NĂM DẦN – LẦN CHUYỆN HỔ TRONG KINH THÁNH

26-01-2022 3,351 lượt xem

NĂM DẦN – LẦN CHUYỆN HỔ TRONG KINH THÁNH 
VÀ ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT
Phong Trần
Viết riêng cho Legio Mariæ VN

DẪN NHẬP

Bốn mùa Chúa đã tạo ra
Vầng trăng tròn khuyết điểm qua tháng ngày.
Xuân ơi, xuân hỡi có hay,
Muôn người nô nức, sum vầy chào xuân.

Một mùa xuân mới nữa lại về trên khắp mọi miền quê hương mang theo bao niềm vui và ước mơ về cuộc sống bình an, hạnh phúc của bao người. Năm mới 2022, tính theo lịch Can Chi là năm Nhâm Dần với sinh vật biểu tượng là con hổ (hay còn gọi là cọp). Đây là một loài thú rừng quý hiếm, có sức mạnh, sự oai nghi đường bệ nhưng cũng rất hung dữ và đã từng là nỗi khiếp sợ của bao thế hệ tiền nhân trong buổi đầu quá trình khai hoang mở cõi. Có thể nói, hổ là con vật quyền uy và mãnh mẽ nhất trong số các con vật đã từng làm loài người sợ hãi lẫn tôn sùng.

Nhân những ngày đầu xuân mới của năm con hổ lên nắm quyền hành khiển, xin cùng nhìn lại một cách sơ lược nhất về hình tượng và ảnh hưởng của con hổ trong tư tưởng, văn hoá Việt cũng như hình ảnh con hổ được diễn tả ra sao trong Kinh Thánh, một quyển sách mà người Kitô hữu hầu như lật mở mỗi ngày.

PHẦN A. HÌNH TƯỢNG CON HỔ TRONG VĂN HOÁ VIỆT

1/ Tên gọi

Có nhiều tên gọi được dùng phổ biến và tồn tại trên văn bản ở các vùng miền để gọi tên con hổ, nhưng nhiều nhất là tên hổ (虎), hay cọp, tiếng Hán Việt là Dần. Trong chữ Hán, chữ hổ (唬) nghĩa là doạ nạt, có bộ khẩu đứng trước chữ hổ để tượng hình cho việc nghe tiếng hổ gầm, tạo ra nỗi sợ hãi, kinh hoàng (trong tiếng Việt, từ hùng hổ hay hùng hùng hổ hổ cũng có thể xuất phát từ ý nghĩa này). 

Tuy có nhiều tên gọi nhưng tập trung vào một số tên chính với cách dùng trong những trường hợp cụ thể là:

- Hổ: liên tưởng đến sự hùng hổ, mạnh mẽ, hung ác, quyết thắng. Người ta cũng dùng từ hổ dữ để mô tả về những con hổ chỉ về sự hung tợn, dữ dằn hay tấn công làm hại người.

- Cọp: liên tưởng đến hành động ngoạm, cắp rất dữ dội, tham lam, ăn tươi nuốt sống.

- Hùm hay Hàm: liên tưởng đến tiếng gầm mạnh mẽ, nhằm đe doạ đối phương.

- Ông Ba Mươi: ai bắt được hổ thì được thưởng 30 đồng, hay ý nói cọp hay rình mò kiếm ăn vào đêm 30 tết (cũng nói lên với sự tôn trọng) hay cọp đi 30 bước là quên hết mọi thù oán hoặc đêm 30 (cuối tháng âm lịch, trời tối đen) là thời gian thích hợp để cọp dễ săn mồi.

- Kễnh: liên tưởng đến việc con hổ có thể chỉ cần chạy bằng 3 chân, khi một chân bị thọt, hoặc bị vướng vì phải tha con mồi to lớn hơn mình.

- Quan Lớn Tuần Dinh, hoặc Quan Năm Tuần Dinh: được thờ cúng trong các đền, là bộ hạ của Thần, Thánh, Mẫu…

- Ông Mãnh: mạnh mẽ, tàn bạo, thù dai.

- Hạm: có nghĩa là cọp nhưng là những con cọp ác, hung dữ ăn thịt người, quấy phá cuộc sống của người dân.

- Gấm, Mun: tên gọi dựa vào màu sắc của hổ.

Ngoài ra, ở Nam Bộ còn gọi cọp là Ông Cả vì sợ cọp quấy phá, người ta lập miếu thờ, tôn cọp lên hàng Hương Cả (chức cao nhất trong Ban Hội Tề của làng xã trước đây).

Ở miền Đông Nam Bộ, những danh xưng cao nhất được dành cho hổ như: Sơn quân chi thần, Sơn quân chúa xứ, mãnh hổ, thần hổ, ông Thầy, Ngài, ông Ba Mươi, Hương quản…

Ở vùng Sơn La, đồng bào dân tộc ở đây rất sợ hổ và gọi là ông hổ, chứ không dám gọi là con hổ.

Sở dĩ hổ có nhiều tên gọi như vậy là do tương quan lực lượng giữa con người và tự nhiên vào buổi đầu khai hoang lập nghiệp, nên dù có tiêu diệt cọp thì con người cũng rất sợ loài thú hung dữ này vì nó tượng trưng cho sức mạnh của tự nhiên mà cư dân buổi đầu tiên phải đối mặt, điều đó giải thích một tập tục thờ hổ phổ biến trong buổi đầu khai phá khi con người phải thừa nhận những sức mạnh của tự nhiên, mà cọp là một đại diện tiêu biểu.

2/ Một vài dấu ấn đáng nhớ về năm Dần trong lịch sử dân tộc

- Năm Giáp Dần (714): Khởi nghĩa của nghĩa quân Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế) thắng lợi, lật đổ chính quyền đô hộ nhà Đường, giải phóng đất nước.

- Năm Bính Dần (906): Khúc Thừa Dụ đứng ra lãnh đạo nhân dân nổi lên đánh đuổi bọn đô hộ nhà Đường, chiếm thành Đại La, dựng quyền tự chủ đất nước. Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ. Ngày 11 tháng Giêng (tức 7/2/906), trước hành động quyết liệt của nhân dân Giao Châu, nhà Đường buộc phải phong chức “Đồng bình chương sự” cho Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ, thừa nhận người Việt cai quản đất Việt, chấm dứt về cơ bản thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm.

- Năm Nhâm Dần (1002): Vua Lê Đại Hành thực hiện hàng loạt các biện pháp nhằm chấn chỉnh và cải cách chính trị - hành chính như ban hành pháp luật, đổi tên đơn vị hành chính lãnh thổ, chia tướng hiệu làm 2 ban (văn-võ), tổ chức và trang bị lại cho quân đội ...

- Năm Mậu Dần (1038): Vua Lý Thái Tôn đích thân ra cày ruộng (cày tịch điền) ở cửa Bố Hải để làm gương cho dân chúng. Tục lệ đẹp này được các triều đại sau đó duy trì và phát huy.

- Năm Nhâm Dần (1242): Nhà Trần tiến hành cải cách hành chính địa phương với quy mô lớn: chia lại đơn vị hành chính lãnh thổ, tổ chức lại hệ thống quan lại địa phương, làm sổ hộ khẩu, phân loại dân đinh, ấn định cặn kẽ mức tô thuế...

- Năm Mậu Dần (1398): Tể tướng Hồ Quý Ly tiến hành cải cách ruộng đất toàn diện.

- Năm Giáp Dần (1614): Chữ quốc ngữ Việt Nam (do các giáo sĩ Bồ Đào Nha sáng tạo ra) bắt đầu hình thành và phát triển.

- Năm Mậu Dần (1698): Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền Nam, quyết định lập phủ Gia Định để quản lý 2 huyện Phước Long (Biên Hòa) và Tân Bình (Sài Gòn, từ sông Sài Gòn đến sông Vàm Cỏ Đông). Sài Gòn coi như được thành lập từ đó.

- Năm Nhâm Dần (1782): Khởi nghĩa Tây Sơn do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo nhân dân tấn công mãnh liệt vào cả chính quyền chúa Nguyễn ở miền Nam lẫn chính quyền Lê - Trịnh ở miền Bắc.

- Năm Bính Dần (1806): Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế (Gia Long), trở thành vị vua đầu tiên của triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

- Năm Mậu Dần (1998): Kỷ niệm 300 năm thành lập Sài Gòn - Gia Định; 25 năm ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam.

3/ Con hổ trong tâm thức và đời sống người Việt

Con hổ đã trở thành một biểu tượng trong nền văn hóa cổ phương Đông, tượng trưng cho sức mạnh, uy quyền của vị tướng quân dũng mãnh, can trường, oai phong lẫm liệt hoặc những cá nhân tài năng xuất chúng. Theo truyền thuyết, quan Tư mã Hùng Lang có công đánh đuổi giặc Ân là hoá thân của Hoàng Hổ Tinh hạ phàm để phò vua giúp nước. Đến nay Ngũ Nhạc Linh Từ (còn gọi là đền Trình) thuộc quần thể thắng cảnh Hương Sơn (Mỹ Đức, Hà Nội) vẫn còn thờ vị thần hổ này. 

Các võ tướng ngày xưa có phù hiệu, ấn tín khắc hình đầu hổ, gọi là hổ phù. Các đình chùa, miếu mạo thường chạm khắc hình hổ, thể hiện sự linh thiêng, bất khả xâm phạm. Vị thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp nổi tiếng Hoàng Hoa Thám đã được mệnh danh là “Hùm thiêng Yên Thế”.

Theo quan niệm của tử vi phương Đông, người nam sinh vào năm hổ (tuổi Dần) thường có tư chất thủ lĩnh, tướng mạo oai phong, tính cách nóng nảy, quyết đoán, can trường, kiêu hãnh, đầy đam mê, nhân hậu. Danh nhân tuổi Dần ở nước ta, có thể kể đến đó là: vua Trần Thái Tông (Mậu Dần, 1218-1277); thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ, anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (Canh Dần 1230-1291); nhà sử học Lê Văn Hưu (Canh Dần 1230-1322); ông Ngô Thời Nhiệm (Bính Dần 1746-1803); ông Phan Huy Chú (Nhâm Dần 1782-1840); ông Trương Đăng Quế (Giáp Dần 1794-1865); ông Ngô Đức Kế (Mậu Dần 1878-1929)…Cũng có quan niệm người tuổi Dần (đặc biệt là nữ) thường “cao số”, lận đận về đường tình duyên, nhất là không hợp với người sinh tuổi Hợi (vì quan niệm hổ sẽ “vồ” lợn chăng?).  

Người ta thường làm chiếc vuốt hổ, hoặc răng hổ bịt vàng, bạc cho trẻ con đeo để trừ tà ma, cả người lớn cũng đeo làm trang sức. Một số người cho rằng ria hổ cắm vào búp măng tre có thể chế thành “ma thuốc độc” hại người để làm giàu. Tuy nhiên đây chỉ là quan niệm mê tín, hoang đường.  

Thật khó lòng thống kê hết số lượng và kiểu dáng của tượng, phù điêu, tranh tường, tranh lụa, tranh giấy, tranh thờ…có hình hổ. Tuy rằng “hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt”, nhưng bức “Ngũ Hổ” của tranh dân gian Việt Nam lại là một kiệt tác có giá trị nghệ thuật cao.

4/ Con hổ trong văn chương 

Hình tượng hổ xuất hiện nhiều trong văn học, văn hóa dân gian. Chúng ta từng nghe rất nhiều những câu nói có liên quan đến “chúa sơn lâm” như: “Hổ dữ không ăn thịt con”, “rừng nào cọp nấy”, “miệng hùm gan sứa”, “hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn”, “nam thực như hổ…”, “mãnh hổ nan địch quần hồ”, “dữ như cọp”, “vuốt râu hùm”, “cưỡi lên lưng cọp”… thật là khó lòng kể ra hết được.

Truyện dân gian có “Ông Nghè hóa cọp” chế giễu những người “chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng”. Giai thoại về bác Ba Phi ở Cà Mau (Nguyễn Long Phi, 1884-1964) còn có chuyện bắt cọp xay lúa, xử án cọp. Trong truyện cổ tích “Trí khôn của ta đây”nói về con hổ hiền lành, dại dột, bị mắc lừa con người. Giai thoại “Con hổ có nghĩa” đã được đưa vào sách giáo khoa cho thấy rằng hổ cũng là con vật có tình nghĩa, biết đền ơn xứng đáng người đã giúp đỡ mình. Tác phẩm “Bí mật trên đồi Hổ táng” (1985) của nhà văn Bá Dũng cũng nhắc đến truyền thuyết này. Còn bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ đã trở nên nổi tiếng; “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu” là lời than thở của vị chúa sơm lâm sa cơ, song vẫn khát khao cháy bỏng những ngày tháng tự do tung hoành.  

Tục ngữ còn có câu: “Hổ chết để da”. Bộ da hổ tuyệt đẹp luôn là niềm mơ ước của nhiều người. Da hổ được nhiều người sang trọng giàu có dùng làm thảm hay may thành áo, cũng như các đồ dùng cho các mệnh phụ lắm của nhiều tiền... Ngày xưa các tướng soái thường treo da hổ lên màn trướng, nơi họp bàn quân cơ để biểu tượng cho cái uy dũng của quân đội, được gọi là hổ trướng: “Trướng hùm mở giữa trung quân” (Truyện Kiều). Cũng bởi da hổ quý như vậy nên người ta mới nói: 

Hổ tử lưu bì, nhân tử lưu danh. 

Người chết rồi thì còn để lại cái tiếng tốt hay xấu, cho người đời khen ngợi hay chê bai nguyền rủa. Tâm địa con người thật là khó đoán biết nếu chỉ đánh giá ngoài diện mạo, nên mới có câu rằng:

Họa hổ hoạ bì nan họa cốt, 
Tri nhân tri diện bất tri tâm. 

Vẽ hổ thì dễ nhưng không ai vẽ được tâm tính, khí chất hổ, cũng như nhìn một người thì chỉ thấy diện mạo, chứ không thể biết được lòng dạ người đó thế nào. Nhưng cái tính tình ấy vẫn cứ mãi được lưu truyền, bởi vì:

Hổ phụ sinh hổ tử. 

Cha là hổ thì con phải là hổ chứ không thể là chó được. Cái tính ngông nghênh hung dữ của cọp làm thiên hạ nể sợ, nếu được cổ võ tâng bốc, nó lại càng kiêu căng muốn tung hoành hơn nữa: 

Trời sinh hùm chẳng có vây, 
Hùm mà có cánh hùm bay lên trời. 

Chính tại cái hung hãn hống hách ấy, hùm tha hồ ra tay cướp bóc trắng trợn, mà không kẻ nào dám hé răng nửa lời: 

Mèo tha miếng thịt xôn xao, 
Kễnh tha con lợn thì nào thấy ai. 

Bởi thế, kẻ có quyền hành làm lớn mà tham nhũng bóc lột thì không ai dám chống đối. Dân chúng sợ như sợ hổ, chỉ còn biết im hơi lặng tiếng cho yên thân: 

Chớ thấy hùm ngủ vuốt râu, 
Đến khi hùm dậy, đầu lâu chẳng còn. 

Nhưng dù có cả một bầy cọp dữ đi nữa, nó cũng không thể tác oai tác quái được mãi mà cũng có ngày sa cơ lỡ vận, vì: 

Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn (Truyện Kiều); khi ấy thì “Hổ lạc bình dương vi khuyển khi” kể cũng là chuyện thường tình vậy.

5/ Một vài câu chuyện về hổ

Như đã nói, có nhiều câu chuyện liên quan đến hổ. Chuyện về hổ dữ rất nhiều, hung ác, ngờ nghệch cũng có, chuyện anh hùng đả hổ hay những viên quan lại độc ác, bạo tàn được sánh ví như loài ác thú cũng không hiếm.

a) Cáo mượn oai hùm 

Đời sống hoang dã nơi rừng thiêng núi thẳm, hùm là nỗi ám ảnh sợ sệt của hầu hết thú rừng. Duy có con cáo là lắm mưu mẹo né tránh được nanh vuốt của nó. 

Hôm ấy, cáo ta đang lang thang đi tìm mồi thì thình lình nghe tiếng gầm của hùm ngay sau đuôi. Cáo sợ điếng người, vội quay lại lấy hết can đảm ra giọng trịch thượng nói như truyền lệnh cho hùm: 

- Bớ hùm! Mi có biết ta vừa được trời cho đi giám sát tất cả bách thú trong khu rừng này không? Nếu mi động đến ta, là làm trái mệnh trời, trời sẽ tru di cả họ mi ngay. 

Nghe vậy, hùm bán tín bán nghi, hùng hổ đáp lại: 

- Con cáo gian xảo kia, đừng có hòng lừa ta, hãy mau mau nộp mạng!

Cáo ta đã “lỡ lên lưng cọp”, ngọn lao đã phóng rồi nên phải đành theo lao: 

- Này hùm, đừng già mồm, nếu mi không tin, ta cho mi theo hầu ta đi khắp khu rừng này, xem có con thú nào trông thấy ta mà không sợ hãi, tìm đường chạy trốn không? 

Hùm nghe có lý, bèn đồng ý theo sau cáo. Quả nhiên đi đến đâu các con thú cũng trốn biệt đi cả.

b) Nữ nhi khi hổ 

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, bà Bùi Thị Xuân (1752-1802) chính là một trong số những vị anh thư kiệt xuất, góp công vào những chiến công hiển hách như chém tướng giặc Xiêm La (1785), đánh tan quân Thanh (1789).

Bà vốn người làng Xuân Hòa (Bình Định ngày nay). Đương thời, bà vừa nổi tiếng về nhan sắc, sức mạnh, viết chữ đẹp. Theo một số sách, thì“bà thích làm con trai, múa kiếm đi quyền, chỉ thích nghe những câu chuyện như Bà Trưng đuổi giặc, Bà Triệu đi quyền, không mấy hứng thú với những chuyện của nữ nhi đời thường”.

Tương truyền, lúc đi học, bà thường mặc áo con trai, lớn lên lại tự chế các kiểu áo võ hiệp vẽ trong tranh để mặc. Năm 12 tuổi, bà đến trường học chữ. Một hôm, bạn học cố ý giễu cợt, ra câu đối: “Ngoài trai trong gái, dưa cải dưa môn”, có người đối lại “Đứng xuân ngồi thung, lá vông lá chóc”.

Cả lớp cười ầm lên, bà hổ thẹn, vung quyền đánh hai người sinh sự rồi trở về nhà. Từ đấy, bà bỏ học chữ, ở nhà chuyên tâm học võ.

Sách Nhà Tây Sơn của Quách Tấn - Quách Giao chép rằng: “Đêm đêm có một bà lão đến dạy võ cho Bùi Thị Xuân. Dạy từ đầu hôm đến gà gáy lần một thì bà lão ra về. Suốt 3 năm trời, trừ những hôm gió mưa, đêm nào bà lão cũng tới dạy võ cho bà”. Đến năm 15 tuổi, bà trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Bà càng lớn càng xinh đẹp. Thanh niên quyền quý tứ phương tìm đến nhưng phần đông trông thấy mặt bà thì “run như thần tử thấy long nhan”, vì trong vẻ đẹp kiều diễm luôn chứa đựng vẻ uy nghi, làm nhiều người khiếp sợ. Những chàng trai nhát gan “vừa đến sân đã lùi khỏi ngõ, người có ít nhiều bản lĩnh thường bị bà hỏi vài câu về văn, võ thì lưỡi tự nhiên cứng lại”. Vậy nên, đến năm 20 tuổi, bà vẫn chưa tìm được ý trung nhân cho mình.

Sách Nhà Tây Sơn chép rằng một hôm, bà cùng một số chị em đi săn ở núi Thuận Ninh (Tây Sơn, Bình Định), gặp một tráng sĩ đang đánh nhau với mãnh hổ. Người này đầy máu, sức đã đuối, trong khi hổ hung hăng tấn công ráo riết. Không cần suy nghĩ, bà hét lên một tiếng rồi rút song kiếm xông vào đánh hổ cứu người. Sau một hồi quần thảo, bị bà chém trúng, con hổ chạy trốn vào rừng sâu.

Sau khi đánh đuổi được hổ dữ, bà quay lại băng cứu vết thương cho tráng sĩ. Hỏi tên thì biết đó là Trần Quang Diệu, người huyện Hoài Ân, vốn là đệ tử của võ sư Diệp Đình Tòng. Trần Quang Diệu trên đường tìm đến nghĩa quân của Nguyễn Nhạc, không may gặp phải hổ dữ. 

Về sau, hai người nên duyên vợ chồng. Bà giữ chức đô đốc, chỉ huy đội tượng binh, còn ông Trần Quang Diệu làm đến quan thái phó.

c) Hùm xám Nam Định 

Chúng ta đều biết Minh Mạng là ông vua cấm đạo ác nghiệt nhất trong lịch sử Việt Nam. Dưới triều ông, viên tổng đốc Nam Định bị triệu về kinh để khiển trách nặng nề về tội không tích cực trong việc bắt đạo. Tổng đốc Trịnh Quang Khanh hứa nếu được phục chức ông sẽ đoái công chuộc tội. Vua cho ông trở về Nam Định giữ chức cũ. Từ đó, Trịnh Quang Khanh như con hổ đói xông xáo sát hại đàn chiên Chúa Kitô, ra tay tàn sát người Công giáo một cách hăng say cuồng nhiệt đến nỗi nhiều sử gia gọi ông ta là “hùm xám Nam Định”. 

Vua Minh Mạng đã biến Trịnh Quang Khanh thành một con cọp hung dữ. Để bảo vệ cái ghế Tổng đốc của mình, Trịnh Quang Khanh đã bày ra mọi hình khổ để hành hạ, giết hại tín hữu mà ông ta có thể nghĩ ra được, Người ta ước lượng, dưới triều Minh Mạng, số các vị bị giết vì đạo ở Nam Định có thể chiếm đến một nửa trong tổng số các vị tử đạo trên toàn quốc.. 

Đến đời vua Tự Đức, Tổng đốc Nam Định là Nguyễn Đình Tân, còn gọi là Thượng Hưng, cũng ra tay bách hại đạo không thua gì Trịnh Quang Khanh. Sử ký địa phận Trung kỳ đã phê rằng: “Thật quan Thượng Hưng dữ hơn hùm, độc hơn quỷ địa ngục, đáng gọi là Nêrô nước An Nam” 

“Hùm dữ không nỡ ăn thịt con”, hai viên Tổng đốc Nam Định là quan phụ mẫu của dân, nhưng lại lấy máu của không biết bao nhiêu người lương thiện để củng cố cái ghế tổng đốc của mình, cho nên được mệnh danh là “hùm xám Nam Định” cũng không oan.

Có thể là hình ảnh về 1 người, hoa và ngoài trời

PHẦN B. NĂM DẦN -  LẦN CHUYỆN HỔ TRONG KINH THÁNH

1/ Chuyện về con hùm đầu tiên

Theo sách Sáng Thế, sau khi tạo thành trời đất, Thiên Chúa dựng nên con người, gọi là Ađam. “Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với Ađam, xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó là như thế” (St 2,19-20). Ađam liền đặt tên cho chim trời, thú vật, mỗi thứ đều đặt cho một tên riêng...

Suốt từ sáng đến chiều, Ađam đã mỏi miệng đặt tên cho muôn vật, nhưng chúng vẫn còn đợi từng hàng dài. Ađam đã hoa mắt mỏi mệt, ông tính nghỉ một chút, thì bỗng một con thú rừng có dáng điệu oai vệ, dõng dạc đường hoàng, từ trong rừng cây bước ra. Con vật ấy có bộ lông vàng sậm, với những vệt vằn đen, làm những con thú khác lóa mắt dạt qua một bên, ngơ ngác bàng hoàng... Nó ung dung tiến đến trước mặt Ađam. Vì đang mỏi mệt, ông đưa tay che miệng ngáp dài một cái:

- Huuuùmmm!

Con vật cúi đầu tỏ vẻ cảm tạ, rồi quay lại đám muông thú đứng ngồi la liệt chờ tên, nó quắc mắt há miệng lặp lại tên mà nó nghĩ là mình vừa nhận được:

- Hùm... ùm...ùm...

Tiếng ấy vang vọng tận núi rừng, âm thanh dội lại từng hồi làm Ađam cũng bừng tỉnh quên hết mệt mỏi. Con hùm đầu tiên có từ đấy.

Thấy muông thú khác có vẻ nể sợ con hùm, Ađam giữ nó lại bên mình làm hầu cận. Nhưng sau khi Ađam ăn trái cấm, bị đuổi ra khỏi Địa Đàng thì con hùm cũng biến mất vào rừng rậm…

Trên đây là “chuyện tích” về con hùm. Còn về khoa học, các nhà khoa học đã chứng minh được loài cọp đã có mặt trên trái đất này từ 2 triệu 160 ngàn năm cho đến 2 triệu 550 ngàn năm. Đó là kết quả khi các nhà cổ sinh vật học phân tích mẫu hoá thạch của một con hổ được khai quật tại một khu vực gần ngôi làng Longdan ở tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. Họ đã đặt tên cho con hổ này là Panthera zdanskyi (theo tên của nhà cổ sinh vật học người Áo - Otto Zdansky, người đã có nhiều phát hiện hiện mới về hóa thạch các loài ăn thịt cổ đại ở Trung Quốc). Như vậy cho đến nay, con hổ Panthera zdenskyi thuộc loài hùm đã sống từ lâu đời nhất trên quả đất này, được phát hiện vào năm 2004.

2/ Mãnh hổ và vị Thánh

Chúng ta biết thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh đã có thời gian quyết chí đi ẩn tu trên rừng. Khi đang học tại trường Thầy Giảng ở Kẻ Vĩnh, thầy Tịnh chuẩn bị lương khô, rồi thuê người gánh lên rừng Bạch Bát. Sau một ngày đàng, thầy trò dừng lại nghỉ đêm trong rừng. Khi người gánh thuê ngủ say, thầy Tịnh quỳ gối cầu nguyện. Một con hùm tìm mồi đi ngang qua, nó lấy thế và lao về phía thầy Tịnh như muốn ăn tươi nuốt sống. Nhưng không, nó lấm lét quyện quanh, rồi ngồi thụp xuống sau lưng thầy. Thấy động, thầy Tịnh ra hiệu cho con cọp đi tìm mồi hướng khác. 

Việc ẩn tu của thầy Tịnh không được Bề trên ủng hộ. Thầy phải trở về, sau đó được Bề trên sai đi giảng đạo bên nước Lào. Thầy phải dùng đường bộ xuyên qua rừng đề đến nơi được sai. Giữa đường thầy bị sốt rét, phải nghỉ lại trong rừng. Người chuyển đồ đạc giúp thầy rất sợ hãi, vì phải cắm lều nơi rừng thẳm có thể làm mồi cho cọp dữ. Thầy Tịnh khuyên ông cứ yên chí, chặt mấy cây nứa, cột lại thành Thánh giá rồi đem cắm ở bốn góc lều rồi mới nghỉ ngơi. Sáng ra, họ thấy những vết chân cọp chằng chịt quanh lều, như có cả bầy muốn phá băng hàng rào vô hình mà vào ăn thịt người vậy. 

3/ Hình tượng con hổ trong Kinh Thánh

Nhắc đến những sinh vật trong Thánh Kinh có tên trong 12 con giáp của lịch Can Chi, chúng ta sẽ dễ dàng nhớ đến con rắn, con rồng, hay con gà. Con rắn trong sách Sáng Thế được nhắc trong lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội hay con rồng trong sách Khải Huyền ngày Đức Mẹ Hồn Xác lên trời còn con gà gợi nhớ về bài Thương Khó trong tuần Tam Nhật Vượt Qua. Con hùm, con hổ thì quả là khó tìm, chúng ta chỉ được nghe nói đến sư tử như chuyện về ngôn sứ Daniel mà thôi. Bản dịch hiện nay của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ hầu như không nhắc đến con hổ. Nhưng may thay, lần tìm về những bản dịch Kinh Thánh cũ hơn, cũng có được một vài hình ảnh quý giá về con hùm trong bản dịch của cố linh mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn, CSsR gọi là có được chút câu chuyện về hổ, mang lại chút ít hương xuân trong những ngày đầu năm.

a) Từ lời tổ phụ Giacóp trong sách Sáng Thế

Ngay trong sách Sáng Thế, cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh, đã nhắc đến hùm tơ, trong trình thuật những lời trăng trối của ông Giacóp, tổ phụ Israel. Với chi tộc Giuđa, ông có lời sấm là: “Giuđa, con sẽ được anh em con ca tụng... Giuđa ví tựa hùm tơ, phanh xong mồi sống, ngươi lại đi lên, hỡi con, nó thu mình, nó phục xuống như sư tử, như chúa sơn lâm: nào ai bắt nó dậy được? Phủ việt sẽ không rời khỏi Giuđa..." (St 49,8-10). Ông Giacóp truyền những lời trăng trối cho các con xong thì trút hơi về với tổ tiên.

Các nhà chú giải Kinh Thánh cho rằng Thiên Chúa đã phân định dẫn đưa quá trình của các chi tộc Israel ngay từ đầu. Các lời trăng trối của ông Giacóp có tính cách như những lời sấm linh ứng các vận mạng của các bộ lạc mang tên 12 con ông Giacóp vậy.

b) Đến sách ngôn sứ Hôsê

Hôsê là một trong 12 ngôn sứ nhỏ của Kinh Thánh Cựu Ước. Ông được xếp đứng đầu sổ các ngôn sứ nhỏ. Tuy là một ngôn sứ nhỏ, nhưng Hôsê đã có nhiều ảnh hưởng, vì ông có những ý tưởng mới mẻ. Với giao ước giữa Thiên Chúa và loài người trên núi Sinai, ngôn sứ Hôsê đã ví như một kết ước hôn phối giữa Thiên Chúa và nhân loại. Trong thời còn lặn lội nơi hoang địa trên đường về Đất Hứa, Israel trung thành với Chúa, nhưng khi đã định cư, đời sống ổn định, dân bỏ Chúa để thờ ngẫu tượng, như người vợ ngoại tình, Israel đã ra ô uế.

Chính vì thế mà Hôsê đã cảnh cáo dân chúng, sẽ bị Chúa “đánh ghen” bằng những hình phạt, cho chúng thức tỉnh mà quay về: “Quả thế đối với Ephraim, Ta sẽ như sư tử, Ta sẽ như hùm tơ cho nhà Giuđa, Ta sẽ cấu xé rồi đi, Ta tha đi mà không người gỡ thoát” (Hs 5,14).

Nhưng Chúa vẫn thương yêu dân Người, sẵn sàng tha thứ nếu họ sám hối quay về: “Ta sẽ trẩy đi, về lại nơi Ta, cho đến khi chúng đã đền tội và tìm lại nhan Ta; lâm bĩ, chúng sẽ kiếm tìm Ta” (Hs 5,15).

Dân kinh hãi trước những tai ương khủng khiếp, khuyên nhau trở lại với  Đức Chúa, Đấng giải thoát, như lời ông Gióp nói: “Tiếng sư tử gầm, tiếng hùm thiêng rống, Người làm cho im bặt” (G 4,10).

c) Kẻ thù hung bạo như hùm tơ hổ báo

Ngay Thánh vịnh đầu tiên đã mở ra hai con đường: thiện và ác, công chính và bạo tàn: “Chúa hằng che chở nẻo đường người công chính, còn đường lối ác nhân đưa tới chỗ diệt vong”. Trong ý hướng đó ngôn sứ Khabacúc đã loan báo Thiên Chúa dùng dân Canđê, với: “Ngựa nó nhanh hơn hổ báo, lanh lợi hơn sói chiều hôm” (Kb 1,8) để đánh phạt dân phản nghịch.

Cho dù dân Canđê hùng mạnh, nhưng người lành sẽ được cứu: “Này kẻ hồn không ngay sẽ lụn bại, còn người công chính, bởi tín trung sẽ được sống”. Những người sống sót sẽ thành một dân đầy sức mạnh, như ngôn sứ Mikha tiên báo:

Số sót của Giacóp nơi các dân,
ở giữa những dân đông đảo
sẽ như sư tử giữa thú vật đồng hoang,
như hùm tơ giữa những bầy cao dương.
Nó mà ngang qua thời nó chà xát,
Nó mà phanh thây, thời không ai gỡ thoát (Mk 5,7).

Trước khi phanh thây con mồi, thú dữ thường gầm rống lên gọi đàn đến xẻ thịt. Như thế khi một con thú gầm lên là lúc nó đã săn bắt được mồi. Có lẽ vì thế mà ngôn sứ Amôt để ta suy nghĩ sau khi nghe ngôn sứ đặt câu hỏi:

Phải chăng sư tử gầm lên trong lùm rậm mà nó lại không mồi? Phải chăng từ trong hang ổ, hùm tơ rống lên mà lại không chụp được gì? (Am 3,4).

d) Hang hùm ổ hạm

Ninivê là một thành dân ngoại, thuộc đế quốc Atsua, dân trong thành thờ ngẫu tượng, cúng vái thần sắc dục, có những kẻ phục dịch là bọn điếm. Nó tự hào là một thành hùng dũng như hang sư tử, một cứ điểm của đế quốc Atsua, một hang hùm ổ hạm với những quân binh dũng mãnh như hùm thiêng mãnh hổ, chuyên đi khống chế triệt hạ các dân không chịu phục tòng, Ngôn sứ Isaia đã nói đến cái hùng mạnh, cái tàn sát như vũ bão của quân thiện chiến Átsua: “Tiếng chúng rống như tiếng sư tử, chúng gầm như cọp non, chúng gằm ghè, chúng quắp lấy mồi, tha đi mà không ai gỡ thoát được” (Is 5,29).

Thế nhưng ngôn sứ Nakhum, được coi như là một thi sĩ lớn của Israel, đã tuyên sấm Ninivê của Atsua sẽ bị triệt hạ: "Đâu rồi ổ sư tử, đâu rồi hang hùm tơ? Nơi mà khi sư tử cha ra đi, thì sư tử mẹ sư tử con không hề bị quấy nhiễu. Nơi mà hùm cha xé mồi cho hổ con ăn thỏa thích, và bóp cổ con mồi đãi cọp cái no nê. Hang nó chất đầy mồi, ổ nó đầy ắp những thịt săn về...Ta sẽ đốt xe trận của ngươi thành mây khói. Các hùm tơ của ngươi, gươm sẽ làm cỏ. Ta sẽ quẳng các con mồi ngươi săn bắt được ra khỏi đất" (Nk 2,12-14).

Atsua là kẻ thù của Israel, nên lời tiên báo Ninivê bị sụp đổ đã đem lại hoan hỉ cho Israel. Nhưng thật ra ý nghĩa chính của Ninivê phải bị triệt hạ, là về một niềm tin vào sự công chính. Kẻ xúc phạm đến Thiên Chúa, áp bức người lương thiện, thế nào cũng bị án công thẳng của Thiên Chúa xét xử.

e) Tránh hùm phải hạm

Những ai nương tựa Đấng Tối Cao, thì Chúa là nơi họ náu ẩn, được chính Người gìn giữ, như lời đã hứa: “Kẻ gắn bó cùng ta sẽ được ơn giải thoát, người nhận biết danh Ta sẽ được sức phù trì” (Tv 91,14), vì thế mà:

"Ngươi có thể giẫm lên hùm beo rắn độc, đạp nát đầu sư tử thuồng luồng" (Tv 91,13). Có lẽ đây là câu duy nhất trong bản dịch của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ có dùng đến hình tượng con hùm:

“Ngươi có thể giẫm lên hùm thiêng rắn độc, 

Đạp nát đầu sư tử, khủng long”; cho dù kẻ thù tìm đủ mọi cách để hãm hại:

Tựa như sư tử hằm hè xâu xé,

Như hùm tơ rình núp bụi bờ" (Tv 17,12), thì họ vẫn no đầy dung quang của Ngài như Môsê trên núi Si-nai năm xưa.

Câu thành ngữ “tránh hùm phải hạm” nói về người gặp rủi ro tai nạn, không đàng nào chạy thoát. Câu này được dịch giả cố linh mục Đaminh Trần Đức Huân vận dụng vào tác phẩm “Kinh Thánh Cựu – Tân Ước theo bản dịch Phổ thông” (Tủ sách Ra Khơi, xuất bản 1970) trong sách Châm Ngôn:

"Ai nóng giận bị ngục hình,
Tránh hùm phải hạm đinh ninh đâu dè" (Cn 19,19).

Các bản Kinh Thánh Việt ngữ dịch câu này rất khác nhau. Cha Nguyễn Thế Thuấn dịch: “Người hung bạo lao mình vào phạt vạ; nếu ngươi dung tha, ngươi gia tăng tội ác nó”; trong khi nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ thì: “Người giận dữ hung hăng sẽ phải nộp phạt, nếu cứu nó, bạn chỉ làm tăng sự ác mà thôi”…

Qua câu trích dẫn này, chúng ta có thể thấy rằng, ở bản Kinh Thánh Việt ngữ, khi nói đến con hùm, hổ hay sư tử là chỉ về một con vật hung hãn, biểu tượng của sự dữ, hung bạo. Các dịch giả Việt xưa thường dùng từ “hùm”, vì trong Việt ngữ thường nói nhiều đến hùm hơn là sư tử, vả lại hùm và sư tử cùng là loài hung dữ như nhau chỉ khác ở bộ lông bề ngoài. Nếu biểu tượng của năm Dần là sư tử, thì chúng ta sẽ còn trích được rất nhiều câu Kinh Thánh để nói đến trong năm Dần này.

THAY LỜI KẾT

Niên lịch đã hoà vào sinh hoạt đời sống con người trong mọi lãnh vực. Các vương triều, dù loạn lạc hay an bình thịnh trị cũng chỉ xảy ra trong một thời gian lịch sử; một phạm nhân bị tuyên án tù giam, thì thời gian “ngồi bóc lịch” rồi cũng qua đi… Con đường đời mỗi người từ lúc cất tiếng khóc đầu tiên cho đến ngày xuôi tay nhắm mắt, ai cũng có được khoảng thời gian để vượt qua. Có người được phúc sinh ra nơi lầu son gác tía, có kẻ vừa chào đời đã trần truồng trên ổ rơm, hay trong nắm lá chuối khô nơi lò gạch hoang phế…nhưng ai cũng được hưởng thời gian lịch sử của chính mình để sống trọn cuộc đời, cho dù tính năm theo số thứ tự, hay bấm đốt tay tính tuổi theo Tý, Sửu, Dần, Mão. Muốn có được đời sống bình an phẳng lặng, chỉ còn có cách: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay” (Tv 37,5; bản dịch nhóm CGKPV).

Chúng ta phó thác đường đời cho Chúa vì Người là chủ thể của thời gian, là Đấng hằng hữu cai quản cả thời gian vĩnh cửu và thời gian lịch sử, hướng chúng về một đích điểm chung cuối cùng bởi chúng ta vẫn xác tín rằng Thiên Chúa:“đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời đời chẳng cùng” đó sao? Người đã thiết lập thời gian vĩnh cửu và “dựng nên trời đất muôn vật” theo ý định của Người, cho con người sống trong đó để làm nên thời gian lịch sử của mình. Thánh vịnh 102 đã thú nhận đời sống con người chóng tàn như cây cỏ, còn Chúa là Đấng vĩnh cửu: “Ngày tháng đời con: chiều tà bóng ngả, tấm thân này: cỏ úa vàng khô. Nhưng lạy Chúa, muôn đời Ngài ngự trị, trải bao thế hệ, thiên hạ nhắc đến Ngài” (Tv 102,12-13). Thật vậy, Chúa đã phán trong sách Khải Huyền: “Ta là Anpha và Ômêga, là Đầu và là Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng” (Kh 22,13).

Chúng ta cùng cầu xin Chúa ban cho một năm mới bình an, mọi điều hanh thông, phát đạt như “hổ mọc thêm cánh” để mỗi người ai nấy đều có thể làm được một việc gì đó lưu truyền cho các thế hệ mai sau, như câu “hổ tử lưu bì, nhân tử lưu danh”: hùm chết da được giữ nguyên, người dầu đã khuất lưu truyền tiếng tăm. Nếu danh thơm vẫn còn lại sau khi ta đã về cõi hằng sống, thì quả đúng là: “hổ tử hùng tâm tại” rồi vậy.

Phong Trần
Viết riêng cho Legio Mariæ VN

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan