CHUYỆN CẦU CHÚC - NHỮNG KIẾP HOA XUÂN
Nhánh Tết Đơm Bông Từ Lời Chúa
Cây Xuân Kết Trái Bởi Thánh Kinh.
Chắc chắn tuyệt vời nhất là lời của Chúa Giêsu chúc Bình An và trao ban Chúa Thánh Thần. (Ga 20:19, 21, 22, 26) Thánh Phaolô cũng có lời cầu chúc: “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an.” (1 Cr 1:3) Sự bình an luôn cần thiết, nhất là khi vui Xuân, ăn Tết.
Có nhiều dịp để cầu chúc cho nhau, không chỉ lời hay ý đẹp mà quan trọng là chân thành với nhau, đặc biệt là dịp Tết cổ truyền của dân tộc. Tết Nguyên Đán có điều gì đó rất đặc biệt, cả nội tại và ngoại tại. Theo chiết tự: Tết là “tiết,” Nguyên là “khởi đầu,” Đán là “buổi sáng sớm.” Người Trung Hoa gọi là Xuân Tiết, và rồi Tiết Nguyên Đán biến thành Tết Nguyên Đán.
Kinh Thánh nói: “Chúa đã sắp xếp có chừng có mực, đã tính toán và cân nhắc cả rồi.” (Kn 11:20) Thiên Chúa quan phòng và tiền định mọi sự chính xác tuyệt đối. Thật vậy, nếu khoảng cách các hành tinh gần hơn hoặc xa hơn một chút thì tất cả đều đảo lộn. Con người không tuân theo nguyên lý thiên nhiên vì muốn bá chủ, thế nên tất cả đã không còn như xưa, cụ thể như thủy triều gây ngập lụt nghiêm trọng. Nhân tai mà cứ bảo thiên tai.
Có nhiều thứ để nói liên quan Tết, nhưng có lẽ không thể không nói tới tấm Thiệp Xuân – một dạng phổ biến ngày xưa, ngày nay không còn phổ biến nhưng lại có dạng e-card (thiệp điện tử), thậm chí là “tin nhắn.” Do đó, hình như tình cảm không còn “thật” như xưa, cứ nhạt dần, khoảng xa cách cũng trở nên “rộng” hơn…
Dù ở bất cứ dạng nào, thiệp Xuân (có kèm lời chúc) vẫn là nét văn hóa thể hiện sự quan tâm lẫn nhau, biểu hiện “chất” yêu thương, nhưng đôi khi người ta lại sử dụng thiệp ở dạng “thô,” tức là mang nặng hình thức chứ chưa thực sự chân thành. Thật đáng tiếc, vì cái bề ngoài đã lấn chiếm cái bề trong, gọi là trọng hình thức.
Trong bốn mùa thì Mùa Xuân là mùa đẹp nhất – mùa của muôn hoa, của lộc biếc, của yêu thương, của mơ ước. Người ta có thể nhận thấy bóng dáng “nàng” Xuân qua cảnh vật. Mùa Xuân cũng là mùa của những lời cầu chúc, ước nguyện dành cho nhau về những điều tốt đẹp. Nhưng đôi khi người ta lại cảm thấy lúng túng, không biết chúc thế nào cho hợp lý nhất, đặc biệt là khi gặp nhau vào ngày Tết. Chúc gì thì chúc, miễn sao đó là lời chúc tốt lành và chân thành. Thiết tưởng không nên khách sáo với nhau quá. Chắc chắn không gì hơn là lòng chân thành, có sao nói vậy, đừng “rào trước, đón sau,” đừng đầu môi, chót lưỡi.
Có vô vàn lời chúc, vô vàn kiểu chúc. Mong sao dù xa mặt nhưng không cách lòng, mãi còn nhớ về kỷ niệm khoảnh khác gặp nhau vào mùa Xuân, trong dịp Tết này. Còn được vui Xuân này là hạnh phúc thực tại, không là ước mơ hoặc tưởng tượng. Hãy cứ vui cho trọn, vì chẳng ai biết mình còn có được vui Xuân sau nữa hay không. Nói vậy xem chừng “bi quan,” nhưng KHÔNG, vì hoàn toàn thực tế. Lá xanh hay vàng đều “rụng,” thậm chí cò khi “bị hái.” Đó là một thực tế không ai có thể phủ nhận. Vì thế, người ta càng cần chân thành với nhau hơn, nhất là vào dịp Tết Nguyên Đán – Tết cổ truyền của dân tộc.
Trong những năm gần đây, các nhà thờ Công giáo dùng Lời Chúa để mọi người hái lộc đầu Xuân. Có thể coi đây là dạng “thiệp Xuân” mà Chúa gởi đến mỗi gia đình và riêng từng người trong dịp năm mới, với ý Chúa được thể hiện qua câu Kinh Thánh mình nhận được. Đó cũng là sứ điệp và lời chúc của Thiên Chúa vậy.
Kinh Thánh cho biết rằng, ngày thứ năm trong công cuộc sáng thế, Thiên Chúa cầu chúc vạn vật: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy biển; và chim phải sinh sản cho nhiều trên mặt đất.” (St 1:22) Chính Ngài cũng nói với ông Ápram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, MỌI GIA TỘC TRÊN MẶT ĐẤT SẼ ĐƯỢC CHÚC PHÚC.” (St 12:1-3)
Rồi ông Menkixêđê, vua thành Salem, cầu chúc cho ông Ápram: “Xin Thiên Chúa Tối Cao, Đấng dựng nên trời đất, CHÚC PHÚC cho Ápram!” (St 14:19) Ông Ápram được Thiên Chúa thay tên đổi họ là Ápraham. Khi ông Ápraham tuân lệnh Chúa là hiến tế con trai duy nhất, sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi ông và nói: “Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy chính danh Ta mà thề: bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Dòng dõi ngươi sẽ chiếm được thành trì của địch. Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ CẦU CHÚC CHO NHAU được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta.” (St 22:16-18)
Cô Rêbêca được người ta chúc phúc: “CHÚC em sinh vạn sinh ngàn, giống dòng chiếm cứ cửa thành địch quân.” (St 24:60) Kinh Thánh cho biết: “Đức Chúa CHÚC PHÚC cho ông Ixaác và ông trở nên giàu có, mỗi ngày một giàu thêm, giàu vô kể. Ông có những đàn chiên, đàn bò, có nhiều đầy tớ, khiến người Philitinh phải ghen.” (St 26:12-14) Còn Thánh Vịnh gia nhắn nhủ: “Kẻ nghèo hèn được ăn uống thoả thuê, người tìm Chúa sẽ dâng lời ca tụng. CẦU CHÚC họ vui sống ngàn đời.” (Tv 22:27)
Đề cập những kẻ xấu, những kẻ chỉ cầu chúc bằng môi miệng chứ không thật lòng, Thánh Vịnh gia nói: “Con người ấy, chúng chỉ mưu hạ bệ, chúng thoả lòng vì đã nói dối nói gian. Miệng thì CHÚC PHÚC cầu an, mà lòng nguyền rủa chứa chan những lời.” (Tv 62:5) Câu này khiến chúng ta phải lưu ý, vì nếu không thật lòng chúc lành, đôi khi chúng ta lại “vô tình” chúc dữ cho người khác. Và lời đó sẽ “ám” ngay vào mình chứ chẳng đâu xa.
Cầu chúc cho nhau có được điều tốt lành là điều cần thiết, nhưng quan trọng là phải cầu chúc cho nhau được nhiều hồng ân, đặc biệt là biết tôn vinh Thiên Chúa: “Nguyện Chúa Trời dủ thương và CHÚC PHÚC, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài. Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài!” (Tv 67:2-4) Chắc chắn là vậy, bởi vì Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha. (x. Mt 6:9-13; Lc 11:2-4)
Thánh sử Máccô cho biết: Khi người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu, để Ngài đặt tay trên chúng, nhưng các môn đệ la rầy chúng. Thấy vậy, Người bực mình và quở trách các ông, rồi “Người ÔM LẤY các trẻ em và ĐẶT TAY CHÚC LÀNH cho chúng.” (Mc 10:16) Đây cũng là vấn đề liên quan lòng ghen tỵ hoặc chê trách người khác, tự cho mình hơn người khác. Vậy là có dính líu tới “cái tôi” đáng quan ngại!
Giàu hay nghèo, lớn hay nhỏ, điều cần thiết nhất vẫn là sự bình an – thể lý và tinh thần. Chúa Giêsu đã căn dặn: “Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy.” (Mt 10:12) Khi chữa lành cho người ta, Ngài cũng thường cầu chúc bình an cho khổ chủ, (Mc 5:34; Lc 7:50; 8:48) đặc biệt là lời chúc của Chúa Giêsu sau khi Ngài phục sinh: “Bình an cho anh em.” (Lc 24:36; Ga 20:19, 21, 26)
Có lẽ khó nhất vẫn là cầu chúc cho những người không cùng phe với mình, đối nghịch với mình, không thích mình,... Điều này rất “ngược đời,” không phù hợp với bản tính nhân loại, rất khó thực hiện, và tưởng chừng không thể, nhưng đó lại là điều tích cực mà Chúa Giêsu bắt buộc thi hành: “Hãy YÊU KẺ THÙ và LÀM ƠN cho kẻ ghét anh em, hãy CHÚC LÀNH cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em.” (Lc 6:27-28) Khó, không dễ, nhưng quyết tâm với ơn Chúa thì ai cũng có thể làm được.
Xuân đến rồi Xuân đi, Tết vui rồi Tết buồn. Mọi sự đều vô thường, chỉ có Thiên Chúa bất biến và duy nhất: “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời.” (Dt 13:8) Thánh Isaak Syria cho biết: “Nếu không xa lánh thế gian thì chẳng ai có thể gặp được Thiên Chúa. Khi nói xa lánh, tôi không có ý nói về việc thay đổi chỗ ở thể lý, nhưng là xa lánh các sự trần tục. Nhân đức siêu thoát hệ tại ở chỗ không để tâm trí vướng bận về trần thế.”
Lạy Thiên Chúa, xin ban cho chúng con những ơn cần thiết để chúng con hoàn thiện theo Thánh Ý Ngài; xin cho thế giới mau thoát khỏi đại dịch và biết sống theo Thánh Luật của Ngài. Xin Đức Mẹ, Đức Thánh Giuse, các thiên thần và các thánh nguyện giúp cầu thay cho chúng con, đặc biệt trong dịp Tết này và năm nay. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
NHỮNG KIẾP HOA XUÂN
Con người có nhiều loại người (tốt, xấu), nhiều dáng người (cao, thấp, mập, gầy), nhiều tính người (hiền, dữ), nhiều phận người (sướng, khổ, may mắn, bất hạnh),… Và hoa cũng có nhiều loại hoa, với hương sắc khác nhau. Phận người đa dạng, thì đời hoa cũng vậy, có loại “sống mãi” (hoa bất tử), có loại sớm nở chiều tàn (hoa phù dung),…
Mùa Xuân là mùa “trăm hoa đua nở.” Nhạc sĩ Anh Bằng đã viết ca khúc “Những Kiếp Hoa Xuân,” và ông “mượn” những cánh hoa để nói về những phận người thường có gì đó đượm buồn, có lẽ vì vậy mà ông viết ca khúc này ở âm thể Thứ, có thể đệm đàn bằng điệu Tango. Giai điệu buồn mà lạ, sâu lắng.
Ông đặt mình vào vị trí của một người đang đứng giữa mùa Xuân: “Tôi buồn đứng trông hoa cười, hoa nào duyên không lả lơi, không thẹn thùng trước gió xuân tươi, không đậm đà giữa nắng xuân vui, không say mộng đời?” Vâng, chắc hẳn hoa nào cũng thế. Cũng vậy, người con gái nào cũng đầy nữ tính, cũng hãnh diện về “nét riêng” của mình. Nàng Kiều có nét của nàng Kiều, bà Trưng có nét của bà Trưng, bà Triệu có nét của bà Triệu, Thị Nở có nét của Thị Nở, chẳng ai giống ai, và “nét riêng” ấy không thể lẫn lộn với ai được.
Nhưng ông nói rất lạ: “Phương trời cố hương xa vời, Xuân về cho hoa tả tơi.” Xuân về mà hoa tả tơi ư? Sao lại khốn khổ thế nhỉ? Đúng thôi, lý do là thế này: “Hoa lạnh lùng sống với đơn côi, chôn cuộc đời khép kín đôi môi,” và vì vậy mà “hoa chẳng còn tươi.” Hoa không còn tươi là hoa héo úa, hoa tàn tạ, vậy là hoa tả tơi rồi!
Đóa hoa đó không là thực vật mà là một con người, một cô gái đang độ xuân thì: “Anh ơi, em là hoa hoa biết nói, giữa tuổi xuân thắm tươi, vẫn không yêu kiếp người.” Một cô gái trẻ mà lại thiếu sức sống, đầy chán nản, không thấy yêu đời. Lý do cũng đơn giản thôi: “Anh đi trong ngày Xuân hay bóng tối, hồn em như chới với, mắt em như lệ rơi.” Ngày Xuân mà không được ở gần người yêu, buồn lắm thôi! Không biết chàng người yêu giờ ra sao, còn cô nàng cảm thấy chới với và chỉ chực khóc. Tội nghiệp cô nàng!
Mùa Xuân về, ngày Tết đến, nhưng cô gái chưa thấy mùa Xuân, chưa cảm nhận được Tết. Cô gái thổ lộ: “Xin mượn tiếng ca u hoài, cung đàn yêu thương người ơi!” Tiếng ca dù buồn nhưng là cung đàn yêu thương tha thiết của người con gái xuân thì đang yêu, khao khát cháy bỏng. Chính cung thương điệu sầu đó là dấu ấn tình yêu của cô nàng và anh chàng trong thời chiến: “Ghi tình sầu đất nước chia đôi, ghi tình đời những cánh hoa rơi, ghi cả tình tôi.” Cô gái yêu thật, thương thật, và nhớ thật. Cái tương tư có mà như không, vô hình mà như hữu hình, thực tế mà như ảo tưởng. Lạ thật!
Ước gì đừng ai phải cách xa khi tình yêu đã lên ngôi thực sự!
Sách Huấn Ca gọi đời người là “kiếp người khốn khổ.” Có một số câu điển hình:
– Kể từ khi từ lòng mẹ sinh ra cho đến lúc trở về lòng đất mẹ, mang thân phận con người, ai cũng canh cánh bên lòng một nỗi lo, là con cháu Ađam, nợ phong trần đương nhiên phải trả. (Hc 40:1)
– Điều không ngừng ám ảnh khiến lòng người sợ hãi âu lo là cứ phải nghĩ rằng mình đang chờ chết. Từ bậc vua chúa trên ngai vinh hiển đến kẻ cùng đinh chân lấm tay bùn, từ người cân đai áo mão đến kẻ khố rách áo ôm, ai cũng đều giận dữ, ghen tương, đều băn khoăn, lo lắng, rồi sợ chết, rồi hận thù cãi cọ. (Hc 40:2-4)
– Mọi xác phàm, từ người đến vật, nhưng quân tội lỗi thì gấp bảy lần, không làm sao tránh khỏi: chết chóc và đổ máu, cãi cọ và đâm chém, hoạn nạn, đói kém, đổ nát, tai ương. (Hc 40:8-9)
– Rượu và nhạc khiến lòng người phấn khởi, nhưng lòng mến đức khôn ngoan vẫn đáng quý hơn. Tiếng sáo, tiếng đàn khiến giọng hát du dương, nhưng lời nói dịu dàng còn êm tai hơn nữa. (Hc 40:20-21)
– Vẻ đẹp và duyên dáng làm người ta thích nhìn, nhưng cánh đồng xanh mướt còn đáng nhìn hơn. (Hc 40:22)
– Có anh có em là để giúp nhau khi hoạn nạn, nhưng của bố thí còn trợ giúp đắc lực hơn. Có bạc, có vàng là an tâm vững chí, nhưng được người góp ý còn quý giá hơn. (Hc 40:24-25)
– Giàu sang và sức mạnh khiến người ta tin tưởng, nhưng lòng kính sợ Đức Chúa còn trổi vượt hơn. Có lòng kính sợ Đức Chúa thì chẳng thiếu gì. Kính sợ Chúa rồi, không cần phải cầu cứu ai nữa. (Hc 40:26)
– Con ơi, đừng đi ăn xin để sống: thà chết còn hơn! (Hc 40:28)
– Kẻ nhìn trộm mâm người khác, có sống cũng kể như chẳng sống ra người. Vì đứa ăn bám làm mình ra nhơ nhớp; còn người hiểu biết và có giáo dục thì sẽ không xử sự như thế. Miệng đứa ăn xin ngọt như mía lùi, nhưng tâm địa hắn thì như lò lửa. (Hc 40:29-30)
Thân phận con người “bọt bèo mỏng mảnh, gió thoảng qua, không hẹn ngày về,” (Tv 38:79) mẫu số chung của nhân loại là “cất tiếng khóc, tiếng đầu đời của bất cứ một ai.” (Kn 7:3) Khổ thật!
Vì thế, chúng ta phải nhận ra mình và cầu xin Thiên Chúa: “Thân phận con khốn khổ nghèo hèn, xin mau đến cùng con, lạy Thiên Chúa! Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con, muôn lạy Chúa, xin đừng trì hoãn.” (Tv 70:6) Và như thế thì an tâm mà sống, cứ vui Xuân và ăn tết, vì Đức Giêsu luôn đồng hành với chúng ta: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:10)
Xin tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa!
TRẦM THIÊN THU
+ Ns. Anh Bằng tên thật là Giuse Trần An Bường (có lẽ ông “biến” chữ An Bường thành Anh Bằng) sinh năm 1925 tại Điền Hộ, nay thuộc xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1935, ông xa gia đình để học tại Tiểu chủng viện Ba Làng (huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa), rồi học trung học ở Hà Nội, sau đó theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống tại Saigon cho đến 1975. Ông đã sáng tác khoảng 850 ca khúc, và là người sáng lập Trung Tâm Asia vào năm 1981. Ông qua đời cuối năm 2015.
Ông rất nổi tiếng với nhiều tác phẩm sáng tác và phổ thơ. Các tác phẩm như “Nỗi lòng Người Đi” (đánh dấu cuộc di cư vào Nam), “Nếu Vắng Anh” (phổ bài thơ “Cần Thiết” của thi sĩ Nguyên Sa), “Hoa Học Trò,” “Người Thợ Săn Và Đàn Chim Nhỏ” đã được các ca sĩ Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Ngọc Lan thể hiện thành công.
Ông gia nhập Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa năm 1957 trong ngành Công binh, sau chuyển sang Tâm lý chiến, đến năm 1962 thì ông giải ngũ. Trong thời gian phục vụ quân đội, ông sáng tác vở kịch “Đứa Con Nuôi” và đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc.” Những vở kịch khác do ông soạn tiếp theo là “Hoa Tàn Trên Đất Địch,” “Lẽ Sống” và “Nát Tan.” Sau khi giải ngũ, ông tiếp tục hoạt động ở đài truyền thanh VTVN.
Năm 1975, ông cùng gia đình sang Hoa Kỳ, và tiếp tục hoạt động âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassette Dạ Lan (1981–1990). Thời gian sau, ông cộng tác với Trung Tâm Asia. Thời gian ở hải ngoại, ông sáng tác nhiều ca khúc, đáng kể là Anh Còn Nợ Em (thơ Phan Thành Tài), Căn Gác Lưu Đày, Chuyện Giàn Thiên Lý, Khúc Thụy Du (thơ Du Tử Lê), Kỳ Diệu, Mai Tôi Đi,... Từ cuối năm 2010, đã có một số ca khúc của ông được chính thức cấp phép tại Việt Nam: Người Tình Mùa Đông, Anh Còn Nợ Em, Tình Là Sợi Tơ, Chuyện Tình Lan và Điệp,...
Năm 1966, ông cùng Lê Dinh và Minh Kỳ thành lập nhóm sáng tác nhạc, ký tên chung là Lê Minh Bằng. Các hoạt động chính của nhóm gồm:
– Mở “Lớp Nhạc Lê Minh Bằng” tại 102/8 đường Hai Bà Trưng, Tân Định, Saigon. Ba nhạc sĩ thay phiên nhau giảng dạy về lý thuyết (nhạc lý, ký âm) và thực hành (luyện giọng, xướng âm).
– Thành lập ban nhạc “Sóng Mới,” chuyên trình diễn trên Đài phát thanh Saigon.
– Cố vấn cho hãng đĩa hát Asia của ông Nguyễn Tất Oanh trong việc lựa chọn bài hát và ca sĩ.
– Phụ trách việc tổ chức chương trình “Tuyển Lựa Ca Sĩ” hằng tuần tại rạp hát Quốc Thanh, do Đài phát thanh Saigon thực hiện.
– Sáng tác, xuất bản, và phổ biến nhiều ca khúc mới dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Lê Minh Bằng, Vũ Chương, Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Ly Vũ, Dạ Cầm, Giang Minh Sơn, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Tôn Nữ Thụy Khương, Phương Trà, Huy Cường,... Trong đó tác phẩm nổi tiếng nhất có lẽ là “Chuyện Tình Lan Và Điệp.”
Ông có nhiều ca khúc khác như Ai Bảo Em Là Giai Nhân, Anh Còn Yêu Em (thơ Phan Thành Tài), Áo Dài Quê Hương, Bài Thơ Đan Áo (thơ T.T.KH.), Bẽ Bàng, Biển Dâu, Bướm Trắng (thơ Nguyễn Bính), Căn Nhà Ngoại Ô, Chuyện Giàn Thiên Lý 1 (thơ Yên Thao), Chuyện giàn thiên lý 2 (thơ Yên Thao), Chuyện Hoa Sim (thơ Hữu Loan), Chuyện Hoa Tigôn (thơ T.T.KH.), Chuyện Một Đêm, Chuyện Người Con Gái Ao Sen, Chuyện Tình Hoa Mai (thơ Nguyễn Bính), Chuyện Tình Hoa Trắng (thơ Kiên Giang), Chuyện Tình Mùa Thu, Chuyện Tình Yêu, Cỗ Bài Tam Cúc (thơ Hồ Dzếnh), Đừng Nói Yêu Tôi, Giấc Ngủ Cô Đơn, Gõ Cửa (Một Lần Ghé Thăm), Gọi Anh Mùa Xuân (thơ Trần Mộng Tú), Hai Mùa Mưa, Hồi Chuông Xóm đạo (thơ Kiên Giang), Khóc Mẹ Đêm Mưa, Lạy Mẹ Con Đi, Lẻ Bóng, Mất Nhau Mùa Đông, Mộ Đời, Mưa Buồn, Mưa Chiều, Nam Xương Tiếng Khóc Đêm Mưa, Nếu Hai Đứa Mình (viết chung với Lê Dinh), Nếu Vắng Anh (thơ Nguyên Sa), Ngoại Ô Buồn, Người Thương Binh (thơ Thái Tú Hà), Người Tình Mùa Đông, Nhớ Saigon (viết chung với Trúc Giang), Nước Mắt Mẹ Tôi, Nước Mắt Một Linh Hồn, Qua Ngõ Nhà Em, Saigon Vẫn Mãi Trong Tôi (viết chung với Trúc Hồ), Sầu Lẻ Bóng 1, Sầu Lẻ Bóng 2, Sầu Lẻ Bóng 3, Tango Dĩ Vãng, Thăm Mộ Mẹ (thơ Lê Duy Phương), Trúc Đào (ý thơ Nguyễn Tất Nhiên), Truyện Kiều (ý thơ Nguyễn Du), Về, Vọng Cổ Ông Đồ,…
XUÂN TÂM TÌNH
Mẹ xao xuyến lúc Xuân sang
Bồi hồi Tết đến, Cha mong con về
Rưng rưng mắt Mẹ nhìn Cha
Chưa thấy con về ăn Tết năm nay
Con xa có nhớ quê này?
Đơn sơ, giản dị, nhưng đầy yêu thương
Kiếp người vất vả muôn phương
Lo toan chật chội trăm đường sinh nhai
Mẹ Cha đã trải qua rồi
Nên thương con cái lạc loài phương xa
Con đừng quên Mẹ, quên Cha
Có Cha, có Mẹ mới là Xuân vui
Gần nhau chẳng có lâu dài
Cũng chưa chắc trọn vẹn vài ngày Xuân
Con đừng quên cội, quên nguồn
Thắp nhang tưởng niệm tổ tiên, ông bà.
TRẦM THIÊN THU
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.