VIỆC CHE PHỦ CÁC ẢNH TƯỢNG
Nguồn ảnh: internet
1.- Một thoáng lịch sử và cách giải thích tập tục này
Kể từ rất sớm, các quy định của Sách Lễ Rôma, Sách Nhật tụng và Sách “Nghi lễ các Giám mục” yêu cầu rằng: trước Kinh Chiều của Thứ Bảy trước Chúa Nhật Chịu Nạn (tức Chúa Nhật V Mùa Chay) [*], các cây thánh giá, các ảnh tượng Chúa Giêsu và các thánh trên bàn thờ và khắp nơi trong ngoài nhà thờ, ngoại trừ các thánh giá và các hình ảnh trong Đàng Thánh Giá, phải được bọc lại bằng một tấm khăn tím, khăn này không được mỏng khiến nhìn qua được, cũng không được trang điểm gì cả. Các cây thánh giá cứ được che phủ lại như thế cho tới khi cử hành nghi lễ long trọng gỡ khăn phủ cây thánh giá chính vào ngày Thứ Sáu tuần thánh. Còn các ảnh tượng vẫn được che phủ, bất kể có thể xảy ra lễ gì, cho tới khi đọc/hát Kinh Vinh Danh vào Đêm thứ Bảy tuần thánh. Thể theo một câu trả lời của Thánh Bộ Nghi Lễ ngày 14-5-1878, có thể không che phủ tượng thánh Giuse nếu tượng ở ngoài nhà thờ và trong tháng 3, vì là tháng tôn kính Thánh Cả, cho dù thời gian ấy rơi vào hai tuần trước lễ Phục Sinh.
Các thánh giá phải che phủ lại bởi vì trong thời gian này, Đức Kitô không còn đi lại công khai giữa dân chúng nữa, nhưng lánh mặt đi. Do đó trong Nhà nguyện của Đức giáo hoàng, trước đây người ta tiến hành che phủ thánh giá khi đọc các lời Tin Mừng sau đây: “Jesus autem abscondebat se” (“Đức Giêsu lánh mặt họ”; Ga 12,36).
Tác giả Durandus đưa ra một lý do khác để giải thích: Thần tính của Đức Kitô đã bị che phủ đi khi Người tới giờ chịu nạn và chịu chết. Do đó, các hình ảnh của các thánh cũng được che phủ, bởi vì không xứng hợp chút nào khi chính vị Thầy thì phải lánh mặt đi mà các tôi tớ thì lại xuất hiện!
2.- Cách thực hành trong Hội Thánh hiện nay
Sách Lễ Rôma, ở đầu phần bắt đầu Chúa Nhật V Mùa Chay (nhưng trong ấn bản mẫu thứ hai của Ủy Ban Phụng Tự trực thuộc HĐGMVN năm 1992, thì in ở cuối thứ bảy tuần IV, tr. 223), có câu chữ đỏ như sau: “Có thể giữ thói quen che ảnh tượng trong nhà thờ tùy theo quyết định của Hội Đồng Giám Mục. Các thánh giá thì che cho đến thứ sáu Tuần Thánh, sau nghi thức tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa”. Vào ngày thứ sáu Tuần Thánh, một khi cây thánh giá được dùng để tôn kính đã được vén khăn che, thì dường như hợp lý là tất cả các cây thánh giá đều được bỏ khăn che phủ cho các tín hữu tôn kính. Cũng theo tập tục, các ảnh tượng được che lại cho đến khi bắt đầu lễ Vọng Phục Sinh.
Thật ra cũng có thể che phủ thánh giá sau Lễ Tiệc Ly (thứ Năm Tuần Thánh), vì số chữ đỏ 21 ghi rằng: “Sau đó [= sau khi đã kiệu Mình Thánh Chúa sang Nhà tạm], lột khăn bàn thờ, và nếu có thể, cất các thánh giá. Nếu còn thánh giá nào, phải phủ khăn”. Bên ngoại quốc, có những xứ còn đưa ảnh tượng và các thánh giá ra khỏi nhà thờ, chứ không chỉ che phủ khăn, nhất là sau ngày thứ Năm Tuần Thánh. Nhưng các hình ảnh của Đàng Thánh Giá và các hình ảnh trên kính màu thì không che. Tại một vài nơi, các thánh được che phủ lại vào ngày Thứ Tư Lễ Tro. Tại một số nơi khác, thì lại được che phủ vào Chúa Nhật I mùa Chay. Bên Anh Quốc, vào ngày thứ Hai đầu tiên của mùa Chay, người ta có thói quen che mọi tượng Chúa chịu đóng đinh, mọi thứ hình ảnh, các hộp đựng thánh tích, và cả bình đựng Mình Thánh Chúa. Vải được dùng là vải lanh (linen) trắng hoặc lụa trắng có đính một cây thánh giá đỏ.
Theo chỗ chúng tôi biết, HĐGM Việt Nam chưa có tuyên bố gì về điểm này, tứ là vẫn để tự do. Nhưng HĐGM Hoa Kỳ thì có. Vào ngày 14-6-2001, các Giám mục Hoa Kỳ chấp thuận một cách thích ứng số 318 của Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma và cho phép che phủ các tượng thánh giá và hình ảnh. Ngày 17-4-2002, Đức Hồng y Jorge Medina Estevez, Tổng Trưởng Bộ Phượng Tự và Kỷ luật Bí tích đã viết cho Đức Giám mục Wilton D. Gregory, Chủ tịch HĐGM Hoa Kỳ mà lưu ý rằng vấn đề này đúng hơn thuộc về luật chữ đỏ của Ngày Chúa Nhật V mùa Chay. Trong khi chờ đợi quyết định này của HĐGM Hoa Kỳ được đưa vào với luật chữ đỏ ấy khi nào Sách lễ Rôma được phát hành chính thức lần nữa, việc che phủ các thánh giá và ảnh tượng tùy thuộc sự thẩm định của vị mục tử địa phương. Như thế cũng có nghĩa là việc che phủ là một chuyện nhiệm ý.
3.- Cách giải thích tập tục này hôm nay
Hôm nay người ta giải thích việc che phủ ảnh tượng theo quan điểm tâm lý:
Việc che phủ ảnh tượng giúp chúng ta tập trung vào những điều cốt yếu trong công trình Cứu chuộc của Đức Kitô. Đây là một cách “ăn chay” không được nhìn những hình ảnh tô vẽ diễn tả vinh quang Phục Sinh của ơn cứu độ chúng ta. Cũng như việc ăn chay mùa Chay kết thúc với lễ Phục Sinh, thì việc “ăn chay” nhìn tượng thánh giá đạt tới đỉnh cao khi thờ phượng cây gỗ thánh trên đó hy lễ Đồi Sọ được hiến dâng để cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi. Cũng thế, việc “ăn chay” không nhìn ngắm các hình ảnh vinh quang thuộc các mầu nhiệm đức tin và các thánh trong vinh quang, lên tới đỉnh cao vào Đêm Phục Sinh, khi đó các tín hữu lại đánh giá cao lần nữa chiến thắng vinh hiển của Đức Kitô khi Người sống lại khỏi mồ để mang đến cho chúng ta sự sống muôn đời.
Điều này đúng, nhưng nguồn gốc lịch sử của cách thực hành này phát xuất từ một tập tục rất thịnh hành bên Đức Quốc từ thế kỷ IX, đó là người ta trải một tấm khăn lớn đàng trước bàn thờ ngay khi bắt đầu mùa Chay. Tấm khăn này, được gọi là “Hungertuch” (= khăn đói), che mắt tín hữu khỏi thấy được bàn thờ trong mùa Chay, và chỉ được cất đi khi người ta đọc bài Thương Khó vào ngày thứ Tư Tuần Thánh tới chỗ “bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ra làm hai” (Mt 27,51).
Tuy nhiên, có những người cho rằng tập tục này là kỷ niệm của cách thực hành cổ xưa liên hệ đến việc đền tội công khai: vào thời xa xưa, theo nghi thức, các hối nhân [= các tội nhân công khai, do phạm những tội như giết người, ngoại tình, bội giáo] bị trục xuất khỏi nhà thờ vào đầu mùa Chay, rồi được tha tội vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, và chỉ được trở lại với các cử hành của Hội Thánh vào Đêm Vọng Phục Sinh. Sau khi nghi thức đền tội công khai kiểu này bị bỏ, thì một cách biểu tượng, toàn thể cộng đồng đi vào hàng ngũ các hối nhân bằng cách nhận tro vào ngày Thứ Tư Lễ Tro: dĩ nhiên, không có chuyện trục xuất toàn thể cộng đoàn khỏi nhà thờ. Bởi vì bây giờ không thể trục xuất các hối nhân (vì là toàn thể cộng đoàn) khỏi nhà thờ để họ khỏi thấy bàn thờ, “nơi cực thánh”, thì bàn thờ được che lại, không cho họ thấy, cho tới khi họ được hòa giải với Chúa vào lễ Phục Sinh. Cũng theo những lý do tương tự, vào thời Trung Cổ, các ảnh thánh giá và các thánh cũng được che phủ ngay từ đầu mùa Chay.
Luật giới hạn việc che phủ vào Chúa Nhật V mùa Chay đến trễ, chỉ khi có quyển Sách Nghi lễ các Giám Mục vào thế kỷ XVII. Sau Công đồng Vatican II, có những vận động để bỏ việc che phủ này, nhưng tập tục vẫn còn được giữ lại, chỉ có điều là được làm cách nhẹ nhàng, không thúc bách như giữ một “tín điều”!
Lm. Fx. Phan Long, ofm (+)
-------------------------------------------------
[*] Theo lịch Phụng vụ cũ, bài Tin Mừng của CN V MC là Ga 8,46-59, cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và giới lãnh đạo Do-thái; họ đã suýt ném đá Người. Và những bài Tin Mừng suốt tuần này đều trích từ TM IV và gợi lại sự căng thẳng ngày càng gia tăng giữa Chúa Giêsu và nhà chức trách Do-thái.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
CÓ ĐEO TANG TRONG NGÀY THỨ SÁU TUẦN THÁNH?
Có 3 lý do được trình bày dưới đây khiến chúng ta phải loại bỏ ngày việc đeo tang trong ngày thứ Sáu Thánh:
Nguồn ảnh: internet
- Thứ nhất, thứ Sáu Thánh không phải là đám tang của Chúa Giêsu
Theo văn hóa Việt Nam, tang phục là để thể hiện tình nghĩa, lòng thương xót giữa kẻ mất người còn, diễn tả sự thương tiếc người chết. Do đó, đồ tang phải dùng là vải trắng loại sô, loại xấu để lộ vẻ tiều tụy hay tỏ ý đau đớn. Khi đeo tang trong ngày thứ Sáu Thánh, các tín hữu đang thể hiện tinh thần này đối với Chúa Giêsu. Sở dĩ một số giáo xứ đeo tang như vậy là vì họ vẫn muốn giữ tập tục đã có từ xưa theo ý định thích nghi và hội nhập văn hóa của các nhà thừa sai Dòng Tên, đặc biệt là cha Alexandre de Rhodes, khi truyền giáo tại Việt Nam. Bấy giờ (thế kỷ XVII), trong mùa Chay và Tuần Thánh, các thừa sai đã tổ chức nhiều hình thức sinh hoạt hấp dẫn khác nhau cho giáo dân tham dự như:
i] Rước tiệc chiên vào thứ Năm Thánh;
ii] Thứ Sáu Thánh thì có Rước kiệu bắt, Đọc đoạn, Ngắm đứng, Dâng hạt, Tháo đinh, Táng xác Chúa với việc các tín hữu mặc đồ trắng và đầu chít khăn tang;
iii] Viếng hang đá, Hôn chân Chúa, Rước kiệu đi Đàng Thánh giá trọng thể ngoài trời, Ngắm Dấu Đinh trong ngày thứ Bảy Thánh;
iv] Chúa nhật Phục sinh thì có kiệu tượng Chúa Phục Sinh và Đức Mẹ…
Thực hành đeo tang và than khóc tại Việt Nam vào thời điểm đó xét là phù hợp vì cũng tương đồng với quan niệm về ngày thứ Sáu Thánh ở khắp nơi trong Hội Thánh. Các tín hữu thời bấy giờ đã gọi ngày này là ngày thương khóc, than vãn, thương tiếc và sầu buồn trước cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu. Bởi thế, trước Công đồng Vatican II, vào thứ Sáu Thánh, tư tế cũng như phó tế mặc phẩm phục đen như trong nghi lễ an táng [1].
Ngày nay, tinh thần của ngày thứ Sáu Thánh không còn mang sắc thái than vãn, u buồn và tang tóc nữa. Trước khi thay đổi lịch phụng vụ diễn ra năm 1969, Tam Nhật được gọi là Tam Nhật Thánh chứ không phải Tam Nhật Vượt Qua. Vượt Qua hay Phục Sinh chỉ quy chiếu vào Chúa nhật Phục Sinh mà thôi. Năm 1956, thứ Sáu Thánh có cái tên là “Thứ Sáu của cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa”. Đến năm 1969, ngày này mang tên chính thức là “Thứ Sáu của cuộc thương khó Chúa” [2], nhằm phản ánh nội dung phụng vụ là cử hành cuộc Thương khó của Chúa Giêsu như được ghi trong Sách lễ của Đức Giáo hoàng Phaolô VI (1970). Người ta còn đề nghị thứ Sáu Thánh mang một cái tên mới là “Thứ Sáu Phục sinh” vì muốn nhấn mạnh rằng vinh quang phục sinh ẩn dấu trong thánh giá và đang được thể hiện trong chính ngày này. Chính Thánh Irênê và Tertunianô đã từng nói về ngày này là ngày Vượt Qua (Pasch) theo nghĩa là một vận hành dẫn đến sự sống (x. Ga 12,24) [3].
Thứ Sáu Thánh là ngày tưởng niệm cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu nhưng đồng thời lại tưởng niệm và kính mừng sự sống vì không giống như bất kỳ cái chết nào khác trên trần gian, Chúa Giêsu đã chỗi dậy từ cõi chết và Ngài là “Đấng Hằng Sống, đã chết, và nay sống đến muôn thuở muôn đời” (Kh 1,18) [4]. Chúa Giêsu bị giết chết, tưởng rằng đó là một thất bại, nhưng lại là cuộc chiến thắng của Ngài trên tội lỗi và tử thần. Cho nên, hệ quả là:
i] Trong thứ Sáu Thánh, chúng ta hân hoan trước chiến thắng của Chúa Giêsu, vui mừng tham dự vào cuộc vinh thắng tình yêu của Ngài [5]. Các bản văn phụng vụ và những bài hát để kính thờ thánh giá trong thứ Sáu Thánh đều quy chiếu về phục sinh và bày tỏ cho chúng ta khía cạnh vinh quang và hân hoan của ngày này [6].
ii] Không nên tách rời cái chết của Chúa Giêsu ra khỏi cuộc phục sinh của Ngài, nhưng luôn coi đó như một thể thống nhất của “mầu nhiệm vượt qua”. Tam nhật Vượt qua phải được coi là một cử hành kéo dài, tức cử hành biến cố phục sinh vĩ đại. Cuộc thương khó của Chúa Giêsu chỉ là một phần trong Tam nhật Phục sinh mà điểm kết thúc không phải là cái chết nhưng là sự sống.
Về màu sắc phụng vụ, hôm nay Hội Thánh sử dụng màu đỏ thay cho màu đen. Đây là màu của máu và tử đạo nhằm nói lên rằng Chúa Giêsu là vị tử đạo đầu tiên. Ngài đã thực sự chấp nhận cái chết và hiến dâng mạng sống mình vì yêu thương nhân loại và vâng phục thánh ý Chúa Cha. Màu đỏ cũng là màu của vương quyền như vẫn được thấy trong nghĩ lễ phong vương. Điều này muốn ám chỉ rằng Chúa Giêsu bước vào cuộc thương khó ngay từ Chúa nhật Lễ Lá trong tư cách của một vị Vua. Ngài đã được mọi người nhận ra và tung hô là Con vua Đavit và là Vua Israel (x. Ga 12,13). Vinh quang vương quyền thực sự được chiếu tỏa ngay trong chính cái chết của Ngài và sẽ được mặc khải trọn vẹn vào ngày phục sinh.
Hơn nữa, mặc dù trong và sau cử hành phụng vụ thứ Sáu Thánh, bầu khí cộng đoàn trầm lắng và thinh lặng nhiều (nhà tạm để trống, không có Thánh Thể trong thánh đường, bàn thờ không phủ khăn, không nến và không thánh giá, vị chủ sự và giúp lễ thinh lặng phủ phục ngay từ đầu buổi cử hành…) nhưng hoàn toàn không phải mang sắc thái tang tóc. Trái lại, thứ Sáu Thánh hướng chúng ta tới những hồng ân của Chúa: Ngài đã cứu độ và giải thoát chúng ta. Như trong thời của thánh Augustino, các tín hữu khắp nơi đã gạt bỏ y phục tang tóc trong ngày này để mừng vui trong “chiến tích của thập giá”.
-
Thứ hai, thứ Sáu Thánh làm kiểu mẫu cho nghi lễ an táng chứ không thể ngược lại
Nguyên tắc là hình thức đạo đức phát xuất từ phụng vụ và dẫn đưa dân chúng đến với phụng vụ, vì tự bản chất, phụng vụ vượt xa các việc ấy [7]. Phụng vụ thứ Sáu Thánh giải thích rõ ràng cho chúng ta bằng lời và hành động ý nghĩa căn bản cái chết của Chúa Giêsu. Chúng ta không thể tách biệt cái chết này ra khỏi sự sống lại của Ngài. Phụng vụ thứ Sáu Thánh chiếu soi suy nghĩ và xây dựng thái độ của chúng ta đối với cái chết [8] và là mô hình cho chúng ta trong vấn đề mục vụ khi “cử hành” cái chết của những người thân yêu trong nghi lễ an táng.
Nói cách khác, tuy cử hành thứ Sáu Thánh không phải là đám tang của Chúa Giêsu, nhưng lại mặc khải một cách sống động nhất những gì làm thành đám tang của người Kitô hữu. Tất cả những nghi lễ khác nhau trong quyển Nghi thức An táng Kitô hữu hiện nay diễn tả đức tin này: mầu nhiệm Chúa Kitô chịu chết và phục sinh hàm chứa mầu nhiệm sự chết của con người và mầu nhiệm sự chết của con người gắn chặt với mầu nhiệm Chúa Kitô chiến thắng tử thần (x. Rm 6,3-5; 1 Cr 15,51-57).
-
Nghi lễ an táng trước Công đồng Vatican II
Nếu ai đã từng tham dự nghi lễ an táng trước Công đồng Vatican II [9] thì sẽ nhìn cũng như cảm thấy một bầu khí ảm đạm và u buồn bao quanh đám tang: lễ phục đen, những bài thánh ca tang tóc và những kinh nguyện thảm thương. Còn bên ngoài phụng vụ, thêm vào cho bầu khí buồn thảm, bi thương của đám tang thường là những bài điếu văn dài lê thê và những chia sẻ thống thiết. Đây là hệ quả của một viễn tượng thần học quá nhấn mạnh đến lỗi lầm của con người và sự xét xử của Thiên Chúa hơn là sự thiện hảo nơi con người và lòng thương xót của Thiên Chúa; quá nhấn mạnh cái chết hy sinh của Chúa Kitô hơn là sự chiến thắng của Ngài trên tội lỗi và sự chết; quá nhấn mạnh đến bản án phải chết đời đời hơn là gieo niềm hy vọng được cùng sống lại với Đức Kitô.
Trong bầu khí như thế, tâm trí của người tham dự thường là sợ hãi. Họ dễ dàng cho rằng người chết thật khó mà vào Nước Trời. Nếu người quá cố có xứng đáng vào Thiên Quốc thì ít ra cũng phải chịu nhiều hình phạt đau đớn trong luyện ngục. Đương nhiên kẻ nào phạm tội trọng mà chưa kịp xưng thú thì sẽ bị kết án đời đời trong hỏa ngục. Cũng may, khía cạnh mừng vui và vượt qua như trong phụng vụ an táng thuộc thời kỳ đầu của Giáo Hội còn xuất hiện trong phần kết thúc của nghi thức [10].
-
Nghi lễ an táng sau Công đồng Vatican II
So với phụng vụ an táng tiền Công đồng Vatican II, quyển Nghi lễ an táng Kitô giáo (được ban hành bởi Thánh Bộ Phụng tự ngày 15 tháng 8 năm 1969) cho thấy những điểm khác biệt như sau:
-
Nhấn mạnh tính phục sinh của cái chết Kitô giáo. Do đó, khi một người tín hữu ly trần, Giáo Hội sẽ cử hành mầu nhiệm Thiên Chúa hằng sống, Ngài là Chúa của kẻ sống để những ai “an giấc trong Chúa” thì sẽ được cùng sống với Ngài (x. 1 Tx 4,13-14). Trong nghi lễ an táng, Giáo Hội hân hoan trao một thành viên của mình cho cộng đoàn các thánh [11];
-
Có sự quân bình hơn khi nhìn nhận nỗi đau buồn của tang quyến và muốn đem lại niềm ủi an và hy vọng cho họ (x. Rm 12,15). Trong khi nghi lễ an táng trước năm 1969 không có bất cứ lời nguyện nào dành cho người sống cũng như gia đình của người quá cố [12];
-
Nài xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi và khiếm khuyết, công bố niềm tin và niềm hy vọng vào lòng thương xót của Chúa và chiến thắng của Chúa Kitô trên sự chết nhờ sự phục sinh của Ngài (trọng tâm của cử hành chính là mầu nhiệm vượt qua) [13];
-
Thay thế lễ phục và trang trí màu đen bằng màu tím [14];
-
Không còn hát ca tiếp liên “Ngày thịnh nộ” (Dies Irae) [15];
-
Có nhiều bài đọc Kinh Thánh để chọn công bố trong Thánh lễ an táng. Nội dung của những bản văn Kinh Thánh này ít nhấn mạnh đến tội lỗi, nhưng nói về lòng thương xót và sự ủi an của Thiên Chúa; Đức Kitô chiến thắng tử thần; vẻ đẹp của Thiên Đàng. Không còn có cái nhìn bi quan, xa cách, khiếp sợ của Cựu Ước, nhưng chú trọng đến niềm hy vọng nơi Ðức Kitô.
-
Những lời nguyện tuy có đề cập đến tội lỗi và thiếu sót của con người nhưng cũng không quên nhấn mạnh đến lòng xót thương của Thiên Chúa dành cho những ai thông dự vào Bí tích Thánh Thể… [16]
Thứ ba, hướng dẫn của Hội Thánh về lòng đạo đức bình dân
Dưới ánh sáng của Công đồng Vatican II nói chung và của Hiến chế Phụng vụ Thánh nói riêng, chúng ta cần trân trọng, ưu ái, duy trì và khuyến khích những việc đạo đức bình dân như vừa nêu trên đây [17]. Bởi vì chính lòng đạo đức bình dân cũng là một thực thi của Giáo Hội, do Chúa Thánh Thần khởi xướng và duy trì. Thêm nữa, lòng đạo đức bình dân có một cảm thức gần như bẩm sinh về thánh thiêng và siêu việt, là công cụ Chúa ban để gìn giữ đức tin của dân Chúa [18].
Theo Hiến chế Phụng vụ Thánh: Những việc đạo đức của dân Kitô giáo bao lâu còn được thích hợp với các lề luật và qui tắc của Giáo Hội thì còn được khích lệ rất nhiều, nhất là khi thi hành theo chỉ thị của Tông Tòa. Những việc thánh thiện của các Giáo Hội địa phương cũng được đặc biệt tôn trọng, khi được thi hành theo các chỉ thị của Giám mục, hợp với tập tục hoặc các sách đã được chính thức phê chuẩn. Nhưng phải chiếu theo các mùa phụng vụ để xếp đặt các việc ấy cho hòa hợp với phụng vụ thánh, để có thể được coi là phát xuất từ phụng vụ và để tiến dẫn dân chúng đến phụng vụ, vì tự bản chất, phụng vụ vượt xa các việc ấy [19].
Tuy nhiên, cũng cần phải canh tân và Tin Mừng hóa cũng như định hướng và đôi khi phải sửa sai nếu việc đạo đức bình dân có các yếu tố không còn hài hòa với tinh thần phụng vụ mới, hạ giá trị phụng vụ hoặc gây tác hại cho phụng vụ của Giáo Hội [20].
Thay lời kết
Việc đầu đội tang trong ngày thứ Sáu Thánh thường đi kèm với các biểu hiện của lòng đạo đức bình dân như Ngắm đứng, Tháo đinh, Táng xác Chúa Giêsu. Trong nghi thức này có một loại các kinh nguyện gọi là “Đọc đoạn” và “Than mồ”. Nội dung và cung giọng của Đọc đoạn và Than mồ nhằm diễn tả sự đau thương của Chúa chịu chết vì nhân loại. Tất cả sự kiện này phản ánh các tín hữu đang tham dự “Đám tang của Chúa Giêsu”.
Dựa vào hướng dẫn của Giáo Hội, chúng ta nên giữ lại những việc đạo đức bình dân như Ngắm đứng, Tháo đinh, Táng xác Đức Chúa Giêsu… như tập tục đã có từ bao lâu nay. Thế nhưng, căn cứ vào 03 lý do được trình bày ở trên, để hòa hợp với tinh thần và cử hành phụng vụ thứ Sáu Thánh hiện nay, chúng ta phải bỏ đi việc đội khăn tang; sửa lại nội dung các bài ngắm cho phù hợp với bản văn Kinh Thánh [21]; xem xét lại cung giọng hay cung điệu quá đỗi thảm thương não nuột… Những thay đổi này nhằm mục đích làm cho việc đạo đức bình dân quy chiếu nhiều hơn vào Kinh Thánh và phụng vụ. Tất nhiên, phải làm cách nào để không gây thiệt hại cho các tín hữu [22].
Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS
--------------------------------------------------
Thư tịch:
[1] xc. Patrick Regan, Advent to Pentecost (Collegeville - Minesota: The Liturgical Press, 2012), 175-176.
[2] Feria sexta in passion Domini. Xc. Sđd, 174.
[3] Thomas Gilmartin, "Good Friday", trong The Catholic Encyclopedia, Vol. 6 (New York: Robert Appleton Company, 1909) trích lại từ http://www.newadvent.org/cathen/06643a.htm (20/06/2015 ).
[4] Xc. Bài giảng của cha Raniero Cantalamessa, OFM Cap vào thứ Sáu Thánh 6/04/2012 trongL'Osservatore RomanoWeekly Edition in English(11/04/2012), trang 6.
[5] Tên Thứ Sáu Phục sinh phản ánh được chiều kích phục sinh của ngày này nhưng vì sợ lẫn lộn với ngày thứ Sáu trong tuần Bát nhật Phục sinh nên thực tế đã không được sử dụng.
[6] “Lạy Chúa, chúng con tôn thờ thánh giá Chúa, hát mừng Ngài sống lại hiển vinh; ấy chính vì bởi cây thập gía, niềm hân hoan tràn ngập địa cầu.”
[7] Xc. Hiến chế Phụng vụ Thánh (=PV), số 13; Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1675.
[8] Hướng dẫn về Lòng Đạo đức Bình dân và Phụng vụ (= ĐĐBD) - ban hành năm 2001, số 248-251.
[9] Được cử hành theo nghi thức an táng được xuất bản năm 1614 (hậu công đồng Trentô và nghi thức này được áp dụng mãi cho đến năm 1969.
[10] Xc. Vincent Owusu, SVD, “Funeral Rites in Rome and the Non-Roman West” trong Anscar Chupungco (ed), OSB, Handbook for Liturgy Studied, Vol. V (Quezon city: Claretian Publications, 2004), 393-364
[11] Xc. Damien Sicard, “Chết như một Kitô hữu” trong J. Gélineau (ed), Họp Nhau Cử Hành Phụng Vụ, tập II (1992),714-723.
[12] Xc. Nghi thức An táng, số 13.
[13] Sđd.
[14] Xc. PV 81.
[15] "Dies Irae" là một trong những bài hát nổi tiếng nhất trong bộ Gregorian Chant được cho là do một thầy tu dòng Phanxico sáng tác hồi thế kỷ 13. Lời và ý nghĩa bài nhạc dựa trên bản văn Kinh Thánh Xô-phô-ni-a 1,14-16 có chủ đề về ngày phán xét. Bài nhạc này được dùng trong các Thánh Lễ an táng trước đây và trong ngày lễ các linh hồn.
[16] Xc. Nghi thức An táng, số 71-88 ; 92-100.
[17] PV 13; Hiến Chế Tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium), số 67; ĐĐBD70.
[18] Xc. ĐĐBD50.61.64.
[19] PV 13.
[20] ĐĐBD51.56.58.71.
[21] Ví dụ ngắm thứ sáu viết: “Bấy giờ nó nó lột áo ra, liền trói chân tay vào cột đá, đoạn lấy chà gai cùng dây gia và lòi tói sắt đánh cả và mình Đức Chúa Giêsu dư 5000 nghìn đòn cho nên nát hết thịt ra, xem thấy xương chẳng còn nơi đâu lành, mặt mũi chẳng còn hình tượng người như trước nữa.”
[22] Xc. ĐĐBD 75.
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.