NHỮNG NGƯỜI SAMARITANÔ!

19-06-2018 3,052 lượt xem

Có một lần, khi những người Pha-ri-siêu hết sức bất mãn với Chúa Giê-su, họ nói với Người, "Ông là một người Samaritanô và bị quỉ ám!" (Ga 8:48) Điều đó có ý nghĩa gì? Và ai là những người Samaritanô. 

Vào thời Chúa Ki-tô, Israel đã trở thành hai quốc gia, hai phần tách biệt với một quốc gia khác ở chính giữa, một thứ giống như Pakistan trong những thập niên gần đây, trước khi một trong những phần được đổi tên là Bangladesh và trở thành một quốc gia riêng biệt. Đối với Pakistan, quốc gia nằm ở giữa hai phần là Ấn Độ. Trong trường hợp của Israel, giữa phần đất Galilê ở phía bắc và phần đất Giuđê ở phía nam, quốc gia nằm ở giữa là Samaria.

Samaritanô là một nhóm hỗn tạp, họ tin họ là những con cháu của những cuộc hôn nhân hỗn hợp giữa những người Do Thái và Dân Ngoại địa phương, nhất là những người Philistine, Edomite, Syria, và Moabite. Những người  Samaritanô có một đức tin tương đối đơn sơ, phần lớn đức tin là của những người Do Thái, nhưng họ chỉ đọc sách Torah (năm quyển sách của Mô-sen), đồng thời loại bỏ những "tác phẩm"khác (Thánh vịnh và những công trình khác về lịch sử, thơ ca và ẩn dụ) và các "sách tiên tri" (Isaia, Giêrêmia, và Malaki). Việc thờ phượng của họ tập trung vào một ngọn núi tại Samaria hơn là ngọn núi ở Giêrusalem, bản dịch sách Torah của họ khác hẵn với sách Torah Do Thái bằng cách đặt tên núi này như là trung tâm của sự thờ phượng của họ.

Vì thế những người Samaritanô là gì đối với những người Do Thái? Họ cho mình như là tốt hơn các Dân Ngoại, nhưng thấp kém hơn người Do Thái. Họ được phép du lịch tự do hơn trong hai phần đất của Israel bởi vì chính những người Israel thường bị bắt buộc phải đi ngang qua Samaria trên đường họ đi từ phần đất này qua phần đất kia. Tuy nhiên, những người Do Thái và  những người Samaritanô đã không hòa hợp, về mặt xã hội. Những người Do Thái không muốn đánh liều địa vị xã hội của họ bằng cách kết thân với những người thấp kém hơn, và những người Samaritanô muốn tiếp xúc càng ít càng tốt với những người Do Thái hợm hĩnh, những người này tự cho mình tốt hơn họ.

Vậy thì những người Samaritano làm nghề gì? Họ làm gì khiến chúng ta hiện nay phải quan tâm đến họ? Những người Samaritanô là những công dân hạng hai trong cuộc sống. Tại Mỹ châu hiện đại, chúng ta có một lý tưởng cư xử với mọi người cũng y hệt, mặc dù về mặt chính thức không có những công dân hạng hai. Trong khi đây là một lý tưởng cao thượng, tất cả chúng ta đều biết chúng ta và những người khác xung quanh ta đã thất bại trong việc sống theo những đòi hỏi của lý tưởng đó ở chỗ nào. Một “bản dịch” khác thường của Kinh Thánh từ một vài năm trước đây, được gọi là "Kinh Thánh Cotton-Patch," hướng vào Miền Nam xưa của Hoa Kỳ ("Vùng Dixieland"), minh họa rõ ý nghĩa thực sự của những người Samaritanô trong đời sống của kỷ nguyên Tân Ước. Trong Kinh Thánh Cotton-Patch, những người Samaritanô được gọi là “những người da đen” ( "negroes") và những người Do Thái (trong mối quan hệ với những người Samaritanô) là “những người da trắng ("whites.")

Tại Mỹ, trong miền nam xưa, hầu hết người da đen được xem như công dân hạng hai, nhiều cựu chủ nô và con cháu trong dòng họ không bao giờ tha thứ hoàn toàn những người nô lệ “của họ” vì họ đã được giải phóng. Nhưng trên khắp thế giới và trong mọi thời luôn luôn có những công dân hạng hai trong cuộc sống. Trong chiến tranh thế giới thứ II, chính những người Nhật Bản tại Hoa Kỳ  là những công dân hạng hai, họ bị tập trung trong “những trung tâm tái định cư”. Và suốt phần lớn thời gian của thế kỷ thứ hai mươi, cũng có những người Tây Ban Nha và Philippin lao động trên những cánh đồng, thứ lao động mà “những công dân hạng nhất hợm hĩnh và ưu tuyển hơn không muốn làm.

Trong suốt phần lớn lịch sử, chính những người Do Thái từng là những công dân hạng hai khi họ lang thang khắp thế giới trong cuộc lưu đày từ quê cha đất tổ ở Trung đông, bị lôi kéo đến nơi này nơi kia và thậm chí bị giết trong những cuộc hành quyết và những trại tử thần. Bởi vì không chỉ có những trại tử thần của nước Đức quốc xã, mà tất cả chúng ta đều biết, nhưng còn có những trại tử thần y hệt tại Nga của phe nhóm Stalin, trại cuối cùng còn hoạt động cho đến ngày nay, như Solzienitzen đã tường thuật và mô tả trong các sách của ông về cuộc sống trong nhà tù Gulag.

Chúa Giê-su đã nghĩ gì về những công dân hạng hai vào thời của Người, những người Samaritanô? Thật thú vị khi chúng ta nhận thấy hầu như mỗi một trong những lời Người khi nhắc đến họ đều tỏ ra thuận lợi, và thậm chí ở bất cứ nơi đâu, lòng nhân từ của Người đều được biểu lộ.

Những lời nói nổi tiếng nhất của Người nhắc đến những người Samaritanô là dụ ngôn về Người Samaritanô nhân hậu. (Lc 10:30-37) Như chúng ta nhớ lại, một người đàn ông, có lẽ một người Do Thái, bị tấn công, bị cướp, và bị bỏ sống dở chết dở bởi bọn cướp. Một thầy tư tế và một thầy Lêvi Do Thái đều đi ngang qua anh ta và mặc dù  “sự thánh thiện” trên danh nghĩa của họ, chẳng có ai trong số họ giúp đỡ anh ta bằng bất cứ cách nào. Nhưng rồi người  Samaritanô xuất hiện và anh này là một người duy nhất đem lòng thương hại người đàn ông bất hạnh và giúp đỡ anh. Tại sao lại là một người Samaritanô? Có thể là bất cứ người nào; sau tất cả, đây thực sự là một dụ ngôn hay câu chuyện mà Chúa Giê-su đã kể để giải thích quan điểm của Người về việc "thương yêu người lân cận của ngươi."

Đúng như thế, bởi vì những người Samaritanô là những công dân hạng hai trong cuộc sống. Tại sao lại được ca ngợi như thế trừ khi họ làm điều tốt rõ ràng, khi những người Do Thái nhìn thấy điều đó. Nhưng đời sống thực sự khẳng định điều này, thường chính người nghèo và bị loại bỏ của xã hội mới là những người đầu tiên đến và giúp đỡ một người nào đó đang túng thiếu, chứ không phải những nhân vật quan trọng, vì những người này chỉ nghĩ đến việc kiếm thời giờ để phô trương sự tử tế đối với một kẻ xa lạ mà họ gặp. Thậm chí trong việc cho của bố thí, người nghèo thường khoan dung hơn người giàu nhiều, họ chắc chắn khôn ngoan hơn theo tỉ lệ phần trăm, và đôi khi ngay cả trong số lượng bố thí hoàn toàn khách quan. Là giai cấp hạng hai phải được hiểu là đang ở trong hoàn cảnh túng thiếu, và vì thế sẵn sàng tích cực hơn trong việc giúp đỡ những người khác đang túng thiếu.

Một bài miêu tả khác là bài miêu tả về mười người phung hủi mà Người đã chữa lành (Lc 17:12-19). Chúa Giê-su đã chữa lành mười người bệnh phung và tất cả mười người đều được khỏi bệnh, nhưng chỉ có một người trong bọn quay lại sau đó và cảm ơn Người, và người phung vừa được khỏi là một người Samaritanô. Trong những dịp hiếm hoi như thế, một người nào đó từ giai cấp thứ nhất (Những người Do Thái trong trường hợp này, Chúa Giê-su cũng là một trong số đó) sẽ ban một điều tốt đích thực cho những người của giai cấp thứ hai hiện nay, điều đó hết sức khác thường đến nổi lòng biết ơn luôn luôn được biểu lộ vào những dịp như thế. Trở thành giai cấp thứ hai có ý nói là biết không ai hàm ơn họ về bất cứ thứ gì, hoặc bất cứ sự đánh giá nào, và khi họ được nhận như thế, họ phải biết cám ơn một cách thích đáng.

Sau đó, lại diễn ra sự gặp gỡ nổi tiếng của Người với một phụ nữ Samaritanô tại một giếng nước (Ga 4:7-26). Chúa Giê-su ngồi chờ tại giếng của Gia cốp trong khi các môn đệ Người đi mua thức ăn, Người gặp người phụ nữ Samaritanô, bà này cũng đến lấy nước. Người xin bà ít nước và bà trả lời theo phong cách là sẵn sàng truyền đi sự oán giận mà những người Samaritanô thường cảm thấy đối với những người Do Thái, như bà muốn nói, "Ông làm sao thế; ông không biết rằng các ông những người Do Thái không bao giờ làm bất cứ điều gì tốt đẹp cho chúng tôi những người Samaritanô hay sao; tất cả các ông đều nghĩ các ông quá tốt với chúng tôi nhỉ!"

Đúng thế, điều này có thể giải thích lòng nhân từ lớn lao của Chúa Giê-su đối với một ngôi làng Samaritanô đã không chấp nhận Người, không có cơ hội để kiểm tra trước (Lc 9:51-56), đơn giản vì Người là một người Do Thái. Các môn đệ Người muốn gọi lửa từ Trời xuống thiêu đốt ngôi làng Samaritanô, nhưng Chúa Giê-su đã hiểu những người Samaritanô cảm thấy như thế nào và Người đem lòng thương xót và tha thứ cho họ.

Nhưng quay lại cuộc gặp gỡ của Người với người phụ nữ bên giếng Gia-cốp, Chúa Giê-su đã tiếp tục trò chuyện với người phụ nữ, đồng thời cho thấy không chỉ giáo huấn của Người về nước hằng sống, nhưng còn sự sẵn sàng tiếp chuyện với bà như một người bạn  hơn là một hạng người kém cỏi hơn, và thậm chí Người mạc khải với bà lần đầu tiên một cách công khai Người là Đấng Messia. Thường chính những người trong giai cấp hạng hai của xã hội mới là những người đầu tiên nhận biết chân lý, trong khi những người thuộc giai cấp thứ nhất, và phần lớn tất cả những người ở trong những vị trí quyền lực đều bị cách ly khỏi chân lý.

Lời thề khó nghèo không chỉ nhắm đến sự từ bỏ những của cải trần tục (cho dù chắc chắn đó là mục tiêu và mục đích chính của nó), nhưng còn có thể nhìn thấy mọi người trong những dáng vẻ đích thực của chúng. Chỉ có những người tốt thực sự mới tốt đối với những người “không là gì” trong xã hội. Hạng người khác chỉ tốt đối với những ai có thể giúp đỡ hoặc xúc phạm họ, và hầu như mọi người đều tốt đối với những người có quyền lực vì họ sợ hãi vị thế riêng của những người sau này, người có quyền lực nắm quyền kiểm soát bên trên như thế đó. Bạn muốn biết người nào tốt thực sự và người nào chỉ là làm ra vẻ hay không? Hãy là Không là gì; vì không là gì nên người đó nhìn thấy tất cả. Đúng thế, phúc thay cho những người nghèo.

Cũng thế, trong cuộc mạn đàm của Người tại giếng nước, điều rõ ràng là cuộc sống của người phụ nữ đáng thương không thật hạnh phúc, tức là bà ta đã từng có năm đời chồng, và hiện nay bà còn chung sống với một người đàn ông khác. Biết bao lần có ai đó tìm thấy những tình huống bi đát như thế, giữa những công dân hạng hai, những người thường là thành phần còn lại của xã hội không biết gì cả, họ phó mặc cho những nhân tố xã hội và kinh tế. Rõ ràng đó không phải là một cuộc sống đồi bại của bà, nhưng chỉ là sự tồn tại trống rỗng trong đó bà đã từng chuyền tay từ người đàn ông này đến người đàn ông khác; Chúa Giêsu không để cho bất cứ thứ gì tác động xấu đến bà. Nhưng chúng ta không thường xuyên nhìn thấy những sự việc tương tự giữa những công dân hạng hai hiện nay hay sao?

Cuối cùng, chúng ta quay lại đoạn đầu trong đó những kẻ tố cáo Người thậm chí vu cáo Chúa Giê-su là một người Samaritanô, và bị quỉ ám. Giống như đối với việc tố cáo về việc quỉ ám, đó sẽ là chủ đề của một cuộc chuyện trò khác, nhưng bằng cách cho phép nguồn tham khảo này được ghi vào trong sổ vĩnh cửu của Giáo Hội, Kinh Thánh, bằng cách ấy Chúa Giê-su tượng trưng cho cương vị của Người "như là người Samaritanô", vì Người không chỉ là Thầy, nhưng còn là đày tớ của các đày tớ. Bao nhiêu lần chúng ta đã yêu cầu Người làm những sự việc cho chúng ta, và Người đã làm: "Lạy Chúa, xin giúp cho con của con khỏe mạnh; xin hãy giúp đỡ một ai đó trong cuộc hành trình của họ; Xin hãy giúp ai đó tìm được công ăn việc làm để người ấy có thể nâng đỡ gia đình," và cứ thế.

Vì vậy nếu Thiên Chúa chúng ta có thể bị so sánh với một người Samaritanô, chúng ta cũng phải chọn sống theo gương mẫu của Người, và nhờ đó đón nhận lòng thương xót mà Người luôn luôn biểu lộ đối với những người Samaritanô qua sứ vụ của Người. Việc đó như thế nào? Bằng cách trở nên khiêm nhường, đồng thời biết rằng chúng ta những ki-tô hữu đích thực được tiền định trở thành những công dân hạng hai trong một thế giới do ma quỉ thống trị, và chấp nhận vai trò đó. Chúng ta không đoán trước được bất cứ điều gì; chúng ta không mong đợi  lòng tốt, và chúng ta biết ơn bất cứ khi nào điều đó được thể hiện; đó là điều mà tôi mới vừa nghe đọc từ sách Thủ Bản của Legio Mariæ. Chúng ta đến gần những người chúng ta gặp với chiếc mũ trên tay, để chuyện trò, chứ không có con đường vòng quanh nào khác; chúng ta đến gần họ như một người hèn kém đối với một kẻ bề trên.

Tôi thường thích nghĩ về cách mà rất nhiều người Do Thái đã từng xử sự trong một thế giới cũng đã đối xử với họ như những công dân hạng hai, siêng năng, cần cù, trung thực, giữ gìn cho những phong tục cổ sống mãi, sẵn sàng giải thích những thứ đó cho bất cứ ai hỏi đến, nhưng không đè nặng chúng trên bất cứ ai, đồng thời trở nên thân thiện, khiêm tốn và đáng yêu đối với mọi người, cho đến lúc cuối cùng họ có thể quay trở về quê hương họ.

Đó chính là cách mà những người Công giáo và hội viên Legio Mariæ chúng ta cũng phải trở thành.

Griff Ruby

Kim Ngân chuyển ngữ từ http://www.the-pope.com/samaritn.html

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.