SUY NIỆM LỄ THÁNH CẢ GIUSE 19/3

05-03-2020 258 lượt xem

ĐẤNG CÔNG CHÍNH - BỔN MẠNG GIÁO HỘI 

(Lễ kính Thánh Giu-se 19/03)

[2 Sm 7,4-5A.12-14A.16; Rm 4,13.16-18.22; Mt 1,16.18-21.24a]

JM. Lam Thy ĐVD 

Giáo hội mừng kính Thánh Cả Giu-se VÀO NGÀY 19/3. Mặc dù thánh nhân chỉ xuất hiện vài lần trong các sách Tin Mừng; nhưng chừng ấy cũng đủ để Giáo hội có cơ sở để tôn vinh Người trong vai trò cha nuôi của Chúa Giê-su và là bạn trăm năm của Ðức Maria.

Thánh Giu-se là mẫu người thầm lặng ít nói. Các sách Tin Mừng không ghi lại lời nào của Ngài, ngay cả lúc tìm gặp Chúa Giê-su trong đền thờ, thì cũng chính Ðức Maria là người lên tiếng nói với Chúa Giê-su. Thánh Giu-se ít nói nhưng Ngài chăm chú lắng nghe các lệnh truyền của Chúa và mau mắn làm theo, nhiều khi các lệnh truyền ấy có vẻ ngang trái bất ngờ. Khi nhận Ðức Maria làm vợ và đưa về nhà mình; khi đem gia đình trốn sang Ai Cập; khi hồi hương trở về Nazareth, thánh Giu-se luôn luôn trung thành với thánh ý Thiên Chúa mà không đòi hỏi một điều kiện nào. Hễ Thiên Chúa gọi thì Ngài lắng nghe; Thiên Chúa nói thì Ngài vâng lời. Thánh Giu-se đúng là một người sống đức tin bằng hành động, không lý luận, không thắc mắc, tâm hồn và thân xác Người luôn sẵn sàng dâng hiến để thánh ý Thiên Chúa được thi hành. Và quả thật, nhờ sự cộng tác đắc lực của thánh Giu-se, mà kế hoạch nhập thể của Chúa Giê-su được diễn ra hết sức tốt đẹp. Không đòi hỏi được tuyên dương, thánh Giu-se đã làm tròn sứ mạng mà Thiên Chúa trao phó cho Ngài

Tông huấn Đấng chăm sóc Đấng Cứu Thế “Redemptoris Custos” (số 1) viết: “Thánh Giu-se, vì yêu thương chăm sóc Mẹ Maria và vui mừng tận tụy giáo dục Đức Giê-su Ki-tô, như thế Ngài cũng giữ gìn và bảo vệ nhiệm thể của Ngài là Giáo hội, mà Đức Thánh Trinh Nữ, là hình ảnh và gương mẫu.” Vì thế, Giáo hội đã dành tháng Ba hàng năm để mừng kính Thánh Cả Giu-se, Bổn mạng của Giáo hội và cũng là Bổn Mạng và gương mẫu của các người lao động và các gia trưởng. Ngài đã sống cuộc đời lao động để nuôi sống gia đình. Chính Chúa Giê-su, dù là Con Duy Nhất của Thiên Chúa, cũng được gọi là “con của bác thợ mộc Giu-se” (Lời dẫn Phụng vụ mở đầu tháng Ba trong Lịch Phụng vụ – “Những ngày Lễ Công Giáo”).

Giới thiệu về Thánh Giu-se bạn trăm năm Đức Maria, Thánh sử Mat-thêu chỉ viết ngắn gọn: “Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se.” Tiếp theo là một tin gây sửng sốt: “Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai” (Mt 1, 18). Theo lẽ thường tình, gặp những trường hợp như vậy, thì chắc chắn người chồng sẽ làm ầm ĩ, rồi tố giác ra làng xã để xử (chiếu theo luật Mô-sê, có thể bị ném đá cho đến chết), ấy là chưa kể ở thời đại ngày nay, anh chồng còn “tự xử án vợ” bằng cách “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” hoặc “xin tí huyết” nữa. Tuy nhiên, “Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.” (Mt 1, 19). 

Khi tường thuật về thái độ của Thánh Giu-se trước sự kiện thụ thai "lạ lùng" của Đức Maria, không còn từ ngữ nào xứng hợp hơn để diễn tả đức tính của ngài, vì quả thật ngài chính là “người công chính”. Theo từ nguyên thì công chính là công bằng ngay thẳng. Người công chính là người “cái gì của Xê-da trả cho Xê-da, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” (Mt 22, 21), liêm khiết trong mọi sự, công bằng trong mọi việc, hòa nhã với mọi người, yêu người như yêu chính mình (“ái nhân như ái thân”). Từ ngữ “người công chính” thật sự đã diễn tả được trọn vẹn đức tính chính yếu của Thánh Giu-se. Cũng vì đức tính công chính như vậy, nên sau khi nghe lời sứ thần truyền tin, "Ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su.” (Mt 1, 24-25). 

Ngay từ Cựu Ước, đức công chính đã được các ngôn sứ diễn tả rất tỉ mỉ và chốt lại một điểm chung: “Ai sống đời công chính sẽ làm đẹp lòng Đức Chúa”. Điều đó là tất nhiên, nhưng càng về sau, thì những người cầm cân nảy mực trong Do Thái giáo (kinh sư, luật sĩ, Pha-ri-sêu…) lại càng vin vào lý lẽ “người công chính là người tuân giữ trọn vẹn lề luật”, để “bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy.” (Mt 23, 4-5). Họ đã bị chính Đức Giê-su Thiên Chúa vạch trần tâm địa: “Quân dẫn đường mù quáng! Các người lọc con muỗi, nhưng lại nuốt con lạc đà… Các người rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ…, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác!” (Mt 23, 24-28). 

Vấn đề đặt ra không phải là quá câu nệ vào lề luật, chỉ biết “nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật.” (Mt 23, 23). Thánh Giu-se thì hoàn toàn khác hẳn. Ngài là dòng dõi vương quyền (dòng dõi vua Đa-vít), nhưng sống đời khó nghèo với lòng tín phục tuyệt đối vào Thiên Chúa. Chính nhờ lòng tin mà Thánh Giu-se được nên người công chính. Ngài đã sống đúng như lời nhận xét của Thánh Phao-lô về tổ phụ Ap-ra-ham: “Thật vậy, không phải chiếu theo Lề Luật, mà Thiên Chúa đã hứa cho ông Áp-ra-ham và dòng dõi ông được thế gian làm gia nghiệp; nhưng ông được lời hứa đó, vì đã trở nên công chính nhờ lòng tin…  Ông đã chẳng mất niềm tin, chẳng chút nghi ngờ lời Thiên Chúa hứa; trái lại, nhờ niềm tin, ông đã nên vững mạnh và tôn vinh Thiên Chúa, vì ông hoàn toàn xác tín rằng: điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Người cũng có đủ quyền năng thực hiện. Bởi thế, ông được kể là người công chính.” (Rm 4, 13-21). 

Một người công chính như vậy hẳn nhiên là rất đẹp lòng Thiên Chúa, nên trong công trình cứu độ nhân loại, Thiên Chúa đã trao cho Thánh Giu-se giữ những vai trò vô cùng cao trọng: Cao trọng trong vai trò là bạn trăm năm của Đức Maria Thánh Mẫu của Thiên Chúa, trong vai trò là dưỡng phụ của Đức Giê-su Con Thiên Chúa làm người, trong vai trò là gia trưởng của Thánh gia Na-da-rét. Chính Đức Maria đã có lần xác nhận và đề cao vai trò quan trọng này của Thánh Giu-se. Ấy là khi Thánh gia lên Giê-ru-sa-lem mừng lễ, năm Đức Giê-su 12 tuổi. Thánh Giu-se và Đức Maria đã lạc mất con trong 3 ngày, và khi gặp lại, Mẹ đã nói với Con: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" Đến ngay như Đức Giê-su cũng không quên vai trò Thánh Giu-se khi Người đáp: "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?". (Lc, 2, 48-49). Tiếng gọi thân thương “cha mẹ” đã nói lên vai trò cao trọng vô song của 2 cộng tác viên đắc lực nhất của Thiên Chúa (Đức Maria và Thánh Giu-se) trong công trình cứu độ nhân loại. 

Chính vì thế, nên trong tất cả các thánh, ngoại trừ Đức Maria, Thánh Giu-se được nhắc đến nhiều nhất với lòng tôn trọng, sùng kính đặc biệt và vì thế ngài đã được Hội Thánh tuyên phong là Thánh Cả. Lịch phụng vụ của Giáo hội đã dành 2 ngày lễ kính: Ngoài lễ trọng “Thánh Giu-se Bạn Trăm Năm của Đức Maria” (quen gọi là lễ Thánh Giu-se Bầu Cử – 19/3), còn có lễ Thánh Giu-se Thợ (01/5); hơn thế nữa, còn dành cả tháng 3 hàng năm để mừng kính ngài. Bởi vậy nên ngày 8/12/1870, Đức Giáo Hoàng Pi-ô IX đã công bố Thánh Giu-se là Bổn Mạng Giáo hội hoàn vũ, Bổn Mạng của nhiều thánh nhân, nhiều đoàn thể, nhiều hội dòng và của rất đông các tín hữu. Riêng Giáo hội Việt Nam cũng nhận ngài làm Thánh Quan Thầy Bầu Cử.

Khi nhận Thánh Giu-se làm Bổn Mạng, không những Giáo hội “xin Người cứu chữa lấy Hội Thánh, cho khỏi các mưu kế giặc thù, và các sự gian nan khốn khó như vậy” (Kinh “Ông Thánh Giu-se Bầu Cử”), mà còn muốn cậy nhờ Thánh Giu-se giúp cho việc hiệp nhất các Ki-tô hữu. Hiệp nhất là một trong những mối bận tâm lớn của nhiều người, đặc biệt của các nhà lãnh đạo Giáo hội. Dường như ai nấy đều cảm thấy có trách nhiệm và phải cộng tác để làm cho Giáo hội được hiệp nhất, thể theo thánh ý của Thiên Chúa. Thánh Giu-se đã điều khiển Thánh gia trong tinh thần yêu thương, hiệp nhất với Đức Maria và Chúa Giê-su, thì cũng hướng dẫn Giáo hội trong cùng một tinh thần ấy, để các tín hữu trong Giáo hội được liên kết với nhau nên một (“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta.” – Ga 17, 20-21). 

Cũng vì vậy nên Thánh Giáo hoàng Gio-an XXIII đã đặt Công đồng Va-ti-ca-nô II – một Công đồng có sắc thái hiệp nhất rõ rệt – dưới sự bảo trợ của Thánh Giu-se. Đến như Đức Giáo Hoàng đương kim cũng khẳng định: “Tuần Lễ Cầu Nguyện cho sự Hiệp Nhất Ki-tô Giáo bắt đầu hôm thứ bảy tuần trước, và sẽ kết thúc vào thứ bảy tới, ngày Lễ Thánh Phao-lô Tông Đồ Trở Lại. Sáng kiến tinh thần và rất qu‎ý ‎giá này liên quan đến cộng đồng Ki-tô hữu hơn một trăm năm qua.  Đó là một thời gian dành riêng để cầu nguyện cho sự hiệp nhất của tất cả những người đã được Rửa Tội, theo ý muốn của Đức Ki-tô: “rằng tất cả được nên một” (x. Ga 17:21). (Huấn dụ của ĐTC. Phan-xi-cô về Hiệp Nhất Ki-tô Giáo ban hành ngày 22/01/2014).

Nhân nói đến việc Giáo Hội chọn Thánh Giu-se làm bổn mạng, thiết nghĩ cũng cần tìm hiểu xem vì sao có tục lệ nhận thánh bổn mạng? Việc này quen gọi là việc “đặt tên thánh” cho những trẻ sơ sinh (hoặc những tân tòng) khi lãnh Bí tích Thánh Tẩy. Việc đặt tên thánh (hay còn gọi là tên thứ hai sau tên khai sinh, mang ý nghĩa tâm linh) có nguồn gốc từ tục lệ Do Thái giáo trước thời Lưu Đày. Sau khi cha mẹ sinh con 1 tuần, thì sẽ bế con vào hội đường để tham dự nghi lễ đặt tên, gọi là tên thánh. Đến thời Lưu Đày, thì Do Thái bỏ tục lệ này. Mãi cho đến thế kỷ XII, Do Thái nhận thấy cần giữ tập tục này lại, nên lại trở về truyền thống đặt tên thánh cho đến ngày nay. 

Đó là một truyền thống rất tốt đẹp. Khi sinh con, cha mẹ đặt tên khai sinh cho con trong xã hội, đến khi nhận Phép Rửa (được sinh ra lần thứ hai) thì cũng cần đặt tên thánh khai sinh cho con trong Hội Thánh (“Bí Tích Rửa Tội, theo một nghĩa nào đó, là thẻ căn cước của Ki-tô hữu, là giấy khai sinh của họ. Đó là việc được sinh ra trong Hội Thánh.” – bài Giáo Lý của ĐTC. Phan-xi-cô ban hành ngày thứ tư 13/11/2013). Khi chọn cho con mình một tên thánh, các bậc cha mẹ đều mong muốn con mình sẽ sống cuộc đời thánh thiện như vị thánh đó. Ngoài ra, còn bao hàm ý nghĩa là cầu mong vị thánh đó luôn bảo trợ cuộc sống tâm linh cho đứa trẻ và là cầu nối bầu cử (cầu bầu, tiến cử) đắc lực trước ngai tòa Thiên Chúa.

Tóm lại, những cảm nghiệm sâu sắc về Thánh Cả Giu-se – Bổn mạng Giáo hội, bổn mạng mỗi gia đình, mỗi Ki-tô hữu – đã đặt ra trước mắt người tín hữu một hướng lộ cho hành trình tìm kiếm Nước Thiên Chúa; đó là luôn phải gắn liền việc cầu nguyện với việc noi gương Thánh Cả trong mọi tình huống của cuộc sống. “Điều này đòi hỏi một điều gì đó nhiều hơn. Nó đòi hỏi phải cầu nguyện nhiều, phải khiêm nhường, suy nghĩ và hoán cải liên tục. Chúng ta hãy tiến bước trên con đường này, cầu nguyện cho sự hiệp nhất của các Ki-tô hữu, ngõ hầu chấm dứt gương mù này và làm cho nó không còn ở với chúng ta nữa.” (Huấn Dụ của ĐTC Phan-xi-cô –nt-).

Cầu nguyện liên tục để được Thần Khí Chúa soi sáng và hướng dẫn con đường đi tới việc cộng tác với Thiên Chúa ("Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài" – Thánh Au-gus-ti-nô). Và để đạt được hiệu quả tối đa trong việc cộng tác với Thiên Chúa, thì không gì bằng hãy noi gương Thánh Cả Giu-se, luôn khiêm nhường tỉnh thức lắng nghe Lời Chúa, mau lẹ thực thi Thánh ý Chúa, phục vụ Chúa và anh em trong tinh thần sống 3 lời khuyên Phúc Âm (Ngôn sứ, Tư tế, Vương giả) mà Thánh Cả đã nêu gương hết sức mẫu mực. Phải có nhiều người cộng tác như vậy thì máu thánh Chúa đổ ra cứu chuộc tưới xuống nhân loại mới trổ sinh ra được nhiều sự sống mới: Sự sống bình an, sự sống yêu thương, sự sống dẫn về Thiên quốc.

Sống trong một thế giới nhiễu nhương, chứa đầy hận thù ghen ghét hơn là yêu thương đùm bọc, súng đạn nhiều hơn lương thực, và cũng không thiếu những Hê-rô-đê thời đại luôn lùng giết Hài nhi Giê-su; mỗi người Ki-tô hữu, trong tháng Ba hàng năm, hãy noi gương Thánh Cả Giu-se dâng cho Chúa một quyết tâm biến cải gia đình mình nên như một Thánh Gia Na-da-rét. Một cách cụ thể là hãy hiệp cùng Giáo hội chọn Thánh Cả Giu-se làm bổn mạng gia đình, bổn mạng các bậc gia trưởng và nói chung là bổn mạng mỗi cá thể thành viên trong gia đình. Chỉ có như vậy, mới mong canh tân việc “Phúc-Âm-hóa đời sống Gia đình” cho ngày một tốt đẹp, hoàn thiện hơn. Ước được như vậy. Amen.

NÊN THÁNH THEO GƯƠNG THÁNH GIUSE

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Ngày 19 tháng 3, Hội Thánh hoàn vũ hân hoan mừng kính thánh Giuse, bạn trăm năm của Ðức Trinh Nữ Maria, cha nuôi Chúa Giêsu, vị quan thầy khả kính của mình cách trọng thể. Truyền thống bình dân Kitô giáo dành trọn tháng Ba cho thánh Giuse người của Thiên Chúa và đem lòng sùng kính ngài cách đặc biệt.

Điều này thật đẹp lòng Thiên Chúa,“ Vào lúc bình minh của thời đại mới, Chúa đã trao cho thánh Giuse bảo vệ các Mầu Nhiệm Cứu Độ, xin cho Hội Thánh Chúa luôn luôn nhớ lời cầu bầu của thánh nhân …”. Vì thế, “Trong ngày lễ kính thánh Giuse chúng con cùng tung hô, chúc tụng và ca ngợi Cha”.

1. Bạn hiền Trinh Nữ

Tin Mừng ghi lại : “ Giuse bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, nên định tâm lìa bỏ bà cách kính đáo”  (Mt 1, 19). Ðây là câu chuyện duy nhất trong Tân Ước diễn tả trực tiếp về con người của thánh Giuse, một vị hôn phu không những là người đã giữ đức công bình mà còn trung thành chu toàn mọi bổn phận của một người chồng, người chủ gia đình.

Lần giở lại những trang Tin Mừng có liên quan đến Thánh Giuse, chúng ta có thể khám phá ngay tính cao thượng trượng phu của ngài. Khi hay tin Maria mang thai, Thánh Giuse không bối rối cũng không ẩn trốn. Nhưng ngài chỉ mới toan tính bỏ bà Maria cách kín đáo. Tuy nhiên, ngài không thực hiện ý định đó. Bởi sau khi được sứ thần Thiên Chúa đến mặc khải cho ngài qua giấc mộng: “Mẹ Maria mang thai là bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần”(Mt 1,20), ngài đã không còn “bán tín bán nghi” nữa. Trái lại, tín thác hoàn toàn vào lời của sứ thần, sẵn sàng đón Đức Maria về nhà làm bạn mình và phục vụ với lòng kính trọng, mến yêu.

Như thế, từ khi kết hôn với Đức Maria cho đến biến cố Chúa Giêsu 12 tuổi tại Ðền thờ Giêrusalem, ngài ân cần yêu thương đồng hành trong mọi lúc. Ngài ở cạnh Maria Hiền thê của ngài trong những lúc thanh thản cũng như trong những lúc khó khăn của cuộc sống, trong hành trình đi Bêlem để kiểm tra dân số, và trong những giờ hồi hộp và vui mừng của cuộc sinh hạ; trong lúc bi thảm tị nạn sang Ai Cập và trong cuộc vất vả tìm con tại Ðền Thờ; và rồi trong cuộc sống hằng ngày tại nhà Nazaret, trong phòng làm việc nơi thánh nhân đã dạy nghề cho Chúa Giêsu.

Thánh Giuse đã sống ơn gọi làm chồng của Đức Maria trong thinh lặng, kiên trì và trung tín hoàn toàn, cả khi ngài không hiểu. Ngài biết lắng nghe Thiên Chúa, để cho thánh ý Chúa hướng dẫn, và chính vì thế thánh nhân trở thành người chồng mẫu mực của Đức Maria và người cha tận tụy đối với Chúa Giêsu.

2. Cha nuôi Hài Đồng Giêsu

Con trẻ Giêsu là con của thánh Giuse, vị hôn phu hợp pháp của Mẹ Maria. Vì thế, trong Tin Mừng, cả hai đều được gọi là song thân của Chúa Giêsu (x. Lc 2, 27.41).

Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Mẹ Người mà thánh Luca mô tả : Đức Maria nói “Này cha con và mẹ phải đau khổ tìm con! ” Nhưng Ngài đáp lại: “ Thì tại sao tìm con? Lại còn không biết là con phải ở lại nơi nhà Cha con sao? ” (Lc 2 , 48 - 49 ). Những lời của Chúa Giêsu giúp chúng ta hiểu được thiên chức “ làm cha ” của thánh Giuse. Khi gợi lên cho cha mẹ trần gian về việc của Đấng mà Ngài gọi là “Cha con”. Thánh Giuse là cha theo ý Thiên Chúa, vì chính Thiên Chúa mời gọi Giuse cống hiến đời mình phục vụ người Con duy nhất của Chúa Cha, ngài đã trung thành.

3. Nên thánh theo gương thánh Giuse

Ngày hôm nay có biết bao người làm ông nội, ông ngoại, làm bố, với bao trách nhiệm gia đình phải gánh vác. Xem ra họ phải chấp nhận mọi hy sinh vì hạnh phúc của gia đình. Họ mong ước được người vợ và con cái chia sẻ tình thương để bù lại cho những mệt nhọc phải chịu, thì thánh Giuse là mẫu gương sống động cho chính họ học đòi bắt chước, trong vai trò làm chồng cách quảng đại, làm cha gương mẫu và làm chủ gia đình cách tận tụy sáng suốt.

Thật là một cơ hội để những người cha nhìn vào thánh Giuse, mẫu gương tổng hợp tuyệt vời giữa đức tin và lao động, để thánh hoá cuộc sống hằng ngày tuỳ theo bậc sống: “Thánh Giuse là mẫu mực của những người khiêm hạ mà Kitô giáo nâng lên những địa vị cao sang; … Ngài là bằng chứng cho thấy rằng, không cần đến những điều vĩ đại, chỉ cần các nhân đức thông thường, đơn sơ và nhân bản, nhưng phải là những nhân đức đúng nghĩa và chân thực.” Thánh Giuse và Đức Maria đã đưa Chúa Giêsu lên Đền thờ chầu lễ (x. Lc 2, 41- 43). Gia trưởng nên thánh theo gương thánh Giuse giữ ngày Chúa nhật cùng các ngày lễ buộc. Hình ảnh đôi vợ chồng rắt con đi lễ thật là đẹp.

Người ta quen nói : chồng là đầu gia đình, vợ là trái tim gia đình. Nói đúng hơn : chồng là cả hai, vưa là đầu, vừa là trái tim. Người ta cũng thường ví người chồng giữ vai trò như người lái thuyền là phải đưa thuyền đi đúng hướng, là bảo vệ sự an toàn cho mọi người đi tới hạnh phúc.

Làm đầu là phục vụ, là yêu thương, chứ đâu là được phép bắt vợ phải phục tùng một cách độc đoán. Người chồng trong gia đình thường được coi là đại lượng, không chấp nhặt. Nhưng cũng có hai hạng, có người mặc kệ vợ con, có người chấp nhặt, xét nét vợi con từng ly từng tý. Vợ con không bao giờ có lý.

Giời mày râu chúng ta nên thánh theo gương thánh Giuse về sự thủy trung. Ngày nay có người chồng chung vợ chạ, nhớ chả thèm nem, thì sự thủy trung và tôn trọng nhau càng được đề cao hơn bao giờ hết.

Nên thánh theo gương thánh Giuse trong việc giáo dục đức tin cho con cái. Người làm cha phải trả lại cho Thiên Chúa linh hồn những con cái mà Chúa đã trao phó cho. Cùng với đức tin, tập cho chúng những đức tính tốt, thật thà, vâng lời, trong sạch trong lời nói việc làm. Trước vinh dự cao cả và trách nhiệm nặng nề của người cha, người chồng, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđitô lên tiếng kêu gọi những người chồng: “Hãy cứu lấy các gia đình” : “các gia trưởng sẽ bớt bài bạc, bớt những chén rượu, bớt đi những cuộc vui vô bổ, để làm gương sáng cho con cái về đức tin ; để con cái siêng năng cầu nguyện và đến với Chúa khi nhìn vào cha mẹ của mình…”.

Nói đến các ông các anh mà quên các chị các bà e rằng các không cân. Hỡi các bà các chị, mừng lễ thánh Giuse, không chỉ có các ông, các anh noi gương thánh nhân mà thôi. Giáo hội mời gọi chính các bà các chị « phải năng tha thiết khẩn cầu thánh Giuse cứu giúp giữa những điêu linh và cần thiết… không chỉ để bảo vệ chống mọi nguy hiểm, mà ngay cả lúc đang gặp thử thách nặng nề (số 27, 29)». Lúc chồng đi vắng xa nhà, xin thánh Giuse gìn giữ, lúc chồng tội lỗi khô khan, xin ngài trợ giúp. Ngày nay chúng ta vẫn còn có lý do để phó thác mọi người cho Thánh Giuse. (số 31)

Kính xin thánh Giuse từ trời cao phù hộ cho tất cả các người cha và bảo vệ những người làm cha trong gia đình.  Nguyện xin thánh Giuse và Mẹ Maria rất thánh, Nữ Vương các gia đình và là Mẹ của Giáo Hội, (nguyện xin hai Ðấng) cầu cùng Chúa cho chúng con được hồng ân chúng con xin. Amen.

TRỞ NÊN CÔNG CHÍNH NHỜ BIẾT THỰC THI Ý CHÚA

Jos. Vinct. Ngọc Biển, S.S.P

Hôm nay, cùng với Giáo Hội, chúng ta hân hoan mừng trọng thể lễ thánh Giuse, ngài là Đấng Công Chính, là bạn trăm năm của Đức Trinh Nữ Maria, là Cha Nuôi Đấng Cứu Thế.

Tuy nhiên, thánh Giuse được biết đến là một con người thinh lặng, âm thầm tuyệt đối, nhưng lại có một cuộc đời hoạt động không ngừng nghỉ cho công cuộc cứu chuộc của Thiên Chúa.

Chính vì điều đó mà thánh nhân được mệnh danh là người có một đời sống đức tin sâu xa, lòng trông cậy vững vàng và đức mến thiết tha.

Có được điều đó là vì thánh Giuse luôn tìm thánh ý Thiên Chúa thay cho ý riêng của mình. Ngài cũng sẵn sàng đón nhận mọi thử thách, đau thương để thánh ý Chúa được nên trọn.

1. Từ bỏ ý riêng để tuân theo ý Chúa

Thánh Giuse là con cháu Vua Đavít, ngài thuộc dòng dõi hoàng tộc. Khi xuất thân từ con dòng cháu giống như vậy, thân thế của thánh Giuse rất sáng giá. Từ đó, ta có thể suy tư và nhận biết rằng: thánh Giuse là một con người gương mẫu về việc trung thành với luật lệ của tiền nhân. Có lẽ ngài cũng giống như những người đạo đức của Dothái thời bấy giờ, đó là:

Luôn coi luật lệ Cựu Ước là khuôn vàng thước ngọc, là ánh sáng, là con đường để dẫn đưa mình tới hạnh phúc.

Tuy nhiên, thánh Giuse lại được Thiên Chúa ghé mắt nhìn và muốn sử dụng ngài trở thành người phục vụ cho công trình cứu chuộc của Thiên Chúa, chứ không phải chỉ là người chu toàn lề luật thuần túy. Vì thế, Thiên Chúa đã làm cho thánh Giuse từ một người công chính của thời Cựu Ước trong việc chu toàn lề luật cũ, trở thành người công chính của thời Tân Ước trong chương trình của Thiên Chúa.

Sự công chính mà Thiên Chúa muốn dành tặng cho thánh Giuse được khởi đi từ biến cố ngài được báo mộng để đón nhận Đức Maria về làm vợ của mình trong khi Mẹ Maria đang mang thai.

Khi đón Mẹ Maria về chung sống như vậy, thánh Giuse thực sự trở thành người bảo vệ Đức Maria khỏi dị nghị và cái chết, bởi vì việc Mẹ Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần, vì thế, một người phụ nữ mang thai mà không có chồng, chắc chắn, chiếu theo luật, Mẹ sẽ bị ném đá. Việc đón nhận Đức Maria trong lúc nước sôi lửa bỏng như vậy đồng nghĩa với việc cứu sống Đức Maria cách nhãn tiền. Đây là một việc làm can đảm và mang tính quan trọng, quyết định.

Khi chấp nhận như vậy, thánh Giuse đã làm tan biến cái “tôi” của mình để sống và phục vụ cho chương trình của Thiên Chúa.

Như vậy, nếu sự công chính thời Cựu Ước là chu toàn lề luật theo mặt chữ, thì công chính giờ đây, với thánh Giuse là: lắng nghe Lời Chúa, yêu mến, trung thành và thực thi trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa.

2. Vâng theo ý Chúa là chấp nhận một cuộc thử thách cam go!

Khi chấp nhận đi vào đường lối của Thiên Chúa, thánh Giuse đã bước đi trên con đường chẳng mấy ai đi, bởi vì nó không mấy êm ả!

Nhưng với ngài, không một lời than van, oán trách, ngược lại, ngài đi trên con ấy bằng một tình yêu vô vị lợi và với tinh thần trách nhiệm cao.

Bí quyết mà thánh Giuse có được, đó là: ngài luôn gieo vào từng suy nghĩ, hành động của mình bằng một thứ tình yêu độ lượng, bao dung, từ đó, mọi chuyện dù có vất vả, khó khăn…, cũng không thể làm chùn ý chí của ngài.

Điều này được chứng minh ngay sau một thời gian khi đón nhận Mẹ Maria về làm vợ, thánh Giuse đã phải lặn lội đưa Mẹ Maria trở về quê quán để khai tên tuổi. Biến cố này đối với thánh Giuse là một sự kiện rất đáng ghi dấu, bởi vì chuyến đi này đầy ắp tình yêu của ngài với Mẹ Maria, nhưng lại là chuyến đi xa của đôi vợ chồng nghèo!

Chính vì điều này, mà khi đến nơi, không tiền, không bạc, nên không thuê được nhà trọ, vì thế, xót xa lắm khi phải đưa người vợ đầy yêu thương đang bụng mang dạ chửa sắp sinh con tiến ra cánh đồng, nơi dành cho bò lừa để tá túc qua đêm.

Rồi không gì khổ tâm cho bằng chứng kiến cảnh Con Thiên Chúa toàn năng, Đấng tạo dựng nên đất trời, mà lại phải sinh trong máng cỏ của bò lừa, tanh hôi và lạnh giá!

Sự khó khăn không chỉ dừng lại ở đấy, nhưng chỉ mới được có vài ngày sau khi sinh, Gia Đình Thánh đã phải trốn chạy cảnh bạo chúa Hêrôđê ra tay tương tàn sát hại những con trẻ ở Belem.
Không phải chạy gần, mà chạy tới Aicập ngay trong đêm. Hơn nữa, sau khi nghe tin vua Hêrôđê băng hà, Giuse lại quyết định đưa vợ và con của mình hồi hương.

Rồi trong suốt thời gian Đức Giêsu sống ẩn dật, Kinh Thánh chỉ nhắc tới thánh Giuse có một lần. Tuy nhiên, lần nhắc đến này lại là lần ngài và Mẹ Maria tất tưởi đi tìm Đức Giêsu vì bị lạc mất Ngài.

Lược qua những biến cố trong cuộc đời của thánh Giuse như vậy, để cho chúng ta hiểu rằng: chấp nhận đi theo đường lối của Thiên Chúa, ấy là chúng ta chấp nhận lội ngược dòng của cuộc đời. Tuy nhiên, như thánh Giuse, ngài đã không hề than trách, không hề ngại khó ngại khổ, mà ngược lại, thánh Giuse đã làm cho tình yêu của ngài với Thiên Chúa qua Mẹ Maria và Đức Giêsu ngày càng lớn mạnh.

Còn chúng ta thì sao?

3. Sứ điệp Lời Chúa

Trong cuộc sống của con người hiện nay, có lẽ khi nói đến sự công chính của thánh Giuse và mời gọi noi gương ngài để sống sự công chính ấy trong cuộc sống, chắc có nhiều người cho là hão huyền! Bởi vì ngày nay, người ta nhìn mọi biến cố dưới nhãn quan khoa học, ít quan tâm đến hiện tượng lạ xảy ra trong cuộc đời. Bên cạnh đó, chủ nghĩa thực dụng, vô thần và những trào lưu tục hóa đang ngày càng xâm lấn tư tưởng của con người, đã làm cho con người rơi vào tình trạng luôn tìm cách giải nghi huyền nhiệm theo hướng thực dụng!

Người Kitô hữu cũng không ngoại lệ bởi những diễn biến trên!

Chính vì vậy, nên người ta ít nhạy bén trước lời mời gọi của Thiên Chúa qua các dấu chỉ. Việc từ bỏ ý riêng để tuân theo ý Chúa là điều mà nhiều người không muốn nghĩ tới. Hơn nữa, quan niệm hưởng thụ lại là tiêu chí chủ đạo trong cuộc sống hôm nay, vì thế, khi nói đến hy sinh, chịu khổ vì người khác là điều mà nhiều người không thích!

Sứ điệp ngày lễ thánh Giuse hôm nay mời gọi chúng ta hãy can đảm để từ bỏ ý riêng, nhằm phục vụ cho thánh ý và chương trình của Thiên Chúa. Chỉ khi ý riêng của chúng ta được hòa vào thánh ý Thiên Chúa, thì cuộc đời chúng ta mới thực sự được tự do hoàn toàn và đời sống mới có giá trị đích thực.

Luôn loại bỏ tư tưởng rằng: tin và theo Chúa là tránh được những đau khổ, vất vả…. Không phải vậy! Nhưng cần điều chỉnh lại suy nghĩ và hướng tới tinh thần như thánh Giuse, đó là: chấp nhận tin và theo Chúa là sẵn sàng đi vào con đường hy sinh, đau khổ, từ bỏ. Hơn nữa, điều quan trọng nhất, đó là biết đón nhận đau khổ, hy sinh, từ bỏ với tình yêu vô vị lợi và luôn hướng tới người khác. Chỉ có như vậy, chúng ta mới biến đau khổ thành phương thế để được cứu chuộc mình và tha nhân.

Muốn làm được điều đó, chúng ta phải có một đức tin sống động, đức mến nồng nàn và niềm phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Có thế, chúng ta mới hy vọng có đủ độ nhạy bén như thánh Giuse để biết được đâu là thánh ý Thiên Chúa và đâu là ý loài người.

Nguyện xin thánh Giuse luôn bầu cử cho mỗi chúng ta có được trái tim yêu thương, xả thân hết mình vì Chúa và tha nhân như ngài. Xin thánh Giuse nâng đỡ đời sống đức tin, lòng mến và niềm cậy trông nơi chúng ta. Ước gì nhờ lời chuyển cầu của ngài, chúng ta can đảm và an vui dấn bước theo Chúa để được cứu độ. Amen.

THÁNH GIUSE - HOA HƯỚNG DƯƠNG

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trong thực vật học có hiện tượng gọi là quang hướng động,nghĩa là sự phát triển của cây tuỳ thuộc theo ánh sáng.Thân cây có quang hướng động dương nên thường mọc về phía ánh sáng. Rễ cây có quang hướng động âm nên nên mọc về phía tối. Ánh sáng mặt trời ảnh hưởng trên muôn loài cây cỏ nên khi mùa xuân về, nắng xuân xoá tan cái lạnh của đông giá, cây cối xanh tươi, muôn hoa đua nở để kết trái mùa hè.

Trong các loài hoa, có một loài không những thân luôn mọc về phía ánh sáng mà hoa còn luôn quay về phía mặt trời. Đó là hoa hướng dương. Hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời với cánh hoa mở rộng đón nhận ánh sáng và sức sống để toả hương khoe sắc.

Có thể ví Thánh Giuse như hoa hướng dương. Đoá hoa công chính luôn hướng về Thánh Ý Thiên Chúa.Ngài hằng hướng mắt, hướng lòng về Thiên Chúa để nhận ra và làm tròn Thiên Ý. Như Tổ Phụ Abraham, Thánh Giuse đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Nếu như Abraham được Kinh Thánh gọi là tổ phụ của những người tin, thì thánh Giuse thật xứng đáng trở thành cha của những ai có lòng trông cậy.

Cuộc đời của thánh Giuse là một tình yêu thầm lặng. Nhưng những gì ngài đã sống, đã thực hiện trong vai trò một “người tôi trung” của Thiên Chúa, một người cha, một người chồng trong Gia đình Nazarét, cũng đủ toát lên một mẫu gương thánh thiện và công chính nơi Ngài.

Khi đọc lại các trình thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu, chúng ta nhận thấy thánh Giuse là người luôn luôn lắng nghe và đáp trả thánh ý Thiên Chúa, dù cho đó là những điều mà Ngài không mong đợi.Thánh Giuse rất nhạy bén trước ý định của Thiên Chúa.Trong bất cứ hoàn cảnh nào, hễ biết là Ý Chúa là Ngài vui lòng lãnh nhận và mau mắn thi hành.

-Thấy Maria có thai,Giuse phải đau khổ lắm.Người Hôn Thê đạo hạnh mà Ngài rất mực yêu thương lại mang thai trước khi về nhà chồng. Bối rối và khó xử nhưng Ngài vẫn tiếp tục tin tưởng Maria trong sạch vẹn tuyền. Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, Ngài âm thầm ôm lấy nỗi đau riêng mình với một quyết định “Đào vi thượng sách”. Giuse không còn chọn lựa nào khác “vì là người công chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” ( Mt 1,19).Thế nhưng, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho Ngài biết “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần”(Mt 1,20); rồi Thiên Thần khuyên Giuse “Chớ sợ rước Maria về nhà mình”(Mt1,20). Nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa “Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về” (Mt 1,24).

- Cuộc sống đang bình yên tại Bêlem thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc sang Aicập sống kiếp lưu đày.Trước mắt là gian truân vất vả,đường dài vạn dặm mà vợ yếu con thơ, nhưng Giuse luôn tín thác vâng phục “Chỗi dậy, ông đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Aicập ngay giữa đêm khuya” (Mt 2,14).

- Khi đã ổn định cuộc sống nơi xứ lạ quê người với một cơ ngơi bé nhỏ mà Giuse đã gầy dựng từ hai bàn tay trắng.Vậy mà một lần nữa Chúa lại bảo ông phải bỏ lại tất cả để ra đi.Thật mau mắn trước Thiên Ý “Giuse chỗi dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người về đất Israel”(Mt 2,21).

- Có lẽ hơn 30 năm trong mái nhà Nazarét thánh Giuse cũng luôn lắng nghe thánh ý Chúa và đáp trả một cách trung thành qua việc gìn giữ và bảo vệ Đức Maria và Chúa Giêsu, nhất là trong việc nuôi dưỡng và giáo dục Hài Nhi Giêsu.

Cuộc đời của thánh Giuse chỉ biết thi hành thánh ý Chúa bằng tất cả niềm tin và lòng cậy trông.Trước Thánh Ý Thiên Chúa, thánh Giuse vâng phục và chu toàn.Từ Nazareth qua Bêlem, từ Bêlem đi Aicập, từ Aicập về Israel, Chúa bảo Ngài đi là Ngài đi, bảo Ngài về là Ngài về, bảo Ngài làm thế nào là Ngài làm thế ấy,đúng thời gian,đúng địa điểm mà không thắc mắc,không hoài nghi, không cự nự.Tất cả mọi lần Giuse đều thưa như Đức Maria “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền”(Lc1,38).

Một niềm tin được cắm rễ sâu trong việc lắng nghe vâng phục ý Chúa nên tình yêu của thánh Giuse dành cho Đức Maria là một tình yêu trinh sạch, vẹn toàn và vượt lên trên mọi ham muốn của trần gian. Và như thế nó trở nên lời tiên tri về tình yêu vĩnh cửu tồn tại trong vương quốc Phục Sinh. Một tình yêu không bao giờ biết đến nhục dục, nhưng chỉ biết đến những nụ hôn của ân sủng. Một tình yêu không bao giờ chiếm hữu người yêu cho riêng mình, nhưng chỉ là một sự hiến thân thuần tuý. Một tình yêu canh giữ mọi phong phú của khác biệt giới tính và biến đổi chúng thành những tặng ân của ân sủng.

Hoa hướng dương là hình ảnh Thánh Giuse. Nhìn một đoá hoa hướng dương khoe sắc ta nghĩ đến Thánh Giuse. Nhìn cả vườn hoa hướng dương đang rực rỡ trong nắng ấm ta ước mong mỗi người Kitô hữu là một bông hoa nhỏ luôn hướng tâm hồn về Thiên Chúa, mở rộng lòng đón nhận sự sống,tình yêu, niềm vui để rồi toả hương khoe sắc cho cuộc đời.

Thánh Giuse mãi mãi là tấm gương cho tất cả chúng ta soi.Tấm gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa và khi đã nghe thì mau mắn đáp lại không thắc mắc cho dù phải trả giá.Tấm gương của một con người luôn hướng tâm hồn về Chúa, xin vâng trước Thiên Ý, luôn phó thác để Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi của Người.Tấm gương về người quản gia trung tín chăm sóc hai kho tàng quý giá nhất trần gian là Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria.

Thánh Giuse là con người thầm lặng, ít nói, khiêm tốn. Gioan Tẩy Giả chân thành “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại”. Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời. Chính cuộc sống ấy đã làm choThánh nhân thành một vị Đại Thánh. Thánh Cả đã đem cuộc đời mình trở thành một Lời Chúa sống động. Nếu Đức Maria có một Kinh cầu và mỗi lời kinh là một nhân đức, thì thánh Giuse cũng có một kinh cầu và mỗi lời cầu cũng là một nhân đức cho chúng ta noi theo. Đó là : Lắng nghe và thi hành lời Chúa.

Mọi hành vi, thánh Giuse đều đối chiếu với lời, với lệnh truyền của Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa ban thánh Giuse đều đem ra thi hành cách hoàn hảo. Nên thánh là làm theo Thánh Ý Thiên Chúa, nếu cần phải bổ khuyết thì đó chính là sự cần cù, khiêm tốn, thinh lặng, những đức tính đó giúp chúng ta biết lắng nghe, biết tin tưởng vào Lời Chúa và đem ra thi hành.

Thánh Giuse đã nghe được tiếng Chúa nói và mau mắn thi hành. Đây là thái độ nội tâm mà thánh Giuse đã thể hiện : Thinh lặng để nghe Chúa nói với chính mình. Một câu ngạn ngữ của người Nigêria nói rằng: Hãy lắng nghe và bạn sẽ nghe được những bước chân của các con kiến. Theo gương Thánh Giuse, tập sống thinh lặng nội tâm để nhận ra những tín hiệu mà Lời Chúa đang vang vọng lại nơi tâm hồn chúng ta mỗi ngày.

THÂM TRẦM

Trầm Thiên Thu

Phu Quân Lặng Lẽ Yêu Thương Nâng Đỡ

Dưỡng Phụ Âm Thầm Hướng Dẫn Chở Che.

Im lặng là động thái rất ư bình thường nhưng lại không hề dễ dàng duy trì, bởi vì ai cũng muốn thể hiện chính mình để chứng tỏ mình hơn người, càng khó im lặng hơn khi mình bị hiểu lầm, oan ức.

Thật kỳ lạ, vô ngôn mà đa ý, bởi vì Hazlitt nhận định: “Im lặng là một nghệ thuật lớn của cuộc nói chuyện. Bản chất giản dị là kết quả tự nhiên của tư tưởng sâu sắc.” Sự thâm trầm có chiều sâu thăm thẳm, đó là con người sâu sắc. Thật vậy, các vĩ công đều phát sinh từ khoảng im lặng. Thánh TS Thomas Aquino có những ý tưởng độc đáo và những tác phẩm thâm thúy là do ngài thích im lặng để suy tư, đến nỗi người ta gọi ngài là “con bò câm.” Nói đến tính cách thâm trầm thì chắc chắn không ai “qua mặt” Đức Thánh Giuse – Đức Phu Quân và Đức Dưỡng Phụ, đặc biệt là Đấng Công Chính của Thiên Chúa.

Cái tên như tạo nên “số phận” của con người. Thật vậy, chữ Giuse theo tiếng Do Thái là יוֹסֵף [Yosef], tiếng Hy Lạp là Ἰωσήφ [Ioseph], nghĩa là “thêm vào.” Thật thú vị với ý nghĩa này khi nói về Đức Thánh Giuse, con ông Gia-cóp, dòng dõi Thánh vương Đa-vít, là “phần phụ” nhưng lại rất quan trọng. Đức Thánh Giuse thuộc con nhà danh gia vọng tộc nhưng sống rất đơn sơ, giản dị.

Mặc dù là người chồng và người cha mẫu mực, nhưng lại sống rất khiêm hạ, trầm tĩnh, quên mình vì vợ con, dấn thân vì người khác, nêu cao tinh thần phục vụ, âm thầm tan biến như hạt muối hòa tan để làm ngon mọi thứ, và rồi không ai nghĩ gì đến muối nữa. Một “con số không” rất giá trị.

Như chúng ta đã biết, Đức Thánh Giuse là Phu Quân của Đức Maria – Thánh Mẫu Thiên Chúa, và Dưỡng Phụ của Chúa Giêsu, có “vai vế” lắm, mang trách nhiệm nặng nề thì công cán to lắm, thế nhưng không thấy ngài nói gì, có lẽ ngài chỉ cười thôi. Quả thật, cuộc đời ngài hoàn toàn “nhỏ bé,” trầm lặng tuyệt đối, hầu như không có tài liệu nào ghi lại lời nói nào của ngài. Đúng như Chúa Giêsu nói: “Ai là người nhỏ nhất trong tất cả anh em, kẻ ấy là người lớn nhất.” (Lc 9:48) Giáo hội Công giáo tôn xưng ngài là Thánh Cả, và cũng là bổn mạng của Giáo Hội lữ hành.

Nhân đức quan trọng và cần thiết là đức công chính, vì Chúa Giêsu dạy: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người.” (Mt 6:33) Thật vậy, “một khi NÊN công chính thì con người được BẢO ĐẢM ơn cứu độ.” (Rm 5:1-2) Với Đức Thánh Giuse, chúng ta có nhiều điều để nói, mà rồi cũng chẳng có gì để nói. Thật kỳ lạ! Biết mà không khoe khoang, cười trừ như mình không biết. Đó là khôn ngoan đích thực.

Lời thẳng thắn trong sách Huấn Ca có vẻ làm “rát tai” nhiều người lắm: “Kẻ ngu đần chửi thẳng vào mặt; quà tặng của con người tham lam làm rơi nước mắt. Học trước đã rồi hãy nói sau; để ngừa bệnh, con hãy uống thuốc.” (Hc 18:18-19). Thế nhưng lại hợp lý lắm. Cách so sánh rất thực tế: “Uống thuốc để ngừa bệnh.” Như vậy, “học trước, nói sau” là chí lý. Như người Việt cũng nói: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.” Không biết mà “tài lanh” thì quả là dại dột, đúng ra phải nói là “ngu xuẩn.” Ngu dốt sinh ra độc đoán, độc đoán sinh ra độc ác, bởi vì “đầu bã đậu” không thể hiểu nổi ý tưởng cao xa, rồi hóa tự ái. La Rochefoucauld nói rõ: “Những kẻ có trí tuệ tầm thường thì hay lên án những gì vượt quá tầm hiểu biết của họ.” Kinh Thánh cho biết: “Thần khí thánh là thầy dạy dỗ, luôn TRÁNH thói lọc lừa, RỜI XA những lý luận ngu dốt, và GHÊ TỞM những chuyện bất công.” (Kn 1:5)

Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật: Im lặng là điều không dễ thực hiện. Trong những lúc chỉ có vài người ngồi chung bàn mà ai cũng giành nói, nói như chưa bao giờ được nói, tự nhận mình biết nhiều, chữ nghĩa đầy bụng, muốn mình nổi bật, đôi khi nói mà không suy nghĩ, không uốn lưỡi bảy lần. Nhưng có điều chắc chắn là cứ nói nhiều thì sai nhiều, nói ít thì sai ít. Không nói gì như Đức Thánh Giuse là thượng sách. Vả lại, nói cũng phải biết cách nói chứ đâu có dễ. Trước khi nói thì phải suy nghĩ, đắn đo, nói sao cho ngắn gọn mà đầy đủ. Nói dai, nói dài, hóa dại. Nghĩ là điều khó, nói ra càng khó hơn, nhưng làm thì khó lắm. Lachausser phân tích: “Nghĩ đúng, nói đúng, vậy cũng chưa đúng, mà còn phải làm đúng.” Tuyệt chiêu!

Đề cập vấn đề tâm linh, sách Huấn Ca căn dặn: “Trước khi xét đoán, hãy tự kiểm điểm, thì trong giờ Chúa đến viếng thăm, con sẽ được khoan hồng.” (Hc 18:20) Tính toán không hề đơn giản, dù chỉ suy nghĩ về điều nhỏ. Xem chừng “đơn giản” nhưng có khi chỉ là “đang giỡn” mà thôi. Việt ngữ có kiểu “nói lái” độc đáo mà chí lý!

Là tín nhân Công giáo, không ai lạ gì với cách nói “ba thù” – bộ ba gồm Ma Quỷ, Thế Gian, Xác Thịt. Ham nói mà không ham làm là “dính líu” tới “quỷ” Xác Thịt, vừa ích kỷ vừa kiêu ngạo nên “ham nói” lắm. Ai thích “chỉ tay năm ngón” đều là kẻ nói nhiều. Thực tế là thế. Do đó, chẳng dễ gì mà “im lặng” đâu. Cái này giằng cái nọ, cái nọ xọ cái kia, rồi liên quan cả Ma Quỷ và Thế Gian.

Có thể nói rằng giữ im lặng là một nhân đức, liên quan đức khiêm nhu. Đức Thánh Giuse thâm trầm và khiêm nhu lắm, chẳng quan tâm có ai biết mình hay không, chỉ cần Chúa biết thôi. Biết im lặng mới là người khôn ngoan. (G 13:5)

Phải luôn cảnh giác cao độ với mưu ma chước quỷ, vì nó là loại virus độc hại lây nhiễm mau chóng, hơn cả virus Vũ Hán hiện nay, rất khó nhận biết dấu hiệu. Thánh Vịnh gia nói: “Lưới kẻ thù giăng, xin gỡ con ra khỏi, vì nơi con trú ẩn, chính là Ngài. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín.” (Tv 31:5-6) Không gì khôn ngoan hơn là hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa quan phòng mọi sự. Đức tin của Đức Thánh Giuse lớn lao và mạnh mẽ, nên ngài thản nhiên và lặng lẽ, hoàn toàn tín thác nơi lòng thương xót và toàn năng của Thiên Chúa.

Trình thuật 2 Sm 7:4-5, 12-16 nói rằng Thiên Chúa đã cho ông Na-than biết: “Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền. Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con. Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi.”

Rất ngắn gọn nhưng đầy đủ, cho thấy rõ Ý Chúa tiền định. Ở đây chúng ta hiểu về Đức Thánh Giuse, một người uy thế nhưng không thích chứng tỏ mình. Thật vậy, ngài tự hạ như hạt muối hòa tan vào mọi thứ, đến nỗi không còn ai nhận ra muối. Ngài không nói nhưng hành động cụ thể. Thánh Teresa Ávila (Teresa Sánchez de Cepeda y Ahumada, 1515-1582), Tiến sĩ Giáo hội, quả quyết: “Không có điều gì tôi xin với Đức Thánh Giuse mà không được. Nếu không tin tôi nói, bạn hãy thử mà xem!” Ngài không nói, nhưng hành động cụ thể.

Đức Thánh Giuse sống đức tin tuyệt vời, hoàn toàn dìm mình trong Dòng Thương Xót nên không cần nói gì cả, mà chỉ thể hiện cách xưng tụng như Thánh Vịnh gia đã nói: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài. Vâng con nói: Tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu, lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời.” (Tv 89:2-3) Mọi điều đã ứng nghiệm như Thiên Chúa đã tuyên phán từ xưa: “Ta đã giao ước với người Ta tuyển chọn, đã thề cùng Đa-vít, nghĩa bộc Ta, rằng: Dòng dõi ngươi, Ta thiết lập cho đến ngàn đời, ngai vàng ngươi, Ta xây dựng qua muôn thế hệ.” (Tv 89:4-5) Đức Thánh Giuse là thế đó!

Đề cập đức công chính, Thánh Phaolô giải thích: “Không phải chiếu theo Lề Luật mà Thiên Chúa đã hứa cho ông Áp-ra-ham và dòng dõi ông được thế gian làm gia nghiệp, nhưng ông được lời hứa đó vì đã TRỞ NÊN CÔNG CHÍNH NHỜ LÒNG TIN.” (Rm 4:13) Vì tin mà Tổ phụ Áp-ra-ham được công chính hóa, và Đức Thánh Giuse cũng vậy. Đó là hệ quả tất yếu theo lời hứa của Thiên Chúa, vì “lời hứa của Ngài được hoàn toàn chứng nghiệm.” (Tv 119:140)

Và rồi vị Tông Đồ Dân Ngoại cho biết thêm: “Vì tin mà người ta được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa; như thế lời hứa là ân huệ Thiên Chúa ban không, và có giá trị cho toàn thể dòng dõi ông Áp-ra-ham, nghĩa là không phải chỉ cho những ai giữ Lề Luật, mà còn cho những ai có lòng tin như ông. Ông là tổ phụ chúng ta hết thảy, như có lời chép: Ta đã đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ông là tổ phụ chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Đấng ông tin tưởng, Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không có hoá có. Mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc, như lời Thiên Chúa phán: Dòng dõi ngươi sẽ đông đảo như thế.” (Rm 4:16-18)

Giao ước muôn đời của Thiên Chúa là tặng phẩm hoàn toàn miễn phí, hiệu quả tuyệt đối và thực sự hữu ích cho những ai thành tâm tín thác vào Ngài, và chắc hẳn người được “ưu tiên” không ai khác chính là Đức Thánh Giuse – Đức Dưỡng Phụ của Con Thiên Chúa. Là Đấng toàn năng và bất biến, Thiên Chúa “vẫn thành tín yêu thương, đề cao danh thánh và lời hứa của Ngài trên tất cả mọi sự.” (Tv 138:2)

Kinh Thánh cho thấy đức tin của Tổ phụ Áp-ra-ham vô cùng vĩ đại: Sẵn sàng ra đi theo lệnh Chúa truyền, và cũng không ngại hạ sát chính đứa con trai duy nhất của mình làm hy lễ dâng Thiên Chúa. Dù cho khó khăn cách mấy, khó đến nỗi có lúc tưởng như tuyệt vọng, nhưng Tổ phụ Áp-ra-ham vẫn hành tín trung nghĩa: “Ông Áp-ra-ham đã chẳng mất niềm tin, chẳng chút nghi ngờ lời Thiên Chúa hứa; trái lại, nhờ niềm tin, ông đã nên vững mạnh và tôn vinh Thiên Chúa, vì ông hoàn toàn xác tín rằng: điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Người cũng có đủ quyền năng thực hiện. Bởi thế, ông được kể là người công chính.” (Rm 4:20-22)

Dù “muộn màng” cũng xin mượn lời Thánh Vịnh để chúc mừng Tổ phụ Áp-ra-ham và Đức Thánh Giuse: “Phúc thay người ở trong thánh điện, họ luôn luôn được hát mừng Ngài.” (Tv 84:5) Ước gì chúng ta cũng mau trưởng thành tâm linh để khả dĩ được công chính hóa, nhất là trong Mùa Thương Khó này, vì đây là cơ hội ngàn vàng!

Trình thuật theo Thánh sử Mát-thêu (Mt 1:16, 18-21, 24a) cho biết: Gia-cóp sinh Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu cũng gọi là Đấng Kitô. Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng: “Này ông Giuse, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.”

Lời kể ngắn gọn, nhưng chúng ta thấy trong đó cả một hành trình dài đằng đẵng, đầy gian khó, hẳn là Đức Thánh Giuse bị giằng co dữ dằn lắm. Chả thế mà Chàng định ngấm ngầm bỏ đi khi thấy Nàng bụng to. Vừa lo vừa sợ. Chết chắc! Thời đó bị ném đá cho chết chứ chẳng đùa đâu. Thật đáng quan ngại! Ý định “bỏ của chạy lấy người” cũng là lẽ thường của con người, thế nhưng sứ thần cấp báo cho ngài biết rằng chuyện không đơn giản như vậy, vì đó là “quyền phép của Chúa Thánh Thần” chứ chẳng tào lao thế tục đâu. Cứ theo lẽ thường của con người thì ớn thí mồ đi. Chắc là Đức Thánh Giuse lúc ấy vừa gãi đầu vừa cười. Ngại thì ngại, nhưng như thế thì OK thôi.

Tỉnh giấc và biết rõ sự thể, Đức Thánh Giuse liền làm y như sứ thần Chúa dạy và vui vẻ “đưa nàng về dinh” ngay, Chẳng có gì lấn cấn nữa. Hoàn toàn an tâm. Tất nhiên Đức Thánh Giuse “vô tư” tiếp tục hành nghề thợ mộc để mưu sinh, chuẩn bị cho mái ấm tương lai. Ôi chao, thật thanh thản và bình an!

Tôn danh Giuse có ý nghĩa rất thâm thúy. Theo Anh ngữ, Giuse là JOSEPH, mỗi mẫu tự có một ý nghĩa: Just [Công Chính] + Obedient [Tuân Phục] + Silence [Thinh Lặng] + Example [Mẫu Mực] + Patron [Bảo Trợ] + Helper [Ân Nhân]. Theo Việt ngữ, nếu hoán vị hai mẫu tự E và U, chữ Giuse thành chữ Giêsu – cho thấy mối liên hệ giữa Dưỡng Phụ và Con Thiên Chúa.

Hiện nay, trong khi chịu đựng con virus Vũ Hán phá rối trị an, phong cách thâm trầm của Đức Thánh Giuse như lời nhắc nhở chúng ta nên bình tĩnh và giữ thinh lặng, vừa lợi cho mình vừa lợi cho cộng đồng, tín thác và cầu nguyện. Thinh lặng, đau khổ, và công chính có giá trị và liên quan với nhau. Thánh Rosa Lima (1586-1617, Peru) cho biết: “Thiếu gánh nặng đau khổ thì không thể đạt đến đỉnh cao ơn thánh. Tặng phẩm ơn thánh gia tăng khi các cuộc giao chiến gia tăng.”

Lạy Thiên Chúa nhân lành, xin ban ơn biến đổi và giúp chúng con noi gương Đức Thánh Giuse, biết quên mình, sẵn sàng dấn thân, sống tích cực vâng theo Thánh Ý Chúa. Nguyện xin Đức Thánh Giuse nguyện giúp cầu thay, đặc biệt trong thời gian khó khăn lúc này, nhiều thứ đau khổ liên đới với nhau gây ảnh hưởng cả thế giới nhân loại. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

CHÍNH NHÂN THẦM LẶNG

Lạy Thiên Chúa, Đấng từ nhân

Xin thương biến đổi chúng con nên người

Noi gương Dưỡng Phụ của Ngài

Hy sinh thầm lặng, sống đời chính nhân

Biết quên mình để dấn thân

Hăng say, tích cực, thành tâm vâng lời

Vững tin theo ý Chúa Trời

Hết lòng mến Chúa, yêu người thiết tha

Cầu xin Đức Thánh Giu-se

Đồng hành nâng đỡ sớm khuya kiếp người.

Viễn Dzu Tử

CÔNG CHÍNH HÓA

[Thi hóa Rm 4:13-25]

Không có phải chiếu theo đúng Lề Luật

Mà Chúa hứa cho ông Áp-ra-ham

Và dòng dõi của ông được chung hưởng

Phần gia nghiệp là tài sản thế gian

Thế nhưng ông được lời hứa đó thật

Bởi ông nên công chính nhờ lòng tin

Nếu dành cho kẻ lệ thuộc Lề Luật

Như thế thì đức tin thành vô nghĩa

Không có luật thì không có vi phạm

Bởi vì tin mà được Chúa hứa ban

Chính Thiên Chúa ban không các ân huệ

Cho những ai tin như Áp-ra-ham

Ông được làm tổ phụ nhiều dân tộc

Trong số đó có tất cả chúng ta

Trước mặt Chúa là Đấng ông tin tưởng

Đấng làm cho thành có từ hư vô

Mặc dầu không còn gì để trông cậy

Mà ông vẫn trông cậy và vững tin

Nên ông thành tổ phụ nhiều dân tộc

Đúng như lời Thiên Chúa đã phán truyền

Gần trăm tuổi nhưng ông không nao núng

Khi nghĩ rằng niềm hy vọng chẳng còn

Nhưng niềm tin nơi ông không hề mất

Chẳng nghi ngờ lời Thiên Chúa hứa ban

Nhờ niềm tin, ông đã nên vững mạnh

Xác tín về điều Chúa đã hứa ban

Rằng chắc chắn chính Ngài sẽ thực hiện

Bởi vì Ngài toàn trí và toàn năng

Ông được kể là con người công chính

Nhưng như thế không chỉ nói về ông

Mà còn nói về cả chúng ta nữa

Chúng ta sẽ nên công chính rõ ràng

Đức Giê-su là Đấng bị trao nộp

Và chịu chết vì tội lỗi loài người

Nhưng đã được Thiên Chúa cho sống lại

Để chúng ta nên công chính như Ngài

Viễn Dzu Tử

THÁNH GIUSE QUAN THẦY GIÁO HỘI

Lạy thánh cả,thánh Quan Thầy Giáo Hội

Giúp chúng con luôn củng cố đức tin

Giúp chúng con hằng trông cậy vững bền

Và vui sống trong bình an của Chúa.

Người công chính, Chúa Quan Phòng thương đến

Mặc khải cho bao huấn lệnh thần linh

Cha khiêm nhu đã phụng mệnh trung thành

Công đức cả nay nên nguồn ơn phúc.

Xưa Thiên Chúa phó cho cha bảo vệ

Con nhập thể và Mẹ Chúa Trinh Thai

Nay chúng con đồng thành khẩn van nài

Cha nâng đỡ đoàn con trong khốn khó.

Đường theo Chúa, Cha  dắt tay từng bước

Giúp chúng con vượt khỏi cửa tử thần

Để xứng đáng lãnh phần thưởng giáo dân

Muôn đời sống bên Cha,trong Nước Chúa. Amen.

(Thế Kiên Dominic)

THÁNH GIUSE GIA TRƯỞNG

Thánh Kinh chép: Giuse Người Công Chính

Chân dung Ngài huệ trắng giữ trong tay

Đoàn chúng con cầu khấn Cha hàng ngày

Đức khiết tịnh cần được Cha cổ vũ.

Xưa Cha Thánh đem hết lòng phụng tự 

Chúa Hài Nhi ngay từ thuở xuống thai

Cha hy sinh phục vụ Mẹ Chúa Trời 

Bằng tất cả cuộc đời hằng khiết tịnh. 

Đức nhẫn nại của Cha thật đáng kính 

Là quản gia hoạt động như gia nhân

Đức kính tin, thương mến, đức thanh bần

Đức can đảm hành động khi cần thiết. 

Tại Ai-cập, Bê-lem, Na-da-rét 

Cha bình tâm trong lao động cần cù 

Ba mươi năm trải biết bao công phu

Cha bảo vệ Chúa Con và Mẹ Thánh.

Đoàn gia trưởng cúi đầu trước Cha Thánh

Dâng kinh cầu Hội Thánh đã ban ra

Chúng con tin rằng công đức của Cha 

Đáng Thiên Chúa ban mọi điều Cha muốn.

Cha chỉ dẫn chúng con đi đúng hướng

Lái con thuyền nhỏ bé vượt gian nan

Đem gia đình vào Bến Cửa Bình An

Theo Cha Thánh định cư trong Nước Chúa.

(Thế Kiên Dominic)

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan