Ý nghĩa của việc đi hành hương

20-08-2018 1,384 lượt xem

Trong Năm Thánh Tôn Vinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, các tín hữu được hưởng ơn toàn xá khi tham dự Lễ Khai mạc và Bế mạc Năm Thánh và hành hương đến các địa điểm được chỉ định. Dịp này, Legio Mariæ Việt Nam mừng Hồng ân 70 năm hiện diện tại Việt Nam tổ chức hành hương tại Trung Tâm Hành Hương Ba Giồng (GP. Mỹ Tho).

Trong tiếng La-tinh cổ, “người hành hương”, pelegrīnus, thường được dịch là “người khách lạ”, “người lữ hành”. Thật ra, pelegrīnus là từ được tạo nên bởi hai thành tố: “per” nghĩa là “ngang qua”, và “ager” nghĩa là “cánh đồng”. Điều này mang đến cho người hành hương nhiều thách đố và hy vọng. Thách đố vì trong hành hương đòi người ta phải dấn thân, phải dám băng qua những khó khăn, chẳng hạn về địa lý hay tâm lý. Hy vọng vì đích đến là nơi người hành hương có thể gặp gỡ tha nhân và Thiên Chúa.

Hành hương (Pilgrimage) có một lịch sử tôn giáo từ thời xa xưa. Khi đó người Do-thái hành hương về Đền Thờ đầu tiên của họ tại Giê-ru-sa-lem (được xây 957 TCN) để mừng ba lễ lớn: Vượt Qua (Passover), Lễ Ngũ Tuần (Pentecost), và Lễ Lều (Festival of Ingathering). Trên đường đi, họ hát những bài hành hương, hoặc thánh vịnh. Chẳng hạn:

“Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi:

‘Ta cùng trẩy lên Đền Thánh Chúa!’

Và giờ đây, Giê-ru-sa-lem hỡi,

cửa nội thành ta đã dừng chân...”

(Tv 122,1-2).

Sau khi Chúa Giê-su phục sinh, Ki-tô giáo nhanh chóng vượt ra khỏi vùng Palestine đến mọi miền trên thế giới, nhất là vùng trời châu Âu. Từ đó nhiều đoàn người hành hương về Đất Thánh để đi lại những nơi Chúa Giê-su đã hiện diện. Qua lần trải nghiệm ấy, họ có thể hiểu biết, yêu mến và theo Chúa Giê-su sát hơn.

Thời Trung cổ (tk. 5-15) những chuyến đi của Ki-tô hữu châu Âu không thuần túy là thăm quan những địa điểm thánh. Về chiều kích liên hệ đến Bí tích Hòa giải thì hành hương như một phương thế đền tội của hối nhân. Đó không hẳn là những tội nhẹ, nhưng là tội nặng (strong sins). Chẳng hạn cha giải tội có thể ra việc đền tội là đi đến một nơi thánh nào đó. Khi đến nơi, hối nhân sẽ nhận được giấy chứng nhận và trở về với tâm hồn tự do. Trong thời Thập tự chinh nếu người ta phạm lỗi gì đó, họ cũng có thể chọn giải pháp đi hành hương. Thời thánh I-nhã, Đấng sáng lập Dòng Tên, người ta thường hành hương theo nghĩa này.

Thành thánh Giê-ru-sa-lem nói riêng và đất nước Israel hiện nay quả là một nơi tuyệt vời để các tín hữu đi hành hương. Từ nhiều thế kỷ qua, thành thánh đón nhận vô số đoàn hành hương đến từ khắp Năm Châu. Nhớ khi thánh I-nhã dưỡng thương trên giường bệnh và được ơn hóa cải, điều ước ao đầu tiên của ngài là muốn đi hành hương đất thánh như biết bao tâm hồn đạo đức thời bấy giờ. Họ muốn đi lại những bước đường mà Chúa Giê-su đã đi qua. Tâm tình thiêng liêng của các tín hữu được thắp lửa yêu mến hơn khi được chiêm ngắm, đụng chạm và cảm nghiệm một Thiên Chúa thật gần gũi với con người. 

Bởi thế hàng năm người người trẩy hội lên Đền Thánh. Để ít là một lần trong đời, họ được hòa vào từng khu phố, con đường, từng lùm cây ngọn cỏ, từng ngôn ngữ văn hóa mà chính thầy Giê-su đã sống và hiện diện. Do đó hành hương là lên đường bước theo thầy Giê-su, đi lại những con đường của Thầy. Chúng ta có thể đọc trong sách Youcat một giải thích gắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa về chủ đề hành hương (Bản dịch của Lm. Antôn Nguyễn Mạnh Đồng.) Đi “Hành hương” có mục đích gì?

“Một ít người đi hành hương để “cầu nguyện bằng đôi chân”, họ có kinh nghiệm bằng các giác quan rằng cả cuộc đời mình là một cuộc hành trình dài tiến về cùng Thiên Chúa. Trong Cựu ước dân Israel hành hương lên Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Các Ki-tô hữu thời Trung cổ cũng hành hương đến các nơi thánh, đến Giê-ru-sa-lem, đến Rô-ma, đến mộ các thánh Tông đồ… Các Ki-tô hữu đi bộ khi hành hương thường để đền tội, và thường người ta bị thúc đẩy bởi ý nghĩ sai lầm rằng những việc tự động hãm mình có thể làm cho mình nên công chính trước mặt Chúa. Ngày nay thì đã đổi mới, Người Ki-tô hữu đi hành hương để tìm sự bình an và sức mạnh xuất phát từ các nơi thánh. Nhiều người sống cô đơn lẻ loi, họ muốn ra khỏi cảnh tẻ nhạt đều đều hàng ngày, muốn được thoát thân khỏi những cái thừa thãi để nhẹ nhõm đi đến với Chúa (Youcat, câu hỏi số 276).

Tại Việt Nam hàng năm có rất nhiều đoàn hành hương không chỉ đi du lịch châu Âu, nhưng họ còn đến những nơi thánh thiêng để cầu nguyện và nhận được nhiều ơn ích thiêng liêng (Fátima, Lộ Đức, Rô-ma...). Tuy nhiên số người hành hương như thế lại không nhiều vì những lý do khác nhau (tài chính, sức khỏe...). Trong khi đó, Việt Nam cũng có nhiều nơi hành hương như Đức Mẹ La Vang, Trà Kiệu, Núi Cúi, Măng Đen hay Cha Trương Bửu Diệp, v..v... Hoặc ít ra trong mỗi giáo tỉnh, giáo phận đều có những nơi đáng để chúng ta thực hiện một chuyến hành hương, cá nhân hay theo nhóm.

Cách cụ thể, tại Trung tâm hành hương Ba Giồng - Legio Mariæ mừng Hồng ân 70 năm hiện diện tại Việt Nam tổ chức hành hương trong Năm Thánh Tôn Vinh Các Các Thánh Tử Đạo. Rồi với tâm tình thiêng liêng, người hành hương muốn nhịp bước cùng với Chúa Giê-su đến tại đây hoặc một linh địa nào đó. Bởi lẽ, Vị tử đạo đầu tiên của Giáo hội chính là Chúa Giê-su Kit-ô. Khi chúng ta nhìn lại như vậy, chúng ta hiểu thế nào là tử đạo. Lý tưởng đời sống người môn đệ Chúa Giê-su là làm sao giống Chúa Giê-su hơn như Thánh Phao-lô mô tả và như Thánh Phao-lô nói với giáo dân: “Anh em hãy mang trong mình tâm tư của Chúa Giê-su Ki-tô” (Pl 2,5).

Chúng ta ước mong mô hình ấy ngày càng phát triển hơn nữa. Để mỗi khi lên đường hành hương, chúng ta có môi trường và cơ hội nhận ra niềm vui thiêng liêng và tìm được nguồn sức sống khi trở về cuộc sống thường ngày.

TRUNG TÂM HÀNH HƯƠNG BA GIỒNG (GP. MỸ THO)

Nơi đây được chọn làm nơi hành hương năm thánh cho Giáo tỉnh Sài Gòn. Về Ba Giồng, người ta có thể thấy, tuy nơi này mới được Đức cố TGM Phao-lô Bùi Văn Đọc ấn định là nơi hành hương của giáo phận Mỹ Tho vào năm 2004, nhưng cộng đoàn tín hữu đã có mặt tại đây từ thuở ban đầu của lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, nên có thể nói rằng, hành hương nơi này cũng được coi là về thăm một trong những cái nôi của Giáo Hội Việt Nam. Đến đây, người ta có thể chiêm ngắm những ngôi mộ cổ của các tín hữu ghi năm 1663, 1664…

Trung tâm hành hương Ba Giồng nằm trong khuôn viên của nhà thờ giáo xứ Ba Giồng – một họ đạo lâu đời nhất của giáo phận Mỹ Tho. Lịch sử họ đạo Ba Giồng gắn liền với các biến cố bách hại đạo Công giáo ở Tây Đàng Trong. Những người dân thuở xưa sống ở nơi này đã từng chứng kiến cảnh tử đạo của rất nhiều tín hữu (1783, 1836, 1861…).

Trong số 117 vị thánh Tử đạo tại Việt Nam, có hai linh mục phụ trách họ đạo Ba Giồng là cha Phi-líp-phê Phan Văn Minh – phục vụ Ba Giồng từ năm 1849 đến 1853, và cha Phê-rô Nguyễn Văn Lựu – phục vụ Ba Giồng từ năm 1852 đến 1861. Cha Phi-líp-phê Minh là vị đầu tiên nằm trong danh sách những linh mục coi sóc họ đạo Ba Giồng.

TÊN GỌI BA GIỒNG

Tài liệu “27 vị tử đạo tại Ba Giồng (Mỹ Tho)” của linh mục M. Hamon (1882) – hiện còn lưu trữ tại Hội Thừa Sai Paris – có nhắc đến sự hình thành tên gọi Ba Giồng như sau:

“Ở tỉnh Mỹ Tho có một cánh đồng lầy rộng lớn. Vào mùa mưa, cánh đồng ấy biến thành một hồ nước mênh mông. Ở lối vào đồng lầy này, nước cuốn dồn cát lại như tạo cho mình một rào chắn không thể vượt qua nổi. Với thời gian, những đụn cát ấy cao dần lên. Một cộng đồng nho nhỏ đã dần dần hình thành ngay trên ba giồng cát này, với một rừng tre xanh có ngọn cao vây quanh như một vòng đai xanh, đó chính là xóm nhỏ Ba Giồng.

Thuộc làng Tân Lý Đông, gần chợ Cổ Chi, xóm Ba Giồng không có gì khác biệt với các xóm làng khác: cũng những túp lều người dân An Nam, lợp tranh bé lớn tùy theo mức sống của người dân ở đó. Giữa xóm có một ngôi nhà lớn hơn với cây Thánh Giá nổi bật. Dân cư không giàu sang mà cũng không túng quẫn, hầu như mọi người đều sống bằng lao động của đôi bàn tay, thế nhưng họ có một kho báu mà họ coi trọng hơn tất cả mọi của cải giàu sang, đó là Đức Tin.”

HÌNH THÀNH HỌ ĐẠO BA GIỒNG

Tài liệu “27 vị tử đạo tại Ba Giồng” kể tiếp: “Không ai biết xóm đạo được thành lập từ bao giờ. Rất có thể, dân cư đã trở lại đạo từ một thời xa xưa. Các cụ già thường chỉ cho con cháu ngôi mộ của ba thế hệ đã sống trước họ mà tất cả đều là người có đạo Công giáo”.

Một tài liệu khác được lưu trữ tại Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn – là bản tường trình của linh mục F. Demarcq (cha sở họ đạo Tân An 1911), thừa sai Tông Tòa – đã xác định sự hiện diện từ rất sớm của họ đạo Ba Giồng:

“Do tính cách lâu đời của nó, họ đạo này đáng đứng chỗ nhất; tất cả các họ đạo khác tương đối mới có khá gần đây. Theo những lời truyền tụng khá chắc chắn, vào khoảng năm 1700 hoặc 1702, dưới triều đại Minh Vương, chừng 20 ghe biển rời bờ Phú Yên, lìa xa các bở biển An Nam, mang theo khoảng 30 gia đình Ki-tô giáo. Những gia đình này trốn tránh cuộc bắt đạo và trẩy về hướng Nam Kỳ. Ghe ngược dòng tới chỗ bắt đầu cánh đồng lác rộng lớn và dừng lại ở miệng con rạch ngày nay gọi là Rạch Chanh. Rạch Chanh là một con rạch do nước từ đồng lớn tràn xuống kết thành mà trước kia chảy ngang qua những cánh rừng bao la.

Đầu tiên tất cả các gia đình lập cư ngay trên con rạch này, và ghe lại trở về Phú Yên rước thêm những gia đình khác. Sáu tháng sau, ghe trở lại đem theo những Ki-tô hữu khác còn đông hơn nữa. Những người này cũng lập cư cùng một chỗ với những người đến lần đầu. Khu vực này lại ở ngay bên sông, như sự cố sau đây chứng minh: Ngày kia, một vài người đánh cá trong sông thì bị một chiếc thuyền chở ông quan từ Sài Gòn đi Châu Đốc bắt gặp. Họ bị bắt và bị đem đi. Tất cả Ki-tô hữu khác khiếp sợ, vội vã bỏ nơi ấy để đi sâu vào trong rừng, cho tới Ba Giồng bây giờ và lập cư tại đó. Về sau, nhiều Ki-tô hữu Phú Yên khác chạy trốn các cuộc bắt đạo cũng đến nhập cư với họ. Ngoài ra, Ki-tô hữu vùng lân cận Sài Gòn, Biên Hòa, Mỹ Tho cũng đến nhập cư và làm con số giáo hữu lên đến 3.000 người”.

CHỨNG NHÂN ĐỨC TIN

Năm 1783 khi bị Tây Sơn đánh đuổi, Nguyễn Ánh (Gia Long) có chạy ghé qua Ba Giồng, được dân ở đây cho ăn uống. Chính vì vậy, quân Tây Sơn đã nghi ngờ và giết khoảng 150 người ở họ đạo Ba Giồng.

Năm 1836, trong cuộc bách hại thời vua Minh Mạng (1791-1841), quan quân đã cho giết khoảng 1.700 tín hữu Công giáo ở Ba Giồng.

Vào thời vua Tự Đức (1847-1883), vị linh mục từng phục vụ giáo xứ Ba Giồng là cha Phi-líp-phê Phan Văn Minh đã bị bắt vào ngày 26/2/1853 tại Mạc Bắc (Vĩnh Long) và bị xử tử vào ngày 7/3/1853 tại pháp trường Đình Khao (Vĩnh Long). Còn linh mục Phê-rô Nguyễn Văn Lựu thì bị bắt vào năm 1860 khi đang là cha sở ở vùng Ba Giồng, và bị chém đầu vào ngày 7/4/1861 tại Mỹ Tho.

Vài ngày sau khi cha Lựu tử đạo, quân Pháp tràn vào Mỹ Tho. Trước khi quan quân Việt Nam rút đi, họ đã quyết định tiêu diệt họ đạo Ba Giồng. Được tin này, giáo dân Ba Giồng tìm cách chạy trốn trong đêm, nhưng hầu hết đã bị bắt lại. 25 người đàn ông của họ đạo Ba Giồng, sau khi tuyên xưng Đức Tin cách mạnh mẽ, đã bị trảm quyết tại căn nhà vuông, trên mảnh đất chợ Cổ Chi, giáp với xã Tân Lý Đông, cách nhà thờ Ba Giồng khoảng hai cây số. Xác các vị Tử Đạo, các quan bắt người lương đem chôn trong cánh đồng bên cạnh chợ; một số được chôn tại một gò đất, nơi đây đồng bào địa phương gọi là “Gò Chết Chém” (Trong một thời gian dài – từ năm 1862 đến 1986 – người ta truyền tụng rằng: trên gò này, cỏ không mọc được, và những tàn cây phủ bóng trên gò cũng bị chết khô. Những lương dân làm ruộng xung quanh có vào đó ngồi nghỉ chân, nhưng không bao giờ dám phóng uế).

Sau khi chém 25 tín hữu và giết 2 người khác khi họ đang chạy trốn (1862), quan án ra lệnh các giáo hữu phải bỏ họ đạo Ba Giồng để đi nơi khác, không ai được ở lại. Còn nhà thờ thì bị phá, cho đến 10 năm sau, cha M. Hamon vâng lệnh Đức cha Mi-ca-e về coi sóc họ đáo và lo việc cải táng hài cốt các vị Tử Đạo về nơi an nghỉ tại Đất Thánh ngày 18/6/1872.

BA GIỒNG HIỆN NAY

Theo thống kê của họ đạo, vào năm 1976, Ba Giồng chỉ còn khoảng 450 giáo dân. Hiện nay, năm 2018, Ba Giồng có khoảng gần 2.000 giáo dân. Đa số dân ở đây sống bằng nghề làm ruộng, trồng rẫy, đan giỏ nón… Cuộc sống người dân không khá giả, nhưng cũng không đến nỗi túng quẫn. Một trong những nét đẹp của Ba Giồng là sự thân ái của tình làng nghĩa xóm. Bà con giáo dân sống chan  hòa, chân thành với người dân khác tín ngưỡng.

Như đã trở thành một truyền thống, Ba Giồng là một trong những vườn ươm cung cấp cho Giáo hội những hoa thơm trái tốt. Khởi đi từ mảnh đất Ba Giồng, đã có không ít linh mục, tu sĩ dấn thân phục vụ Giáo hội và con người một cách nhiệt thành. Quả đúng như Cha Hamon đã từng nói:

“Xóm nhỏ này không có du khách nào đặt chân tới, mà cũng chẳng có nhà địa lý nào biết đến. Nhưng tên tuổi xóm này lại rất đáng được tôn vinh. Chúng ta hãy kính chào đi, vì đây là một vùng đất đã được máu các Thánh Tử Đạo thánh hiến!”

NHÀ THỜ BA GIỒNG

Họ đạo Ba Giồng như thế đã có một bề dày lịch sử, được Cha Hamon thuộc Hội Thừa Sai Paris đề cập đến trong “Les Missions Catholiques năm 1882”. Theo quyển sách này thì trong những thời kỳ đầu tiên, nhà thờ Ba Giồng đã ba lần bị thiêu hủy.

Sau đó, vào năm 1950, nhà thờ Ba Giồng được xây dựng lại từ một lớp học nối dài, chiều dài chỉ có 24 mét, chiều rộng 6 mét, vật liệu bằng vôi cát thô sơ, đã nhiều lần được sửa chữa cho khỏi sụp đổ. Nhưng thời gian mưa nắng và mối mọt tàn phá, xuống cấp không đảm bảo cho việc cử hành có đông giáo dân tham dự.

Năm 1997, Đức Giám mục Giáo phận cho phép tái thiết thánh đường họ đạo Ba Giồng dâng kính Đức Ma-ri-a, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo. Và ngày 16/11/1997, Đức Hồng y GB. Phạm Minh Mẫn (lúc đó là Giám mục phó giáo phận Mỹ Tho) đã dâng thánh lễ khởi công xây dựng nhà thờ Ba Giồng.

Ngày 16/3/2000, nhà thờ họ đạo Ba Giồng với tước hiệu: “Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo Việt Nam” được Đức cố TGM Phao-lô Bùi văn Đọc, (lúc đó là Giám mục giáo phận Mỹ Tho) cung hiến. Vào năm 2004, ngài đã công bố: Nhà thờ Ba Giồng là nơi hành hương của giáo phận Mỹ Tho.

Và vào năm 2018, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã chỉ định Trung tâm hành hương Ba Giồng thành địa điểm hành hương cho Giáo tỉnh Sài Gòn trong Năm Thánh 2018 của Giáo hội Công giáo Việt Nam. 

Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.