Ràng Buộc Trong Hôn Nhân Tự Nhiên
Hỏi: Kính thưa cha,
Tại sao một đôi hôn phối: một bên không có đạo, một bên có đạo và vẫn giữ đạo của mình, thì được ban Phép chuẩn (hai bên chưa lập gia đình).
Còn trường hợp: một người không có đạo đã lập gia đình (có hoặc không có con), không chịu theo đạo và một người có đạo chưa lập gia đình, thì không được ban Phép chuẩn. Xin cha giải thích cho con. Con cám ơn cha
(Con chiên)
Trả lời: Con chiên thân mến,
Vì con không ghi rõ họ tên nên cha không biết phải xưng hô làm sao đành phải dùng lại cái tên rất hiền lành mà con đã nhận.
Thắc mắc con nêu ra ở trên cũng là điều mà rất nhiều người Công giáo đã hiểu lầm vì cho rằng hôn nhân của người lương (không có đạo) thì không có giá trị. Sự hiểu lầm này có thể phát sinh từ việc cho phép một người lương đã có gia đình nay xin theo đạo lại được kết hôn thêm một lần nữa với người Công giáo. Cha sẽ giải thích điều này.
Thực ra, tất cả mọi hôn nhân dù là Công giáo hay ngoại giáo khi đã thành sự (có sự ưng thuận và cử hành cách công khai) thì đều được nhìn nhận có giá trị. Những đặc tính đơn nhất (một vợ một chồng) và bất khả phân ly là những đặc tính chính yếu của tất cả mọi hôn nhân như đã được xác định trong Giáo Luật điều 1056 :
Những đặc tính chính yếu của hôn nhân là sự đơn nhất và sự bất khả phân ly, những đặc tính này có một sự bền vững đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo vì có tính cách bí tích.
Như vậy hôn nhân Kitô giáo (chứ không chỉ hôn nhân Công giáo) đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích nên có được sự đặc biệt bền vững đến nỗi không thể được tháo gỡ do bất cứ quyền bính nhân loại nào và vì bất cứ lý do nào, trừ lý do tử vong (xem Giáo Luật điều 1141). Đến đây chắc con lại nảy sinh một thắc mắc là có những trường hợp hôn nhân được giải gỡ thì sao? Đó là những hôn nhân được tuyên bố là không thành sự vì có những lý do xảy ra trước khi kết hôn làm cho hôn nhân bất thành chứ không có chuyện hủy bỏ hôn nhân cũ vì một khi hôn nhân đã thành sự thì không ai có thể vô hiệu hóa được.
Bây giờ chúng ta trở lại với thắc mắc là tại sao một người có đạo kết hôn với người ngoại thì được phép chuẩn? Trường hợp này rõ ràng cả hai không bị trở ngại hay vướng mắc gì nên Phép chuẩn là để cho người Công giáo có thể giữ đạo và lãnh nhận các bí tích cách bình thường. Hôn nhân này vẫn là hôn nhân tự nhiên.
Còn trường hợp người lương đã lập gia đình thì hôn nhân tự nhiên của họ trước đây đã thành sự nên họ vẫn bị ràng buộc với người phối ngẫu cũ cho dù họ đã li dị nhiều năm. Li dị chỉ là thủ tục dân sự chứ không thể cắt đứt dây hôn phối đã kết hợp hai người về mặt tự nhiên. Vì thế, người lương vẫn không thể kết hôn một lần nữa với người Công giáo nếu không được hưởng đặc ân có lợi cho đức tin .
Trường hợp người lương, sau khi đã li dị rồi lại quen với người Công giáo và muốn tiến tới hôn nhân. Nếu họ gia nhập đạo Công giáo thì họ có thể được hưởng Đặc ân Thánh Phaolô mở rộng, gọi là Đặc ân có lợi cho đức tin, và phải đáp ứng những điều kiện mà đặc ân này đòi hỏi. Đây cũng không phải là chuyện đương nhiên cứ theo đạo là được, nhưng phải xin và nếu được chấp thuận thì họ mới được phép kết hôn với người Công giáo.
Vì vậy, hôn nhân của người Công giáo hay của người lương đều có đặc tính bất khả phân ly, mà nhờ Đặc ân Thánh Phaolô là đặc ân có lợi cho đức tin mới cho phép người lương đã có gia đình được kết hôn thêm một lần nữa. Còn nếu họ không theo đạo thì họ không được hưởng đặc ân này và do đó, người Công giáo không thể kết hôn với họ.
Hôn nhân bất hợp pháp
a) Sự kiện: Nhiều trường hợp kết hôn theo dân sự, tổ chức đám cưới, nhưng không theo luật Giáo hội: hoặc không cử hành bí tích hôn phối theo luật Giáo hội, hoặc không có phép chuẩn khác đạo.
b) Trước thực tế đó, có nhiều cách giải quyết:
· Một số nơi coi đó chỉ là lỗi của hai người kết hôn. Cha mẹ của họ và những người tham dự đám cưới vẫn được lãnh nhận bí tích.
· Một số nơi khác: cha mẹ và những người tham dự đám cưới không được xưng tội rước lễ trong một thời gian, dài ngắn tuỳ từng nơi:
- Có nơi một hay vài tháng và buộc làm đơn xin tha lỗi, hoặc xin lỗi công khai trong cộng đoàn.
- Có nơi chế tài cho đến khi đôi hôn phối ấy được sửa chữa và cử hành theo giáo luật.
- Có trường hợp kéo dài nhiều năm.
· Cũng có nơi quy trách nhiệm và buộc phải “đền tội” nhưng theo hướng tích cực: buộc cha mẹ và những người tham dự phải khuyên bảo động viên, nỗ lực làm gương sáng, cầu nguyện,… cho đôi hôn phối.
c) Lý do cấm xưng tội rước lễ
Biện pháp chế tài bằng cách không cho xưng tội rước lễ thường được áp dụng tại các giáo xứ có truyền thống lâu đời, người công giáo tập trung đông và các gia đình trong giáo xứ biết nhau.
Lý do:
- Hôn nhân bất hợp pháp gây gương xấu trong cộng đoàn.
- Việc cấm không được xưng tội rước lễ sẽ tác động trên cha mẹ để cha mẹ tác động hoặc áp lực trên con cái phải giữ luật Giáo hội. Điều này xem ra có kết quả vì phòng ngừa được nhiều nố.
Vấn đề:
- Giáo luật có tiên liệu cho mục tử có quyền chế tài ấy không? Đấng Bản quyền có quyền ra luật trong địa phương?
- Trong giai đoạn trước đây, việc chế tài này có thể đem lại kết quả, nhưng trong bối cảnh xã hội ngày nay, việc chế tài ấy liệu có còn phù hợp và đem lại kết quả nữa không?
----------------------------------------------------------------------
GÓP Ý
Hiện tượng kết hôn dân sự mà không có nghi thức tôn giáo hay thể thức giáo luật là khá phổ biến và có nhiều người đặt ra những câu hỏi về việc tham dự cũng như những hình phạt kèm theo như cấm xưng tội rước lễ…
Một vấn đề thường được nhắc đến đó là sự bất đồng nhất của quy định trong các giáo phận của HDGMVN. Thậm chí ngay trong một giáo tỉnh cũng không có những cách áp dụng đồng bộ.
1. Giáo luật có tiên liệu cho mục tử có quyền chế tài ấy không?
Theo giáo Luật điều 1331 thì Giáo Hội có quyền sử dụng các biện pháp chế tài để phạt những người phạm pháp:
Điều 1311
Giáo Hội có quyền bẩm sinh và riêng biệt cưỡng chế các Kitô hữu phạm pháp bằng những chế tài hình sự.
2. Đấng Bản quyền có quyền ra luật trong địa phương không?
Thẩm quyền thiết lập luật hình sự được trao cho cơ quan lập pháp mà trong giáo phận Đức Giám Mục là người có thể ban hành luật cho Giáo phận của mình. Theo giáo Luật điều 1315 thì Đức Giám Mục giáo phận chứ không phải Đấng Bản Quyền có quyền ban hành luật kèm theo hình phạt.
Điều 1315
§1. Người nào có quyền lập pháp cũng có thể ban hành những luật hình sự, nhưng cũng có thể dùng luật của mình để thêm một hình phạt thích đáng vào một luật của Thiên Chúa hay một luật của Giáo Hội do một nhà chức trách cấp trên ban hành, miễn là vẫn tôn trọng các giới hạn của thẩm quyền đối địa hay đối nhân của mình.
§2. Chính luật có thể ấn định hình phạt hoặc để cho thẩm phán xác định theo sự đánh giá khôn ngoan của mình.
§3. Luật địa phương có thể thêm các hình phạt khác nữa, ngay cả khi một luật phổ quát đã thiết lập những hình phạt cho một tội phạm nào đó; tuy nhiên đừng làm như vậy, trừ khi có nhu cầu rất nghiêm trọng. Còn nếu luật phổ quát ngăm đe ra một hình phạt bất định hay tùy ý, thì luật địa phương cũng có thể thiết lập thay vào đó một hình phạt nhất định hay bắt buộc.
3. Trong giai đoạn trước đây, việc chế tài này có thể đem lại kết quả, nhưng trong bối cảnh xã hội ngày nay, việc chế tài ấy liệu có còn phù hợp và đem lại kết quả nữa không?
Hiện nay việc chế tài này đặt ra nhiều vấn nạn:
a) Nếu là một luật thì cần phải có văn bản chính thức được ban hành và phổ biến cách công khai. Có ngày tháng, có chữ ký và ngày luật có hiệu lực.
Điều 7
Luật được thiết lập khi được ban hành.
Điều 8
§2. Những luật địa phương được công bố theo thể thức do nhà lập pháp xác định và bắt đầu buộc sau một tháng, kể từ ngày được ban hành, nếu chính luật đó không ấn định một thời hạn nào cả.
b) Cách phạt không cho xưng tội rước lễ là một hình thức vạ cấm chế tiền kết. Muốn ra một hình phạt như vậy thì luật phải minh nhiên công bố như vậy chứ không thể được ngầm hiểu.
Điều 1314
Thường thường, hình phạt là hậu kết, nghĩa là tội nhân không phải chịu hình phạt bao lâu chưa bị tuyên bố; còn hình phạt là tiền kết, nghĩa là phạm nhân phải chịu hình phạt tức khắc do chính sự kiện phạm tội, nếu luật và mệnh lệnh minh nhiên ấn định như thế.
c) Theo linh mục An phong Nguyễn Công Vinh của Tòa Giám Mục Phan Thiết thì chưa hề có văn bản luật nào mà chỉ có hai văn bản của HĐGMVN một với tựa đề Hướng Dẫn Mục Vụ và văn bản kia cũng tựa đề Hướng Dẫn Mục Vụ ( Cùng với phần chú thích). Bản văn không có ngày tháng, không có lệnh ban hành, ấn ký… (2007).
Nội dung của 2 văn bản như sau:
…Hội Đồng Giám Mục đề ra một vài hình phạt thực sự cần thiết sau đây:
1/ Hình phạt cho người cố tình tổ chức đám cưới đời mà không có phép đạo: họ bị cấm lãnh nhận bí tích cho đến khi hợp thức hóa hôn phối ấy theo phép đạo; trường hợp không thể sửa chữa, sẽ bị phạt một năm hay hơn nếu liên tục vi phạm; tuy nhiên trong trường hợp nguy tử, bất cứ cha giải tội nào hay cha xứ của đương sự cũng tha được hình phạt này.
2/ Hình phạt dành cho người cố tình tham dự đám cưới đời mà không có phép đạo: bị phạt cấm lãnh nhận bí tích trong vòng ba tháng và sẽ gia tăng 6 hay 9 tháng hay hơn tùy theo việc liên tục vi phạm. Khi nguy tử bất cứ cha giải tội nào hay cha xứ của đương sự cũng tha được hình phạt này.
Hai văn bản này không phải là văn bản luật nên chỉ coi là văn bản hướng dẫn và việc thi hành còn tùy thuộc Giám Mục Giáo Phận.
Việc ra vạ tiền kết được Giáo Hội khuyến cáo đừng thiết lập vạ để ngăm đe trừ những trường hợp đặc biệt áp dụng cho những tội phạm rất nặng như nói đến ở điều 1318:
Nhà lập pháp đừng dùng những hình phạt tiền kết để ngăm đe, trừ khi một vài tội phạm đặc biệt cố tình phạm có thể gây ra một gương xấu nặng hơn hoặc những hình phạt hậu kết không thể trừng phạt những tội phạm đó cách hữu hiệu; tuy nhiên, chỉ nên thiết lập các vạ, nhất là vạ tuyệt thông, một cách hết sức hạn chế và chỉ áp dụng cho những tội phạm rất nặng.
d) Việc tham dự một đám cưới đời mà không có phép đạo không thể coi là một tội phạm nặng nề đến nỗi không cho xưng tội, rước lễ. Có thể xem đây là một vi phạm luân lý vì ủng hộ một hành vi tội lỗi, sai trái hơn là một tội phạm nghiêm trọng theo luật hình.
e) Giáo Luật cũng nhắc nhở việc quy định những luật hình sự trong một nước, một miền cần có sự đồng nhất:
Điều 1316
Các Giám Mục giáo phận phải liệu sao để trong một nước hay một miền, những luật hình sự, nếu cần phải ban hành, được đồng nhất với nhau trong mức độ có thể.
f) Khi tu chính giáo luật liên hệ đến hình luật thì nguyên tắc thứ hai yêu cầu giảm bớt xung khắc tòa trong với tòa ngoài, giới hạn hình phạt vào tòa ngoài. Trong khi ở đây, việc trừng phạt một lỗi không nặng mà lại liên quan quá nhiều với tòa trong. Có Giáo Phận quá khe khắt đến nỗi kéo dài hình phạt nhiều năm tháng làm cho nhiều người quá bối rối, lo âu, sợ hãi gây thiệt thòi về thiêng liêng.
g) Đề nghị có một quy định chung cho toàn thể các giáo phận trong nước về những vi phạm kể trên.
Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Bích, DCCT
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.