt hơn cả chúng ta.

Việc đánh số các điều răn theo một trong những cách đó được các giáo sư kinh viện thời Trung cổ gọi là một sự “phân biệt mà không khác biệt”. Bản văn mười điều răn chúng ta thấy trong Kinh thánh không hề xuất hiện theo kiểu liệt kê, và Đệ nhị luật cho chúng ta biết rằng có mười điều răn trên hai bia đá của Môsê, và do đó, chúng ta phân chia chúng theo thói quen, nhưng tất cả chúng ta đều dùng chung một bản văn.

Qua những gì đã trình bày, tôi cho phép mình nói rằng cách phân chia của thánh Augustinô tốt hơn về mặt huấn giáo. Nó đồng thời dạy về mười điều răn và về bản chất của chúng căn cứ trên điều răn yêu thương, là điều răn gồm hai phần, có nguồn gốc từ sự sáng tạo và sinh sản; và như thế, cách phân chia này giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của mười điều răn.

Trên thực tế, Đấng Cứu độ chúng ta đã đơn giản hóa hơn nữa, bằng cách ban cho chúng ta một điều răn mới và duy nhất: “Hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu thương các con”. Nếu chúng ta giữ trọn được điều duy nhất này, chúng ta sẽ giữ trọn được hai điều và cả mười điều, bất kể chúng được phân chia ra sao. Khi đó, việc thực thi mười điều răn sẽ không chỉ là một bài thánh vịnh; nó sẽ trở thành một bản tình ca! Và Diễm ca sẽ là Xuất hành và Đệ nhị luật mới của chúng ta…

Fr. Hugh Barbour, O.Praem - https://www.catholic.com
Grêgôriô Võ Trần Nhựt chuyển ngữ

Đừng lên mặt với các bậc tiền nhân của bạn!

Khi đọc Cựu ước, đừng cho rằng nó sai lầm chỉ vì có những điểm không tương đồng với cảm thức đương đại.

Cựu ước chứa đựng nhiều luật lệ khác nhau, nhưng chúng lại không phù hợp với cảm thức hiện nay và có thể gây ra những trở ngại cho việc đọc Kinh thánh. Có một số cách để giải quyết chuyện này.

Đầu tiên, đừng cho rằng Cựu ước sai lầm chỉ vì một số lập trường của nó không tương đồng với cảm thức đương đại. Quan niệm rằng tư tưởng của chúng ta ngày nay tự động vượt trội so với tư tưởng của thế giới cổ đại phản ánh một hình thức của lỗi ngụy biện dựa vào cái mới; cần phải chất vấn liệu những tư tưởng hiện đại có vấn đề hay không.

So với những người thời xưa, chúng ta hưởng một cuộc sống rất nhẹ nhàng và thoải mái, vì thế thật hợp lý để chất vấn liệu một số những quan điểm của chúng ta có thể trở nên phi thực tế hay thậm chí là suy đồi hay không.

Tiếp nữa, chúng ta cần thừa nhận rằng, một số các luật lệ bị đặt vấn đề đều nằm trong bộ Ngũ thư (các sách từ Sáng thế đến Đệ nhị luật) và như thế, chúng phản ánh về tình trạng sơ khai của một mặc khải tiệm tiến. Chính Đức Giêsu khẳng định rằng Môsê đưa ra một số luật lệ cho dân Israel chỉ vì họ lòng chai dạ đá (Mc 10,5). Thiên Chúa sẵn lòng khoan thứ cho một số thực hành nhất định của dân Israel trong một thời gian, cuối cùng Người mới mặc khải toàn bộ thánh ý của Người qua Đức Kitô. Vì lẽ ấy, sự khó hiểu do một luật lệ cụ thể mang lại, thực ra lại thể hiện việc Thiên Chúa đã khoan thứ vì dân Israel chưa đạt đến tình trạng tiến triển hơn về văn hóa và tâm linh.

Thứ ba, việc đọc cẩn trọng những bản văn luật cho thấy rằng, thay vì hàm ý một sự cho phép, lề luật thực ra đang cố gắng hạn chế thiệt hại xảy ra trong một tình huống. Chẳng hạn, một số người cảm thấy bị sốc bởi những quy định nói về điều mà đàn ông Israel có thể làm khi họ bắt giữ được phụ nữ trong giao chiến và muốn cưới họ (Đnl 21,10-14), tuy nhiên, mục đích của luật này thật ra là để kiềm chế những hành vi khác của nam giới và cung cấp những sự bảo vệ cho các tù nhân nữ.

Theo đó, người đàn ông không được phép cưới người phụ nữ ngay lập tức. Có một giai đoạn chờ đợi mà người phụ nữ được ăn vận kém hấp dẫn và để tang cho cha mẹ mình, khoảng thời gian này giúp người đàn ông có cơ hội xem xét lại (Đnl 21,12-13). Bản văn cảnh báo người đàn ông, người vẫn cố muốn cưới người phụ nữ này, rằng anh ta đã “làm nhục cô ấy” (Đnl 21,14), và nếu anh ta quyết định ly dị, thì cô ta có quyền đi bất cứ đâu mình muốn, bao gồm việc quay trở lại nhà mình. Người đàn ông không được phép bán hay đối xử với cô ta như một nô lệ. Do đó, bản văn có mục đích hạn chế cách mà những người Israel đối xử với tù nhân nữ.

Thứ tư, chúng ta cần hiểu về những nguyên tắc mà lề luật đặt nền tảng trên đó. Chẳng hạn, nhiều người thời nay phê phán những tuyên bố gây ấn tượng khắc nghiệt của Cựu ước, như việc cho phép chuyện “mắt đền mắt, răng đền răng”. Tuy nhiên, hiểu cách chính xác, những đoạn văn này diễn tả về nguyên tắc công bằng và hướng đến việc tăng triển ích chung.

Ba đoạn văn đề cập đến nguyên tắc “mắt đền mắt” gồm: Xuất hành 21,22-25; Lêvi 24,17-21 và Đệ nhị luật 19,16-21. Đoạn văn thứ nhất giải quyết tình huống những người đàn ông đánh nhau và vô tình gây thương tổn cho một phụ nữ có mang, làm cô ta sẩy thai. Đoạn văn thứ hai giải quyết việc một người đàn ông tấn công và làm thương tật người khác. Bản văn thứ ba giải quyết trường hợp một người làm chứng gian ở tòa để hãm hại người vô tội. Mỗi bản văn đều xuất hiện một qui tắc chung: “Nếu có gây tổn thương, thì ngươi phải lấy mạng đền mạng,  mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, vết bỏng đền vết bỏng, vết thương đền vết thương, vết bầm đền vết bầm” (Xh 21,23-25).

Lưu ý rằng những đoạn văn này có mục đích để tòa án sử dụng khi một tội ác đã được thực hiện. Chúng không phải là những chỉ dẫn dạy người ta trả thù cá nhân. Mục đích của việc có một hệ thống tòa án là để ngăn con người thực hiện những hành vi này bằng cách đảm bảo cho công lý được thực thi khi bên vô tội bị làm hại.

Nếu con người tự trả thù, họ thường thực hiện điều đó cách thái quá. Chẳng hạn, một người bị gây thương tích hay nhìn thấy người mình yêu thương bị thương tổn có thể sẽ sát hại thủ phạm. Các tòa án và luật lệ tồn tại để giữ cho điều này không diễn ra. Để thực hiện đúng vai trò của mình, các tòa án cần thực thi luật pháp cách công bằng. Nếu họ quá khoan nhượng, mọi người có thể giải quyết vấn đề theo cách của riêng họ. Do đó mới có những đoạn về “mắt đền mắt”. Chúng hướng dẫn cho các tòa án đưa ra hình phạt phù hợp với tội phạm, đây là một nguyên tắc nền tảng của công lý. Nguyên tắc này thúc đẩy công ích và trật tự xã hội bằng cách ngăn cản người khác tự tiện trả thù.

Trong một thế giới không có hệ thống nhà tù với số lượng lớn, điều này có thể được hiểu theo nghĩa đen là “mắt đền mắt”, dù nó không luôn là như vậy. Sách Dân số 35,31 định rõ không một khoản tiền chuộc nào được chấp nhận trong trường hợp giết người, điều này ám chỉ rằng trong những trường hợp ít nghiêm trọng hơn, bên phạm tội có thể trả một khoản bồi thường. Như vậy, một người có thể tránh “mắt đền mắt” nếu trao trả một khoản bồi thường thích đáng cho bên bị hại.

Công lý cũng có thể được lòng thương xót tôi luyện theo những cách khác. Vì lẽ đó mà Đức Giêsu đã khuyên các cá nhân “hãy giơ má kia nữa” thay vì cứ bám sát vào thứ công lý “mắt đền mắt” (Mt 5,38-39).

Grêgôriô Võ Trần Nhựt chuyển ngữ

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan