TIÊN TRI MALAKHI DẠY VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ

17-06-2022 39 lượt xem

Một trong những điểm khác biệt lớn nhất giữa người Công giáo và hầu hết những người Tin Lành là cách hiểu khác nhau về Bí tích Thánh Thể. Đối với phần lớn những người anh em ly khai, Bí tích Thánh Thể chỉ là một nghi lễ tưởng niệm, nhưng người Công giáo chúng ta tin đó là sự tham dự thực sự vào sự hy tế của Chúa Giêsu trên Thập Giá. Dữ liệu Kinh Thánh về điểm này rất hiếm và thường không quyết đoán, vì vậy rất khó để xác định bên nào được Kinh Thánh ủng hộ.

Tuy nhiên, có một số đoạn văn quan trọng rõ ràng là nghiêng về quan điểm Công giáo, và một số đoạn văn đó thực sự có từ Cựu Ước. Ví dụ, hãy lấy đoạn văn này trong sách tiên tri Malakhi: “Quả thật, từ đông sang tây, Danh Ta thật cao cả giữa chư dân; và ở khắp nơi, người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính Danh Ta, bởi vì Danh Ta thật cao cả giữa chư dân.” (Ml 1:11)

Xét chung, phải công nhận rằng khó có thể thấy câu này có liên quan Bí tích Thánh Thể. Thật khó biết được điều mà tiên tri Malakhi đề cập. Tuy nhiên, nếu chúng ta tìm hiểu sâu hơn một chút, chúng ta thấy rằng thực sự đó là lời tiên tri quan trọng về Thánh Lễ. Mặc dù có sự mờ mịt, câu đó vẫn nêu bật một số sự thật cụ thể về hy tế Thánh Thể khiến ý nghĩa không thể nhầm lẫn khi chúng ta nhận ra điều đó.

1. DÂN NGOẠI HAY DO THÁI?

Để bắt đầu, hãy xem qua ngữ cảnh của những từ này. Trong chương đầu, tiên tri Malakhi khiển trách người Do Thái vào thời đó vì đã dâng những của lễ không tinh khiết cho Thiên Chúa, và trong câu này, ông đối chiếu những của lễ đó với một “của lễ tinh khiết” mà ông nói là được dâng “ở mọi nơi.”

Nhưng chính xác ông nói về cái gì? “Lễ vật thanh khiết” là gì? Lúc đầu, chúng ta có thể đoán rằng tiên tri Malakhi đang cố gắng hạ thấp đồng bào Do Thái bằng cách chỉ ra rằng những người ngoại giáo đã dâng của lễ tốt hơn họ, nhưng giả thuyết đó không phù hợp. Tiên tri Malakhi là một người Do Thái trung thành, vì vậy ông sẽ không tán thành những của lễ do bất kỳ ai cung cấp ngoại trừ dân Israel.

Tiếp theo, chúng ta có thể nghĩ rằng ông chỉ đơn giản là tra tấn người Do Thái ở Giêrusalem và nói rằng anh em của họ ở những nơi khác trên thế giới đã hy sinh hơn họ. Tuy nhiên, điều đó cũng không hoạt động. Cựu Ước hạn chế hy lễ trong đền thờ ở Giêrusalem. (Ds 12:5-14) Vì vậy tiên tri Malakhi không thể nói về bất kỳ loại hy lễ nào của người Do Thái có thể đã được dâng ở những nơi khác trên thế giới.

2. MỘT CỦA LỄ

Vì vậy, ông có thể đề cập điều gì? Theo tôi, bí quyết là hãy xem xét kỹ lưỡng từ ngữ chính xác mà tiên tri Malakhi đã sử dụng. Đầu tiên, ÔNG KHÔNG NÓI rằng những của lễ thuần túy (số nhiều) được dâng cho Thiên Chúa trên khắp thế giới. Thay vào đó, ÔNG NÓI rằng một lễ vật thuần túy (số ít) được dâng, và điều đó rất quan trọng. Ông không nói về nhiều của lễ như những người Do Thái và người ngoại giáo đã đưa ra. Không, ông đã nói về MỘT CỦA LỄ DUY NHẤT được dâng trên toàn thế giới.

Điều đó nghe có vẻ hơi vô lý, nhưng cứ bình tĩnh. Chúng ta chỉ cần xem xét thêm một chi tiết trong lời nói của tiên tri Malakhi, rồi mọi thứ sẽ đâu vào đó. Hầu hết các bản Kinh Thánh tiếng Anh đều dịch câu này như thể các động từ ở thì hiện tại, điều này ngụ ý rằng tiên tri Malakhi nói về “một của lễ tinh khiết” đã được ban vào thời của ông, nhưng trong tiếng Do Thái, văn phạm không rõ ràng cho lắm.

3. QUÁ KHỨ HAY HIỆN TẠI?

Để bắt đầu, câu này thực sự không có bất kỳ động từ nào. Nghĩa đen của nó là “Danh Ta cao cả giữa chư dân” và “người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính Danh Ta.” Chúng ta chỉ cần chèn động từ “là” vào những vị trí thích hợp. Chúng ta làm điều đó trong tâm trí khi đọc câu đó bằng tiếng Do Thái, và theo nghĩa đen, chúng ta đưa các từ vào bản văn khi dịch đoạn văn sang tiếng Anh.

Đáng kể là điều này cho phép chúng ta coi các động từ đó như bất kỳ “thì” gì chúng ta muốn (ít nhất là theo quan điểm văn phạm thuần túy). Chính bản văn không thực sự cho chúng ta biết tiên tri Malakhi nói về ngày của chính mình hay tiên tri về tương lai. Để tìm ra điều đó, chúng ta phải xem bối cảnh của đoạn văn, và như chúng ta đã thấy, câu này không có ý nghĩa gì nếu nó đề cập ngày của Malakhi. Không có thì hiện tại nào để ông có thể viết, vì vậy chúng ta phải coi đó như một lời tiên tri về tương lai. Do đó, chúng ta thực sự nên dịch Câu Ml 1:11 ở thì tương lai.

4. TIÊN BÁO THÁNH LỄ

Một khi chúng ta làm điều đó, mọi thứ sẽ ổn định, giống như tôi đã hứa. Giáo Hội sơ khai đã coi câu này như một lời tiên tri về Thánh Lễ, và vì lý do chính đáng. Thánh Lễ là sự tái hiện sự hy sinh của Chúa Giêsu trên Thập Giá. Mỗi khi chúng ta cử hành, sự hy sinh đó lại diễn ra với chúng ta – do đó có thuật ngữ “tái diễn,” chúng ta tham dự và cùng với Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha. Nói cách khác, đó KHÔNG PHẢI LÀ NHIỀU HY LỄ. Dù chúng ta có dâng bao nhiêu Thánh Lễ thì cũng chỉ là MỘT CỦA LỄ mà thôi.

Đó là những gì tiên tri Malakhi nói đến. Ông nói rằng mặc dù những người Do Thái vào thời của ông đã dâng những của lễ không tinh khiết, nhưng sẽ đến ngày dân Chúa dâng của lễ có thể chấp nhận được. Đó sẽ là một của lễ, không phải nhiều, và của lễ duy nhất phù hợp với luật này là Thánh Lễ. Chúng con, chúng ta có thể tin rằng Bí tích Thánh Thể không chỉ là một nghi lễ tưởng niệm. Đó là hy lễ thực sự, một sự tham dự đích thực vào sự dâng hiến của Chúa Giêsu cho Chúa Cha trên Thập Giá.

Vì vậy, về điểm này, ĐỨC TIN CÔNG GIÁO HOÀN TOÀN PHÙ HỢP VỚI GIÁO HUẤN CỦA KINH THÁNH.

JP NUNEZ - https://catholicexchange.com

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

THÁNH THỂ – HY TẾ và BÍ TÍCH

Bí tích Thánh Thể: Hy sinh và Bí tích

Bí tích Thánh Thể vừa là hy tế vừa là bí tích. Bởi vì sự sống sinh học không là gì khác ngoài sự phản chiếu, tiếng vang và bóng dáng của sự sống thần thánh, người ta có thể tìm thấy những điều tương tự trong trật tự tự nhiên đối với những vẻ đẹp thần thánh. Chẳng phải tự nhiên có phương diện kép là hy sinh và vật thiêng đó sao? Thực vật được phục vụ tại bàn ăn, thịt được đặt trên đĩa, đó là các bí tích tự nhiên của cơ thể con người. Nhờ chúng mà người ta sống. Nếu có thể nói thì chúng sẽ nói: “Nếu bạn không hiệp thông với tôi, bạn sẽ không thể sống.”

Nhưng nếu người ta hỏi làm thế nào mà việc tạo ra hóa chất, thực vật hoặc thịt lại trở thành lời thề hay sự hiệp thông của con người, và ngay lập tức người ta biết đến ý tưởng về sự hy sinh. Chẳng phải các loại rau đậu phải được nhổ bật rễ lên từ đất, chịu quy luật sự chết, rồi trải qua thử thách của lửa trước khi có thể trở thành vật nuôi sống thể xác, hoặc hiệp thông với thể xác đó sao? Chẳng phải thịt trên đĩa từng là sinh vật sống, nó chịu khuất phục trước  con dao, máu nó đổ trên đất Ghếtsimani và Canvê trước khi thích hợp để giới thiệu cho con người đó sao?

Do đó, vấn đề tự nhiên là lễ hy sinh phải có trước một bí tích, cái chết là khúc dạo đầu cho sự hiệp thông. Theo một cách nào đó, nếu nó không chết đi thì nó sẽ không bắt đầu sống ở một vương quốc cao hơn. Ví dụ, để có thể hiệp lễ mà không có của lễ, theo thứ tự tự nhiên, giống như ăn rau sống và thịt sống. Khi đối diện với thực tế cuộc sống, chúng ta thấy rằng chúng ta đang sống bằng những gì chúng ta đã giết. Nâng tầm điều này lên trật tự siêu nhiên, chúng ta vẫn sống bằng những gì chúng ta đã giết.

Chính tội lỗi của chúng ta đã giết Chúa Giêsu Kitô trên đồi Canvê, nhưng nhờ quyền năng của Thiên Chúa đã sống lại từ cõi chết và ngự trị vinh hiển trên Thiên Đàng, giờ đây Ngài trở thành sự sống của chúng ta, hiệp thông với chúng ta, và chúng ta hiệp thông với Ngài. Theo trật tự tâm linh, phải có Hy Tế hoặc Truyền Phép trước khi có thể có bí tích hoặc sự hiệp thông giữa linh hồn và Thiên Chúa.

1. MỐI LIÊN HỆ GIỮA BÍ TÍCH THÁNH TẨY VÀ THÁNH THỂ

Phép Rửa là sự khởi đầu của đời sống Kitô hữu, tương ứng theo trật tự sinh học đối với sự khởi đầu của sự sống. Nhưng việc sinh ra sự sống thần thánh chỉ đến qua cái chết, nghĩa là sự dìm mình dưới nước tượng trưng một cách thần bí cho sự chết và được mai táng cùng với Đức Kitô. Bí tích Thánh Thể là hy lễ, cũng kết hợp chúng ta với cái chết của Đức Kitô. Tuy nhiên, Phép Rửa là sự thể hiện thụ động hơn về cái chết đó, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh, nơi ý chí của trẻ sơ sinh không phục tùng, nếu không thông qua người bảo trợ. Bí tích Thánh Thể là sự đại diện tích cực hơn nhiều về cái chết của Chúa Kitô, bởi vì Thánh Lễ là cách trình bày rõ ràng về cái chết hy sinh của Chúa Kitô bên ngoài tường thành Giêrusalem.

Các giáo phụ luôn ấn tượng bởi mối liên hệ giữa Bí tích Rửa Tội và Bí tích Thánh Thể. Máu và Nước chảy ra từ cạnh sườn của Đức Kitô trên Thập Giá có ý nghĩa sâu sắc. Nước là biểu tượng cho sự tái sinh của chúng ta, và đó là dấu chỉ của Phép Rửa; Máu là giá của Sự Cứu Chuộc, và đó là dấu chỉ của Thánh Thể.

Điều này đặt ra câu hỏi, nếu có mối liên hệ với cái chết của Chúa Giêsu Kitô trong cả hai bí tích thì có khác biệt gì? Một trong những điểm khác biệt là trong Bí tích Rửa Tội và các bí tích khác, ngoại trừ Bí tích Thánh Thể, chúng ta được kết hợp với Chúa Kitô đơn giản nhờ tham dự vào ân sủng của Ngài, nhưng trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Kitô hiện hữu thực sự – Mình, Máu, Linh Hồn và Thần Tính. Trong Bí tích Thánh Thể, con người nhận ra sự kết hợp trọn vẹn của mình với Sự Chết và Phục Sinh của Chúa Kitô hơn là trong Bí tích Rửa Tội. Theo trật tự vật chất, sinh ra luôn giống cha mẹ, nhưng khi một người mẹ nuôi dưỡng con mình, có sợi dây liên kết mới được thiết lập giữa đứa trẻ và người mẹ.

Vì vậy, trong Phép Rửa có sự tương đồng với bản chất thiêng liêng được tạo ra, mặc dù chúng ta được tạo thành “những Kitô khác,” nhưng trong Bí tích Thánh Thể chúng ta nhận được chính bản thể của Chúa Kitô. Vì mối quan hệ chặt chẽ giữa hai bí tích, Công Nghị Mayence năm 1549 đã hướng dẫn các mục tử thực hiện Phép Rửa vào buổi sáng trong thời gian diễn ra Thánh Lễ, hoặc ít nhất là ngay sau Thánh Lễ.

Giữa Bí tích Rửa Tội và Bí tích Thánh Thể có một mối tương quan nào đó giống như giữa đức tin và đức ái hoặc tình yêu trọn vẹn. Bí tích Rửa Tội là bí tích của đức tin, vì đó là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Bí tích Thánh Thể là bí tích của bác ái hay tình yêu, vì đó là sự tái hiện hành động yêu thương hoàn hảo của Chúa Kitô, nghĩa là cái chết của Ngài trên Thập Giá và sự tự hiến chính Ngài khi chúng ta rước lễ.

2. CỰU ƯỚC VÀ THÁNH THỂ

Sẽ mất nhiều trang để hình dung trước về Bí tích Thánh Thể trong Cựu Ước. Menkixêđê dâng bánh và rượu là hình ảnh chính Chúa Giêsu Kitô, Ngài đã chọn bánh và rượu trong Bữa Tiệc Ly làm yếu tố cho cả hy tế và bí tích. Manna trong sa mạc cũng là biểu tượng của Bí tích Thánh Thể, chính Chúa đã tuyên bố: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống.” (Ga 6:51) Thánh Phaolô nói rằng những gì người Do Thái ăn trong sa mạc là hình ảnh thức ăn tinh thần của chúng ta: “Tất cả cùng ăn một thức ăn linh thiêng... Những sự việc ấy xảy ra để làm bài học, răn dạy chúng ta đừng chiều theo những dục vọng xấu xa như cha ông chúng ta.” (1 Cr 10:3, 6)

Máu của Chiên Vượt Qua được phết trên các ngưỡng cửa để bảo vệ người Do Thái khỏi bị hủy diệt, đó là dấu hiệu chưa hiện thực, nhưng là hình ảnh của Máu Đức Kitô đổ trên linh hồn chúng ta và cứu chúng ta khỏi sự dữ. Vì Chiên Vượt Qua là hình bóng Chúa Kitô, nên chính vào ngày lễ Vượt Qua mà Chúa đã ban cho Giáo Hội Bí tích Thánh Thể mà Ngài đã hứa hơn một năm trước tại Capharnaum.

ĐTGM. FULTON J. SHEEN [+] - https://catholicexchange.com

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.