SUY NIỆM VỀ GIU-ĐA
Ngoại trừ Chúa Giê-su, Giu-đa có lẽ là một trong những nhân vật của Tân Ước được thiên hạ bàn tán nhiều nhất, dù những đoạn Tin Mừng nói về ông khá ít ỏi. Bàn tán nhiều với lắm nhận định đôi khi mâu thuẫn nhau. Tạp chí tiếng Pháp đa phương tiện (multimédia) “Le monde de la Bible. Histoire-Art-Archéologie” (Thế giới Thánh kinh. Lịch sử-Nghệ thuật-Khảo cổ) tháng 4 năm 2014, có ra một số đặc biệt, nhan đề: “Judas, que sait-on de lui” (Giu-đa, ta biết gì về ông ấy?). Trong số này có nhiều bài báo đặt vấn đề: “Giu-đa là ai, kẻ phản bội hay người anh hùng?” “Một kẻ phản bội không bội phản: sự biến đổi tối hậu của Giu-đa”; “Hiện tượng Giu-đa: biên niên sử của một lời nguyền rủa”… Số báo này còn nhắc đến chỉ thảo “Tin Mừng Giu-đa” (Évangile de Judas), một tài liệu của phái Ngộ đạo (tk I-II CN) được tìm thấy thập niên 1970 trong vùng Al Minja, Trung Ai-cập (x. https://www.mondedelabible.com)
Nhưng mặc cho thiên hạ bàn tán về vị Tông đồ Quản lý thời danh này, suy niệm của chúng ta cũng chỉ dựa trên việc tìm hiểu lịch sử Do-thái, hay bối cảnh chính trị miền đất Pa-lét-tin thời Chúa Giê-su và trên việc giải thích những gì Kinh thánh nói về Giu-đa.
1- Bối cảnh chính trị Do-thái thời Chúa Giê-su
Đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy dân Do-thái là một chủng tộc nhỏ bé mà hầu như luôn bị các lân quốc hùng mạnh thống trị. Đầu tiên, khi chỉ là một đám dân ô hợp, họ đã phải làm nô lệ cho vương triều Ai-cập; tiếp đến, sau một giai đoạn tạm tự do thời lập quốc và thời xây dựng chế độ quân chủ, dân Do-thái lại rơi vào tay các đế quốc Át-xi-ri, Ba-by-lon, Ba-tư, Hy-lạp, Rô-ma… Vì thế trong họ, niềm khát vọng tự do luôn cháy bỏng. Một cuộc chiến tranh giải phóng đã bùng dậy, được lãnh đạo bởi anh em nhà Ma-ca-bê (xem 1Mcb 2) thời đế quốc Hy-lạp và dẫn đến việc tái lập chế độ quân chủ với vương triều dòng họ Át-mô-nê (143 trước CN). Tuy nhiên, chế độ này không kéo dài. Năm 63 trước CN, tướng Pom-pê (Pompeius) của đế quốc Rô-ma đã tiến vào thủ đô Giê-ru-sa-lem, chấm dứt vĩnh viễn nền độc lập của dân Do-thái, và đến năm 70 CN thì tướng Ti-tô (Titus) san bằng thủ đô, triệt hạ Đền thờ và đẩy người Do-thái đi khắp tứ phương thiên hạ. Nhưng trong thời gian đó, nhiều người Do thái ái quốc cũng đã nổi dậy, tập họp thành những đảng phái chống lại Rô-ma, chẳng hạn nhóm Zê-lốt (Zealot, Nhiệt thành/Quá khích) và nhóm Xi-ka-ri (Sicarii, Kẻ giết mướn). Cv 5,36-37 có nhắc tới Thêu-đa và Giu-đa người Ga-li-lê, hai nhà cách mạng thất bại. Sách Tin Mừng thì cho biết Ba-ra-ba (Bar-Abba, Con của Cha) là một tay phiến loạn (x. Mt 27,20-26; Mc 15,6-15). Ngay hai kẻ chịu đóng đinh cùng Chúa và bị gọi là “những tên cướp” (Mt 27,44) hay “tên gian phi” (Lc 23,39) thật ra cũng là những chiến binh chống quân xâm lược.
Bên cạnh niềm khát vọng tự do đó, còn nỗi tự hào mình là tuyển dân của Thiên Chúa, nên chủng tộc Do-thái luôn nuôi mộng thống trị mọi quốc gia, mọi chủng tộc khác một ngày nào đó, nhờ tay một Đấng Thiên Sai (Mê-si-a) hùng mạnh thuộc dòng dõi Đa-vít. Có cả một truyền thống về cao vọng chính trị này, khởi từ lời sấm của ngôn sứ Na-than (2Sm 7,8-16), bộc lộ qua nhiều Thánh vịnh (Thánh vịnh hoàng vương, chẳng hạn Tv 2; 71) và nhiều chương sách I-sai-a đệ nhất, ví dụ Is 9,5-6. Tuy nhiên, song song với đó, còn có một truyền thống khác nằm trong sách I-sai-a đệ nhị và đệ tam, diễn tả một Đấng Thiên Sai hiền hòa khiêm tốn, mang tên Người Tôi Trung, sẽ dùng đau khổ để cứu rỗi Ít-ra-en và cả nhân loại (có 4 bài ca về Tôi Trung ấy: Is 42,1-9; 49,1-7; 50,4-11; 52,12-53,12). Tiếc rằng truyền thống thứ hai này ít được để ý hơn truyền thống thứ nhất như ta sẽ thấy.
Chúa Giêsu đã sinh ra, lớn lên rồi hoạt động trong bối cảnh chính trị và bầu khí tinh thần đó. Lúc Người đi rao giảng thì quyền lực trên đất Pa-lét-tin chủ yếu nằm trong tay Phi-la-tô, một viên tổng trấn Rô-ma cai trị Giu-đê-a và Sa-ma-ri-a với bàn tay sắt, còn Hê-rô-đê An-ti-pa (tiểu vương bù nhìn) cai trị miền Ga-li-lê. Bằng chứng Phi-la-tô có bàn tay sắt là chuyện ông giết nhiều người Ga-li-lê trong Đền thờ khiến máu đổ ra hòa lẫn với máu tế vật họ đang dâng; những người này hẳn là một nhóm nổi dậy (x. Lc 9,1). Toán quân Rô-ma của ông chắc đã xuất phát từ đồn An-tô-ni-a nằm ở góc Tây Bắc vòng thành Đền thờ, một cơ sở quân sự không ngoài mục đích canh chừng đám dân bị trị hay bạo loạn, nhất là trong những dịp tụ tập đông đảo tại Giê-ru-sa-lem nhân lễ Vượt Qua. Sử gia Do-thái đương thời Fla-vi-ô Giô-xép (Flavius Josephus) cho biết Phi-la-tô cũng từng đàn áp tàn bạo cuộc nổi dậy của dân Sa-ma-ri khoảng năm 35 CN nên bị Rô-ma gọi về khiển trách.
Chính vì thế, khi Chúa Giêsu bắt đầu làm những phép lạ kèm theo lời rao giảng (kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ què được đi, kẻ đau được lành, nhất là kẻ chết sống lại và hàng ngàn thính giả mấy lần được ăn bánh no thỏa…), Người đã khơi dậy nhiều niềm hy vọng lớn lao trong dân Ít-ra-en (phải chăng Đấng Mê-si-a hùng mạnh đã đến đây rồi?), do đó Người đã phải sống giữa áp lực thường xuyên, bị thúc ép không ngừng, từ thân nhân, môn đệ, quần chúng, tới địch thù và ma quỷ. Mỗi lần như thế, Người đều phản ứng lại một cách khác nhau.
Kẻ đầu tiên chính là ông anh họ, Gioan Tẩy giả. Vị Tiền hô này từng rao giảng kiểu hăm dọa: “Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa… Đấng đến sau tôi… tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3,10.12). Đến khi ngồi tù, mà chẳng thấy người em họ quyền năng tới cứu, lại “nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: Thầy có thật là Đấng phải đến hay không, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?” khiến Chúa phải trả lời cách chua xót: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi” (Mt 11,2-3.6) và rồi đã “bỏ mặc” cho Gio-an chết dưới lưỡi gươm của Hê-rô-đê để ông hiểu ra đường lối của Người.
Tiếp đến là các môn đệ. Sống bên cạnh vị Thầy quyền năng, họ vốn xưa nay là dân thường cũng nuôi mộng làm quan. Nhóm Mười Hai luôn tranh cãi nhau xem ai là người lớn nhất (x. Mc 9,34), thậm chí tới cả lúc Chúa loan báo mình sắp phải tử nạn (x. Lc 22,24). Chúa đã nhân cơ hội để giải thích thế nào là làm đầu, làm lớn trong Giáo hội. Gia-cô-bê và Gio-an từng nhờ mẹ đến xin Chúa cho được ngồi bên hữu bên tả, khiến 10 ông kia căm tức do bị tranh quyền (x. Mt 20,20-24). Chúa trả lời bằng cách hứa cho hai anh em được uống chén, nhưng không phải chén ngự tửu mà là chén khổ nạn. Hai tay này cũng đã có lần xin Chúa cho phép khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy một làng Sa-ma-ri không đón tiếp thầy trò của họ (x. Lc 9,51-56), nên đã chết tên “con của thiên lôi” (Mc 3,1). Còn Phê-rô khi nghe Chúa tiên báo Người phải chịu nhiều đau khổ và bị giết chết, thì đã thốt lên: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”, để rồi bị Thầy mắng cho một trận nên thân (x. Mt 16,22). Sau cuộc biến hình huy hoàng, Chúa cũng cấm 3 môn đồ thân tín khoe mẽ chuyện đó với ai cho tới khi Người sống lại. Nên chẳng lạ gì lúc Người chấm dứt cuộc sống cách ô nhục trên đồi Can-vê thì mấy ông “mộng vàng tan mây”, bỏ đi biệt dạng, thậm chí chẳng thèm nhìn Thầy chết (trừ Gio-an). Hai môn đệ đang trên đường về quê cũ cũng đã thú nhận: “Chúng tôi trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en” (Lc 24,21). Thậm chí sau ngày Chúa phục sinh, lúc chưa được ơn Thánh Thần, các môn đệ vẫn không từ bỏ tham vọng: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không” (Cv 1,6). Hết nói nổi!
Dân chúng thì đương nhiên càng nuôi nhiều kỳ vọng. Sau phép lạ hồi sinh con bà góa thành Na-im, họ đã phấn chấn thốt lên: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người" (Lc 7,16). Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân chúng muốn bắt Đức Giê-su đem đi mà tôn làm vua, khiến Người phải vội lên núi một mình để lánh mặt (x. Ga 6,14-15). Thánh Mác-cô nhiều lần cho thấy Chúa Giêsu thường xuyên căn dặn những ai hưởng hay thấy phép lạ Người làm phải giữ bí mật (x. Mc 5,43; 7,36; 8,26…). Giọt nước làm tràn ly kỳ vọng chính là việc hồi sinh La-da-rô chính lúc sắp đến lễ Vượt Qua, khi vô số người Do-thái tụ về Đền thờ Thủ đô để mừng lễ (và cũng là lúc thường xảy ra các cuộc bạo loạn). “Thoạt nghe tin Đức Giê-su tới Giê-ru-sa-lem, họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng vua Ít-ra-en”, khiến Chúa Giê-su phải ngồi trên lưng một con lừa, lại là lừa con, thay vì ngồi trên lưng ngựa như các dũng tướng và quân vương oai hùng (x. Ga 12,12-14).
Tiếp đến là các địch thủ của Chúa vốn nằm trong các giới và các phái đang nắm quyền lãnh đạo tôn giáo hoặc làm tay chân của lực lượng thống trị. Họ thách thức Người làm một dấu lạ từ trời (x. Mt 16,1-4; Mc 8,111-13; Lc 12,54-56). Chúa đáp lại bằng cách cho hay đó chính là cuộc tử nạn phục sinh của mình mà Người gọi bóng gió là “dấu lạ Gio-na”. Họ gài bẫy để Người bày tỏ thái độ chính trị trước dân chúng và nhà cầm quyền, qua câu chuyện đồng tiền nộp thuế cho Xê-da (x. Mt 22,15-22; Mc 12,13-17; Lc 20,20-26). Người đáp lại bằng cách nhắc họ nhớ có hai bình diện quyền bính phải vâng phục. Hê-rô-đê khi đối diện với bị cáo Giê-su cũng yêu cầu Người làm một hai phép lạ (x. Lc 23,8). Dưới chân thập giá, “các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói: Hắn cứu được thiên hạ mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền” (Mt 27,41-42). Chúa Giê-su đã đáp lại bằng sự im lặng!
Loại sức ép cuối cùng đến từ ma quỷ, gọi rõ tên là Xa-tan. Ở đây xin phép mở một dấu ngoặc để nói về gốc tích của nhân vật này trước. Kinh thánh và thần học cho chúng ta biết: nguyên thủy, đó là thiên thần, tạo vật cao trổi nhất của Thiên Chúa, được Người dựng nên để phục vụ chương trình của Người nơi nhân loại (x. Dt 1,14) là tạo vật kém hơn một tí, như thư Dt 2,7 nói khi trích Thánh vịnh 8,5-7. Chương trình đó là sai Thánh Tử xuống trần, mang lấy nhục thể, gánh chịu khổ đau để cứu chuộc nhân loại. Và thư Dt1,6 thêm: “Khi đưa Trưởng Tử vào thế giới loài người, TC lại nói: Mọi thiên thần của TC phải thờ lạy Người”. Phải chăng chính vì kiêu căng, không thể thờ lạy một kẻ kém mình, dù kém trong một thời gian ngắn (x. Dt 2,7) mà một số thiên thần đã phản loạn, biến thành ma quỷ? Thành thử phải chăng ma quỷ luôn tìm cách phá hoại -kiểu vớt vát hoặc lì lợm- công trình cứu chuộc của Chúa Cha do Chúa Con nhập thể thực hiện? Nên ngay từ đầu đời rao giảng, khi Chúa Giê-su rút vào hoang địa để suy nghĩ cho thấm nhuần đường lối cứu chuộc (đầy vất vả) mà Cha muốn, ma quỷ đã cám dỗ Người từ bỏ phương cách này bằng phương cách dễ dãi và oai hùng hơn: tạo cho mình vinh quang trước mặt dân Ít-ra-en (nhảy từ nóc Đền thờ xuống mà vẫn an toàn, chứng tỏ có thiên thần Chúa bảo vệ), tạo cho mình quyền lực trên mọi dân nước (nhờ làm phó tướng cho ma quỷ là Thủ lĩnh thế gian, x. Ga 12.31; 14,30), đem thần lực đang có nơi mình mà tạo ra vật chất của cải để dễ thu phục thiên hạ (hóa đá thành bánh). Nhưng ma quỷ đã thất bại nhục nhã.
Dù vậy, nó vẫn kiên trì tìm dịp khác (x. Lc 4,13). Đó là những khi bị Chúa ra tay trừ khử, nó xuất khỏi kẻ bị ám mà hét toáng lên “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1,24; Lc 4,34), “Ông là Con Thiên Chúa” (Mc 3,11), “Ông là Con Thiên Chúa Tối Cao” (Mc 5,7; Lc 8,28)… Nhưng Chúa luôn bảo nó hãy câm họng lại, vì rất dễ gây ra hiểu lầm về Người.
Ngay trong Cựu Ước, nơi sách Gióp, Xa-tan cũng từng cám dỗ ông Gióp nguyền rủa Thiên Chúa khi không còn được Chúa cho của cải dư tràn và thân thể lành lặn (x. G 1,11; 2,5), nghĩa là đừng chấp nhận con đường khổ đau lúc phụng sự Thiên Chúa. Xa hơn nữa, nơi Địa đàng, ma quỷ đã chẳng cám dỗ nguyên tổ loài người bất tuân ý muốn của Thiên Chúa sao? Do đó chẳng lạ gì khi Phê-rô định can ngăn Thầy đi vào nẻo lối đau khổ, thì bị Thầy gán cho danh hiệu “Xa-tan” (Mt 16,23). Đây là cuộc lên voi xuống chó chớp nhoáng nhất và rúng động nhất mọi thời: lên ngôi Giáo hoàng mới chỉ vài phút, Phê-rô đã bị giáng xuống làm thằng quỷ ! (x. Mt 16,1-23).
Thái độ của Chúa cấm ma quỷ tiết lộ Người là ai và cấm các kẻ hưởng phép lạ loan truyền việc Người làm, các chuyên gia Kinh thánh gọi là “Bí mật Mê-si-a”. Vì tuy nhắm mục đích cho thấy Người từ Thiên Chúa mà đến, Người xót thương nhân loại bất hạnh, nêu bật tội lỗi là bất hạnh lớn lao hơn và tiên báo đời sau sẽ không còn cái chết, bệnh tật, đau khổ, các phép lạ cũng là một con dao hai lưỡi, vì khiến lầm tưởng Người cứu vớt nhân loại bằng cách tỏ quyền năng lừng lẫy, đang khi ý định của Chúa Cha là muốn Người dùng con đường tự hạ, bỏ mình, khổ tột cùng và chết oan ức. Vì thế, Chúa Giê-su chỉ tiết lộ bản chất và danh tính thực sự của mình vào lúc cuối đời, trước mặt Thượng Hội Đồng Do-thái: “Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa”, “Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng” (Mt 26,63-64; Lc 22,69-70), “Con của Đấng Đáng Chúc Tụng” (Mc 14,62)... nhưng là để khiến địch thù có cớ lên án tử. Vì lúc đó không còn sự hàm hồ nào về danh hiệu, chương trình và hành động Cứu độ của Chúa. Về phần con người, chỉ một kẻ có thể tuyên xưng Chúa cách đúng đắn: “Quả thật, ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27,54; Mc 15,39), “đích thực là người công chính” (Lc 23,7), cũng như đúng lúc (dưới chân thập giá), đó là viên đại đội trưởng Rô-ma, vị sĩ quan đứng đầu đội thi hành án, kẻ đã chẳng bao giờ biết đến và càng không mong muốn quan niệm Đấng Thiên Sai oai hùng.
2- Kinh Thánh đã nói gì về Giu-đa
a- Trước hết, Giu-đa có biệt danh là Ít-ca-ri-ốt (Iscariot: x. Mt 10,4; Lc 6,16). Người ta thường nghĩ rằng đây là lối phiên âm ra tiếng Hy-lạp một từ Hip-ri (Qeriyoth) và có nghĩa “người làng Keriot” (x. Gs 15,25; Gr 48,24). Lập trường này dựa trên Gio-an 6,71; 13,26 trong đó Giu-đa được gọi là “con của ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt”.
Nhưng một lối giải thích khác cho rằng “Iscariot” có thể là biến tướng của từ Hy-lạp “sikarios”, từ La-tinh “sicarius” (từ Pháp: sicaire) có nghĩa là “kẻ giết mướn” (mà nếu vì mục đích chính trị thì tương tự lối nói của Á đông: “thế thiên hành đạo”). Từ sikarios hay sicarius xuất phát từ chữ “sica” có nghĩa là "dao găm", dụng cụ mà nhóm nổi loạn Do-thái dễ thu giấu dưới áo choàng và chuyên sử dụng để chống lại người Rô-ma. Nhóm này được lịch sử gọi tên là Sicarii (Sicarians) và sử gia Do-thái Flavius Josephus (trong tác phẩm “Bellum judaicum” nói về cuộc chiến tranh Do-thái/Rô-ma các năm 66-70 CN) từng kể tên một số thủ lãnh của họ là Eleazar ben Jair, Simeon bar Giora và Menahem (con thủ lãnh phái Zê-lốt Giu-đa người Ga-li-lê nói trên). Thành thử Giu-đa Ít-ca-ri-ốt có thể là thành viên một nhóm cách mạng quyết dùng bạo lực đánh đuổi Rô-ma xâm lược, y như “Si-môn thuộc nhóm Quá khích” (Mt 10,4) hay “Si-môn biệt danh Quá Khích” (Lc 6,15).
Đúng theo tinh thần đoàn kết, hòa hợp như đường lối yêu thương của Người đòi hỏi, Chúa Giê-su đã chọn vào Nhóm Mười Hai những con người mà ngoài đời có thể giết nhau vì lập trường chính trị đối nghịch: Mát-thêu thu thuế, kẻ phục vụ Rô-ma phải sống được với Si-môn, thành viên nhóm cách mạng, để cả hai làm gương mẫu và mầm mống cho một cộng đoàn tình thương rồi đây sẽ được thiết lập giữa loài người.
b- Nhưng quan trọng hơn, đó là chính Chúa Giê-su từng gọi Giu-đa là “quỷ”: “Chẳng phải Thầy đã chọn anh em là Nhóm Mười Hai sao? Thế mà một người trong anh em lại là quỷ!” Người muốn nói về Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt” (Ga 6,70-71). Thánh sử Gio-an thì viết: Đức Giê-su “chấm một miếng bánh, trao cho Giu-đa... Y vừa ăn xong miếng bánh, Xa-tan liền nhập vào y” (Ga 13,27). Dĩ nhiên ở đây Gio-an không muốn nói Giu-đa bị quỷ ám để rồi nên điên loạn, thành loài vô tâm vô trí. Lu-ca cũng viết tương tự: “Xa-tan đã nhập vào Giu-đa, cũng gọi là Ít-ca-ri-ốt” (Lc 22,3)
Theo những gì Kinh Thánh Tân lẫn Cựu Ước nói về Xa-tan, về ma quỷ như chúng ta vừa trình bày, thì Giu-đa, y như Phê-rô, không chấp nhận lối cứu rỗi bằng tự hạ, bỏ mình, khổ tột cùng và chết oan ức của Chúa Giê-su. Vậy ông ta nộp Thầy vì lý do gì? Dựa vào nhận xét của Gio-an (12,6): “Y (Giu-đa) là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung”, người ta thường cho rằng y bán Chúa chỉ vì lợi lộc. Nhưng với một nhân vật ngoại hạng như Chúa Giê-su mà Giu-đa chỉ được trả cho 30 đồng bạc (x. Mt 26,15), giá một tên nô lệ, lương một tháng công nhật, rồi hài lòng nhận lấy thì quả là điều khó tưởng tượng đối với một kẻ gọi là tham tiền. Ngoài ra, Giu-đa biết chắc chắn rằng đối với các thượng tế (và mấy phái khác), Chúa Giê-su là kẻ thù không đội trời chung, sa vào tay họ chỉ có nước chết. Nếu bán Thầy chỉ vì hám lợi thì Giu-đa sẽ bình thản ra đi, chẳng bận tâm gì về số phận, sinh mạng của Thầy nữa. Thế nhưng Tin Mừng lại cho biết y đã hối hận khi nghe tin Chúa bị kết án tử, nói rẳng mình đã nộp người vô tội, ném số bạc vào Đền thờ và ra đi thắt cổ (x. Mt 27,3-10).
Thiết tưởng chuyện nộp Thầy chỉ là một mưu đồ của Giu-đa muốn dồn Chúa Giê-su vào chân tường để Người phải hành động, phải tự cứu, phải dùng sức mạnh đánh bại những kẻ thù lâu nay của mình, và rồi trở thành thủ lãnh nổi loạn, giữa lúc dân chúng đang phấn khởi ngất trời vì cuộc hồi sinh La-da-rô và giữa lúc có biết bao nhiêu thành viên kháng chiến đang trà trộn giữa đám người đông đảo tụ về Giê-ru-sa-lem nhân lễ Vượt Qua. Oái oăm thay, Chúa Giê-su lại “tương kế tựu kế” để đi vào cuộc thương khó, chấp nhận cuộc tử nạn hầu hoàn thành đường lối cứu rỗi của Thiên Chúa.
Kết luận
Bài viết có nhan đề là “Suy niệm về Giu-đa” nhưng Quý Độc giả hẳn thấy là suy niệm về đường lối cứu rỗi của Chúa Giê-su nhiều hơn, một đường lối mà hành động của Giu-đa chỉ là một trong những chất xúc tác.
Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình yêu đó đã khiến Người sai Thánh Tử xuống trần nhập thể không phải một cách oai hùng, kỳ lạ (kiểu thần tiên giáng thế như nhiều tôn giáo hay thần thoại trình bày), nhưng dưới lốt một con người tầm thường, chấp nhận mọi hệ lụy của kiếp nhân sinh, thậm chí nằm ở tầng thấp của xã hội, để khỏi cưỡng bức nhân loài chấp nhận. Tình yêu đó cũng đã khiến cho Thánh Tử thực thi việc cứu rỗi đúng với đòi hỏi của Tình yêu: khiêm tốn, tự hạ, bỏ mình, bằng cách chấp nhận mất tất cả, kể cả mạng sống và danh dự. Ngay loài người cũng thấy tình yêu đích thực và sâu sắc thường đi kèm với cái chết: người mẹ chỉ yêu con tột cùng khi chết vì con, người công dân chỉ yêu tổ quốc tột cùng khi chết vì đất nước, kẻ phục vụ cao độ nhất là khi xả thân, hiến mạng vì tha nhân, xã hội. Những chuyện tình lớn trong văn chương bao giờ cũng có cái chết của một trong hai người (Roméo Juliette, Love Story, Paul et Virginie…). Chúa Cứu Thế không thể đi một con đường khác. Và đó là điều Giu-đa đã chẳng hiểu nổi. Nhưng đừng nguyền rủa ông ta. Giáo hội chỉ phong thánh chứ không bao giờ phong quỷ cho ai cả!
Lm. Phêrô Phan Văn Lợi, TGP Huế. Tuần Thánh 2022
BA SẮC MÀU
Tuần Thánh không chỉ đặc biệt vì là đỉnh cao Phụng Vụ, mà còn là tuần lễ rất lạ. Có lẽ những người có vẻ “khô khan nhất” cũng cảm thấy sự khác thường từ trong tâm khảm.
Thật vậy, niềm vui mau qua và cũng mau quên, còn nỗi buồn cứ “đeo bám” mãi, muốn quên mà chẳng quên được. Nỗi buồn sầu hoặc đau khổ khiến người ta thương nhau và nhớ nhau nhiều hơn. Chính sự đau buồn khiến người ta trưởng thành hơn, còn niềm vui chỉ khiến người ta hư hỏng mà thôi.
Tuần Thánh đặc biệt về nhiều thứ – cách riêng là Tam Nhật Vượt Qua, rõ nét với ba sắc màu: Vàng – Vui, Tím – Buồn, Trắng – Mừng. Đặc biệt không chỉ về nghi lễ mà còn là cảm xúc từ trong tâm trí với niềm tin vào Thiên Chúa.

1. NIỀM VUI
Kinh Thánh cho biết rằng Lễ Vượt Qua hay Lễ Quá Hải (Passover) là lễ quan trọng nhất của người Do Thái, kéo dài một tuần. Chiều ngày 14 tháng Ni-xan (khoảng tháng Ba, tháng Tư dương lịch), người ta sát tế chiên tại đền thờ, rồi tư tế lấy máu chiên mà đổ dưới chân bàn thờ. Khi đêm xuống, người ta sẽ ăn tiệc Chiên Vượt Qua theo gia đình hay theo nhóm, rồi lấy máu chiên bôi lên cửa nhà làm “dấu riêng” của người giữ Luật Chúa.
Lễ Vượt Qua được cử hành như một cuộc tưởng niệm nhằm giúp mỗi người sống lại kinh nghiệm của cha ông họ được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập xưa kia. Trong bữa tiệc, người ta ăn thịt chiên với bánh không men và rau đắng, (Xh 12:14) ngoài ra, họ cũng uống với nhau BỐN CHÉN RƯỢU đã được vị chủ tọa bữa tiệc chúc lành để kỷ niệm BỐN LỜI HỨA của Thiên Chúa với dân Do Thái: [1] Ta sẽ đem các ngươi ra từ ách của Ai Cập; [2] Ta sẽ giải thoát các ngươi khỏi cảnh làm tôi mọi chúng; [3] Ta sẽ giương cánh tay mà chuộc lấy các ngươi; [4] Ta sẽ lấy các ngươi làm dân Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi. Cuối bữa tiệc này, mọi người cùng hát Thánh Vịnh.
Chúa Giêsu ăn mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ. Trong bữa tiệc này, Ngài làm hai điều quan trọng và kỳ lạ: thiết lập Bí Tích Thánh Thể và Ngài đích thân rửa chân cho các môn đệ. Cả hai hành động đó là dấu chỉ của yêu thương, của lòng thương xót.
Cách ăn mừng Lễ Vượt Qua cũng có luật: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Cách ăn “lạ” nhất là “phải ăn vội vã,” vì đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Đêm ấy Thiên Chúa rảo khắp đất Ai Cập, sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập. Nghe vậy chúng ta cảm thấy Chúa “dữ tợn” quá. Nhưng không, luật cũ là luật tự nhiên, những gì là “đầu tiên” được dành ưu tiên cho Thiên Chúa, gọi là “của lễ đầu mùa,” kể cả con đầu lòng. Ngày nay, một số dân tộc vẫn có cách mừng thu hoạch như lễ mừng lúa mới, lễ mừng thu hoạch,…
Thể hiện cách “giữ luật” và chứng tỏ “dấu chỉ tình yêu” là lấy máu chiên bôi trên nhà. Đó cũng là dấu hiệu vâng phục. Những người trong nhà đó sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Thiên Chúa giáng hoạ trên đất Ai Cập. Ngày đó được chọn làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Đó là luật quy định cho đến muôn đời. Luật đó là hồng ân Chúa ban. Ngài ban đủ thứ ân sủng để con người đủ sức “vượt qua” biển đời.
Đức Giêsu biết rõ Giuđa nghĩ gì, tính toán ra sao, và sắp làm gì. Nhưng Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu. Thế nhưng, có người lập luận rằng “quỷ sứ không được cứu độ.” Giuđa bị gọi là quỷ sứ, Phêrô bị gọi là satan, mà quỷ sứ và satan có khác nhau? Sao satan được cứu độ mà quỷ sứ lại không được? Có gì lấn cấn? Thật ra chẳng ai dám phán xét, cũng chằng ai xứng đáng mà có quyền kết án ông Giuđa. Đừng chỉ “săm soi” một vài khía cạnh nào đó rồi quyết đoán. Tại sao Tội Nguyên Tổ lại được Giáo hội gọi là Tội Hồng Phúc? Thật là mầu nhiệm!
Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến, và Ngài sắp phải trở về cùng Thiên Chúa. Đang khi ăn, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Khi Ngài đến chỗ ông Simôn Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13:6) Không hề có bề trên nào dám làm chuyện “ngược đời” và “động trời” như vậy. Nghe Phêrô nói, Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu.” (Ga 13:7) Ông Phêrô chưa thể hiểu nên lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (Ga 13:8a) Đức Giêsu đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.” (Ga 13:8b) Nghe Thầy nói “không được chung phần” thì ông Phêrô liền thưa: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa.” (Ga 13:9) Nhưng Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13:10) Ý CHÚA HOÀN TOÀN KHÁC HẲN Ý LOÀI NGƯỜI, và Ngài rất thâm ý: “Không phải tất cả anh em đều sạch.”
Sau đó, Ngài mặc áo vào, về chỗ và nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?” (Ga 13:11) Thấy thế, Chúa Giêsu nói luôn: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” (Ga 13:13-15) Thầy mà còn rửa chân cho đệ tử, chủ mà rửa chân cho đầy tớ, thế thì chắc chắn đệ tử hoặc đầy tớ cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho đệ tử, để đệ tử cũng làm như Thầy đã làm cho đệ tử. Luật nhẹ nhàng mà KHÔNG DỄ thực hiện, lời giản dị mà thâm thúy!
Xin Thầy Giêsu chí thánh biến tất cả chúng ta nên giống Ngài thực sự!
2. NỖI SẦU
Bất cứ cuộc chia ly nào cũng bịn rịn, lưu luyến, đau khổ và đẫm đầy nước mắt, nhất là cảnh biệt ly khi người thân về bên kia thế giới, âm – dương cách biệt!
Giấy phút hấp hối là “phút cuối” của một con người, lúc xúc động nhất đời người – dù người đó đáng yêu hay đáng ghét. Càng xúc động hơn khi thấy người hấp hối chịu đau nhức quằn quại từng cơn, có những người toát mồ hôi hột nhưng âm thầm chịu đựng, có những người phải la hét dữ dội. Giây phút biệt ly thường là khoảnh khắc ngắn ngủi, chỉ trong chốc lát, nhưng lại nặng nề trôi… ngỡ như thăm thẳm. Và đó cũng là lúc người ta nói thật nhất.
Với hai bản tính: Thần Tính và Nhân Tính, Chúa Giêsu cũng rất đau đớn về nhân tính, bởi vì Ngài kiệt sức do đòn roi suốt đêm, vác Thập Giá lên đồi cao theo con đường gập ghềnh, ngoằn ngoèo, chịu đói khát vì mất máu nhiều, Ngài còn bị những gai nhọn đâm thấu đầu, tiếp theo lại bị đinh ghim chặt chân tay, và cuối cùng bị lưỡi đòng đâm thâu tim. Rất đau đớn. Rất nhức buốt. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi!
Qua ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa đã minh định: “Người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng” dù cho “tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa.” (Is 52:13-14) Nhưng mọi người đều phải sửng sốt khi thế cờ đảo ngược hoàn toàn. Người tôi trung đó làm cho “muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng.” (Is 52:15) Người tôi trung đó là Đức Kitô, cũng chính là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ, Người-Tôi-Trung-Đau-Khổ, “như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng mở miệng kêu ca.” (Is 53:6; Cv 8:32)
Chúng ta thấy mình quá tệ qua những lời này: “Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng. Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt. Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa.” (Is 53:5, 7-9)
Đó là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để nhờ Người Ấy mà Ý Chúa được nên trọn. Trong “núi tội lỗi” và “biển lầm lạc” đó có rất nhiều tội lỗi của mỗi chúng ta!
Bài Thương Khó là trường ca đau khổ, là tấn bi kịch trầm hùng, là bộ phim dài sầu thảm, thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Bi kịch thảm thiết như vậy mà lại gọi là Phúc Âm, là Tin Mừng. Thật kỳ diệu biết bao!
Người ta đã tìm mọi cách gài bẫy, lục soát, và đi bắt Chúa Giêsu như một tên côn đồ. Họ ghen tị và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền lực, lấy mất “chiếc ghế quyền lực,” thế nên họ làm mọi cách hạ nhục Ngài đủ mưu đủ chước. Hàng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – vì các môn đệ bỏ trốn hết!
Khi Ngài hỏi họ tìm ai, họ ngang nhiên đáp: “Tìm Giêsu Nadarét.” Ngài vừa nói “chính tôi đây” thì họ lùi lại và ngã liền. Ấy thế mà họ vẫn cố chấp, cố ý nhắm mắt chứ không chịu mở mắt. Có lẽ lúc này Giuđa là người đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài – tức là bọn thủ ác bị mắc lừa. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài vào chuyện không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài. Trí óc phàm nhân chúng ta không thể nào hiểu nổi!
Ngài lại hỏi và họ vẫn cương quyết: “Tìm Giêsu Nadarét.” Ngài thản nhiên: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi thì hãy để cho những người này đi.” (Ga 18:8) Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai.” (Ga 18:9) Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Man-khô. Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18:11)
Họ bắt trói Ngài rồi điệu Ngài đến ông Kha-nan, nhạc phụ ông Cai-pha. Chính Cai-pha đề nghị với người Do Thái: “Nên để một người chết thay cho dân thì hơn.” (Ga 18:14) Nghe chừng nhân đạo nhưng lại vô cùng thâm độc. Lúc đó có ông Simôn Phêrô và ông Gioan đi theo Đức Giêsu. Ông Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với người giữ cổng và dẫn ông Phêrô vào.
Vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối ngay: “Đâu phải.” Và ông chối phắt bất kỳ ai nhận ra ông, tổng công 3 lần trước khi gà gáy. Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Và chúng ta cũng vậy thôi, mạnh miệng mà nhát hơn cáy!
Khi họ tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn, Chúa Giêsu nói rõ: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. TÔI KHÔNG HỀ NÓI ĐIỀU GÌ LÉN LÚT. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì.” (Ga 18:19-21) Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” (Ga 18:22)
Lúc trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Họ chỉ lo giữ bề ngoài mà không chú trọng bề trong. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan.” (Ga 18:30) Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Đức Giêsu không nhận và nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” (Ga 18:36) Vậy mà ông Philatô vẫn không hiểu nên hỏi: “Vậy ông là vua sao?” Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích là LÀM CHỨNG CHO SỰ THẬT. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” (Ga 18:37) Ông Philatô hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38) Quá ngớ ngẩn hay giả nai?
Vào mỗi dịp Lễ Vượt Qua, họ thường phóng thích cho một tội nhân theo tục lệ của người Do Thái. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, họ la to: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40) Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương mến và yêu quý hơn là Chúa Giêsu.
Philatô truyền đem Đức Giêsu đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái!” và vả vào mặt Ngài. Như vậy, nhân vị của Ngài đã bị khinh miệt, nhân phẩm của Ngài bị chà đạp, và nhân quyền của Ngài cũng bị tước đoạt. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19:6) Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy.” (Ga 19:6)
Nắm quyền sinh sát trong tay và biết rõ bị cáo không có tội mà vẫn không dám tha, Philatô là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình, chỉ muốn lợi cho mình mà chà đạp người khác. Đó là một dạng bóc lột, không tôn trọng công lý. Kẻ đó không đáng được tôn trọng. Kẻ có quyền lực mà không tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, không lấy dân làm gốc, dân chúng không thể an cư lạc nghiệp!
Bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó. Nhân quyền của Ngài hoàn toàn bị tước đoạt! Và Chúa Giêsu nói với ông Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn.” (Ga 19:11) Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng. Cách xử sự hèn nhát của Philatô cũng chính là động thái hèn hạ của chúng ta ngày nay đối với tha nhân.
Cuối cùng, ông Philatô cũng đành cho thi hành án tử đối với “tử tội công chính” là Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác Thập Giá lên đồi Gôngôtha – nghĩa là Cái Sọ, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Hípri, La Tinh và Hy Lạp. Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái,” nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19:22) Philatô chỉ lăm le với người dưới quyền chứ không dám “nói mạnh” với đám đông nổi loạn, dù họ chỉ là đám dân đen!
Chúa Giêsu bắt đầu kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ. Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Mất máu nhiều nên Ngài nói: “Tôi khát!” (Ga 19:28) Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19:32) Rồi Ngài gục đầu xuống và dâng trao Thần Khí.
Tình Giêsu là “tình cho không biếu không,” nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử, nên Ngài đã quay lại và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì KHÓC CHO PHẬN MÌNH VÀ CHO CON CHÁU.” (Lc 23:28) Và Giờ Thương Xót đã điểm. Người được lãnh Hồng Ân Thương Xót đầu tiên là tướng cướp Dismas, tử tội cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23:43) Ơn Cứu Độ thật tuyệt vời: Máu Chúa đỏ tươi đã tẩy rửa tội nhân chúng ta nên trắng ngần.
Xin trọn đời tạ ơn Lòng Chúa Thương Xót. Xin chân thành thú nhận tội lỗi, thành tâm xin lỗi Chúa và tha nhân. Xin Chúa thương xót chúng con!
3. ĐIỀU MỪNG
Không vòng gai, không vương miện. Có đau khổ mới có vinh quang. Sau cơn mưa, trời lại sáng. Bóng tối biến tan vì ánh sáng tràn ngập. Tội lỗi đỏ như son và thẫm tựa vải điều chợt hóa trắng như bông. (Is 1:18) Bất công phải khuất phục vì công minh chính trực. Sự ác phải thoái lui khi sự thật trị vì. Tử thần chiến bại trong tủi nhục khi Đức Kitô sống lại trong vinh quang y như lời Ngài đã nói trước. Phục Sinh ngập tràn Ánh Sáng, Cõi Sống chan chứa Hồng Ân.
Ngày xưa, dân Israel hành trình đằng đẵng suốt 40 năm, chặng cuối cùng là vượt qua Biển Đỏ. Nước rẽ ra cho dân đi qua, khi người Ai Cập đuổi theo thì nước ập lại, họ hoảng hồn mà không kịp chạy thoát. Tất cả chúng ta cũng đang trên đường lữ hành trần gian, tức là chúng ta cũng đang làm một cuộc xuất hành, một hành trính tiến về Đất Hứa, không là Đất Hứa bình thường ở thế gian này mà là về Thiên Quốc – Đất Hứa Vĩnh Sinh. Theo lẽ thường, hành trình nào cũng lắm gian nan, đầy vất vả, cam go vô cùng – dù đó là hành trình dài hay ngắn. Nhưng thật hạnh phúc vì Thiên Chúa luôn độ trì, Ngài không bỏ mặc chúng ta một giây phút nào.
Bất cứ một tù nhân nào cũng vô cùng hạnh phúc khi được phóng thích, ngỡ như vừa từ Hỏa Ngục được vào Thiên đàng vậy. Ai đã từng vào tù rồi mới khả dĩ cảm nhận được niềm vui sướng khi đuộc ra khỏi nhà tù. Bệnh nhân rất hạnh phúc khi được phục hồi. Người đang khát rất hạnh phúc khi được giải khát. Người mong chờ rất hạnh phúc khi được mãn nguyện. Và còn nhiều dạng hạnh phúc khác khi chúng ta được như ý. Nhưng chắc chắn không có hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc được “cải tử hoàn sinh.”
Các Kitô hữu và những người Công giáo luôn có một niềm hạnh phúc khác nữa là CHÚA GIÊSU THỰC SỰ PHỤC SINH, đúng như lời Ngài đã nói trước: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.” (Mc 9:31) Nỗi lo, nỗi buồn, nỗi sợ, nỗi khổ,... chồng chất chật cả Tuần Thánh, nhất là “miền” Tam Nhật Vượt Qua, nhưng đêm nay niềm vui nối tiếp nỗi mừng. Cho nên trong bài Exultet – Công Bố Tin Mừng Phục Sinh, Giáo Hội nhiều lần mời gọi mọi người “mừng vui lên!” vì Đức Kitô “đã thay thế chúng ta trả nợ của Adam với Chúa Cha muôn thuở, và đã lấy máu hồng quý giá rửa sạch án tổ tông xưa,” và “vì đây là lễ vượt qua, lễ mà Chiên thật bị sát tế, trong máu Chiên môi miệng tín hữu được thánh hiến đêm nay.”
Thật kỳ diệu đối với phàm nhân: “Ôi nhiệm mầu thay! Lòng Yêu Thương của Chúa không ai hiểu thấu!” Niềm vui đêm nay được nhân lên vì “tội Adam đã được tẩy xóa chính nhờ sự chết Chúa Kitô!” Niềm vui tột đỉnh nên Giáo hội gọi Tội Nguyên Tổ là “tội hồng phúc,” chính tội-hồng-phúc đó “đã ban cho chúng ta Đấng cứu chuộc rất cao sang,” và Giáo hội gọi đêm nay là “đêm hồng phúc,” vì đêm nay là “đêm nối kết trời đất.”
Thánh Phaolô nói: “Anh em không biết rằng khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Ngài sao? Được dìm vào trong cái chết của Ngài là chúng ta đã cùng được mai táng với Ngài. Bởi thế, cũng như Ngài đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới.” (Rm 6:3-4) “Được dìm vào cái chết của Đức Kitô” lại chính là niềm hạnh phúc của chúng ta. Đó là cả chuỗi kỳ diệu của cuộc đời người Công giáo.
Đức Giêsu đã sống lại thật, Ngài sống cho Thiên Chúa, và chắc chắn chúng ta cũng cùng sống lại với Ngài. Còn hạnh phúc nào hơn? Đó là điều “trên cả tuyệt vời.” Nhưng không thể cứ “khơi khơi,” không thể cứ “thấy sang bắt quàng làm họ,” hoặc “cục muối cắn đôi, còn cục đường ăn cả,” mà phải có điều kiện “ắt có và đủ,” nghĩa là ai đã thực sự sống Mùa Chay thì mới có thể cảm nhận niềm vui phục sinh, và ai đã “dám chết cho tội” thì mới xứng đáng cùng phục sinh với Đức Kitô: “Hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu.” (Rm 6:11)
Thánh sử Luca tường thuật ngắn gọn nhưng rõ ràng và chính xác: Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn. Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giêsu đâu cả. Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ. Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Galilê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” (Lc 24:5-7)
Các bà đến mộ nhưng vẫn rất sợ người Do Thái làm khó dễ, khi đến nơi lại chẳng thấy thi hài Thầy Giêsu đâu, họ càng hoang mang hơn. Thiên thần phải nhắc họ nhớ lại những điều Đức Giêsu đã nói. Khi từ mộ trở về, các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy, nhưng các ông bán tín bán nghi. Nhưng ông Phêrô liền đứng lên chạy ra mộ, cúi nhìn vào hầm mộ thì chỉ thấy khăn liệm. Ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra.
Chúa Giêsu đã sống lại là ấn tín để chúng ta tiếp tục kiên trì trên hành trình đức tin hàng ngày, tiến về Miền Đất Hứa Đời Đời. Chắc chắn hành trình đó luôn có nhiều gian khổ. Để tự nhủ và động viên lẫn nhau, chúng ta cùng ghi nhớ lời Chúa Giêsu đã nói với Thánh nữ Faustina: “Con đừng ngạc nhiên vì đôi khi bị tố cáo bất công. Chính Ta đã từng uống chén đau khổ bất công này trước vì yêu con.” (Nhật Ký, số 289)
Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, tất cả là hồng ân vô biên. Chúng con thật hạnh phúc được đắm mình trong Sông Ân Biển Tứ của Lòng Thương Xót bao la của Ngài. Cúi xin Ngài gia ân tăng lực để chúng con sống dồi dào và làm chứng về Đức Giêsu Kitô chịu chết và sống lại. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.