HIỆP THÔNG trong ƠN GỌI

08-05-2020 275 lượt xem

JM. Lam Thy ĐVD

Hiệp thông, tự bản chất, đó là sự nối kết mật thiết các Ki-tô hữu với Thiên Chúa qua trung gian là Đức Giê-su Ki-tô và trong Chúa Thánh Thần. Tông huấn Ki-tô Hữu Giáo Dân “Christi Fideles Laici” (số 18-20) đã khẳng định: “Sự hiệp thông là chính mầu nhiệm Giáo hội như Công Đồng nhắc lại, qua từ ngữ nổi tiếng của Thánh Cypriano: Giáo hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thành Thần…

Các hình ảnh Kinh Thánh được Công Đồng Va-ti-ca-nô II sử dụng nhằm giúp chúng ta chiêm ngắm mầu nhiệm Giáo hội, đã làm nổi bật thực tại Giáo hội hiệp thông, trong chiều kích là sự hiệp thông của các Ki-tô hữu với Đức Ki-tô, liên kết chặt chẽ với sự hiệp thông giữa các Ki-tô hữu với nhau. Các hình ảnh đó là: chuồng chiên, đàn chiên, cây nho, toà nhà thiêng liêng, đền thánh.” 

I- Khái niệm về Hiệp thông 

Hiệp là gom lại, tập hợp lại nhiều phần tử cá biệt thành một thực thể. Thông là suốt, là liên tục, là luôn luôn không ngừng. Hiệp thông là sự liên kết chặt chẽ với nhau, lưu chuyển và chan hoà cùng một tính chất giữa các phần tử riêng lẻ trong một tổng thể duy nhất, sống động. Với Ki-tô giáo thì “hiệp thông (Koinonia – Communion)” mang ý nghĩa chỉ về sự quan hệ của tín hữu với Thiên Chúa, cũng như giữa các tín hữu với nhau trong Ðức Ki-tô, nhờ Chúa Thánh Thần. Phạm trù hiệp thông rất rộng, khởi đi từ mầu nhiệm hiệp thông Thiên Chúa Ba Ngôi cho tới sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với loài người, giữa thế giới hữu hình với thế giới vô hình, sự hiệp thông giữa loài người với nhau, sự hiệp thông 3 Giáo hội (GH Lữ hành, GH Thanh luyện, GH Khải hoàn), sự hiệp thông trong Giáo xứ, trong mỗi gia đình Ki-tô hữu.

Người Ki-tô hữu đạt được sự hiệp thông nhờ Lời Chúa và các Bí tích. Bí tích Thánh Tẩy là cửa ngõ và là nền tảng của việc hiệp thông trong Giáo hội. Bí tich Thêm Sức giúp tăng trưởng đức tin, nhằm lãnh nhận bí tích Hòa Giải để đạt đến Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và là đích điểm của đời sống hiệp thông Ki-tô giáo. Sự hiệp thông đó chính là sự tháp nhập các Ki-tô hữu vào Đức Ki-tô, và lưu chuyển cùng một Đức Ái trong toàn thể cộng đoàn tín hữu, là hiệp nhất với Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô, hiệp nhất giữa các Ki-tô hữu trong Giáo hội. 

Hiệp thông là sự toàn vẹn, hay nói đúng hơn, thực tại ấy diễn tả nội dung cốt yếu của mầu nhiệm Giáo hội, tức là của chương trình Thiên Chúa cứu độ nhân loại. Sự hiệp thông trong Giáo hội không chỉ là một thực tại có tính xã hội học và tâm lý học, mà là một “thực tai hữu hình và thiêng liêng” (“Giáo hội thánh thiện, một cộng đoàn đức tin, cậy và mến, như một toàn bộ cấu trúc hữu hình trên trần gian... Qua Giáo hội, Người đổ tràn chân lý và ân sủng cho mọi người. Giáo hội là xã hội có tổ chức qui củ, và Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, đoàn thể hữu hình và cộng đoàn thiêng liêng” – Hiến chế Tin Lý về Giáo Hội “Lumen Gentium”, số 8).

Thông điệp về đại kết “Ut Unum Sint” (số 4) hướng dẫn: “Khi tới giờ chịu khổ nạn, Đức Giê-su đã cầu nguyện: “Xin cho tất cả nên một” (Ga 17, 21). Sự hợp nhất Chúa đã ban cho Giáo hội của Người và trong đó Người muốn tất cả được quy tụ lại, không phải là điều thứ yếu, nhưng giữ vị trí trọng tâm trong công trình của Người. Và sự hợp nhất ấy cũng không phải là một đặc tính phụ thuộc của cộng đoàn môn đệ của Người; trái lại, đó là thuộc bản chất của cộng đoàn ấy. Thiên Chúa muốn có Giáo hội bởi vì Người muốn có sự hợp nhất, và cũng bởi vì tình yêu sâu thẳm của Người được biểu lộ trong sự hợp nhất ấy. Quả thật, sự hợp nhất này được Chúa Thánh Thần ban tặng không chỉ là việc tập hợp các cá nhân bên cạnh nhau; nhưng là một sự hợp nhất được tạo nên bởi những liên hệ do việc tuyên xưng đức tin, việc lãnh nhận các bí tích và sự hiệp thông phẩm trật.” 

II- Phân định Ơn Gọi

Ơn gọi là lời Thiên Chúa mời gọi loài người. Ơn gọi đầu tiên và là nền tảng của mọi ơn gọi tự nhiên là ơn gọi làm người. Từ hư vô con người trở thành hiện hữu do ý muốn của Thiên Chúa và mang trong mình một định hướng siêu việt. Mỗi con người là một công trình tác tạo phát xuất từ chính sự sống của Thiên Chúa và nằm trong kế hoạch tình yêu muôn đời của Người. Vì thế, sự sống của mỗi con người gắn liền với chính sự sống của Thiên Chúa, và tình yêu nơi mỗi người là dấu ấn khắc ghi tình yêu bao la của Người. Con người trong cuộc sống này đều cùng mang chung một bản chất là “người của Thiên Chúa”, mang tính cách bình đẳng tự căn tính của đời sống làm người với nhau. Những gì đụng chạm đến tính cách cá nhân con người cũng là đụng chạm đến chính Thiên Chúa. Những gì tác động trên người khác đều gây một ảnh hưởng nhất định trong kế hoạch tình yêu của Người. Ý thức được điều này, người tín hữu nhận ra được tính cách nghiêm túc của cuộc sống mình quan trọng biết bao trong mọi tương quan giữa người với người. 

Ơn gọi thứ hai và cũng là nền tảng cho mọi ơn gọi siêu nhiên là ơn gọi làm Ki-tô hữu. Từ sự hiện hữu đơn thuần, nhân loại được mời gọi bước vào một sự hiện hữu linh thánh, do công trình tái tạo của Thiên Chúa trong Đức Ki-tô. Cuộc sống con người bình đẳng với nhau được nâng lên để sống bình đẳng với Thiên Chúa trong Đức  Ki-tô: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta sẽ cùng sống với Người” (Rm 6,8), nếu ta chịu khổ với Người, ta sẽ cùng Người thống trị. Trong giao ước mới này, mỗi người trở nên một với Đức Ki-tô, đồng hình đồng dạng với Người, mang chung một tính cách, chung một sự sống, chung một tình yêu, để cùng tác tạo và tái tạo với Thiên Chúa trong Đức Ki-tô, dưới sự tác động của Thánh Thần. Sự sống của người Ki-tô hữu mang một chiều kích vô biên trong chính mầu nhiệm hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Mọi ơn gọi khác đều phát xuất từ ơn gọi làm người và một cách rõ nét trong ơn gọi làm Ki-tô Hữu, đó là ơn gọi Tông đồ, ơn gọi Thánh hiến, ơn gọi bậc sống,  ơn gọi chức vụ, ơn gọi nghề nghiệp, ơn gọi môi trường, ơn gọi lãnh vực, ơn gọi hoàn cảnh, ơn gọi khả năng…

Tất cả đều quy về “Ơn gọi làm người”. Ơn gọi này mang tính chất chung quyết hữu hiệu cho mọi ơn gọi khác, kể cả ơn gọi nền tảng. Ơn gọi nền tảng chỉ thể hiện được tính cách cao cả và siêu việt của nó trong Ơn gọi làm người: Ơn gọi làm người chính là sự tập trung toàn bộ năng lực cho sự phát khởi cao đẹp nhất của một tư tưởng, một hành vi, một thái độ, một tâm tình, một phản ứng với tất cả sự đáp ứng tích cực. 

Cuộc sống là ơn gọi thể hiện ba nhân đức đối thần: bằng một niềm tin mạnh mẽ, bằng một tình yêu sâu xa và bằng một lòng cậy trông chan chứa hy vọng. Ơn gọi làm người không phụ thuộc vào sự thành bại, hơn thua, được mất…nghĩa là nó không màng đến tác động hiệu quả của đối tượng; không nhằm đến sự thuận lợi hay bất lợi của sự việc hay con người; của tình thế hay hoàn cảnh xã hội đổi thay; của một quan niệm hay một ý thức hệ tương phản. Ơn gọi làm người chỉ nhằm đến chính sự thiện hảo để thực hiện một cách sâu rộng nhất của lòng tin, yêu, hy vọng trong chính từng khoảnh khắc sống của đời mình với Chúa, với mọi người và với mọi sự.

III- Hiệp thông trong Ơn Gọi

Hiệp thông trong Ơn gọi, tự bản chất, đó là sự nối kết mật thiết các Ki-tô hữu với Thiên Chúa qua trung gian là Đức Giê-su Ki-tô và trong Chúa Thánh Thần. Sắc lệnh Truyền Giáo “Ad Gentes” (số 4) giải thích: “Qua mọi thời đại, Chúa Thánh Thần “hợp nhất toàn thể Giáo hội trong mối hiệp thông và thừa hành, ban phát các ơn phẩm trật và đặc sủng khác nhau”, như là linh hồn làm sống động những tổ chức trong Giáo hội và đổ dần vào lòng các tín hữu cũng một tinh thần truyền giáo đã thúc đẩy chính Chúa Giê-su. Đôi khi Chúa Thánh Thần lại chuẩn bị một cách hữu hình cho hành động truyền giáo, cũng như không ngừng dùng những phương thế khác nhau để theo sát và hướng dẫn vậy.”  

Chúa Thánh Thần kêu gọi và hiệp nhất Giáo hội và sai Giáo hội đi rao giảng Tin Mừng khắp trên mặt đất. Giáo hội biết sự hiệp thông là hồng ân Chúa ban cho các tín hữu, nó là sứ mệnh đối với mọi người. Như thế, Giáo hội cảm thấy mắc nợ đã nhận lãnh từ Chúa Thánh Thần, Đấng đã ban tràn đức ái của Chúa Cha trong lòng các kẻ tin tưởng, là sức mạnh nối kết bên trong và cũng là sức mạnh bành trướng bên ngoài. “Sứ mệnh của Giáo hội nằm ngay trong bản tính của mình như Chúa Ki-tô đã muốn: đó là sứ mệnh phải trở nên “dấu chỉ và phương thế làm cho toàn thể nhân loại được hợp nhất”. Sứ mệnh này có mục đích làm cho mọi người biết và sống sự hiệp thông “mới”; sự hiệp thông đi vào lịch sử thế giới nhờ Con Thiên Chúa làm người” (Tông huấn “Christi Fideles Laici”, số 32).

Chính vì thế, tất cả mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo hội đều sống hiệp thông huynh đệ với nhau để cùng thực thi sứ vụ chung là “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Giáo hội không phải là một thực thể khép kín lại nơi chính mình, nhưng đúng hơn là thường xuyên mở ra cho công cuộc rao giảng Tin Mừng và đại kết đầy năng động, bởi vì Giáo hội được khai sinh nhằm mục đích loan truyền và làm chứng, hiện tại hoá và truyền bá mầu nhiệm hiệp thông là mầu nhiệm tạo thành Giáo hội: quy tụ mọi sự và mọi người trong Đức Ki-tô; là bí tích hợp nhất bền vững cho tất cả mọi người. 

Thông điệp về đại kết “Ut Unum Sint” (số 4) giải thích: “Khi tới giờ chịu khổ nạn, Đức Giê-su đã cầu nguyện: “Xin cho tất cả nên một” (Ga 17,21). Sự hợp nhất Chúa đã ban cho Giáo hội của Người và trong đó Người muốn tất cả được quy tụ lại, không phải là điều thứ yếu, nhưng giữ vị trí trọng tâm trong công trình của Người. Và sự hợp nhất ấy cũng không phải là một đặc tính phụ thuộc của cộng đoàn môn đệ của Người; trái lại, đó là thuộc bản chất của cộng đoàn ấy. Thiên Chúa muốn có Giáo hội bởi vì Người muốn có sự hợp nhất, và cũng bởi vì tình yêu sâu thẳm của Người được biểu lộ trong sự hợp nhất ấy. Quả thật, sự hợp nhất này được Chúa Thánh Thần ban tặng không chỉ là việc tập hợp các cá nhân bên cạnh nhau; nhưng là một sự hợp nhất được tạo nên bởi những liên hệ do việc tuyên xưng đức tin, việc lãnh nhận các bí tích và sự hiệp thông phẩm trật.” 

Quả thực, sự đoàn kết thương yêu nhau chính là đặc trưng của đời sống hiệp thông trong Giáo hội. Như vậy, hiệp thông là sự liên kết chặt chẽ với nhau, lưu chuyển và chan hoà cùng một tính chất giữa các phần tử riêng lẻ trong một tổng thể duy nhất, sống động. Phạm trù hiệp thông trong Ơn gọi rất rộng, khởi đi từ mầu nhiệm hiệp thông Thiên Chúa Ba Ngôi (“Cầu chúc toàn thể anh chị em được tràn đầy ân sủng của Đức Giê-su Ki-tô, tình yêu của Thiên Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” – 2 Cr 13,13), sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với loài người, giữa thế giới hữu hình với thế giới vô hình, rồi đến sự hiệp thông giữa loài người với nhau, sự hiệp thông trong Giáo hội, trong mỗi gia đình Ki-tô hữu. Gọi đó là sự hiệp thông trọn vẹn trong Ơn gọi chính là vì thế.  

Kết luận 

Tóm lại, Hiệp thông trong Ơn gọi là loan báo về Đức Giê-su và chia sẻ Tin Mừng như một quà tặng vô cùng quý giá cho đồng bào và anh em, người Ki-tô hữu cần phải hiểu người đang nghe mình là ai, nghĩa là đang thuộc về nền văn hoá nào. Một khi xác định được nền văn hoá của họ, với những khái niệm và giá trị khác với Ki-tô giáo, người Ki-tô hữu lại phải tìm cách đối thoại để giới thiệu nền văn hoá Ki-tô giáo bằng những loại hình ngôn ngữ thích hợp khiến họ có thể hiểu được, trước khi mở lòng đón nhận những giá trị khác biệt của mình. Quá trình hiệp thông “là con đường bắt buộc các nhà truyền giáo phải đi qua khi giới thiệu đức tin Ki-tô giáo và biến nó thành một phần trong di sản văn hoá của một dân tộc” (Tông huấn “Ecclesia In Asia”, số 21).

Tuy nhiên, việc hiệp thông trong Ơn Gọi không phải là chuyện đơn giản, dễ dàng như thực tế đã chứng tỏ trong lịch sử truyền giáo. Chính vì thế mà người tín hữu được mời gọi để tham gia tích cực vào công trình này.

Có một điều kỳ diệu gắn liền đức tin với công cuộc truyền giáo, đó là từ cái “tôi” riêng lẻ mở ra với cái “chúng ta” liên kết với nhau trong cùng một sứ vụ (“Đức tin không chỉ đơn thuần là một chọn  lựa cá nhân mà người tín hữu làm trong thâm tâm của mình, nó cũng không phải một mối liên hệ hoàn toàn riêng tư giữa cái “tôi” của người tín hữu và Thiên Chúa là “Ngài”, giữa một chủ đề tự trị và Thiên Chúa. Tự bản chất, đức tin được mở ra cho cái “chúng ta” của Hội Thánh, nó luôn luôn xảy ra trong sự hiệp thông của Hội Thánh” – Thông điệp Ánh sáng Đức tin “Lumen Fidei”, số 39). Và đó cũng chính là một phương thế hội nhập để hiệp thông trọn vẹn trong sứ vụ Loan Báo Tin Mừng: Hiệp thông trong Ơn gọi.

Người trẻ cần phải ý thức vấn đề và triệt để thi hành sứ vụ trong Ơn gọi Ki-tô hữu theo đúng quy luật “tuần tự nhi tiến” (tiến triển từ từ) như lời dạy của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong Tông huấn “Amoris Lætitia” (số 325 – phần kết luận):

“Không có gia đình nào là một thực tại hoàn hảo và được kết thành một lần cho tất cả, nhưng đòi một sự tiến triển từ từ khả năng yêu thương của mình (...).

Trong Ơn gọi làm Ki-tô hữu, tất cả chúng ta được kêu gọi luôn cố gắng đi xa hơn chính mình, những giới hạn của mình và mỗi gia đình phải sống trong sự khích lệ liên tục như thế. Các gia đình chúng ta hãy tiến bước, chúng ta hãy tiếp tục bước đi! (...). Chúng ta đừng đánh mất hy vọng vì những giới hạn của mình, nhưng cũng đừng từ bỏ không tìm kiếm tình yêu và sự hiệp thông sung mãn đã được Thiên Chúa hứa cho chúng ta.” Ước được như vậy. Amen.

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan