DÒNG TÌNH THƯƠNG XÓT - MẪU TÂM VÔ NHIỄM

05-06-2018 4,005 lượt xem

(Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, năm B)

[Hs 11,1b.3-4.8c.9; Ep 3,8-12.14-19;  Ga 19,31-37]

THÁNH TÂM CHÚA – NƠI NGHỈ NGƠI MUÔN THUỞ

LÒNG XÓT THƯƠNG – CÕI HỒNG PHÚC DẠT DÀO

Cố Linh mục Nhạc sĩ Huyền Linh có bài thánh ca “Thánh Tâm Chúa Giêsu” với ca từ đẹp và ngọt ngào: “Thánh Tâm Chúa Giêsu nguồn êm ái dịu dàng, xin hãy ban xuống hồn con ngọn lửa say yêu một Chúa. Thánh Tâm Chúa Giêsu tràn lan niềm thương xót, xin thương những người đã trót vô tình vấp phạm đến Chúa nhân từ”. Bài thánh ca này rất quen thuộc với người Công giáo, giai điệu đơn giản nhưng có sức hâm nóng lòng người – đặc biệt trong Tháng Sáu.

Mỗi khi nói đến trái tim, người ta ngụ ý đề cập tình yêu, trái tim và tình yêu là một hệ lụy không thể tách rời. Về tâm linh, Thánh Tâm Chúa Giêsu là nguồn mạch yêu thương, dạt dào dòng thương xót, như Thánh Gioan đã định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8 và 16). Chỉ có những gì từ trái tim mới có thể đến với trái tim: Ngài không cần biết chúng ta là ai, là gì, và đối xử với Ngài thế nào, Ngài chỉ biết một điều là “yêu đến tận cùng, yêu bằng mọi giá, yêu vô điều kiện”. Vâng, Ngài chỉ biết một điều: Vì mỗi chúng ta là chính chúng ta, được tạo thành nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Đây là Phương trình Hồng ân của Ngài: Thánh Tâm Chúa Giêsu = Tình Yêu + Lòng Thương Xót + Ơn Cứu Độ.

Vì muốn chúng ta thoát khỏi “vòng kim cô” tội lỗi để được cứu độ, Chúa Giêsu đã ân cần nhắn nhủ: “Anh em hãy mang lấy ách của Tôi, và hãy học với Tôi, vì Tôi có lòng HIỀN HẬU và KHIÊM NHƯỜNG. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29). Tiêu chí xem chừng đơn giản lắm, thế nhưng lại không hề dễ thực hiện – nếu không quyết tâm nỗ lực triệt hạ “cái tôi” của chính mình.

Trong khoảng thời gian từ 1968-1969, Chúa Giêsu đã mặc khải cho Mẹ Carmel tại Milan (Ý). Ngày 20-4-1968, Mẹ Carmel hỏi: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa muốn con làm gì?”. Chúa Giêsu nói: “Hỡi con gái của Ta, con hãy viết. Con sẽ làm Tông Đồ Tình Yêu Đầy Thương Xót của Ta. Ta sẽ chúc lành cho con. Ta sẽ đổ xuống trên con muôn vàn ơn Thánh và những ân thưởng lớn lao. Ta cảm ơn con đã phổ biến Thánh Nhan của Ta. Ta sẽ chúc lành cho các gia đình trưng bày hình ảnh của Ta, và Ta sẽ cải hoán những kẻ tội lỗi sống trong các gia đình đó. Ta sẽ giúp kẻ lành tự cải tiến thêm, và những kẻ nguội lạnh trở nên sốt sắng hơn. Ta sẽ để mắt đến các nhu cầu của họ và sẽ giúp họ trong mọi sự cần thiết, vật chất cũng như siêu nhiên”. Và rồi chính Ngài đã minh định: “TA LÀ GIÊSU ĐẦY LÒNG THƯƠNG XÓT”.

Chắc chắn rằng cái gì cũng có quy luật hoặc quy ước, dù mức độ có khác nhau. Vì con người thoái hóa nên phải có luật để giữ trật tự xã hội, củng cố kỷ cương nghiêm minh. Vậy luật có sau con người để phục vụ con người, nghĩa là luật vì con người, chứ con người không lệ thuộc luật. Tình yêu có luật của tình yêu. Ngay cả tự do cũng có luật, chứ không phải tự do là cứ “xả láng”. Một gia đình hoặc một nhóm (dù chỉ vài người, thậm chí chỉ hai người) vẫn cần có luật. Và chính mỗi người cũng phải có luật riêng cho chính mình, không thể một mình rồi muốn làm gì thì làm.

Thời Cựu Ước, khi ông Ê-li-a vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó, Đức Chúa đã nói với ông: “Ê-li-a, ông làm gì ở đây?” (1 V 19:9). Không đợi ông trả lời, Ngài nói thêm: “Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua” (1 V 19:11). Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa KHÔNG ở trong cơn gió bão; sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa KHÔNG ở trong trận động đất; sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng KHÔNG ở trong lửa; sau lửa có tiếng gió hiu hiu. Thiên Chúa Ở TRONG “gió hiu hiu”. Điều đó chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa nhân hiền, dịu dàng, không muốn những gì bạo động.

Ông Ê-li-a vừa nghe tiếng đó thì lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang. Ông không dám nhìn Ngài, phần vì ông thấy mình bất xứng, phần vì ông sợ người ta nhận diện. Bấy giờ lại có tiếng hỏi như lần trước: “Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây?” (1 V 19:13). Ông thưa: “Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, NUNG NẤU con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con” (1 V 19:14).

Các ngôn sứ khác đều bị thủ tiêu, chỉ còn lại ông Ê-li-a, nhưng lòng nhiệt thành vẫn thôi thúc ông dù biết mình đang gặp nguy. Chắc chắn là Thiên Chúa đã tiền định sứ vụ cho ông. Rồi Đức Chúa mách nước: “Ông hãy đi con đường ông đã đi trước qua sa mạc cho tới Đa-mát mà về. Tới nơi, ông sẽ xức dầu phong Kha-da-ên làm vua A-ram; còn Giê-hu con của Nim-si, ông sẽ xức dầu tấn phong nó làm vua Ít-ra-en. Ê-li-sa con Sa-phát, người A-vên Mơ-khô-la, ông sẽ xức dầu tấn phong nó làm ngôn sứ thay cho ông” (1 V 19:15-16). Một sợi tóc rơi xuống còn không nằm ngoài sự quan phòng và tiền định của Thiên Chúa kia mà! (x. Mt 5:36; Lc 21:18). Rất hợp lý khi Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”. Từ xưa, Thánh Vịnh gia cũng đã từng cầu nguyện tương tự: “Lạy Thiên Chúa, con tin tưởng vào Ngài” (Tv 91:2). Tính duy nhất rất kỳ diệu!

Chắc chắn chẳng có ai xứng đáng trước mặt Thiên Chúa – dù người đó là ai và là gì, nhưng thật may mắn cho chúng ta, vì Thánh Tâm Chúa Giêsu vẫn luôn đầy tràn Tình Thương Yêu và giàu Lòng Thương Xót. Ngài chỉ chờ chúng ta kêu cầu:“Lạy Chúa, cúi xin Ngài nghe tiếng con kêu, xin thương tình đáp lại” (Tv 27:7). Chỉ đơn giản thế thôi, nhưng hiệu quả vô cùng, bởi vì chắc chắn Ngài sẽ ban cho chúng ta cả những điều chúng ta chưa xin, hoàn toàn ngoài sức tưởng tượng. Như vậy, đừng bao giờ quên tự nhủ: “Hãy tìm kiếm Thánh Nhan” (Tv 27:8). Chúng ta tin tưởng và miệt mài tìm kiếm Thánh Nhan Ngài, Ngài chẳng bao giờ ẩn mặt để chúng ta phải thao thức.

Tuy nhiên, tất cả chúng ta chỉ là những tội nhân bất xứng, thế nên luôn phải van nài: “Tôi tớ Ngài đây, xin đừng giận mà ruồng rẫy, chính Ngài là Đấng phù trợ con. Xin chớ bỏ rơi, xin đừng xua đuổi, lạy Thiên Chúa, Đấng cứu độ con” (Tv 27:12). Cứ “vững vàng tin tưởng sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống” (Tv 27:13). Đừng ngần ngại, vì Thánh Tâm Chúa Giêsu luôn đầy lòng thương xót: “Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào! Hãy cậy trông vào Chúa!” (Tv 27:14). Lời động viên rất cần thiết.

Mỗi thời mỗi khác, mỗi phạm vi mỗi khác. Cựu Luật khác Tân Luật, Thiên Luật khác Nhân Luật, Thánh Luật khác Thế Luật. Chúa Giêsu minh định: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5:27-28). Khi thấy một phụ nữ đẹp mà nhìn thì không sao, hoa đẹp sao lại không ngắm? Đúng, nhưng chỉ có quyền ngắm nhìn và thưởng lãm tác phẩm mỹ thuật do Thiên Chúa đã tạo nên mà thôi; nhưng nếu NHÌN và HAM MUỐN thì mới nguy hiểm. Chúa Giêsu gọi động thái đó là “ngoại tình” – tư nghĩ đáng sợ lắm. Và các loại ham muốn khác cũng bị Chúa kết án tương tự!

Ngũ quan có liên quan phần rỗi. Chúa Giêsu phân tích: “Nếu mắt phải của anh LÀM CỚ cho anh sa ngã thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. Nếu tay phải của anh LÀM CỚ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục” (Mt 5:29-30). Luật Cựu Ước dạy: “Ai rẫy vợ thì phải cho vợ chứng thư ly dị”. Còn Chúa Giêsu thiết lập Luật Tân Ước. Ngài cho biết: “Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình” (Mt 5:32). Quá rõ ràng, không hề mơ hồ!

Ngày xưa, ai “rẫy vợ và dâng một con cừu đực để làm lễ đền tội” (Er 10:19) thì được coi là xong. Thiên Chúa không ra luật đó, tất cả chỉ vì người ta muốn thế, như Chúa Giêsu đã nói: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ THUỞ BAN ĐẦU, KHÔNG CÓ THẾ ĐÂU” (Mt 19:8). Thiên Chúa cũng đã xác định: “Ta ghét việc rẫy vợ và kẻ lấy thói bạo tàn làm áo che thân. HÃY COI CHỪNG và CHỚ PHẢN BỘI” (Ml 2:16).

Thánh Luật của Thiên Chúa tuyệt hảo và bất biến. Ai không yêu Ngài thì không chuộng Luật Ngài, ai yêu Ngài thì vui sẽ “vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày” (Tv 1:2), luôn “thích làm theo Thánh Ý và ấp ủ Luật Chúa trong lòng” (Tv 40:9). Vì “Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn” (Tv 19:8), thế nên “hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện, biết noi theo Luật pháp Chúa Trời” (Tv 119:1). Và hãy luôn cầu xin điều này: “Xin cho con được trí thông minh để vâng theo luật Ngài và hết lòng tuân giữ” (Tv 119:34).

Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu giàu lòng thương xót, xin cho chúng con nên như lưỡi đòng, không phải để tiếp tục đâm thấu Thánh Tâm Ngài, mà để được vĩnh cư và tắm gội trong Dòng Tình Thương Xót của Ngài suốt đời. Ngài là Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen.

THIÊN TÌNH THÁNH TÂM

Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu

Gia ân thương xót, thứ tha tội đời

Bao lần xúc phạm đến Ngài

Con hóa vô loài như lưỡi đòng kia

Thế mà con vẫn gian ngoa

Chối quanh, biện hộ, quỷ ma già mồm

Thế mà Ngài vẫn ân cần

Bảo con ngu dốt nên lầm mà thôi! (*)

Bao la Tình Chúa muôn đời

Muốn con được cứu nên Ngài thứ tha

Đúng là con cũng có ngu

Nhưng con cố chấp, cười trừ rồi quên

Đúng là con quá vô duyên

Giờ đây sám hối vạn lần, Chúa ơi!

Và rồi Ngài lại mỉm cười

Tha mãi, tha hoài, nếu biết ăn năn

Tạ ơn Ngài mãi từ nhân

Dẫu con bóp nát Thánh Tâm của Ngài

Bây giờ con biết tội rồi

Con xin sám hối suốt đời con đây.

(*) Lc 23:34 – “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.

TRẦM THIÊN THU

MẪU TÂM VÔ NHIỄM

(Lễ Khiết Tâm Đức Mẹ – Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ)

[Rm 8,28-30; Lc 2,41-52]

TÔI ƠI, TẠC DẠ GHI TÂM

MẪU TÂM VÔ NHIỄM – NHỚ LUÔN TÔN SÙNG

CUỘC ĐỜI THAY ĐỔI KHÔNG NGỪNG

MAI CÔI TỪNG CHUỖI THẬT LÒNG NGUYỆN XIN

NHÂN GIAN SẼ HƯỞNG HÒA BÌNH

MẪU TÂM CHIẾN THẮNG YÊU TINH, QUỶ THẦN.

Trong các lần hiện ra, Đức Mẹ luôn nhắc nhở việc cải tà quy chánh để được Thiên Chúa cứu độ, đặc biệt là những lần hiện ra tại Fátima – một trong ba mệnh lệnh là “tôn sùng Mẫu Tâm”. Cải tà quy chánh cũng là điều Chúa Giêsu luôn đề cập khi Ngài còn mặc xác phàm tại thế.

Thánh Hilariô nói: “Dầu tội lỗi đến đâu, nếu tôn sùng Mẹ, cũng KHÔNG HƯ MẤT ĐỜI ĐỜI được”. Còn Thánh Gioan Kim Khẩu cho biết: “TÌNH THƯƠNG BAO LA của Mẹ Maria cứu rỗi một số rất lớn những tội nhân theo phép công thẳng của Chúa đã phải đoán phạt”. Điều đó cho thấy việc sùng kính Đức Mẹ rất hữu ích thiêng liêng, tốt cho linh hồn chúng ta. Thật vậy, Thánh Tử Đạo Inhaxiô xác định: “Ai luôn luôn nhiệt tâm sùng kính Đức Nữ Trinh Mẹ Thiên Chúa thì KHÔNG THỂ CHẾT DỮ được. Ôi lạy Mẹ Đồng Trinh, một tội nhân không thể được cứu rỗi nếu Mẹ không cứu giúp hộ phù!”.

Có Con là có Mẹ, có Mẹ là có Con. Mẹ và Con không thể xa nhau. Ngay sau lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu là lễ Khiết Tâm Đức Maria. Tôn kính Con rồi tôn kính Mẹ. Mẹ là tất cả của Con, và Con là tất cả của Mẹ. Đời thường là vậy, tâm linh cũng chẳng khác. Chúng ta có người-mẹ-trần-gian là cảm thấy hạnh phúc lắm rồi, chúng ta còn hạnh phúc tột cùng vì có người-mẹ-tâm-linh là Đức Trinh Nữ Maria, Đấng tinh tuyền của Thiên Chúa.

Mẹ luôn kỳ diệu và có nhiều vấn đề để nói, không bút lực nào tả hết. Lễ Khiết Tâm cũng là lễ Mẫu Tâm, lễ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ. Mẫu Tâm Đức Mẹ là Trái Tim tinh tuyền, không chút bợn nhơ, kể cả Nguyên Tội, hoàn toàn Vô Nhiễm. Kinh cầu Đức Bà liệt kê nhiều điều về Đức Maria: “Đức Bà là Tòa Đấng Khôn Ngoan, Đức Bà như Hòm Bia Thiên Chúa, Đức Bà là Cửa Thiên Đàng, Đức Bà như Sao Mai sáng,…”. Chắc hẳn Đức Mẹ là người được tôn xưng bằng nhiều danh hiệu nhất, không chỉ vì Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa mà còn vì Đức Mẹ là thụ tạo hoàn hảo. Đức Mẹ thật cao trọng nhưng lại rất khiêm nhường, chỉ dám nhận mình là “nữ tỳ của Chúa” (Lc 1:38). Điều đó càng làm cho Mẹ nên cao trọng hơn nữa.

Từ ngàn xưa, thời Cựu Ước đã ám chỉ về một Người Nữ sẽ xuất hiện trong thời Tân Ước. Sách Huấn Ca cho biết: “Đức Khôn Ngoan tự biểu dương và hãnh diện ở giữa dân mình. Khôn ngoan lên tiếng trong đại hội của Đấng Tối Cao và hãnh diện trước quyền uy của Người” (Hc 24:1-2). Đức khôn ngoan biểu hiện Thiên Chúa, vì Ngài là Đấng Khôn Ngoan. Sách Huấn Ca nói rõ: “Duy có mình Ta đi vòng cả bầu trời và rảo bước khắp vực sâu thăm thẳm. Trên sóng biển, trên toàn cõi đất, trên mọi nước mọi dân, Ta nắm trọn chủ quyền. Giữa chúng hết thảy, Ta tìm chốn nghỉ ngơi, xem có gia nghiệp của ai để Ta cư ngụ” (Hc 24:5-7). Sự khôn ngoan rất quan trọng, được coi là một nhân đức. Thánh vương Sa-lô-môn đã biết mơ ước được ơn khôn ngoan (1 Sbn 22:12), rồi xin Chúa ban cho sự khôn ngoan và hiểu biết (2 Sbn 1:10) chứ không xin gì khác. Vì thế, “Thiên Chúa cho vua Sa-lô-môn được dồi dào khôn ngoan, thông thạo, và một trái tim bao la như cát ngoài bãi biển” (1 V 5:9).

Ngai Tòa của Đấng Khôn Ngoan là Đức Maria, Đức Mẹ cũng chính là Nhà Tạm đầu tiên từ khi Mẹ nói lời “xin vâng”, và Đức Mẹ được mệnh danh là Theotókos (Θεοτόκος) – nghĩa là Người-Mang-Thiên-Chúa. Luôn sẵn sàng “xin vâng” là cách sống khôn ngoan của Trinh Nữ Maria.

Nói về đức khôn ngoan, sách Huấn Ca cho biết chi tiết: “Ta đâm rễ sâu giữa một dân hiển hách, trong phần riêng của Đức Chúa, cũng là sản nghiệp của Người. Ta đã vươn lên tựa cây bá hương vùng Li-băng, tựa cây trắc bá núi Khéc-môn. Ta đã vươn lên như cây chà là ở Ên Ghe-đi, như những khóm hồng ở Giê-ri-khô, như cây ô-liu xanh tốt giữa cánh đồng. Như cây tiêu huyền, Ta đã vươn lên. Như cây quế, như tước sàng, Ta nức hương ngào ngạt, Ta toả hương thơm ngát như mộc dược quý, như phong tử hương, mã não, an tức hương, như khói hương nghi ngút trong lều, Ta vươn nhánh ra như cây nhựa điều, nhánh của Ta là nhánh vinh quang tươi đẹp” (Hc 24:12-16). Gọi là sách Khôn Ngoan vì trong đó chứa rất nhiều điều khôn ngoan – một trong các điều Thiên Chúa yêu quý.

Thật vậy, Vua Salômôn được Thiên Chúa ban thêm nhiều thứ khác vì ông KHÔNG xin gì ngoài đức khôn ngoan. Sự khôn ngoan thật là cao xa, sâu thẳm, bao la và vô cùng: “Người đầu tiên chẳng biết hết khôn ngoan, kẻ cuối cùng cũng không hiểu thấu được. Vì tư tưởng của khôn ngoan rộng hơn đại dương, ý định của khôn ngoan sâu hơn vực thẳm. Phần tôi, tôi như kênh đào chảy từ sông lớn, như con lạch dẫn nước tới địa đàng” (Hc 24:28-30). Sự khôn ngoan thật kỳ diệu, nhưng phải là sự khôn ngoan từ Thiên Chúa, chứ sự khôn ngoan của loài người chẳng nghĩa lý gì. Thánh Phaolô đã so sánh: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25).

Dù là người đời, nhưng thi sĩ Paul Éluard (1895-1952, người Pháp, tên thật là Eugène Émile Paul Grindel), cũng đã so sánh thú vị: “Sự khôn ngoan khiến người ta tồn tại, còn sự đam mê khiến người ta sống”. Tất nhiên điều đó chỉ hiểu theo nghĩa đời thường, nhưng ở một “góc độ” nào đó, cũng rất chí lý khi áp dụng vào đời sống tâm linh. Ngày xưa, bà An-na cũng đã khôn ngoan khi bà xác định: “Tâm hồn con hoan hỷ vì Đức Chúa, nhờ Đức Chúa, con ngẩng đầu hiên ngang” (1 Sm 2:1a). Đối với Thiên Chúa, KHÔNG THỂ thành CÓ THỂ (Lc 1:37; Mc 10:27).

Không thần linh nào có thể so sánh với Thiên Chúa, đừng nói chi phàm nhân, thế nhưng Ngài lại là Đấng hiền lành và khiêm nhường (x. Mt 11:29), thế nên Ngài hạ bệ bất kỳ ai dữ tợn và kiêu căng: “Cung nỏ người hùng bị bẻ tan, kẻ yếu sức lại trở nên hùng dũng. Người no phải làm mướn kiếm ăn, còn kẻ đói được an nhàn thư thái. Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy, mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn” (1 Sm 2:4-5). Ý tưởng này cũng được Đức Maria đề cập trong bài Magnificat khi đến thăm người chị họ Êlidabét (x. Lc 1:46-55). Cựu Ước và Tân Ước là một dòng chảy liên tục và duy nhất.

Mọi sự đều có thể đối với Thiên Chúa, vì Ngài toàn năng, toàn tri, hằng hữu và hằng sinh, chính Ngài tạo dựng muôn loài hữu hình và vô hình – nghĩa là Ngài có toàn quyền cả trên trời và dưới đất: “Đức Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên. Đức Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có, Người hạ xuống thấp, Người cũng nhắc lên cao. Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro, đặt ngồi chung với hàng quyền quý, tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng. Vì nền móng địa cầu là của Đức Chúa, Người đặt cả hoàn vũ lên trên” (1 Sm 2:6-8). Tuy nhiên, Thiên Chúa chỉ dùng quyền để nâng đỡ, yêu thương và cứu thoát chúng ta, chứ Ngài không dùng quyền để “hành” chúng ta như phàm nhân quen thói hống hách, ưa tâng bốc và khoái đè bẹp người khác.

Là Thánh Mẫu Thiên Chúa, Đức Mẹ chắc hẳn phải là người điềm đạm và trầm tính, bởi vì Kinh Thánh cho biết rằng Đức Mẹ luôn “ghi nhớ mọi kỷ niệm và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2:19). Đức Mẹ thích sống trầm lặng vì Đức Mẹ luôn cầu nguyện và kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Đời sống cầu nguyện rất quan trọng đối với các Kitô hữu, vì thế chúng ta phải không ngừng học tập và noi gương Đức Mẹ: Cầu nguyện liên lỉ.

Là người theo Chúa sau nhưng Thánh Phaolô lại có nhiều kinh nghiệm để chia sẻ với chúng ta: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Người đã CHỌN ta TRƯỚC cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã TIỀN ĐỊNH cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu” (Ep 1:3-6). Chắc chắn ca tụng Chúa phải là nhiệm vụ quan trọng và là bổn phận hàng đầu của chúng ta. Đức Mẹ đã im lặng để hoàn tất công việc này.

Thánh Phaolô giải thích để minh chứng điều đã nói trên đây: “Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Người, đã tiền định cho chúng tôi đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Người, để chúng tôi là những người đầu tiên đặt hy vọng vào Đức Kitô, chúng tôi ngợi khen vinh quang Người” (Ep 1:11-12). Đức Mẹ đã bối rối và rất ngạc nhiên khi Sứ thần Gabriel báo tin được tuyển chọn làm Mẹ Thiên Chúa, nhưng Đức Mẹ đã vui mừng chấp nhận mà không chút so đo, bởi vì Đức Mẹ hoàn toàn TIN TƯỞNG vào sự quan phòng và tiền định của Thiên Chúa. Trái Tim Đức Mẹ trong suốt ánh đức tin và lung linh sắc màu yêu mến – đối với Thiên Chúa và tha nhân.

Với tư cách sử gia, Thánh Luca cho biết chi tiết: “Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giêsu thì ở lại Giêrusalem, mà cha mẹ chẳng hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm” (Lc 2:41-45). Cha mẹ nào cũng luôn lo lắng về con cái, đặc biệt là người mẹ với trái tim nhạy bén. Linh cảm của người mẹ mạnh mẽ và chính xác, thế nên người mẹ sẽ bồn chồn, không thể bình yên khi chưa biết con cái đang làm gì và ở đâu, có an toàn hay không. Đó là điều kỳ diệu và thiêng liêng về Tình Mẫu Tử.

Suốt ba ngày ngược xuôi khắp nơi, hai ông bà mới tìm thấy Con Trai trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. Ôi chao, cái thở phào nhẹ nhõm biết bao! Ai nghe Cậu Giêsu nói cũng phải ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của Cậu Trẻ. Họ càng ngạc nhiên hơn khi biết Chàng Trai ấy là con ai và ở đâu, nhưng có lẽ không ai có thể ngờ rằng chính Chàng Trai Giêsu đó lại là Đấng Khôn Ngoan, là Con Thiên Chúa.

Hai ông bà sửng sốt khi thấy Con, và với sự quan tâm của một người mẹ, Đức Mẹ đã nói với Đức Giêsu: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2:48). Đức Mẹ không thể im lặng lúc này, vì trái tim người mẹ chịu bất an mấy ngày qua rồi, khổ lắm chứ! Rất có thể Đức Mẹ cũng đã khóc sưng cả mắt thôi. Còn Đức Thánh Giuse không nói gì, hoàn toàn im lặng. Tình cha thâm trầm lắm, nhưng lòng cha cũng bồn chồn đâu kém lòng mẹ. Mất con thì có người mẹ nào thản nhiên được, và cũng chẳng người cha nào ngồi yên, nhưng vấn đề quan trọng ở chỗ là “không đổ lỗi cho nhau”.

Là Con, đặc biệt là Con Thiên Chúa, dĩ nhiên Chúa Giêsu biết rõ cha mẹ lo lắng lắm nên cũng thương lắm chứ, nhưng Ngài vẫn nói: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2:49). Tại sao vậy? Bởi vì “bổn phận ở nhà Cha” còn cần hơn, đó là nhiệm vụ tối quan trọng. Nhưng ông bà không hiểu hết ý trong lời của Con Yêu vừa nói. Dĩ nhiên là vậy, bởi vì hai vị cũng chỉ là thụ tạo, chưa thể hiểu được. Nói là nói vậy thôi, nói để cha mẹ biết, nhưng vì thương cha mẹ nên Ngài không chần chừ, liền “đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2:51a). Riêng Đức Mẹ thì “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2:51b). Ôi, Tình Mẹ cũng thâm trầm lắm!

Chắc hẳn chúng ta có thể nói được rằng chưa có ai trên đời này hiểu được lý lẽ của trái tim người mẹ. Trái tim người mẹ trần gian còn chưa hiểu nổi, huống chi Trái Tim Người Mẹ tâm linh – Mẫu Tâm Vô Nhiễm của Đức Maria. Là một người nhiệt thành cổ võ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẫu Tâm Đức Maria, Thánh Gioan Eudes (1601-1680) cho biết: “Trái Tim Mẹ Maria là Trái Tim của Giáo Hội chiến đấu, Giáo Hội tẩy luyện và Giáo Hội vinh thắng”. Trái Tim Đức Mẹ là trái tim của cả ba Giáo Hội hiệp nhất với nhau, nói gọn là Trái Tim Mẹ Giáo Hội.

Ai cũng biết rằng cha mẹ – sinh dưỡng, cả đời hy sinh cho con cái, nhưng cha mẹ không mong con cái đáp lại. Mà con cái cũng chẳng bao giờ có thể đền đáp công cha nghĩa mẹ. Để phần nào báo hiếu cha mẹ, con cái phải biết sống cho nên người, CÓ THỂ KHÔNG THÀNH CÔNG nhưng PHẢI THÀNH NHÂN. Đó là cách báo hiếu mà cha mẹ mong muốn. Và cha mẹ cũng chỉ chờ mong như thế là mãn nguyện rồi.

Đối với Người Mẹ tâm linh, để tỏ lòng kính yêu Đức Mẹ và thành tâm tôn sùng Mẫu Tâm (một trong ba mệnh lệnh Fátima), chúng ta phải nỗ lực noi gương Đại Huynh Giêsu – nghĩa là không ngừng cố gắng “ngày càng THÊM KHÔN NGOAN và THÊM ÂN NGHĨA đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2:52). Được như vậy là chúng ta làm vui lòng Đức Mẹ rồi đấy. Mong thay!

Khi nói về Đức Maria, Thánh Bênađô có cách so sánh thật tuyệt vời: “Thiên Chúa đã quy tụ tất cả nước lại một nơi gọi là biển, và Ngài quy tụ mọi ân sủng nơi một người là Mẹ Maria”. Chúng ta cùng tự vấn: “Tôi có yêu mến Đức Mẹ, và với mức độ nào?”. Nếu cảm thấy mình chưa yêu mến Đức Mẹ thì từ hôm nay, hãy quyết tâm nghe lời Thánh Basiliô mời gọi: “Tội nhân ơi! Đừng tuyệt vọng, đừng thôi chạy đến với Mẹ trong cơn túng cực! Cứ gọi Mẹ đến giúp, bạn sẽ luôn thấy Mẹ sẵn sàng tới cứu trợ; vì Thánh Ý Chúa muốn chúng ta đến xin Mẹ nâng đỡ hộ vực trong mọi trường hợp”.

Lạy Thiên Chúa nhân lành và tuyệt đối, xin thúc giục chúng con sốt sắng tôn thờ một mình Ngài, luôn sẵn sàng tuân phục Thánh Ý Ngài mọi nơi và mọi lúc, điều mà Đức Mẹ đã chu toàn khi còn tại thế. Lạy Thánh Mẫu Vô Nhiễm, xin giúp chúng con biết mau mắn “xin vâng” và thật lòng khiêm nhường như Mẹ. Xin Chúa và Mẹ biến niềm khao khát nên thánh của chúng con thành sự thật ngay trên thế gian này. Chúng con chân thành tha thiết cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.