SUY NIỆM THỨ NĂM, THỨ SÁU TUẦN THÁNH
THÁNH THỂ CHÚA
Hằng năm, khi đến Thứ Năm Tuần Thánh – Maundy Thursday, Giáo hội Công giáo cử hành ba mầu nhiệm gắn bó chặt chẽ với nhau: thiết lập Bí tích Thánh Thể, thiết lập chức tư tế Kitô giáo, và giới răn quan trọng về đức ái. Ba điều gắn bó với nhau vì nhiều lý do, nhưng trên hết là “Thiên Chúa yêu cầu chúng ta yêu thương theo cách thức mà bản chất con người không thể làm nếu không được giúp đỡ.”
Ngôi Lời trở nên xác phàm, trở nên tế vật, và trở nên của ăn cho chúng ta. Ngài đã mặc lấy nhân tính của chúng ta để chúng ta có thể mang thần tính của Ngài. Ngài đã yêu thương bằng trái tim con người và ban trái tim đó cho chúng ta, để chúng ta có thể yêu thương bằng chính tình yêu của Thiên Chúa. Ôi sự trao đổi kỳ diệu!
Không có chức linh mục thì không có Thánh Lễ, không có Thánh Lễ thì không có Thánh Thể, không có Thánh Thể thì không có sự sống trong chúng ta, không có sự sống trong chúng ta thì cũng không có tình yêu trong chúng ta. Tiệc Thánh trên bàn thờ tập trung các công trình cứu rỗi của Thiên Chúa: tất cả kết hợp với nhau giống như các sợi dây của một câu chuyện lớn ở chương cuối cùng. Niềm khao khát cứu độ liên lỉ và lòng quảng đại khôn tả của Ngài trong bí tích này có cách diễn tả nổi bật nhất. Ngài là Người Yêu, có thể làm cho thực tế theo ý muốn của Ngài để đạt tới, chạm vào, đi vào và chiếm hữu người được yêu.
Chúng ta có đánh giá cao những gì Ngài đã và đang làm cho chúng ta, trên bàn thờ của lễ, trong các yếu tố đơn giản của bánh và rượu? Ngay cả khi chúng ta sử dụng tất cả vẻ đẹp và sự tráng lệ của nghi lễ mà chúng ta có thể có được, thì vẫn còn quá ít so với món quà mà Ngài ban cho chúng ta là chính Ngài.
Chẳng phải Thiên Chúa đang mạo hiểm rằng những gì Ngài ban tặng miễn phí sẽ bị coi thường sao? Mọi người không coi trọng mọi thứ vì chúng có giá trị rất cao ư? Chúng ta nghĩ rằng một dinh thự hay một chiếc du thuyền là đặc biệt vì rất ít người có thể sở hữu được. Còn ân sủng thì sao? Theo ý nghĩa nào đó thì điều đó miễn phí; theo ý nghĩa khác thì điều đó có giá không thể tính toán. Vì giá của nó là linh hồn con người. Người mở tâm hồn mình ra đối với cuộc chiếm hữu của Thiên Chúa là người được Ngài viếng thăm, được sở hữu và được thánh hóa. Điều này đòi hỏi hành động quan trọng nhất và khó khăn nhất: quy phục.
Mặc dù được ban tặng nhưng chúng ta quý trọng ân sủng như thế nào? Chúng ta có coi nhẹ vì ân sủng không áp đặt vẻ đẹp lên chúng ta, không lấp lánh như vàng? Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta thực hiện lời Ngài để làm điều đó: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15:5) Bất cứ điều gì chúng ta muốn làm trong cuộc sống, nếu không có Chúa Giêsu thì chúng ta không thể làm điều đó một cách có ý nghĩa. Bất cứ điều gì chúng ta làm mà không có Ngài thì sẽ bị mất, vô giá trị, gây ra nhiều thất vọng hoặc tuyệt vọng hơn là hoàn thành.
Tất cả sự thật và những điều tốt đẹp chúng ta có thể đạt được, có thể cảm nhận hoặc mơ ước, tất cả đều có ở tại bàn thờ, với dạng bí ẩn. Trong Thánh Thể là tổng thể của thực tại khi Thánh Thể trào ra từ tay Chúa và khi Thánh Thể đưa chúng ta trở lại với Ngài. Nếu chúng ta ăn uống sự thật đó thì Thánh Thể sẽ nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta. Tất cả tình yêu mà chúng ta tìm thấy trong tình bạn thì đều có tình thiêng liêng ở nơi Ngài, chính Ngài khiến chúng ta trở thành bạn của Ngài, khiến chúng ta đáng được yêu, làm cho chúng ta biết yêu thương mình và yêu thương nhau. Không có Ngài thì không thể có tình yêu, cũng chẳng có tình bạn. Nếu bạn là một người đang yêu hoặc muốn được yêu – ai không phù hợp với cách mô tả này? – cũng biết rằng tình yêu của bạn đến từ Ngài và nên trở về với Ngài, cùng với tất cả những gì bạn yêu thương.
Đây là mầu nhiệm vô tận của Bữa Tiệc Ly: bữa ăn cuối cùng của Thầy với các môn đệ của Ngài, sự hiệp thông của Người Yêu với những người bạn yêu dấu của Ngài, sự mong đợi về hành động yêu thương cao cả của Ngài trên Thập Giá, nền tảng của sự hy sinh không huyết thống đó sẽ không bao giờ ngừng bay lên như hương thơm cho đến tận thế, khi Ngài đem tất cả các biểu tượng tới điểm kết thúc nơi Trời Mới và Đất Mới.
Giuđa là nốt nhạc chua chát duy nhất trong bản giao hưởng Thứ Năm Tuần Thánh. Ông ta là môn đệ hiểu rõ hơn những người khác. Ông ta thiếu kiên nhẫn với tất cả sự trang trọng và sự thăng hoa, ông ta muốn kết quả cụ thể ngay lập tức. Ông ta là hình mẫu và là cảm hứng của những con người thực dụng qua các thời đại, những người thích một chút yêu thương quan liêu hơn là một tâm hồn cao cả. Nếu ông ta sống ở thế kỷ khác, có thể ông ta đã được giao trách nhiệm làm cho phụng vụ an toàn đối với nền dân chủ, hiệu quả hơn, nhiều người tham gia hơn, phù hợp hơn với con người bình thường. Không có ân huệ miễn phí cho ông ta, giá ba mươi đồng bạc. Bây giờ, đó là điều bạn có thể xử lý và tính toán, như bất kỳ người thu thuế nào cũng có thể làm. Giuđa là “người bảo trợ” của tất cả những người theo chủ nghĩa ngang hàng – mọi thứ bằng nhau.
Chúa Giêsu không thỏa hiệp. Chủ nghĩa ngang hàng luôn thất bại, vì Giuđa đã thất bại khi ông ta ném trả túi tiền và treo cổ. Giuđa đã chọn cái chết vì tuyệt vọng. Chúa Giêsu đã chọn cái chết vì yêu thương, được giương cao trên Thập Giá để Ngài có thể kéo mọi người lên Vương Quốc của Ngài, nơi đó không thuộc thế gian này.
Thật không tốt nếu bạn cố gắng sống đời ngang trái, cứ để Chúa ở bên lề, rồi theo đuổi nhiều thứ hữu hạn khác. Chúa là trung tâm của thực tại, và chúng ta ở bên ngoài. Chúng ta cần phải vào bên trong, vào trung tâm, nếu chúng ta muốn trở nên thật nhất, thay vì những cái bóng hay những hình vẽ.
Ngài là nam châm thu hút chúng ta về phía Ngài, chúng ta là những mạt sắt ngang bướng chống lại từ tính của Ngài. Đừng kháng cự, hãy đầu hàng và để Ngài lôi kéo bạn. Ân sủng của Ngài không bao giờ thiếu. Sự lựa chọn tùy ý của bạn có thiếu không? Bạn có muốn trở thành một hình vẽ hay một con người bằng xương bằng thịt? Chắc chắn bạn muốn trở thành con người trọn vẹn. Cách duy nhất để trở thành con người trọn vẹn là được thánh hóa, được hiệp nhất với sự sống, với Đấng tạo nên con người.
Nhiều người Công giáo cảm thấy khổ sở vì không thể tham dự Thánh lễ, những người như vậy hầu như sẽ bỏ mọi thứ để có Thánh Lễ mà họ có thể tham dự vì lợi ích tinh thần của họ. Còn đối với những người có Thánh Lễ được cử hành xứng đáng mà ít tận dụng thì sao?
Chúng ta nên thành thật một cách tàn nhẫn với chính mình. Đôi khi chúng ta cảm thấy không có sức hấp dẫn đối với Thánh Lễ hay Bí tích Thánh Thể, đôi khi chúng ta ra ngoài ý thức về nghĩa vụ hoặc sự tôn trọng của con người. Nếu đó là cảm giác của bạn, đã đến lúc cầu xin Chúa, van nài Ngài thay lòng đổi dạ cho bạn. Hãy cầu xin Ngài làm mềm sức đề kháng của bạn, để bạn khao khát Ngài: “Lạy Chúa, Ngài biết nó trông như thế nào đối với con, con không thấy trong con có bất kỳ ước muốn thực sự nào về sự nên thánh. Xin cho con niềm khát khao đó. Xin làm cho con nên thánh, xin tác động để con làm những gì nên làm.” Đó là bước đột phá để đủ khiêm tốn mà nhận ra mình phải cầu xin trợ giúp, ngay cả khi bạn không cảm thấy cần trợ giúp.
Giáo Hội quy định việc tham dự Thánh Lễ vào các Chúa Nhật và các Ngày Thánh nhưng không buộc các ngày trong tuần. Lý do là theo luật của Chúa, chúng ta bắt buộc phải thường xuyên thờ phượng Thiên Chúa, và Giáo Hội xác định rằng việc thực hiện luật này tối thiểu là phải tham dự Thánh Lễ mỗi tuần một lần, vào ngày “Lễ Phục Sinh nhỏ” là Chúa Nhật. Tuy nhiên, không ai trở thành một vị thánh vĩ đại, một nhà truyền giáo vĩ đại, một người thổi bùng ngọn lửa vĩ đại trên thế giới này, nếu không làm điều tối thiểu. Thánh Thomas Aquinô, thần học gia lỗi lạc, đã cử hành Thánh Lễ buổi sáng cho mình rồi sau đó cử hành thánh lễ cho một tu sĩ bạn.
Tôi không đề nghị tất cả chúng ta nên đi lễ mỗi ngày hai lần. Vấn đề là thời kỳ khó khăn, giống như Thời Kỳ Đen Tối mới và đen tối hơn mà chúng ta đang ở, đòi hỏi mọi người phải mạnh mẽ về tinh thần, và những hành động anh hùng chỉ có thể được thực hiện bởi những linh hồn anh hùng. Những linh hồn như vậy có được sự nuôi dưỡng, sức mạnh và sự an ủi của họ từ bàn tiệc hy sinh của Thánh Lễ. Chúa chúng ta biết Ngài đang làm gì khi Ngài thiết lập Thánh Lễ vào Thứ Năm Tuần Thánh.
Chúa Giêsu biết chúng ta cần sự thúc giục như thế nào, chúng ta cần bao nhiêu cơ hội để chúng ta có thể được nhắc nhở mà tận dụng cho đủ. Đó là lý do Ngài đã thiết lập Giáo Hội, trong đó sự hy sinh của Con Ngài sẽ được đổi mới mỗi ngày, đó là lý do Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu xin bánh hằng ngày cho mình: Panem nostrum quotidianum da nobis hodie – Xin cho chúng con lương thực hằng ngày. Chúng ta biết rằng chúng ta phải cầu nguyện, lắng nghe lời Chúa, và cầu xin ân sủng của Ngài. Chúng ta biết mình cần những thứ đó. Khi tham dự Thánh Lễ, chúng ta làm tất cả, không phải theo sở thích hay ý tưởng riêng của mình, nhưng theo cách mà chính Chúa Giêsu đã hình thành trong Thánh Tâm Ngài, được chính Ngài thiết lập và truyền cho chúng ta làm để tưởng nhớ Ngài, trước khi đạt tới thực tại đã được báo trước bằng cách dang tay trên Thập Giá và để Thánh Tâm bị lưỡi giáo đâm thâu.
Bạn và tôi được mời đến dự Tiệc Thánh. Hy lễ một-lần-là-đủ trên đồi Canvê được dâng lên Thiên Chúa, vì chúng ta. Trái của Cây Sự Sống dành cho chúng ta, để chúng ta ăn.
Peter Kwasniewski - https://catholicexchange.com
Trầm Thiên Thu chuyển ngữ
RỬA CHÂN VÀ TỰ HẠ
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
Thánh Phaolô đã từng ca ngợi sự khiêm nhường của Chúa Kitô: “Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2, 6-7).
Sự khiêm nhường của Thiên Chúa không chỉ đơn thuần là ‘quên’ đi cái ‘tôi’, như khi người ta nói ông A, bà B khiêm nhường, cho dù ông A, bà B có khiêm nhường thật.
Sự khiêm nhường của Con Thiên Chúa là sự khiêm hạ của Đấng là Thiên Chúa trở nên người phàm. Đó là sự KHIÊM HẠ đúng nghĩa. Người hạ mình để đến nỗi trở thành loài thụ tạo mà chính Người dựng nên.
Bởi nếu con người khiêm nhường thì trước sau họ vẫn là con người. Còn Thiên Chúa khiêm hạ đã trở thành người thật sự. Ngài là người như chúng ta là người. Ngài là người không hề "khác người". Ngài trở nên một trong những con người, sống giữa xã hội loài người như chính con người là con người.
Thứ năm tuần Thánh, sống lại hành động rửa chân của Chúa Kitô, nghe lại chính khẳng định của Chúa: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh không được dự phần với Thầy” (Ga 13, 8b), chúng ta như được chính Chúa Kitô minh chứng cách cụ thể sự hạ mình của Ngài.
Qua sự hạ mình trong vai trò của một đầy tớ, Chúa Kitô để lại sứ điệp mà ngàn đời chúng ta không được phép quên. Đó là: Hãy hạ mình và phục vụ lẫn nhau.
Có ai trong chúng ta thương con tằm, con bướm đến nỗi trở nên bất thường, muốn hóa kiếp thành tằm, thành bướm nhằm thông cảm và chia sẻ cái kiếp làm tằm, làm bướm của chúng? Nếu yêu như thế, sẽ bị xem là đặt tình yêu sai chỗ, nặng hơn, là khó hiểu đến mức điên dại.
Nhưng suy cho cùng, dù là loài người hay loài tằm, loài bướm, tất cả đều là thụ tạo. Có khác chăng là do chúng ta là thụ tạo bậc cao mà thôi. Một thụ tạo bậc cao muốn chia sẻ kiếp sống với thụ tạo bậc thấp lại bị coi là bất thường...
Vậy mà Thiên Chúa đã yêu chúng ta bằng tình yêu mà chính chúng ta cho là điên dại ấy. Bởi Ngài là Đấng Tạo Hóa đã hóa thân trở nên loài thụ tạo do chính mình dựng nên!
Một tình yêu tuyệt vời, một tình yêu vượt trên tất cả mọi thứ tình yêu, vượt trên mọi suy nghĩ, mọi thanh âm, Chúa Kitô yêu chúng ta bằng tình yêu của một vì Thiên Chúa đã làm người.
Chính vì yêu, Chúa Kitô trở thành Lời chung quyết của Tình yêu tự hạ nơi cung lòng Chúa Cha. Một tình yêu bí nhiệm đến nỗi, thánh Phêrô phải thốt lên: “Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13, 8a). Thánh nhân đâu biết rằng, tình yêu tự hạ của Thiên Chúa cần lắm. Cần đến nỗi: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh không được dự phần với Thầy” (Ga 13, 8b).
Vâng, chúng ta rất cần, cần lắm một tình yêu tự hạ như thế. Vì chỉ có một tình yêu tự hạ phát xuất từ Thiên Chúa, con người mới được cứu độ. Chỉ có một tình yêu tự hạ ấy, con người mới được tham dự vào Thiên tính của chính Thiên Chúa. Và chỉ có một tình yêu tự hạ như thế, con người mới được sống trong hạnh phúc đời đời.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Tình yêu của Chúa mạnh hơn, lớn hơn sự chết. Không ai đứng ngoài tình yêu ấy, lại có thể sống. “Nếu Thầy không rửa chân anh”, nếu Chúa không tự hạ, không yêu như thế, trần gian đã không còn là trần gian của hôm nay.
Xin làm cho trái tim nhân loại, và trái tim của mỗi chúng con biết rung trong nhịp đập của tình yêu Thiên Chúa, để chúng con biết yêu tất cả những gì thuộc về chúng con theo mức độ và bằng cách thức Chúa muốn.
HÙNG CA CỨU ĐỘ
Trầm Thiên Thu
Chúa Giêsu mời gọi: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.” (Ga 15:9) Và Ngài xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15:13)
I. GIAO ƯỚC YÊU THƯƠNG
Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) là Thứ Năm Giao Ước, Thứ Năm Tuyệt Đối, Thứ Năm của các Mầu Nhiệm. Chữ Maundy trong La ngữ có nghĩa là “mệnh lệnh.” Thứ Năm Tuần Thánh muốn nói tới mệnh lệnh mà Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly: “Hãy yêu thương nhau.” (Ga 13:34; Ga 15:12; Ga 15:17) Ngài gọi đó là Điều Răn Mới. Mệnh lệnh yêu thương đó dành cho tất cả mọi người.
Yêu thương trừu tượng, vô hình, không thể đụng chạm, nhưng có thể cảm nhận. Thứ Năm Tuần Thánh có bài học vô giá: Bí tích Thánh Thể là Bí tích Tình Yêu, dạy phải sống hy sinh; chức linh mục dạy phải dấn thân phục vụ; việc rửa chân dạy phải yêu thương bất cứ ai, đặc biệt với những người hèn mọn. Ba bài học đó cũng là ba mệnh lệnh.
Ngày xưa có cách mừng lễ theo lệnh Chúa truyền: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Israel: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên.” (Xh 12:1-4) Con chiên đó phải có các đặc điểm: toàn vẹn, giống đực, không quá một tuổi. Nếu không tìm được con chiên đủ các điều kiện đó thì có thể thay thế bằng con dê. Và cách thực hiện theo ý Chúa: “Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Israel đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng.” (Xh 12:6-8)
Cái gì cũng khác lạ, kể cả cách ăn mừng: “Lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy, và ăn vội vã.” (Xh 12:11) Đúng là “phong cách” Vượt Qua. Đức Chúa còn cho biết: “Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Ai Cập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập: vì Ta là Đức Chúa. Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng họa trên đất Ai Cập. Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này: đó là LUẬT QUY ĐỊNH CHO ĐẾN MUÔN ĐỜI.” (Xh 12:12-14) Vết máu là dấu giao ước, dấu tốt lành cho dân chúng ngay trên đất khách quê người.
Tiệc Ly là tiệc chia tay, nhưng lại là điều hạnh phúc mới: “Chén chúc tụng là sự thông hiệp Máu Chúa Kitô.” (1 Cr 10:16) Chúa Giêsu đã cho chúng ta loại ẩm thực đặc biệt để nuôi dưỡng linh hồn: Thánh Thể. Đó là đại hồng ân dành cho chúng ta, nhưng là phàm nhân thì “biết lấy chi đền đáp Chúa vì mọi ơn lành Người đã ban cho?” (Tv 116:12) Vì thế, chúng ta chỉ biết “nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa.” (Tv 116:13)
Có điều đáng quan ngại về lời Chúa Giêsu nói với Thánh Faustina: “Thật đau đớn cho Ta, rất ít linh hồn biết kết hợp với Ta trong lúc đón rước ta. Ta chờ đợi họ, nhưng họ rất lãnh đạm thờ ơ với Ta. Ta muốn ban rất nhiều ơn cho họ nhưng họ không muốn nhận lãnh.” (Nhật Ký, số 1447) Hằng ngày thấy có một số người rước lễ xong thì ra ngoài ngay, có người tới đài Đức Mẹ, Thánh Giuse hoặc vị thánh nào đó, có người thì nói chuyện với người khác. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục phải chịu đau khổ!
Lời cảnh báo của Thánh Phaolô rất đáng lưu ý: “Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa.” (1 Cr 11:26-27) Nghe có vẻ rất bình thường mà lại rất khác thường, vì liên quan “vận mệnh” của chúng ta ở kiếp sau.
Qua trình thuật Ga 13:1-15, Thánh Gioan cho biết: “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.” Điểm nhấn mạnh là tình yêu tuyệt đối của Chúa Giêsu, với cách thức “yêu thương đến cùng.” Đã yêu là mãi yêu, dù người được yêu hoàn toàn bất xứng, thậm chí còn phản bội, nhưng Ngài vẫn luôn cho họ nhiều cơ hội chấn chỉnh, sửa đổi.
Đêm Thứ Năm Tuần Thánh là đêm định mệnh năm xưa, ma quỷ đã gieo ý định nộp Đức Giêsu vào lòng môn đệ Giuđa Ítcariốt. Chúa Giêsu biết đã đến giờ, và Ngài sắp trở về cùng Chúa Cha. Cũng trong đêm định mệnh đó, khi Thầy trò cùng ăn mừng lễ, Ngài đứng dậy, cởi áo ngoài ra, lấy khăn mà thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ.
Thấy Ngài đến chỗ mình, ông Phêrô ngạc nhiên: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” Chúa Giêsu bảo rằng bây giờ ông chưa hiểu, nhưng sau này sẽ hiểu. Ông Phêrô nhất định không chịu, nhưng Chúa Giêsu nói: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.” Nghe vậy, ông phấn khởi nói: “Thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa.” Bản chất nóng tính có khác, mau lẹ lắm.
Nhưng Chúa Giêsu phân tích: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” Ngài ám chỉ người sẽ nộp Ngài. Với tính từ “sạch,” người ta chỉ hiểu theo nghĩa đen, nhưng Chúa Giêsu muốn nói theo nghĩa bóng.
Rửa chân cho họ xong, Chúa Giêsu mặc áo vào và về chỗ. Ngài âu yếm nhìn các môn đệ và nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là ‘Thầy,’ là ‘Chúa,’ điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” Câu hỏi “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?” như lời trăn trối của Chúa Giêsu. Mỗi chúng ta phải trả lời với Ngài.
Thật tuyệt vời với nhận định của Thánh Irênê: “Bí tích Thánh Thể là sự kéo dài thời gian nhập thể.” Thật vậy, Ngài vẫn ở với chúng ta như Ngài đã hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:20)
II. GIÁ MÁU CỨU ĐỘ
Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của những ai tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa. Nếu cuộc đời là một bộ phim thì cảnh tượng hôm nay là bộ phim buồn thảm nhất. Không gì mắc bằng “giá máu.” Máu biểu hiện sự thể sống. Thiếu máu thì yếu, mất máu thì chết.
Máu và tim không thể tách rời. Tim của người trưởng thành, khoẻ mạnh bình thường, đập khoảng 70 lần/phút, mỗi lần đẩy ra 150 ml máu. Nhịp tim đập 105.000 lần/ngày và bơm hơn 6.000 lít máu vào các mạch máu dài 96.000 km. Suốt đời người, tim đập khoảng 3 tỷ nhịp, bơm ra cả triệu thùng máu. Thật kỳ diệu vô cùng!
Kinh Thánh cho biết về Người Tôi Tớ Đau Khổ: “Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa, cũng vậy, nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ.” (Is 52:13-15) Người Tôi Trung chịu đủ thứ đau khổ, từ tinh thần đến thể lý, và không còn gì là hình dạng một con người nữa!
Quả thật, khó có thể tin rằng có người chịu nhục hình quá đỗi đến vậy, và rất đỗi kinh ngạc khi thấy có những kẻ tàn ác đến thế. Họ không chỉ thay phiên nhau đánh Chúa Giêsu, mà còn đánh hội đồng, đánh không nương tay với những chùm dây da có gắn nhiều cục chì hoặc móc. Thật kinh khủng vì mỗi lằn roi làm rách da thịt và bật máu ra.
Chúa Giêsu bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, chịu sửa trị để chúng ta được bình an, phải mang thương tích để chúng ta được chữa lành. Chúng ta như chiên lạc, lang thang giữa đời muôn lối. Tội lỗi của chúng ta đã đổ trên đầu Ngài, nhưng Ngài cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca, như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông. Ôi, không thể tưởng tượng nổi!
Mặc dù đau khổ tột cùng, Người Tôi Trung vẫn một lòng thành tín: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín.” (Tv 31:2 và 6) Chịu đựng vì “nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích kinh hãi, ai cũng tránh xa, bị lãng quên như kẻ chết không người tưởng nhớ và hóa thành đồ hư vất bỏ, nhưng Người Tôi Trung vẫn tin tưởng và thân thưa với Chúa: “Ngài là Thượng Đế của con.” (Tv 31:12-15) Số phận có thế nào thì cũng do Thiên Chúa định liệu, Người Tôi Trung nhất quyết trao phó cuộc đời mình cho Thiên Chúa: “Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con. Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ.” (Tv 31:16-17)
Khi nhìn lại chính mình, có thể có lúc chúng ta cảm thấy thất vọng, nhưng hãy lắng nghe lời Thánh Vịnh gia động viên: “Hỡi mọi người! Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25) Thất vọng rồi sẽ dẫn tới tuyệt vọng. Rất nguy hiểm, vì tuyệt vọng là cùng đường, chẳng khác gì phản bội Chúa.
Thánh Phaolô xác định: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.” (Dt 4:14-16) Vậy thì hãy đứng dậy và làm lại cuộc đời, quyết không vào tròng của ma quỷ.
Thánh Phaolô cho biết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.” (Dt 5:7-9) Để học được bài học vâng phục thì phải trả giá rất đắt, chính Chúa Giêsu đã phải trả bằng GIÁ MÁU kia mà.
Trình thuật Ga 18:1–19:42 là bộ phim dài, từ đêm Vườn Dầu tới chiều Đồi Sọ. Trong đó có biết bao tình tiết đầy kịch tính về Con Người Công Chính – Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Kẻ chỉ điểm Giuđa dẫn đầu một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu tới, có vũ trang đầy đủ. Đức Giêsu tiến ra, hỏi họ tìm ai. Họ nói là tìm Giêsu Nadarét. Ngài thản nhiên: “Chính tôi đây.” Nghe vậy, họ lùi lại và ngã xuống đất – có lẽ lúc đó Giuđa cũng tế lăn cù. Vậy mà họ vẫn không sợ. Đức Giêsu lại hỏi họ tìm ai, và họ vẫn trả lời như trước. Ngài cho họ bắt, nhưng xin không bắt các đệ tử. Mọi điều ứng nghiệm.
Thấy vậy, ông Phêrô liền vung gươm chém đứt tai phải của Mankhô, đầy tớ của thầy thượng tế, nhưng Đức Giêsu bảo ông Phêrô xỏ gươm vào bao, vì Ngài chấp nhận uống Chén Đắng mà Chúa Cha đã trao. Rồi họ trói và dẫn độ Đức Giêsu đến ông Khanan, nhạc phụ của thượng tế Caipha. Phêrô và Gioan đi theo Đức Giêsu. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh. Còn ông Phêrô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô thuộc nhóm môn đệ, nhưng ông liền chối phăng.
Thượng tế Caipha tra hỏi Đức Giêsu về các môn đệ và giáo huấn của Ngài, nhưng Ngài nói: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì.” Đức Giêsu vừa dứt lời, một kẻ thuộc hạ vả vào mặt Ngài vì cho rằng Ngài trả lời như thế là vô lễ với thượng tế. Nhưng Ngài hỏi vặn lại: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” Họ câm họng. Họ chỉ muốn dùng quyền lực mà thay trắng đổi đen thôi. Quy trình của những ác nhân hèn hạ chỉ có thế. Xưa thế nào thì nay vẫn vậy.
Ông Phêrô vẫn đứng sưởi, chợt có người khác nhận ra ông thuộc nhóm môn đệ của Chúa Giêsu, và ông cũng lại chối ngay lập tức. Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phêrô chém đứt tai, cũng nhận ra ông Phêrô, nhưng ông vẫn nhất quyết nói không quen với Đức Giêsu. Ngay lúc ấy gà liền gáy. Ông Phêrô giật mình nhớ lại lời Thầy thì muộm mất rồi. Ông chạy ra chỗ khác và bật khóc.
Họ điệu Đức Giêsu tới dinh tổng trấn Philatô lúc trời vừa sáng. Ông Philatô hỏi họ tố cáo Đức Giêsu về tội gì. Họ không trả lời rõ mà cứ lòng vòng, không dám nói thẳng vấn đề. Ông Philatô bảo họ cứ xét xử theo luật của họ, nhưng họ nói rằng họ không có quyền xử tử ai. Ông Philatô hỏi Đức Giêsu có phải là vua hay không, nhưng Ngài bảo đó là chính Philatô nói, Ngài sinh ra và đã đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật. Không biết dốt thật hay cố ý mà ông Philatô đã hỏi: “Sự thật là gì?” Cáo già mà giả nai tơ. Thật tồi tệ!
Theo tục lệ của người Do Thái, một tử tội nào đó được tha bổng vào dịp lễ Vượt Qua. Ông Philatô hỏi họ muốn tha “vua” Giêsu hay không, họ la lớn: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” Chúa Giêsu nhân lành mà bị họ ghét hơn tên cướp khét tiếng Baraba. Nhiều thứ tích tụ nơi họ: Ghen tức, tự ái, độc đoán, sĩ diện, ra vẻ,…
Cũng chỉ vì hèn nhát mà Philatô chiều ý họ, truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Ngài. Họ kết vương miện gai đặt lên đầu Ngài, khoác cho Ngài chiếc áo choàng đỏ, rồi vừa mỉa mai vừa vả vào mặt Ngài: “Kính chào Vua dân Do Thái!” Sau đó, ông Philatô dẫn Đức Giêsu ra ngoài cho thấy mà thương, và muốn cho họ biết ông ta không tìm thấy lý do nào để kết tội Đức Giêsu. Nhưng các thượng tế cùng các thuộc hạ đồng thanh hét lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Ông Philatô đành giao Ngài cho họ. Ông này không có lập trường, bởi vì ông có quyền nhưng không dám hành động vì công lý, bảo vệ sự thật. Chúng ta cũng đã từng hèn nhát như Philatô. Tệ lắm luôn!
Chúa Giêsu phải vác thập giá lên Đồi Sọ, gọi là Gôngôtha. Họ đóng đinh Ngài vào thập giá với hai tử tội khác. Họ làm một tấm bảng ghi: “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái.” (Ga 19:20) Tấm bảng này được treo ngay phía bên trên đầu Chúa Giêsu. Họ không muốn viết vậy nhưng ông Philatô nhất định không thay đổi. Dĩ nhiên họ không có ý công nhận, mà chỉ có ý mỉa mai. Tuy nhiên, chẳng có gì ngoài Thánh Ý Chúa. Chính tấm bảng đó công khai cho cả thời gian biết Chúa Giêsu là ai và là gì.
Sau khi đã đóng đinh Đức Giêsu, lính tráng chia nhau y phục của Ngài. Chúng hả hê cười nhưng vẫn không giấu được nét bặm trợn của những kẻ tà tâm. Thiên Chúa tôn trọng quyền tự do của họ, và Ngài im lặng. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Ngài giao phó Đức Mẹ cho Gioan, và xác nhận Đức Mẹ là mẹ của Gioan.
Sau đó, Ngài kêu: “Tôi khát!” Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Ngài. Nhắp một chút, Ngài nói: “Thế là đã hoàn tất!” Ngài gục đầu và trao Thần Khí. Trời đang nắng bỗng tối sầm, sấm chớp rung động đất trời. Nhiều người đấm ngực ăn năn và nhận biết chính tử tội Giêsu là Con Thiên Chúa. Chính viên đại đội trưởng phải thốt lên: “Người này đích thực là người công chính, là Con Thiên Chúa!” (Lc 23:47; Mt 27:54; Mc 15:39)
Là ngày áp lễ nên người Do Thái không muốn để các tử thi trên thập giá trong ngày sabát. Vì thế, họ xin ông Philatô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giêsu, họ thấy Ngài đã chết nên không đánh giập ống chân Ngài, nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài. Giọt máu và giọt nước cuối cùng đã chảy ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu.
Ông Giôxếp và ông Nicôđêmô hạ thi hài Ngài xuống, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do Thái, họ mai táng Đức Giêsu tại một ngôi mộ trong khu vườn gần đó. Đối với người đời, như vậy là chấm hết. Nhưng với Thiên Chúa thì đó lại là một khởi đầu mới của điều lạ mới, một sự sống mới.
Lạy Thiên Chúa, xin tha thứ tội lỗi cho chúng con, xin dẫn chúng con đi qua đau khổ tới miền ánh sáng. Xin giúp chúng con biết chết cho tội lỗi mình hằng ngày để sống xứng đáng với Giá Máu của Con Yêu Dấu của Ngài.
Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất, xin biến đổi và giúp chúng con biết yêu như Ngài, can đảm làm chứng về Ngài mọi lúc và mọi nơi. Ngài là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn đời. Amen.
ĐỨC ÁI: HOA TRÁI CỦA THÁNH THỂ
Trần Mỹ Duyệt
Ðức ái, Thánh Thể và Thiên Chức Linh Mục. Ðây là 3 chủ đề lớn nhất trong Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, ngày kỷ niệm những việc mà Chúa Giêsu đã làm trong căn phòng Tiệc Ly, trước khi Ngài chịu khổ nạn.
Nhưng giữa Ðức Ái, Thánh Thể và Chức Linh Mục, Ðức Ái được cho là quan trọng và cần thiết hơn. Ðiều này có thể được chứng minh bằng lời mà Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy” (Gioan 13:8).
Không được dự phần với Chúa đối với Phêrô lúc bấy giờ là không được lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa. Không tham dự Lễ Vượt Qua với Chúa.
Không được dự phần với Chúa, cũng có nghĩa là không được thông phần thiên chức linh mục mà Chúa sắp sửa thiết lập.
Không được dự phần với Chúa, là không được đón nhận Ơn Cứu Chuộc mà Ngài sắp sửa thực hiện qua cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài.
Và vì thế, không được dự phần với Chúa, là không được thông phần sự sống đời đời với Ngài.
Tóm lại, việc Phêrô không được dự phần với Chúa là việc hệ trọng. Nó có tính cách quyết liệt, và mang ý nghĩa đời đời. Có lẽ vì hiểu được tầm quan trọng và sự cần thiết của hành động dự phần ấy, ông đã vội vàng thưa với Chúa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa” (Gioan 13: 9).
Như vậy, rửa chân đối với Phêrô là một thái độ khiêm tốn đón nhận tình yêu Thiên Chúa dành cho ông. Ðể cho Chúa Giêsu rửa chân, tức là để Ngài gột rửa linh hồn ông, khiến ông xứng đáng với Thánh Thể của Ngài. Xứng đáng với thiên chức linh mục mà Ngài sắp sửa mời gọi ông tham dự. Và xứng đáng trong việc chia sẻ cuộc khổ nạn, và sự Phục Sinh của Ngài.
Đối với Phêrô cũng như tất cả mọi Kitô hữu sau này, rửa chân còn là một dấu chỉ thực hành của đức ái mà Chúa Giêsu mong muốn mỗi người cần phải học nơi Ngài: “Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con” (Gioan 13: 15).
Ðức ái và Thánh Thể:
Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, suy ngắm về mầu nhiệm Thánh Thể và tưởng niệm sự hy sinh cao cả của Chúa khi ban mình làm của ăn, của uống nuôi dưỡng nhân loại trên hành trình đức tin và trong đời sống tâm linh. Câu hỏi được đặt ra, liệu chúng ta phải sống với sức sống Thánh Thể như thế nào? Ðời sống đạo của chúng ta có lột tả được ý nghĩa “rửa chân” mà Chúa Giêsu đã thực hiện và dậy chúng ta không? Chúng ta có để Chúa rửa chân như Phêrô đã để Ngài rửa chân, nhất là chúng ta có rửa chân cho nhau không? Nếu chúng ta đến với Chúa Giêsu Thánh Thể bằng tâm hồn khiêm tốn, và đón nhận Ngài vào cuộc đời mình, chúng ta cũng phải sống với mầu nhiệm Thánh Thể bằng việc rửa chân cho nhau là đón tiếp, giúp đỡ, và tha thứ cho nhau như Chúa đã yêu thương và tha thứ cho chính mình.
Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy” (Gioan 13:8). Ông đã thưa lại với Chúa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa” (Gioan 13:9). Và đó là sống Mầu Nhiệm Thánh Thể qua việc thực tha đức ái trong cuộc sống hằng ngày của người Kitô hữu.
Thánh Thể là một biểu hiện tuyệt vời Tình Yêu Thiên Chúa dành cho con người. Chúa Giêsu biết những gì Ngài sẽ phải làm và những gì sẽ sẩy ra cho Ngài như lời Thánh Ký ghi nhận. Ngài đã thiết lập phép Thánh Thể để duy trì tình yêu của Ngài đối với con cái loài người, và cũng để nuôi dưỡng tình yêu con người bằng chính sức sống đến từ Thịt và Máu Ngài: “Thịt Ta thật là của ăn. Máu Ta thật là của uống” (Gioan 6:55).
Đức ái và chức Linh mục:
Ngày Thứ Năm Tuần Thánh cũng là một dịp để cùng ôn lại Bí Tích Truyền Chức Thánh mà Chúa Giêsu đã thiết lập, không ngoài việc duy trì và bảo tồn Thánh Thể. Bởi vì không có linh mục, thì không có Thánh Thể. Cũng có thể nói, Bí Tích Truyền Chức Thánh là một thể hiện tuyệt vời tình yêu Thánh Thể đối với nhân loại.
Hành động rửa chân mà Chúa Giêsu đã làm trước khi thiết lập Thiên Chức Linh Mục, mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt nói lên mục đích cao cả của Bí Tích. Không ai xứng đáng với chức linh mục, nhưng linh mục lại chính là người phục vụ, người phải quí gối xuống để rửa chân cho anh chị em mình. Với Phêrô cũng như tất cả các linh mục sau này, rửa chân còn là một dấu chỉ tích cực của đức ái mà Chúa Giêsu mong muốn các linh mục phải thực hành mỗi ngày khi nhân danh Chúa để đem Ngài đến cho mọi người: “Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con” (Gioan 13: 15).
Ðối với Chúa vì yêu thương nhân loại, Ngài đã xuống thế, chịu khổ nhục và chịu chết. Ngài đã để lại Thánh Thể và Thiên Chức Linh Mục. Ðối với các linh mục, như Chúa Giêsu đã nói với Phêrô, là nếu không thông hiệp với Ðức Ái tức là Tình Yêu của Ngài, và riêng ông, nếu không sống đức ái ấy, thì “không được dự phần với Ngài”. Có thể nói, bí tích truyền chức gắn bó với bí tích Thánh Thể qua Ðức Ái trọn hảo.
Đức ái, hoa trái của Thánh Thể:
Thật vậy, nếu Thánh Thể là của ăn, của uống nuôi sống linh hồn các tín hữu trong cuộc sống tâm linh, thì cuộc sống ấy để làm gì? Và sinh hoạt như thế nào? Trong tự nhiên, khi một người lớn lên, khỏe mạnh thì phải biết dùng lý trí và hành động của mình để làm đẹp và tăng thêm ý nghĩa của cuộc sống. Sống có ý nghĩa. Sống cho xứng đáng con người.
Cũng giống như cuộc sống thể lý hay cuộc sống tâm lý, cuộc sống tâm linh phải đem lại hoa trái và giá trị thật cho người Kitô hữu. Những giá trị phát xuất do tình yêu tức là đức ái chân thật. Những hành động chăm sóc, lo lắng cho các người bệnh tật già yếu, nuôi nấng và săn sóc các em cô nhi, quả phụ, hoặc những kẻ đầu đường xó chợ, chính là những cử chỉ rửa chân mà Chúa Giêsu đã nói đến trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh.
Thứ Năm Tuần Thánh khi suy niệm về Bí Tích Thánh Thể, về Bí Tích Truyền Chức, chúng ta không thể quên sự nối kết mật thiết và hình thức diễn tả cách đầy đủ của hai bí tích này, đó là Đức Ái. Hành động rửa chân rất khiêm nhường, rất thực tế và rất sống động mà Chúa Giêsu đã làm và cũng đã truyền lại cho chúng ta là những kẻ tin theo Ngài. Không để Chúa rửa chân cho, và không rửa chân cho nhau, chúng ta cũng không thể hiểu được thế nào là Chúa Giêsu trong Thánh Thể, và cũng chẳng hiểu được sự cao cả, thánh thiện của bí tích truyền chức.
Trong bài giảng hôm đó liên quan đến đức bác ái, vị linh mục đã kể một câu chuyện nhân chuyến hành hương Ðất Thánh. Hôm đó có một người hành khất đến xin giúp đỡ. Trong đoàn hành hương lúc bấy giờ có một bà giầu có vàng bạc đeo quanh cổ, quanh tay nhưng bà không giúp đỡ gì mà còn tỏ ra như khinh bỉ người nghèo đó. Thấy vậy, ngài làm như cần tiền và muốn có sự giúp đỡ của bà. Và lạ lùng thay, thái độ bà trở nên rất niềm nở, quảng đại. Bà rút trong túi xách tay 200 đồng, biếu cha để cha tiêu xài hay muốn mua gì tùy ý. Kết luận câu chuyện, linh mục giảng thuyết đã làm mọi người suy nghĩ qua câu nói: “Rõ thật là dại. Chúa xin thì không cho, mà cha xin lại cho.” Người giầu có này vì thiếu bác ái, bà đã không nhìn ra Chúa, đã không hiểu được giá trị của chức linh mục, và chắc chắn đức tin của bà đối với Chúa Giêsu Thánh Thể cũng rất yếu ớt.
NHỮNG LỜI DẠY ĐẦU TIÊN, NHỮNG LỜI DẠY CUỐI CÙNG
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
Suy niệm các lời cuối của Chúa trên đồi Tử Nạn, khiến tôi nhớ lại tám lời dạy đầu tiên trên núi Bát Phúc. Bởi những trăn trối ấy dường như có sự tương đồng cách lạ thường với Tám mối Phúc thật.

1. Nghèo khó = Lạy Cha, con phó linh hồn trong tay Cha (Lc 23,46)
Sống cho mọi người, Chúa Giêsu hoàn toàn hạ mình, để không còn gì cho riêng mình. Chúa nói: “Con chim có tổ, con chồn có hang, nhưng Con Người không chốn gối đầu”.
Suốt cuộc đời trần thế, Chúa phó thác hoàn toàn trong tay Chúa Cha, để biến mình thành của lễ cứu chuộc trần gian. Giờ đây, trên đồi Tử Nạn, Chúa tiếp tục bị loài người tước đoạt đến không còn gì, ngay cả chiếc áo cuối cùng, nhân phẩm, mạng sống, cả đến giọt máu sau hết, loài người cũng trút sạch. Phút cuối, tấm linh hồn Chúa cũng trao về Chúa Cha. Chúa gục đầu tắt thở trong sự cô đơn tận cùng.
2. Hiền lành = Hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta (Lc 23,34)
Chúa Giêsu hiền lành, sẵn sàng tha thứ và đón nhận tất cả những ai có lòng thành thật, biết nhận ra lỗi lầm, trở về đường ngay.
Chúa tha cho Maria Mađalêna, một cô gái bị xã hội đào thải, bởi đã từng ngụp lặn trong tội.
Chúa hiền lành quá đỗi, ngược hẳn thái độ háu thắng, dồn dập của những người đang hồ hỡi kết án chị phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang. Bằng cái nhìn độ lượng, không như những kẻ muốn ăn tươi nuốt sống chị, Chúa tuyên bố “Ta không kết án chị”.
Giờ đây, trên thánh giá, cái nhìn dịu hiền ấy, Chúa dành cho người trộm. Chúa hứa chắc chắn với anh: “Hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Người trộm đầu tiên trở thành thánh ngay sau khi Chúa tắt thở. Chúa về thiên đàng, người trộm trở thành vị thánh đồng hành với Chúa, "hộ tống" Chúa.
3. Đau buồn = Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con (Mt 27,46)
Nỗi đau buồn của Chúa Giêsu là nỗi đau cực độ. Chúa đã từng khóc thương thành Giêsusalem cứng đầu. Chua đau lòng bởi những kẻ nhân danh đạo đức, lạm quyền, chất gánh nặng lề luật trên đôi vai dân chúng. Chúa đau lòng bởi những người thấp cổ bé miệng bị gạt ra bên lề xã hội. Chúa thương dân chúng bơ vơ tức tưởi bởi những kẻ lãnh đạo không đáng là mục tử của họ…
Cuối cùng, trước khi nhắm mắt lìa đời, Chúa Giêsu đau khổ đến tột cùng, bởi cảm nhận sự cô đơn đến nỗi đã thốt lên những lời thống thiết: “Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ con”.
4. Đói khát sự công chính = Ta khát (Ga 19,28)
Đã có lần Chúa khát và đến xin nước uống bên bờ giếng Giacob. Lần đó, Chúa đưa chị phụ nữ Samaria có đến sáu đời chồng, từ cơn khát tội lỗi đến khao khát “nước Trường Sinh”.
Giờ đây, trên thánh giá, một lần nữa Chúa khát. Lần khao khát này, không chỉ một người, nhưng là toàn nhân loại được Chúa đưa đến mạch Nước Trường Sinh là chính Chúa, để ai đến với Chúa, sẽ được tha thứ và được ban sự sống đời đời.
5. Thương xót = Hỡi Bà, này là con Bà (Ga 19,26)
Chúa Giêsu, Đấng đầy lòng yêu thương. Cả một đời trần thế, Chúa tỏ bày lòng yêu thương với các môn đệ, với dân chúng, với những kẻ thù ghét Chúa, với hết mọi người…
Chúa yêu mến và vâng phục Đức Maria. Chúa yêu thánh Gioan đến nỗi thánh Gioan tự hào khoác lên mình danh hiệu “Người môn đệ Chúa yêu”.
Giờ đây, trên thánh giá, người đáng thương lẽ ra là chính Chúa, thì Chúa lại thực hiện nghĩa cử yêu thương cho Đức Mẹ, cho thánh Gioan, khi trối thánh Gioan làm con Đức Mẹ.
Chúa sẽ tiếp tục tỏ lộ lòng thương xót ấy, khi cầu xin ơn tha thứ cho chúng ta: “Lạy Cha, xin tha cho chúng”.
6. Lòng trong sạch = Hỡi Gioan, này là mẹ con (Ga 19,27)
Người có lòng trong sạch là người không vướng mắc tội đời. Chúa Giêsu có lòng trong sạch tuyệt đối. Chúa đã từng thách thức những kẻ thù ghét mình: “Ai trong các ngươi bắt được lỗi của Ta?”.
Chúa Giêsu luôn rao giảng trong sự chân thành. Suốt đời, Chúa là Đấng “Có thì nói có, không thì nói không”…
Giờ đây, trao thánh Gioan cho Đức Mẹ, Chúa muốn Đức Mẹ nhận thánh Gioan như đón nhận chính Chúa, Người Con suốt đời thánh thiện của Mẹ.
Qua thánh Gioan, Chúa nối kết loài người với Chúa để đón nhận ơn tha thứ, trở nên thanh sạch như thánh Gioan, để từng người cũng được xứng đáng làm con của Đức Mẹ.
7. Hòa bình = Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,34)
Điều kiện để có hòa bình là phải biết tha thứ. Chúa Giêsu tha thứ cho tất cả những ai thù ghét Chúa, bởi Chúa chính là nguồn bình an vô tận của cả loài người.
Chúa không chỉ tha thứ khi loài người treo Chúa lên thánh giá, nhưng Chúa tha thứ ngay trong đời sống thường ngày, khi bị người đời chống đối, ghét bỏ.
Rất tiếc, loài người vì hẹp hòi, ích kỷ, nên đã thù ghét Chúa. Họ không thể nhận ơn bình an.
Cùng với sự tha thứ vô bờ, Chúa cũng dạy: “Hãy yêu kẻ thù, và cầu nguyện cho những kẻ bách hại anh em”.
Chúng ta hãy nhìn tấm gương tha thứ của Chúa, lắng nghe lời Chúa dạy mà tha thứ cho nhau, để khắp nơi có hòa bình, tâm hồn thực sự bình an.
8. Bị bách hại vì lẽ công chính = Mọi sự đã hoàn tất (Ga 19,30)
Những lời trên núi Bát Phúc để chúc phúc cho Hội Thánh: “Phúc cho ai bị bách hại…”, giờ đây, trên đồi Tử Nạn, Chúa Giêsu trở thành người bị bách hại nặng nề. Dường như lời giảng khai mạc trên núi Bát Phúc, chỉ có thể được kết thúc trên đồi Tử Nạn.
Ở giữa của một khoảng dài khai mạc và kết thúc, là một cuộc bách hại liên tục: Chúa bị bách hại trong đám dân nghèo lắng nghe Tin Mừng, trong không biết bao nhiêu anh chị em bị quỷ ám, bị bệnh tật, bị xã hội loại bỏ...
Bản thân Chúa Giêsu, nhiều lần trong lời dạy, bị người ta cho là chói tai, nhiều lần họ muốn ném đá Chúa...
“Mọi sự đã hoàn tất”: Giờ đây, một cuộc đời bị bách hại của Chúa đã kết thúc nơi trên thánh giá, trên đồi Tử Nạn.
Chúa chúng ta đã chết, nhưng cái chết của Chúa là phúc lớn cho chúng ta. Còn hơn cả Tám mối Phúc thật, Phúc mà Chúa ban cho ta là ơn cứu độ đời đời, cho ta sống đời đời trong Nước Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa chết vì chúng con. chuẩn bị cho ngày thứ sáu Thánh, tưởng nhớ việc Chúa chấp nhận cái chết thương đau trên thánh giá, chúng con vừa mừng, vừa âu sầu. Mừng vì chúng con có một Thiên Chúa quá yêu chúng con. Chính tình yêu đó cho chúng con hy vọng rằng, dù chúng con có thế nào, thì tình yêu của Chúa mãi mãi vẫn là tình yêu cứu độ, luôn luôn đợi chờ chúng con. Nhưng buồn vì chúng con biết mình phạm tội nhiều. Xin tha thứ cho chúng con.
NGHỊCH LÝ CỦA THÁNH GIÁ
Jos. Vinc. Ngọc Biển, ssp
Buổi chiều hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm Đức Giêsu chịu chết để chuộc tội thiên hạ. Buổi chiều hôm nay là “giờ” của Thiên Chúa Cha đã định, và cũng là “giờ” của Đức Giêsu hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại; “giờ” của người Tôi Trung mà tiên tri Isaia đã loan báo. “Giờ” đó được hoàn tất trên Thánh Giá. Vì thế, phụng vụ chiều hôm nay đều quy chiếu về Thánh Giá Đức Kitô như một sợi chỉ xuyên suốt từ đầu đến cuối.
1/ Nghịch lý của Thánh Giá
Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô đã nói: Đức Giêsu Kitô đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự (x. Pl 2,8); và Ngài đã chết theo như lời Thánh Kinh (x. 1Cr 15,3).
Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá đã là nguyên nhân để nhiều người được cứu độ, nhưng cũng không thiếu những kẻ cứng lòng, cố chấp và trai lỳ trong ích kỷ, kiêu ngạo. Những người như thế, họ coi đó như là hình phạt mà Đức Giêsu là người đáng phải chịu do tội mình gây nên.
Thật vậy, khi thập giá được dựng lên, và khi Đức Giêsu chịu treo trên đó, đã không biết bao người tin theo và suy tôn. Tuy nhiên, cũng không thiếu những lời chê bai dè bửu và khinh thường. Họ coi thập giá như là thứ đồ tể đáng sợ để trừng phạt những tử tội oái oăm, khét tiếng và nguy hiểm… Suy nghĩ như thế, thì cái chết của Đức Giêsu không có công trạng gì, mà chỉ như là một hình phạt đích đáng được dành cho một kẻ đã từng bị kết án vì tội “sách động dân chúng; tìm cách lật đổ chế độ và nói lời phạm thượng”. Và, những người theo Đức Giêsu phải chăng họ là bọn người cuồng tín khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một kẻ bị treo trên cây gỗ như một tử tội!
Thật vậy, thập giá của Đức Giêsu hôm nay được tôn vinh, đã làm không ít người cảm thấy ngỡ ngàng, bởi vì xét theo người đời, thì đây chính là sự ô nhục, hận thù, đáng ghét… là biểu tượng của sự chết chóc và thập giá vẫn chỉ là dụng cụ ghê rợn được dùng để sử tử tội nhân mà thôi.
Nhưng đối với Thiên Chúa, thì đây chính là sự khôn ngoan khôn dò thấu của Người. Thánh Phaolô đã nói: “Con Thiên Chúa chết trên thập giá là một trong những đường lối khôn ngoan sâu thẳm mà không một ai dò thấu” (x. Rm 11,33). Bởi vì Thiên Chúa đã dùng thập giá như một sự nghịch lý để cứu độ con người.
Thực ra thập giá luôn mang tính nghịch lý, bởi vì nó tuyên dương quyền năng thượng trí của Thiên Chúa ở nơi mà người đời coi là điên rồ.
Nhưng với những người tin, hẳn sự cảm nghiệm, suy nghĩ và thái độ hoàn toàn ngược lại. Những người đó sẽ coi thập giá trở thành Thánh Giá và Thánh Giá lúc này trở thành phương dược, để qua đó Đức Giêsu chuộc tội thay con người và cứu độ nhân loại.
Nếu xưa kia trong vườn Địa Đàng, Ađam đã ngã gục trước Cây Trái Cấm, và gieo rắc tội lỗi cho nhân loại, thì giờ đây, trên cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại những gì mà Ađam đã đánh mất và để lại hậu quả cho nhân loại.
Như vậy, từ Cây Trái Cấm, sự chết đã tiêu diệt thế gian, và Trái Cấm là rào cản lớn đến độ con người không thể vượt qua, thì giờ đây, từ cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại những gì đã mất do Nguyên Tổ gây nên và mặc cho nó thành cây Sự Sống, quả Phúc Trường Sinh.
Chính Đức Giêsu đã khẳng định rõ điều này khi nói: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12, 32). Vì thế, không lạ gì khi thánh Phaolô đã khẳng khái tuyên xưng niềm tin và ơn cứu chuộc của mình nơi Thánh Giá, ngài nói: “Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa […] Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin. Trong khi người Dothái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hylạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Ðấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Dothái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. (nhưng) cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (x. 1Cr 1,18-25).
Vì thế, “Nhờ máu Người đổ ra trên Thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20).
2. Đón nhận Thánh Giá như nguồn ơn cứu rỗi
Cuộc đời của người Kitô hữu, tức là cuộc đời của những người tin và theo Đức Giêsu, hẳn mỗi người luôn nghe thấy lời mời gọi của Ngài: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì? “ (Mc 8,34-36); và: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38).
Lời mời gọi đó đã được gióng lên ngày chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội cũng như suốt cuộc đời của mỗi người chúng ta. Như vậy, Thánh Giá trở nên cứu cánh và việc vác Thánh Giá trở thành điều kiện cần của chúng ta trên hành trình dõi bước theo Đức Giêsu.
Thánh Giá mà mỗi chúng ta phải vác ở đây chính là bổn phận phải chu toàn; là từ bỏ những thứ không cần thiết trên hành trình tin Chúa; là từ bỏ ý riêng… và phục vụ trong yêu thương.
Làm được như thế, ấy là chúng ta sáp nhập cuộc đời của mình vào cuộc đời của Đức Giêsu. Đặt bước chân của ta vào dấu chân của Chúa, để sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Tin Mừng.
Như vậy, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Thánh Phaolô đã diễn tả tâm tình ấy khi tuyên xưng: “ Tôi cùng chịu đóng đinh với Ðức Kitô vào thập giá […] (Và) tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi ” (Gl 2,19-20).
Mặc lấy tâm tình của Đức Giêsu, người kitô hữu chúng ta sẽ từ bỏ con đường tội lỗi, để được hiệp thông cách trọn vẹn vào cuộc khổ nạn của Ngài, và như một định luật đối với những người tin và theo Đức Giêsu là: qua đau khổ thì mới được vào vinh quang.
Lạy Chúa Giêsu, Đấng chịu treo trên Thánh Giá, xin thương xót và cứu chuộc chúng con. Amen.
THẬP GIÁ TÌNH YÊU
JB. Lê Đình Nam, sj
Tâm điểm của Tuần Thánh chính là Thập giá, nơi Đức Kitô bị đóng đinh, chịu treo và chết vì tội lỗi của mỗi người chúng ta.
Hình ảnh thập giá luôn cho ta một trải nghiệm đau đớn, một cảm giác ghê rợn và một cái nhìn về sự thất bại. Nhưng không! Thập giá Đức Kitô thì hoàn toàn khác. Đó là đỉnh cao của tình yêu mà Thiên Chúa biểu lộ cho con người.
Chính nơi Thập giá ấy, Chúa Giêsu đã đưa ta trở lại ơn gọi làm con Chúa. Mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người được nối lại, tình người và tình Chúa được hòa quyện.
Chính nơi Thập giá ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa với con người. Nơi đó, tình yêu đã chiến thắng tội lỗi, sự tha thứ đã chiến thắng hận thù và phận hèn mọn của con người được nâng lên.
Và cũng chính nơi Thập giá ấy, Máu Thánh của Chúa Giêsu đã tuôn trào để đem lại cho chúng ta một cuộc sống mới và một trang sử mới của nhân loại được bắt đầu.
Chiêm ngắm Thập giá Đức Kitô chính là nhận ra tình yêu của Thiên Chúa và giúp ta sống tình yêu đó giữa dòng đời lắm đau khổ và nhiều u buồn của ngày hôm nay. Tình yêu là trung tâm của đời sống Kitô hữu. Tình yêu là nền tảng cho một cuộc sống hướng đến niềm vui và bình an.
Ngắm nhìn Thập giá Đức Kitô để ta ý thức lại tương quan của mình với Thiên Chúa. Mỗi chúng ta đã đáp lại tình yêu của Ngài như thế nào? Hay chính chúng ta lại xúc phạm đến tình yêu đó bằng một đời sống đạo khô khan, tẻ nhạt; hay bằng những việc làm vô luân đi ngược với những giới răn của Ngài.
Nhìn lên Thập giá Đức Kitô để chúng ta học sống tình yêu mỗi một ngày trong đời. Là Kitô hữu, ta được mời gọi sống yêu thương, san sẻ để đốt cháy những băng giá vô cảm, vô tâm nơi xã hội. Là con Thiên Chúa, ta được mời gọi sống bao dung tha thứ để xóa tan những tranh chấp, hận thù đang xảy ra trên khắp thế giới và ngay trong con người chúng ta. Là con người với nhau, ta được mời gọi sẻ chia và giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh xung quanh mình.
Thập giá Đức Kitô chính là tâm điểm cho hành trình Đức tin, là biểu tượng niềm tin cho mỗi một người Kitô hữu. Thật vậy, nó không chỉ dừng lại ở hình ảnh của sự thất vọng nhưng là dấu chỉ của niềm hy vọng. Nó không chỉ dừng lại ở sự đau khổ và tội lỗi nhưng là bằng chứng sống động về tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Và nó không chỉ dừng lại ở cái chết khốn khổ ấy nhưng sẽ hướng đến sự Phục sinh viên mãn.
Thứ Sáu Tuần Thánh một lần nữa mời gọi chúng ta ngước nhìn Thập giá Đức Kitô – Thập giá tình yêu, để nơi đó chúng ta có một niềm cậy trông, một viễn cảnh hy vọng và một bài học lớn lao về tình yêu.
Hãy chiêm ngắm Thập giá Đức Kitô, tin tưởng nơi Thập giá, hy vọng vào Thập giá và sống tình yêu Thập giá mỗi giây phút trong đời!
NHÌN NGẮM THÁNH GIÁ KHÁM PHÁ TÌNH YÊU
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Hôm nay, Giáo hội, Hiền Thê yêu dấu nhìn lên Thánh Giá nơi treo Chúa Giêsu vị Phu Quân của mình, chân tay đanh nhọn đâm thâu, cạnh sườn lưỡi đòng đâm thủng, máu cùng nước chảy ra làm cho Giáo hội nhớ đến ngày mình được sinh ra từ cạnh sườn Chúa, lúc Chúa ngủ trên Thánh Giá với tất cả tình yêu. Bởi theo thánh Ambrosiô, lúc Ađam đang ngủ Thiên Chúa đã lấy xương sườn của ông để tạo dựng Evà thế nào, thì lúc Chúa Giêsu chết nằm trên Thánh Giá, Giáo hội cũng được sinh ra từ Trái Tim bị đâm thủng của Chúa Giêsu như vậy, và Giáo hội tưởng nhớ đến tình yêu dâng trào ấy.
Câu chuyện tình yêu
Giảng trong Thánh lễ sáng thứ ba ngày 15/03.2016, tại nguyện đường Thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Nếu muốn biết ‘câu chuyện tình’ mà Thiên Chúa dành cho nhân loại, chúng ta phải ngắm nhìn Thánh Giá, nơi ấy có một vị Thiên Chúa đã hoàn toàn ‘trút bỏ vinh quang’, sẵn sàng bị ‘vấy bẩn’ bởi tội lỗi con người để cứu con người khỏi chết“.
Thật không thể hiểu nổi Thiên Chúa yêu thương chúng ta biết chừng nào. Người đã yêu chúng ta bằng tình yêu vô bờ bến, tình yêu thương xót và thứ tha, khi phải mang trên mình những đau khổ vì tội lỗi chúng ta. Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa được Isaia mô tả : “Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.
Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta” (Is 53, 2-6).
Người ta nói rằng : nếu tất cả Thánh Kinh trên trái đất này bị hủy diệt bởi tai biến nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn một bản Kinh Thánh, và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được, và nếu dòng đó là thư thứ nhất của thánh Gioan viết “Thiên Chúa là Tình Yêu “, thì coi như toàn bộ Thánh Kinh được khôi phục, bởi vì toàn bộ nội dung là ở đó. Mầu Nhiệm Thập Giá mà chúng ta cử hành là bằng chứng. Vì thế, khi suy tôn Thánh giá Chúa, kính nhớ Chúa chịu chết, chúng ta cảm nhận được sự thật rằng : “Thiên Chúa là Tình Yêu“.
Thờ lạy Thánh Giá Chúa
Phần tiếp theo của nghi thức chiều nay là thờ lạy Thánh Giá, tiến xướng chúng ta hát : Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa… vì nhờ gỗ này mà cả vũ trụ được hân hoan. Tại sao vậy ?
Thưa, Thánh Giá không phải là đồ trang sức, không phải là một công trình nghệ thuật được đính nhiều đá quý và kim cương lấp lánh. Nhưng như chúng ta thấy, Thánh Giá là mầu nhiệm tự hủy của Thiên Chúa vì yêu thương. Đây chính là câu chuyện về ơn cứu độ của chúng ta. Đây cũng là chuyện tình của Thiên Chúa.
Với khí giới của riêng mình là cây Thánh Giá, Chúa Giêsu đã chiến thắng cách diệu kỳ. Nếu như đã có một người nữ tên là Evà bị thất bại trước khí cụ của con rắn xưa là cây trái cấm, đem sự chết vào thế gian, Ađam phải chết. Thì nay, Đức Maria, thay thế Evà, cũng với cây sự sống, cây biết lành biết dữ làm gỗ giá treo Chúa Giêsu lên, Người đã đánh bại tử thần, sống lại hiển vinh, cứu con cháu Ađam khỏi chết. Ma quỷ đã bị đánh bại bởi cùng một phương tiện mà nó đã chiến thắng. Ma quỉ đã dùng cây để quật ngã Adam, Chúa Giêsu Kitô đã dùng cây Thánh Giá để đánh bại Nó. Cây trái cấm đã ném con người vào vực thẳm, nay gỗ Thánh Giá kéo con người lên. Cây trái cấm đã làm cho con người mất đi tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa, tống con người vào ngục ; nay gỗ Thánh Giá tước lấy vũ khí của ma quỉ đã chiến thắng con người, giúp con người vượt qua trần thế. Cái chết của Adam đã kéo theo con cháu mình là kẻ sinh sau ông ; sự chết của Chúa Giêsu Kitô mang lại sự sống cho những kẻ sinh ra trước Người. Quả làm một tuyệt phẩm về tình yêu giữa Thiên Chúa với nhân loại từ cây Thánh Giá.
Thánh Giá là cờ vua cả toàn thắng đã cứu chúng ta cho khỏi tay ma quỉ, là vũ khí chông lại tội lỗi, là thanh gươm sắc bén Chúa Giêsu dùng để chiến thắng con rắn xưa. Thánh Giá là ý Chúa Cha, là vinh quang của Chúa Con độc nhất, là chiến thắng của Thánh Thần Thiên Chúa, là niềm vinh dự của các thiên thần, là sự an toàn của Giáo hội, là bức tường thành của các vị thánh, niềm tự hào của thánh Phaolô, là ánh sáng chiếu soi trên toàn thế giới. Từ đây, “sự chết đã bị vùi trong toàn thắng. Tử thần hỡi, đắc thắng của ngươi đâu? Tử thần hỡi, nọc của ngươi đâu?” (1Cr 15, 54-55).
Thế giới khi nhìn xem Con Thiên Chúa chịu đóng đinh, rùng mình, trời đất động địa, đã vỡ ra ; nhưng trái tim của những người Do Thái, cứng hơn đá vẫn không động đậy. Các màn trong đền thờ bị xé ra; nhưng các âm mưu phạm tội vẫn không bị phá vỡ. Tại sao màn che bị xé ? Phải chăng đền thờ đau đớn khi chứng kiến cảnh Thiên Chúa bị giết bên ngoài trên bàn thờ Thập Giá; và khăn che trong đền thờ xé ra như muốn nói với mọi người rằng: sẽ có nhiều đền thờ trở nên hoang vắng và bị bỏ rơi. Chúng ta hãy học để chiến thắng mà không phải chiến đấu, không phải dàn trận, vũ khí không dính máu, chúng ta không bị thương vong nhưng lại giành chiến thắng: Thiên Chúa chiến đấu, còn vương niệm chiến thắng chúng ta nhận.
Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Xin Chúa cho chúng con khi nhìn ngắm Thánh Giá Chúa, biết khám phá ra rằng, Thiên Chúa đã chết chỉ vì yêu, để chúng con biết yêu thương nhau hầu chứng tỏ rằng chúng con yêu Chúa, vì đó là cốt lõi của Đạo Chúa. Amen.
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.