LƯỢC SỬ KINH MÂN CÔI

04-05-2023 3,080 lượt xem

Cha. Willy Raymond, C.S.C. – Dòng Thánh Giá, nói: “Ngoài Bí Tích Thánh Thể, không có kinh nguyện nào trên toàn thế giới phổ biến hơn Kinh Mân Côi.”

Mọi người ở mọi lứa tuổi và sắc tộc treo tràng hạt trên kính chiếu hậu ô tô và xe tải. Những người nổi tiếng Hollywood đeo tràng hạt quanh cổ như một biểu tượng thời trang. Hàng triệu người Công giáo đã được yên nghỉ với lòng thành kính siết chặt tràng hạt khi nằm dưới lòng đất chờ đợi tiếng gọi Vinh Quang Phục Sinh. Một số tu sĩ đeo tràng hạt Mân Côi lớn quanh thắt lưng như một phần của thói quen của dòng. Bệnh nhân tại các bệnh viện trên khắp thế giới lần hạt trong những giờ đêm đầy lo lắng, hy vọng có được sức khỏe hoặc chuẩn bị cho sự kết thúc cuộc đời trên trái đất.

Mọi người đều đọc Kinh Mân Côi: người hành hương đến Aparecida, Compostela, Lourdes, Fatima, Guadalupe, người đi ô tô, xe lửa, máy bay, tàu thủy, xe máy, chạy bộ, vận động viên marathon, chiến sĩ, nông dân, linh mục, vua chúa, hoàng hậu, thủ tướng, tổng thống, mọi người từ mọi tầng lớp xã hội và sắc tộc đều cầu Kinh Mân Côi. Đa số là người Công giáo, cũng có một số người Tin Lành theo giáo phái Phúc Âm.

Ngoài Bí Tích Thánh Thể, không có kinh nguyện nào trên toàn thế giới phổ biến hơn Kinh Mân Côi. Nguồn gốc từ đâu và tại sao Kinh Mân Côi lại trở nên phổ biến ở nhiều biên giới, nền văn hóa và thời đại như vậy? Lịch sử của Kinh Mân Côi chứa đầy những sự kiện, sự thật, truyền thuyết, huyền thoại và lòng đạo đức chân chính. Trong hơn 600 năm, Kinh Mân Côi trở thành dấu ấn của đời sống sùng đạo Công giáo, đã và đang là một hình thức cầu nguyện hấp dẫn nhất đối với vô số triệu người.

Nguồn gốc Kinh Mân Côi bắt nguồn từ hai nguồn riêng biệt: nguồn thứ nhất đã 3000 năm tuổi và tìm thấy trong các Thánh Vịnh được cho là của Vua Đavít trong Kinh Thánh Cựu Ước tiếng Do Thái; thứ hai là thực hành theo dõi những lời cầu nguyện bằng cách đếm bằng hạt, đá cuội, dấu trên gỗ hoặc đá. Thực hành này thấy có trong các tôn giáo lớn trên thế giới như Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo và Hồi giáo.

Từ 150 Thánh Vịnh và từ các bản văn đầu tiên bằng tiếng Do Thái vào khoảng thời gian của các vị vua Đavít và Salômôn. Vào thời Chúa Giêsu, người Do Thái đã cầu nguyện bằng các Thánh Vịnh này, Ngài cũng đã cầu nguyện và trích dẫn chúng ngay trên thập giá khi hấp hối: “Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?” (Tv 22:2a; x. Mt 27:46; Mc 15:34)

Các tu sĩ Kitô giáo thời kỳ đầu đã trốn vào sa mạc để thoát khỏi những phiền nhiễu của thế giới, để tìm kiếm Chúa và theo đuổi sự thánh thiện, đã cầu nguyện bằng các Thánh Vịnh theo từng bộ 50. Họ tưởng tượng mình đang cầu nguyện bằng các Thánh Vịnh cùng với Vua Đavít, các tiên tri và các thánh, những người lớn tuổi và cùng với Chúa Giêsu. Họ cùng nhau cầu nguyện bằng Thánh Vịnh viết trên giấy cói hoặc da cừu. Đầu thời Trung cổ, nhiều tu sĩ không thể đọc hoặc hiểu tiếng Latin – ngôn ngữ của Kinh Thánh.

Hầu hết những người bên ngoài tu viện không có cuộn giấy hoặc vật tương tự như vậy, họ chưa bao giờ học đọc và viết. Tuy nhiên, các tu sĩ mù chữ làm việc trên cánh đồng và nhiều giáo dân sùng đạo muốn chia sẻ đời sống cầu nguyện của các tu sĩ biết chữ và của Giáo Hội. Vì họ không biết tiếng Latinh và không thể ghi nhớ tất cả 150 Thánh Vịnh, nên họ dần dần bắt đầu thay thế các Kinh Lạy Cha (Paternosters) cho các Thánh Vịnh. Họ cần một cách để theo dõi xem họ đã đọc bao nhiêu lần, vì vậy họ đã gom những lời cầu nguyện thành bộ 50, giống như các Thánh Vịnh. Họ vẫn cần một cách để đếm, vì vậy họ đã lấy những viên sỏi nhỏ hoặc những vật dụng khác, cuối cùng trở thành chuỗi hạt, tương tự như những chuỗi hạt được sử dụng trong các tôn giáo khác để đếm những lời cầu nguyện và hành động sùng kính.

Có một câu chuyện thú vị về một ẩn sĩ tên là Paul của Ai Cập vào giữa những năm 300, người sẽ lấp đầy quần áo của mình bằng 300 viên đá nhỏ và ném một viên đi cho mỗi lời kinh mà ông đã đọc. Càng cầu nguyện, ông càng trở nên nhẹ nhàng. Câu chuyện này rất có khả năng là ngụy tạo, nhưng ở đây chúng ta thấy sự hợp nhất của hai nguồn cho Kinh Mân Côi: Thánh Vịnh của Vua Đavít và việc đếm hạt từ thời kỳ tiền Kitô giáo.

Một câu chuyện khác, được cho là có thật vào cuối thế kỷ 19 và 20, là câu chuyện Đức Mẹ hiện ra với Thánh Đa Minh vào năm 1208 để trao cho ngài chuỗi Mân Côi như chúng ta biết ngày nay. Theo câu chuyện này, Đức Mẹ đã khuyến khích Đa Minh và các tu sĩ Đa Minh truyền bá lòng sùng kính Mẹ và Con của Mẹ qua Kinh Mân Côi với sự đảm bảo rằng nhiều ân sủng sẽ đem lại lợi ích cho tất cả những ai lần chuỗi Mân Côi.

Tuy nhiên, theo Cha Richard Gribble, C.S.C., phải đến thế kỷ XV, Kinh Mân Côi mới bắt đầu hình thành như chúng ta biết ngày nay. Trong thời kỳ này, các bí ẩn và những lời cầu nguyện riêng lẻ bắt đầu kết hợp với nhau. Kinh “Lạy Cha” trích từ Phúc Âm Mátthêu, chương 6. Phần lớn kinh “Kính Mừng” cũng đến từ Kinh Thánh, là sự kết hợp của hai lời chào: lời chào đầu tiên của Tổng Thần Gabriel khi truyền tin và lời chào thứ hai của Bà Chị Êlisabét trong cuộc thăm viếng từ Phúc Âm Luca. Lời cầu “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen” là từ một lời cầu phổ biến của các tín hữu vào thời đó.

Ngay sau Dấu Thánh Giá, Kinh Tin Kính của Các Tông Đồ đã có từ lâu đời. Một đề cập sớm về cụm từ “Kinh Tin Kính của Các Tông Đồ” xuất hiện trong một lá thư của Thánh Ambrôsiô năm 390 sau công nguyên, từ một công nghị ở Milan. Kinh Tin Kính của Các Tông Đồ có thể gắn liền với niềm tin, được chấp nhận rộng rãi vào thế kỷ thứ 4 rằng, dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, mỗi tông đồ trong Nhóm Mười Hai đã đóng góp một điều khoản vào 12 điều trong Kinh Tin Kính của Các Tông Đồ. Mặc dù không ở dạng như hiện nay cho đến năm 341 sau công nguyên, nhưng Kinh Tin Kính của Các Tông Đồ thể hiện một cách trung thực những lời giảng dạy mà các tông đồ đã mang đến Rôma và phần còn lại của thế giới được biết đến.

Kinh Salve Regina (Kính Chào Nữ Vương) có từ thế kỷ XI và thường được cầu nguyện khi kết thúc việc đọc kinh Mân Côi. Mặc dù những lời cầu nguyện này đã thịnh hành trong 300 năm, nhưng cho đến Công Đồng Trentô (1545-1563) mới được sắp xếp theo hình thức cuối cùng mà chúng ta biết.

Tên của lời cầu này có nguồn gốc thực sự và thú vị. Đức Mẹ gắn liền với thời Trung cổ với hoa hồng và vườn hoa hồng. Hoa hồng tượng trưng cho Đức Mẹ. Do đó có tên là Kinh Mân Côi. Năm 1470, Giáo Hội công nhận Hội Mân Côi. Sự công nhận chính thức của Giáo Hội đã được giáo hoàng ban hành năm 1571.

Cùng năm đó, ĐGH Piô V yêu cầu tất cả các Kitô hữu cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi để giúp các Kitô hữu bảo vệ Âu châu Kitô giáo khỏi cuộc xâm lược của người Hồi giáo trong trận đại hải chiến Lepanto. Ngày 7 tháng 10, hạm đội nhỏ hơn của Kitô giáo đã giành được chiến thắng bất ngờ và ngoạn mục. Ngày đó đã được cử hành là Lễ Đức Mẹ Mân Côi.

Năm 1597, ĐGH Sixtô V đã thêm danh xưng “Giêsu” vào Kinh Kính Mừng để biến lời kinh đó thành hình thức cuối cùng. Thế kỷ XVII, Thánh Louis de Montfort và “Bí Mật Kỳ Diệu của Kinh Mân Côi” đã đại diện cho một bước tiến lớn trong việc phổ biến Kinh Mân Côi. ĐGH Lêô XIII (1878-1903) đã viết 12 Thông điệp và 5 Tông thư về Kinh Mân Côi. Ngài là người nhiệt thành ủng hộ sức mạnh của Kinh Mân Côi, thấy các Mầu Nhiệm Kinh Mân Côi tập trung vào cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô hơn là vào Đức Maria. Đấng đáng kính Piô XII (1939-1958), Thánh Gioan XXIII (1958-1963), Thánh Phaolô VI (1963-1978), Thánh Gioan Phaolô II (1978-2005) đều dạy về Kinh Mân Côi và khuyến nghị các tín hữu trong các Tông thư chính thức hoặc Tông huấn.

Đấng đáng kính Patrick Peyton, C.S.C., đã khuyến khích các Nghị Phụ Công Đồng Vatican II đưa việc cầu nguyện gia đình gọi là “Giáo Hội Tại Gia” vào Hiến Chế về Giáo Hội (Lumen Gentium) và linh đạo gia đình trong Giáo Hội trong Thế Giới Hiện Đại (Gaudium et Spes). Ngài nói ngắn gọn: “Gia đình cầu nguyện bên nhau sẽ ở bên nhau.” Câu này đã trở thành một trong những phương châm phổ biến nhất trên thế giới.

Đấng đáng kính Fulton Sheen và Thánh Teresa Calcutta đều sử dụng cụm từ này thường xuyên và nhiều người đã gán sai cụm từ này cho mỗi người trong số họ. Bình luận về việc chỉ trích Kinh Mân Côi là lặp đi lặp lại vô ích, Đức TGM Sheen đặt câu hỏi: “Bạn có bao giờ mệt mỏi khi nghe người mình yêu nói ‘Anh yêu em’ hay không?”

Thánh Gioan Phaolô II đã nhiều lần nói rõ rằng Kinh Mân Côi là kinh nguyện ưa thích của ngài. Ngài ủng hộ Kinh Mân Côi như là Trường Học của Đức Maria, và vào năm 2002, ngài bắt đầu Tông Thư Về Kinh Mân Côi của Đức Trinh Nữ Maria bằng cách gọi lời cầu nguyện này là “đơn giản nhưng sâu sắc.” Với tông thư đó, ngài kêu gọi mở Năm Kinh Mân Côi và giới thiệu lần bổ sung quan trọng đầu tiên cho Kinh Mân Côi sau 430 năm. Ngài đã thêm năm Mầu Nhiệm Sáng, tập trung vào sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Các mầu nhiệm này hiện nay được chấp nhận như là một sự tiến hóa trong lịch sử lâu dài của Kinh Mân Côi.

Với tư cách là Giáo hoàng, Thánh Gioan Phaolô II đã mời gọi các Kitô hữu chưa bao giờ lần chuỗi Mân Côi nên cân nhắc việc đọc Kinh Mân Côi và mời những người đã bỏ Kinh Mân Côi khám phá lại. Khi làm như vậy, ngài nhắc nhở mọi người rằng Kinh Mân Côi có một số lợi ích thiêng liêng mạnh mẽ:

1. Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện tập trung vào Chúa Kitô.

2. Kinh Mân Côi là phương thế hữu hiệu để chiêm ngắm Thánh Nhan Chúa Kitô.

3. Kinh Mân Côi là vật kỷ niệm mà Đức Mẹ không ngừng đặt trước mặt chúng ta các mầu nhiệm của Con Mẹ.

4. Kinh Mân Côi là nguồn vô giá để tự khám phá và hội nhập.

5. Kinh Mân Côi là cuộc gặp gỡ tuyệt vời của tình thân thiết.

6. Kinh Mân Côi liên kết chúng ta với mối liên kết giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

7. Kinh Mân Côi là nguồn an ủi tối thượng.

8. Kinh Mân Côi là bản tóm lược Tin Mừng.

ĐGH Bênêđictô XVI đọc Kinh Mân Côi mỗi ngày vào buổi chiều đến Vườn Vatican. ĐGH Phanxicô luôn lần hạt Mân Côi và viếng Đức Mẹ, Đấng bảo vệ công dân Rôma, tại Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả ở Rôma trước khi đi nước ngoài và khi trở về.

Khi thiên niên kỷ thứ ba của Kitô giáo tiến về phía trước, chúng ta thấy Kinh Mân Côi một lần nữa biến thành phương thế “đơn giản nhưng sâu sắc” để mọi người ở mọi lứa tuổi bước qua những sự kiện tuyệt vời, cảm động và đầy cảm hứng trong cuộc đời của Chúa Kitô, được hướng dẫn bởi tình yêu thuần khiết, với niềm tin tưởng chắc chắn vào Đức Maria, Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, và Mẹ của chúng ta.

Tôi Tớ Chúa Romano Guardini nói: “Việc cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi là nán lại trong lãnh địa của Mẹ Maria. Ở đó bạn sẽ cảm nghiệm được sự thật, vẻ đẹp và sự tốt lành của Con Thiên Chúa, người mà trí nhớ của Người trở nên sống động và trở thành một kho tàng ân sủng.” Thảo nào Phúc Âm nói: “Đức Maria hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng.” (Lc 2:51)

Hãy lần hạt Mân Côi hằng ngày! Bạn sẽ nhận thấy Đức Maria sống động, sẽ trải nghiệm sự thay đổi trong cuộc sống đầy ân sủng và lòng thương xót.

Fr. Wilfred J. Raymond, C.S.C. - https://www.catholicmom.com
Trầm Thiên Thu chuyển ngữ

ĐỔI ĐỜI VỚI KINH MÂN CÔI

HƯỚNG VỀ MẸ MARIA KHI THẤT VỌNG

Người ấy đang trải qua một cơn bão nội tâm khủng khiếp. Dường như không có ánh sáng cuối đường hầm, dường như vô vọng, không lối thoát! Mất ăn, mất ngủ, không cần bất cứ ai và bất cứ điều gì. Cuộc sống dường như không thể chịu đựng được. Người ấy như thể đang bị treo trên một vách đá dựng đứng, cuộc sống có vẻ bấp bênh quá!

Đó là trạng thái nội tâm của một trong những vị thánh được biết đến nhiều nhất, được yêu mến nhất và được ngưỡng mộ nhất trong Giáo hội Công giáo. Đúng! Đó là trạng thái nội tâm gần như tuyệt vọng mà Thánh Phanxicô Salê (François de Sales) đã trải qua!

Turn to Mary In Times of Desolation

BÀN TAY CỨU GIÚP

Khi tất cả dường như ảm đạm, tăm tối, mù mịt, hầu như không còn hy vọng, chàng trai trẻ Phanxicô Salê bước vào một nhà thờ và cầu nguyện: “Lạy Chúa, ngay cả khi số phận của con là địa ngục, thì xin ít nhất cũng ban cho con ân sủng để yêu Chúa ngay cả ở đó!”

Tuy nhiên, Thiên Chúa và Đức Mẹ không bao giờ bỏ rơi con cái, đặc biệt là trong những điều kiện tối tăm và ảm đạm nhất. Bình minh bừng lên và mặt trời chiếu soi trong những linh hồn tín thác vào Chúa Giêsu qua Đức Mẹ.

Mặc dù Phanxicô Salê đã bước vào một nhà thờ dành riêng cho Đức Trinh Nữ Maria là Notre Dame de la Victoire – Đức Mẹ Chiến Thắng, nhưng tất cả dường như đã biến mất đối với chàng trai trẻ Phanxicô Salê. Tuy nhiên, ở đó trong nhà thờ xinh đẹp được dâng kính Đức Mẹ chiến thắng, đặc biệt là trong linh hồn của những người con yêu dấu của Mẹ, có một bức tượng Đức Mẹ và một lời cầu nguyện dành riêng cho Mẹ.

MEMORARE – XIN HÃY NHỚ

Lời nguyện dành riêng cho Đức Mẹ là Kinh Hãy Nhớ – Memorare. Theo truyền thống, kinh này được cho là của Thánh Bênađô. Quỳ xuống trước tượng Đức Mẹ với lời cầu nguyện của Thánh Bênađô, chàng trai trẻ Phanxicô Salê đã mở rộng tâm trí và cầu nguyện với tất cả sự nhiệt thành của tâm hồn mình: “Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Ðức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp mà Ðức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời…”

TỰ DO – SỰ GIẢI PHÓNG QUA ĐỨC MẸ

Sau khi cầu nguyện với Đức Mẹ bằng Kinh Hãy Nhớ, Phanxicô Salê đã trải nghiệm điều dường như là một phép lạ trong đời mình. Đám mây dày đặc, không xuyên thấu, ảm đạm và đen tối hoàn toàn bao trùm và nhấn chìm anh trong vô vọng, đột nhiên tiêu tan hết. Mặt trời xuyên qua đám mây, ánh sáng le lói cuối đường hầm, sự u ám và chán nản của anh được chuyển hóa thành bình an và niềm vui. Phanxicô Salê có thể nghe thấy tiếng chim hót líu lo và ngửi thấy mùi hương thơm ngát của những bông hoa. Cuối cùng, Thiên Chúa đã đưa Phanxicô Salê ra khỏi nơi dường như là bãi cát lún tuyệt vọng đang chìm xuống kia!

Bằng cách nào vậy? Nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria. Kế hoạch của Thiên Chúa không phải là kế hoạch của chúng ta, và kế hoạch của Ngài rất bí ẩn. Ngài muốn giải cứu chàng trai trẻ Phanxicô Salê qua lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria qua Kinh Hãy Nhớ.

THỬ THÁCH TRƯỚC CHIẾN THẮNG

Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chàng trai Phanxicô Salê một vai trò rất quan trọng trong Giáo hội cũng như thế giới nói chung: linh mục, giám mục, người sáng lập, nhà văn, tác giả, nhà truyền giáo, linh hướng, được mọi người ngưỡng mộ. Đó là những vai trò mà Thánh Phanxicô Salê sẽ đảm nhận trong trái tim của Giáo hội Công giáo. Tuy nhiên, trước tiên Phanxicô Salê phải chinh phục kẻ thù hùng mạnh đã cám dỗ mình đến sự nản lòng và gần như tuyệt vọng. Cái gì cũng có cái giá nhất định!

LINH KHÍ CHIẾN THẮNG

Vì thế, khi bị cám dỗ ngã lòng, Phanxicô Salê vẫn đọc Kinh Hãy Nhớ. Ma quỷ, kẻ thù của sự cứu rỗi chúng ta, không thể khuất phục được quyền năng, sự hiện diện và lời cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria. Ngay cả Thánh Danh của Đức Trinh Nữ Maria cũng khiến kẻ thù sợ hãi, hoảng loạn, và phải bỏ chạy.

Sau khi đã suy nghĩ ngắn gọn về một giai đoạn trong cuộc đời của vị thánh vĩ đại Phanxicô Salê, người đã thực sự được giải cứu nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria – Đức Mẹ Chiến Thắng, và Kinh Hãy Nhớ, chúng ta hãy cố gắng bước theo dấu chân của các thánh, những người bạn đích thực của Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

“Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Ðức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp mà Ðức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời…”

HÀNH ĐỘNG KHI CÔ QUẠNH

Trong “Quy Tắc Nhận Thức Linh Hồn,” Thánh Inhaxiô Loyola đề cập tình trạng hoang vắng, những gì chúng ta nên làm và nên tránh trong tình trạng cô quạnh đó. Chàng trai Phanxicô Salê đã trải qua trạng thái hoang vắng rất dữ dội. Hoang vắng là gì? Đó là khi chúng ta thiếu niềm tin, thiếu hy vọng, thiếu tình yêu. Đó là khi chúng ta cảm thấy buồn bã, chán nản, thất vọng, bị lôi cuốn vào những thứ thấp hèn và nhục dục.

Nói cách khác, chúng ta chỉ muốn đầu hàng và bỏ cuộc! Chúng ta muốn hét to lên: “Cuộc sống này vô ích! Ý nghĩa và mục đích chẳng là cái quái gì cả!”

Ngoài ra, sau khi đã học được trong bài học ngắn về thực tế và ý nghĩa của sự hoang vắng, chúng ta phải chống lại nó và chiến thắng nó bằng lời cầu nguyện nhiệt thành. Nên cố gắng cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria bằng lời cầu của Thánh Bênađô, lời cầu đã kéo Thánh Phanxicô Salê ra khỏi hố sâu của sự tuyệt vọng, đó là Kinh Hãy Nhớ.

AI CŨNG CÓ THỂ THẤT VỌNG

Vì vậy, hãy chuẩn bị tinh thần cho trận chiến tâm linh. Tất cả chúng ta đều được mời gọi trở thành những người lính của Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong cuộc đời rất ngắn ngủi mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên Đàng.

Khi tất cả dường như xám xịt, tối tăm, ảm đạm, mù mịt và vô nghĩa, thực sự không có bất kỳ hy vọng nào, thì hãy hướng tâm trí, trái tim và linh hồn của bạn lên Đức Trinh Nữ Maria, và Mẹ sẽ không bao giờ làm bạn thất vọng! Đức Mẹ sẽ đưa bàn tay dịu dàng nhưng rắn chắc của Mẹ ra và kéo bạn ra khỏi bãi cát lún của sự bất lực của chính bạn!

Giống như Thánh Phanxicô Salê, Thiên Chúa đang kêu gọi bạn ra khỏi bóng tối để đến với ánh sáng kỳ diệu của Ngài qua sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria! Hãy giao phó toàn bộ con người bạn cho Đức Mẹ, và Đức Mẹ sẽ không bao giờ làm bạn thất vọng, dù sống hay chết!

“Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Ðức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp mà Ðức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời…”

Fr. Ed Broom, OMV - https://catholicexchange.com

Trầm Thiên Thu chuyển ngữ

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.