SẴN SÀNG YÊU THƯƠNG & ĐÓN NHẬN CON CÁI

02-10-2018 4,251 lượt xem

Trải qua thời gian, thực tế lịch sử nhân loại đã cho thấy mối quan hệ hỗ tương  giữa con cái và cha mẹ. Trong đó, những người con được sinh ra trong tình yêu đích thực của cha mẹ, được chăm sóc giáo dục và phát triển nhân cách lành mạnh. Đồng thời, chính những người con khỏe mạnh, khôn ngoan, hiếu thảo, thành đạt đã đem lại niềm vui, hạnh phúc và an bình cho các bậc cha mẹ.

Đối với Ki-tô giáo cũng không ngoại lệ, như hiến chế Mục vụ về Giáo Hội “Gaudum et Spes” (số 50) giải thích: “Hôn nhân và tình yêu vợ chồng, tự bản tính qui hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái. Con cái là ơn huệ cao quí nhất của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến tạo hạnh phúc của cha mẹ… Bổn phận truyền sinh và giáo dục phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng. Trong khi thi hành bổn phận ấy, họ biết rằng mình cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa Tạo Hóa và như trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Ngài”. Đó là lý do khiến Hội đồng Giám Mục Việt Nam chọn chủ để mục vụ cho tháng 11/2018 là: “SẴN SÀNG YÊU THƯƠNG ĐÓN NHẬN CON CÁI MÀ CHÚA SẼ BAN”. Xin cùng tìm hiểu:

I.  CON CÁI LÀ MÓN QUÀ CAO QUÝ NHẤT CỦA HÔN NHÂN

Thông điệp Sự Sống Con Người “Humanæ Vitæ” (số 9) đã khẳng định: “Hôn nhân là một tình yêu phong nhiêu, nghĩa là nó không hoàn toàn bị hạn chế trong sự kết hợp hôn nhân, mà còn hướng về kế tiếp, là gây dựng thêm sinh mạng mới. Hôn nhân và tình yêu đôi bạn, tự bản chất, hướng về sinh sản và giáo dục con cái. Mà thực ra, con cái là món quà quý nhất của hôn nhân và đem lại hạnh phúc lớn cho cha mẹ chúng.”

Vì tình yêu, vợ chồng tự nhiên hướng về việc sinh sản con cái. Con cái là hoa quả và thành tựu của tình yêu vợ chồng, hiện diện ngay trong việc vợ chồng hiến thân cho nhau. Những hành vi của đôi vợ chồng dùng để kết hợp với nhau trong tình thân mật trong sạch, ngõ hầu tạo thành và lưu truyền đời sống con người. Đó là những hành vi cao quí và chính đáng, là những hành vi hợp pháp. Trong thực tế, kinh nghiệm cho thấy không phải mỗi hành vi, mỗi giao kết của hôn nhân đều tạo ra được một mầm sống mới. Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng đã thu xếp và thiết lập những định luật, những chu kỳ tự nhiên của mầm sống. Giáo hội vẫn nhắc nhở người tín hữu phải tuân hành các định luật tự nhiên và các lời giáo huấn của Giáo hội luôn luôn xác định rằng “Hành vi Hôn nhân” phải hướng về việc lưu truyền đời sống. Điều đó cho thấy con cái là ân huệ cao quý nhất của hôn nhân.

Sinh con không chỉ là một sự kiện thuần túy sinh học, mà là một cuộc đầu tư, đảm nhận và biến đổi toàn thể con người. Kinh nghiệm này nảy sinh từ tình yêu, lớn lên và biểu lộ ra trong tình yêu, nên vừa có tính sinh học, vừa thuộc tình cảm và thiêng liêng. Bởi thế, đứa con có thể được sinh hạ một cách thực sự phù hợp với nhân tính “bởi tình yêu” và “trong tình yêu” qua hành vi vợ chồng.

Vì là một hành vi nhân linh sâu xa gắn kết với toàn thể con người, gồm cả về mặt xã hội và tôn giáo, nên việc sinh một con người là cộng tác với tình yêu Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng. Chọn lựa này đưa đôi phối ngẫu vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa và vì thế đôi vợ chồng trở nên vừa là cộng tác viên, vừa là người phục vụ trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa Tình Yêu.

II. CON CÁI ĐEM LẠI HẠNH PHÚC CHO CHA MẸ     

Khi không có tình yêu đích thực, nhiều bậc cha mẹ đã bị cám dỗ cho rằng sự hiện hữu của đứa con không phải là một quà tặng, nhưng là một gánh nặng đem đến cho họ những vất vả, mệt nhọc cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Họ cảm thấy bị ràng buộc và mất mát đủ thứ: từ thời gian, sức khỏe đến tiền bạc. Họ cho rằng đứa con đã lấy đi niềm vui và hạnh phúc của họ chứ không có gì để cho họ cả; thậm chí có người cón nghĩ rằng: thêm một con người sinh ra, quyền lợi của họ bị giảm đi một phần.

Trái lại với quan niệm đó, nếu nhìn sâu vào vấn đề sẽ thấy một người con sinh ra trong cuộc đời, không phải là một dữ kiện thống kê (gia tăng dân số), nhưng chính là món quà sự sống được trao tặng cho cha mẹ.

Nói cách khác, đối với con người, sự sống luôn là một món quà cao quí nhất để mình được hiện hữu trong vũ trụ, giữa lòng thế giới. Hơn thế nữa, quà tặng tuyệt vời nhất của hôn nhân chính là một con người, một sự sống mới được sinh ra như kết quả tình yêu của cha mẹ. Chỉ trong tình yêu thì sự sống mới được đón nhận như một quà tặng và được phục vụ, tôn trọng như một con người chính hiệu.

Điều đó cho thấy hạnh phúc tùy theo quan điểm của mỗi người, nhưng hạnh phúc không đồng nghĩa với sự nhàn hạ, hưởng thụ và có nhiều lợi nhuận cũng như quyền lực; mà chỉ có những ai biết mở lòng ra để đón nhận người khác như một quà tặng, người đó mới được yêu thương và tôn trọng.

Đó là bí quyết thể hiện tình yêu chân thành giữa vợ chồng với nhau, một tình yêu luôn nhận ra mỗi người con là một quà tặng vô giá làm tăng thêm hạnh phúc gia đình. Vượt qua mọi biến cố thăng trầm của cuộc sống với những thách đố gian khổ, họ luôn cảm nhận được hạnh phúc vô bờ khi biết mình được làm cha, làm mẹ. Vâng, ngay từ khi sự sống trở thành thai nơi tử cung người mẹ, thai nhi – người con – đã thắp sáng tình yêu của cha mẹ. Chính tình yêu và hạnh phúc này đã là nguồn lực phong phú, mạnh mẽ, giúp cha mẹ luôn sống trong niềm hy vọng để hoàn thành trách nhiệm của mình.

III.  SẴN SÀNG YÊU THƯƠNG ĐÓN NHẬN CON CÁI MÀ CHÚA SẼ BAN

Bổn phận truyền sinh và giáo dục phải được coi là sứ mệnh cao quý riêng biệt của vợ chồng. Tôn trọng, tuân phục Thiên Chúa, đồng tâm hiệp lực với nhau, họ sẽ tạo được cho mình một phán đoán ngay thẳng: biết xét đến lợi ích riêng của họ cũng như của con cái đã sinh hay tiên liệu sẽ có, biết nhận định về các hoàn cảnh vật chất hay tinh thần của thời đại và bậc sống; đồng thời biết nghĩ đến lợi ích của gia đình, của xã hội trần gian và của chính Giáo hội. Sự phán đoán ấy, sau cùng chính đôi vợ chồng phải chọn lựa lấy trước mặt Thiên Chúa.

Trong cách thế hành động, vợ chồng Ki-tô hữu hãy ý thức là mình không thể làm theo sở thích, nhưng phải luôn luôn tuân theo tiếng nói của một lương tâm ngay thẳng được khuôn đúc theo lề luật của Thiên Chúa; đồng thời hãy vâng phục giáo huấn của Giáo hội, vì Giáo hội có thẩm quyền giải thích luật Chúa dưới ánh sáng Tin Mừng. Tình yêu hôn nhân là tình yêu duy nhất mang khía cạnh tính dục. Giáo hội chấp nhận và dậy rằng khía cạnh tình dục sẽ đạt đầy đủ giá trị nhân bản và luân lý nếu nó được hội nhập theo một cam kết tình yêu. Nó là một sự dâng hiến hỗ tương mà đôi vợ chồng ban tặng cho nhau. Nói là hội nhập, vì tình yêu vợ chồng luôn hàm chứa tình dục giới tính. Nếu chỉ là tình dục suông thì tất nhiên không phải là tình yêu hôn nhân.

Tình yêu vợ chồng là một quyết định chung của vợ chồng để xây dựng một gia đình, để cùng nhau đương đầu với những khó khăn có thể xuất hiện trên đường đời. Cưới là sẵn sàng đón nhận một bạn đời. Tình yêu vợ chồng là một ý muốn làm tốt cho bạn mình, làm vừa lòng bạn mình. Nói khác đi, đó là ý muốn chia vui, sẻ buồn, sống với, sống cùng, chấp nhận bạn đời như một quà tặng trọn hảo. Tình yêu vợ chồng không chèn ép, lấn át, không làm phiền lòng, cũng không dạy luân lý; nhưng là tiếp tay, hỗ trợ, lắng nghe, nâng đỡ. Để làm được những điều trên, đôi phối ngẫu cần phải vận dụng đến thông minh của lý trí và sức mạnh của ý chí. Mà nét độc đáo nhất là chữ nhẫn, chữ tha thứ, chữ nhịn nhục, và cả vâng lời làm theo ý bạn nữa.

Có một câu diễn tả tình yêu hôn nhân rất phổ biến, đó là “một mái nhà tranh hai trái tim vàng”. Hai trái tim vàng là hai trái tim cùng nhịp đập tôn trọng nhau và tìm hiểu, khám phá nhau thêm mỗi ngày, để thấy những sâu thẳm của con tim bạn mình, mà tôn trọng và quý mến hơn, hầu yêu thương hơn. Làm vợ làm chồng với nhau không phải là ngừng lại một chỗ, một thời, một nơi, nhưng là cùng nhau tiến về tương lai, tìm ra đường đi nước bước cho cuộc sống chung. Cưới nhau là tay đan tay trong tình yêu để tìm hiểu nhau mỗi ngày cùng xây dựng, cùng phục vụ và bổ khuyết cho nhau. Tình yêu vợ chồng không phải là hướng về những hối tiếc quá khứ, nhưng là một tình yêu tích cực mở ra tương lai. Mà cái tương lai vui mừng nhất là sinh con. Sinh con là tiếp nối đời sống, là sống một “kinh nghiệm làm người”. Vui mừng nhưng bận rộn hơn nhiều, khó khăn hơn nhiều. Tuy vậy, qua việc sinh con và dạy con, tình yêu hôn nhân đã biến vợ chồng thành những người tiếp tay với tình yêu tạo dựng của Thiên Chúa.

Chiêm ngắm từng người thân trong gia đình bằng đôi mắt của Thiên Chúa và nhận ra Đức Ki-tô nơi họ là một kinh nghiệm tâm linh sâu xa. Điều này đòi hỏi người tín hữu quý trọng phẩm giá của họ. Người ta chỉ có thể hiện diện trọn vẹn với một người nếu biết hiến thân trọn vẹn và quên đi mọi chuyện xảy ra xung quanh.

Như thế người được yêu thương là người xứng đáng được quan tâm đầy đủ. Chúa Giê-su là mẫu gương về điều này, bởi vì khi bất cứ người nào đến nói chuyện với Người, Người đều chăm chú nhìn và chạnh lòng thương (x. Mc 10,21). Không ai cảm thấy bị quên lãng khi hiện diện cùng Đức Ki-tô, vì những lời nói và cử chỉ của Người thể hiện trong câu hỏi này: “Bạn muốn tôi làm gì cho bạn?” (x. Mc 10,51). Đây là kinh nghiệm trong đời sống hằng ngày của gia đình, trong đó nhắc nhở rằng mỗi người sống bên nhau đều xứng đáng được mình lưu tâm cách tận tình, bởì họ có phẩm giá vô hạn vì là đối tượng của tình yêu vô biên của Chúa Cha. Từ đó sẽ nảy sinh sự dịu dàng có thể khơi lên trong lòng người khác niềm vui cảm thấy mình được yêu thương và tôn trọng.

Được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, gia đình không chỉ đón nhận sự sống bằng cách sinh sản trong phạm vi gia đình, nhưng còn mở ra, đi ra khỏi chính mình để quan tâm tới những thiện ích trao ban cho người khác, đồng thời chăm sóc họ và tìm kiếm hạnh phúc cho họ. Sự cởi mở này được thể hiện đặc biệt nơi lòng hiếu khách, như Lời Chúa khơi gợi và khích lệ: “Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết” (Tông huấn Niềm Vui Yêu Thương “Amoris Laetitia”, số 316). Một khi gia đình rộng mở đón tiếp và đi đến gặp gỡ những tha nhân, nhất là người nghèo và người bị bỏ rơi, thì đó là biểu hiệu, chứng từ và là sự tham dự vào thiên chức làm mẹ của Hội Thánh. Bác ái xã hội, một phản ảnh về Thiên Chúa Ba Ngôi, trong thực tế là điều hiệp nhất ý nghĩa thiêng liêng của gia đình và sứ mạng ra khỏi chính mình, vì nó làm cho lời rao giảng tiên khởi hiện diện với tất cả những đòi hỏi mang tính cộng đồng. Gia đình sống linh đạo đặc thù của mình nhờ cùng lúc vừa là một Hội Thánh tại gia, vừa là một tế bào sống động để biến đổi thế giới.

KẾT LUẬN

Tóm lại, “tự bản tính, hôn nhân phải hướng về lợi ích tinh thần và thể xác của đôi bạn và bổn phận sinh dưỡng và giáo dục con cái” (Giáo luật, số 1.055). Hội Thánh đã dạy sinh sản phải có trách nhiệm, nghĩa là khi sinh con, cha mẹ phải lo lắng chăm sóc, dưỡng dục để chúng sống xứng đáng phẩm giá làm người và làm con Thiên Chúa. Do đó, đôi bạn cần suy xét thận trọng về sức khỏe, kinh tế, giáo dục.., để có quyết định đúng đắn về việc điều hòa sinh sản. Muốn được vậy, đôi bạn phải có những yếu tố:

· Lương tâm ngay thẳng, chân chính;

· Tinh thần trách nhiệm cao;

· Tuân giữ giáo huấn của Hội Thánh về việc điều hòa sinh sản.

Là bậc làm cha mẹ, người Ki-tô hữu hãy học hỏi theo giáo huấn của Giáo hội để cho lương tâm của mình được hướng dẫn theo đường ngay nẻo chính. Nhất là hãy thường xuyên cầu nguyện với Chúa, và siêng năng lãnh các bí tích để nhờ đó học biết yêu thương bằng tình yêu chân thành và quảng đại theo gương Chúa Ki-tô là Đấng hằng luôn đầy lòng thương xót đối với mọi người chúng ta. Ước được như vậy.

Ôi! Lạy Mẹ Ma-ri-a Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của mỗi người chúng con, chúng con xin phó thác cho Mẹ sự sống của chúng con.

Xin cho chúng con được ơn đón nhận Tin mừng sự sống như một hồng ân, cho chúng con niềm vui cử hành hồng ân ấy với lòng biết ơn trong suốt cuộc đời chúng con.

Đồng thời, xin Mẹ cầu bầu cùng Đức Ki-tô Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ ban cho chúng con lòng can đảm làm chứng cho Tin mừng sự sống cách bền bỉ và tích cực, để cùng với tất cả mọi người thiện chí, xây dựng nền văn minh chân lý và tình yêu, ngõ hầu chúc tụng và tôn vinh Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa đến muôn đời. Amen.

JM. Lam Thy ĐVD

 -----------------------------------------------------------------------------------

Suy tư Năm Mục vụ Gia đình 2018: Đồng hành với các gia đình trẻ

Sẵn sàng yêu thương đón nhận con cái

Tình yêu phong nhiêu sẵn sàng đón nhận sự sống

Yêu thương đích thực không khép kín vào bản thân, mà mở lòng ra trước Thiên Chúa và tha nhân. Tình yêu vợ chồng và sự phong nhiêu của tình yêu ấy diễn tả phần quan trọng của nó ở việc sẵn sàng sinh con cái và ước muốn nuôi dạy chúng nên người và nên con Chúa. Đây là vấn đề căn bản của hôn nhân Kitô giáo. Sinh sản và nuôi dạy con cái, đôi bạn cởi mở với tương lai và thành người cộng tác với Thiên Chúa trong công trình Tạo dựng. Đôi bạn sẵn sàng yêu thương đón nhận con cái mà Chúa muốn ban cho họ vì chính chúng. Họ đón nhận con cái như một quà tặng của Thiên Chúa với ý thức rằng Chúa đã đón nhận chúng trước và yêu thương chúng từ thuở đời đời. Đứa con chính là hoa trái tuyệt diệu của tình yêu, sự kết hợp vợ chồng, và trao hiến cho nhau.

Về chuyện con cái có hai thái độ cực đoan cần phải tránh. Một là, xem con cái như một “của nợ”, một cản trở sự hoàn thành bản thân của ta và từ đó loại trừ khả năng có con ngay từ đầu. Đàng khác, đó là thái độ muốn có con “bằng mọi giá” như để thỏa mãn nhu cầu riêng của mình, mà không vì chính chúng. Vì:

Ước muốn làm cha làm mẹ không có nghĩa là được “quyền có con” bằng bất cứ cách nào, vì con cái chưa sinh ra cũng có quyền của mình. Đứa trẻ chưa sinh ra phải được bảo đảm cho có những điều kiện tốt nhất để tồn tại, nhờ sự ổn định của một gia đình được xây dựng trên hôn nhân, nhờ những sự bổ sung của hai người, là cha và mẹ. (HTXHCG 235).

Thái độ thứ nhất có thể dẫn đến tình trạng phá thai, hoặc phòng ngừa thụ thai, chỉ muốn đón nhận giới hạn con mạnh khỏe, thông minh. Đức chân phước Giáo hoàng Phaolô VI nhận thấy từ thập niên 60 thế kỉ trước với sự phát triển công nghệ, con người bị dễ tha hóa, rời xa Thiên Chúa, vì chính con người trở thành đối tượng của sự thao túng của mình, khi con người cố đặt hành vi tình dục vợ chồng  phụ thuộc vào kĩ thuật, điều đó sẽ gây tác hại cho mối quan hệ vợ chồng. Sự ngừa thai có thể dễ dàng trở thành một diễn tả cho não trạng này nếu như nó định hình trên ngôn ngữ diễn tả tình yêu. Khi ấy, sự yêu thương kết hợp vợ chồng bị tách biệt khỏi sự phong nhiêu, nghĩa là khía cạnh cốt yếu của sự trao hiến không còn nữa. Phá thai còn nghiêm trọng hơn nữa, không phải chỉ vì những di chứng để lại của sự việc ấy trên con người và cuộc sống của đôi bạn, mà còn vì đó là hành vi tội ác loại trừ sự sống một con người. Ngay từ những thế kỉ đầu Hội Thánh coi đó là những tội ác luân lí. Một người phá thai hay tham gia trực tiếp vào việc phá thai là đã tự đặt mình ra ngoài Hội Thánh, tức bị vạ tuyệt thông tiền kết (Giáo luật đ.1398). Trong xã hội ngày nay, tình trạng phá thai lan tràn và được đông đảo xem (thậm chỉ còn khuyến khích) phá thai như một phương tiện điều hòa sinh sản nếu không nói là truyền lan như một ‘quyền con người’. Những hình thức chẩn đoán tiền sản còn làm gia tăng hơn nữa áp lực xã hội lên đôi vợ chồng, tuy nhiên không nên xem thường những hậu quả của việc phá thai hay sử dụng thuốc phá hay ngừa thai. Phá thai không thể là một lựa chọn.

Thái độ thứ hai, muốn có con “bằng mọi giá”, thể hiện qua nhiều chọn lựa khác nhau, nô lệ cho tên bạo chúa kĩ thuật.  Ngày nay, nổi lên rất nhiều kiểu “bệnh viện chuyên giúp thụ thai” đáp ứng cho những người có nhu cầu có con mà chưa thành tựu. Nói chung đó là thực hành việc “thụ tinh nhân tạo”. Đó là một can thiệp ‘nhân tạo’ vào hành vi vợ chồng, không những cướp đi phẩm chất của hành vi ấy mà còn thay thế nó bằng kĩ thuật. Như thế, đứa trẻ không phát xuất từ nguồn yêu thương trao hiến cho nhau của cha mẹ nó, nhưng là sản phẩm của công việc của người thầy thuốc và các người làm việc trong phòng thí nghiệm của bệnh viện. Thụ tinh nhân tạo hầu như luôn liên hệ tới sự chọn lựa chất liệu di truyền hay các phôi thai, nhất là những nơi nào có liên hệ tới sự chẩn đoán Gen di truyền tiền cấy phôi. Hệ quả của việc này là phần đầu của cuộc sống mình đứa trẻ bị đối xử chỉ như là một chất liệu của phòng thí nghiệm. Không kể hậu quả của não trạng này ảnh hưởng trên cuộc sống của đôi vợ chồng, đó còn là một sự kì thị nghiêm trọng và xúc phạm phẩm giá nhân vị. Thụ thai nhân tạo, hơn nữa, còn có thể trở thành một thử thách tác hại đến cuộc hôn nhân hai người.

Chuẩn bị làm cha mẹ có trách nhiệm trong việc sinh-dưỡng-dục

Đôi bạn cần phải trao đổi và thỏa thuận với nhau vấn đề con cái trước khi cưới. Họ cần được chuẩn bị tư thế làm cha làm mẹ có trách nhiệm. Điều này càng quan trọng hơn vì khi một đứa con chào đời luôn kèm theo những thách đố làm tràn ngập cuộc sống của họ. Sẵn sàng đón nhận con cái mà Chúa ban cho đôi vợ chồng là một hoa quả của sự phong nhiêu này. Công Đồng Vatican II dạy rằng đôi bạn

sẽ chu toàn bổn phận với ý thức trách nhiệm, vừa của con người, vừa của những Kitô hữu, […] họ sẽ cùng đưa ra một phán đoán chính xác, trong khi vẫn quan tâm đến thiện ích của chính họ cũng như của con cái đã sinh ra hay dự định sẽ có, vẫn cân nhắc về những điều kiện vật chất cũng như tinh thần của hoàn cảnh sống theo từng thời điểm, và sau cùng vẫn lưu tâm đến thiện ích của cả gia đình, của cộng đồng xã hội và của Giáo Hội nữa. (Gaudium et Spes 50).

Tuy nhiên, sự phong nhiêu của hôn nhân còn hiểu theo nghĩa rộng hơn, không chỉ có nghĩa là có con cái, mà còn là những hoa trái của đời sống đạo đức, thiêng liêng và siêu nhiên mà cha mẹ được kêu gọi thông truyền cho con cái họ, và qua chúng cho Giáo hội và thế giới (Familiaris Consortio 28). Như vậy, sự phong nhiêu còn là dạy dỗ, hướng dẫn con cái đi trên nẻo đường dẫn đến cuộc sống viên mãn. Con cái là thiện ích lớn lao, và điều chính yếu, nhất là trong xã hội tục hóa ngày nay, là trao ban cho chúng một nền tảng vững chắc, để chúng có thể lội ngược dòng tinh thần thế tục (hay thói đời) mà sống tính mới mẻ của Tin Mừng một cách tròn đầy. Đây mới chính là mục tiêu thực sự của sự sống và sự phong nhiêu.

Nếu đôi bạn Kitô hữu hiếm muộn ngoài ý muốn, họ có thể tìm những phương cách khác làm cho tình yêu của họ trổ sinh hoa trái, chẳng hạn nhận con nuôi, được ủy thác nhận nuôi dạy con, liên đới giúp đỡ những người ở bên lề xã hội, hoặc nhiều cách khác nữa.

Trong lễ cưới, đôi bạn không chỉ được hỏi có sẵn sàng đón nhận con cái như tặng phẩm Chúa ban, mà còn có sẵn sàng ‘nuôi dạy con cái theo luật Chúa và Hội Thánh không’. Nhiệm vụ giáo dục này “bắt nguồn từ trong ơn gọi đầu tiên của đôi bạn là dự phần vào công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa: khi sinh ra một con người mới trong tình yêu và vì tình yêu, một con người mang sẵn nơi mình ơn gọi phải lớn lên và phát triển, các cha mẹ cũng từ đó mà lãnh nhận bổn phận phải giúp đỡ hữu hiệu cho người ấy được sống một cuộc sống nhân bản trọn vẹn” (FC 36). Đối với các cha mẹ Kitô hữu, giáo dục con cái là một quyền và nghĩa vụ, không thể thay thế và không thể chuyển nhượng. Giáo dục là thành phần thiết yếu của vai trò làm cha mẹ. Vì tương quan giữa họ và con cái là một tình yêu không thể thay thế được, nên quyền và nghĩa vụ này là độc đáo và cơ bản so với bổn phận giáo dục của những người khác.

Các cha mẹ tự do trong việc lựa chọn môi trường giáo dục và sinh hoạt (nhà trẻ, trường học…) của con mình, để giúp họ hoàn thành nhiệm vụ giáo dục này, họ cần chọn nơi nào phù hợp nhất với mẫu mực giáo dục Kitô giáo. Nhưng trách nhiệm cuối cùng dù sao cũng là của họ.

Giáo dục Kitô là một giáo dục toàn diện và cơ bản: làm sao giúp cho trẻ phát triển các khả năng, năng khiếu về thể lí, tinh thần, và luân lí cách hài hòa. Mục đích của nền giáo dục này là đào tạo toàn diện hướng tới các chiều kích tâm lí – tâm thần – tinh thần và xã hội của nhân vị. Bởi thế, cha mẹ không thể dùng các phương tiện vật chất (đồ chơi và các thứ thiết bị kĩ thuật,…) bù trừ hoặc thay thế trách niệm phải dấn thân để hiện diện, tạo an sinh, chăm sóc, dạy dỗ con cái. Giáo dục là một “quá trình trao đổi trong đó các cha mẹ – nhà giáo dục đến lượt mình ở mức nào đó cũng được giáo dục. Đang khi họ là thầy dạy nhân bản cho con cái thì họ cũng học nhân bản từ chúng” (Gioan Phaolô II, Thư gởi các Gia đình, 16).

Trong gia đình con trẻ không những có kinh nghiệm đầu tiên sống chung với người khác, mà còn có những kinh nghiệm đầu tiên sống đức tin, về Giáo hội, về Chúa. Bởi thế, giáo dục Kitô không những hướng tới giáo dục ý thức trách nhiệm và sử dụng đúng đắn tự do, mà còn về niềm tin, cầu nguyện, sống theo Lời Chúa và tiếng gọi của Chúa. Trong bối cảnh đó cả gia đình cùng cầu nguyện rất có ý nghĩa.

Câu hỏi suy tư hay để thảo luận

1. Tôi có ước muốn trở thành cha hay thành mẹ không? Tôi có sẵn sàng yêu thương đón nhận con cái vì chính chúng như là một quà tặng của Chúa ban cho không?

2. Tôi có sẵn sàng và đã chuẩn bị sẵn sàng nuôi dưỡng và dạy dỗ con cái chưa?

3. Hôn nhân phong nhiêu có nghĩa là gì và thế nào, đối với tôi?

4. Tôi có thể đối diện, đương đầu với hoàn cảnh hiếm muộn có thể có của vợ chồng mình không?

+ ĐGM. Louis Nguyễn Anh Tuấn

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.