TÂN GIÁM QUẢN TÔNG TÒA GIÁO PHẬN NHA TRANG

23-07-2022 149 lượt xem

Ngày 23.07.2022, Đức Tổng giám mục Marek Zalewski, Sứ thần Tòa Thánh tại Singapore kiêm Đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam thông báo:

Đức Thánh Cha Phanxicô đã chấp thuận cho Đức cha Giuse Võ Đức Minh từ nhiệm sứ vụ Giám mục Chính tòa giáo phận Nha Trang; đồng thời, bổ nhiệm Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Tổng Giám mục Tổng giáo phận Huế, làm Giám quản Tông Tòa giáo phận Nha Trang “trống tòa và theo ý Tòa Thánh” (sede vacante et ad nutum Sanctae Sedis).

Nguồn: https://press.vatican.va

TIỂU SỬ ĐỨC CHA GIUSE VÕ ĐỨC MINH

Đức cha Giuse Võ Đức Minh sinh ngày 10.9.1944, tại Mỹ Đức, thuộc giáo xứ Tam Tòa, Đồng Hới, Quảng Bình. Ngài là người con thứ ba và là con trai trưởng trong gia đình có 7 người con (3 gái, 4 trai). Ông cố là Giuse Võ Đức Mẫn (1912 - 2000) thuộc giáo họ Mỹ Đức, giáo xứ Tam Tòa; bà cố là Isave Nguyễn Thị Trà (1914 - 1997) cũng thuộc giáo xứ Tam Tòa. Năm 1951, gia đình ngài rời giáo xứ Tam Tòa, Đồng Hới, Quảng Bình, vào định cư tại giáo xứ Thánh Nicolas, Đà Lạt.

Thời niên thiếu, cậu bé Minh theo học tiểu học tại Đà Lạt, và từ năm 1956 học tại Tiểu Chủng viện Thánh Giuse, giáo phận Sài Gòn. Sau khi đậu tú tài, năm 1965, thầy Minh học Triết học tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn. Năm 1966, thầy được Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục giáo phận Đà Lạt gởi sang Đại Chủng viện Thánh Carôlô của giáo phận Fribourg, Lausanne và Genève tại Thụy Sĩ để tiếp tục học Triết học và Thần học tại Phân Khoa Thần học của Đại học Fribourg, đồng thời được huấn luyện và học bổ sung về mục vụ tại Đại Chủng viện giáo phận Fribourg. Mùa hè năm 1969, thầy Minh theo học Đức ngữ tại Viện Goethe, Passau ở vùng Niederbayern, Đức; và mùa hè 1970 thầy tham dự khóa học hỏi và nghiên cứu về Kinh Thánh tại Thánh địa Giêrusalem.

Ngày 24.4.1971, tại nhà thờ Chúa Kitô Vua ở Fribourg, Thụy Sĩ, thầy đã được Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục giáo phận Đà Lạt truyền chức linh mục; sau đó tân linh mục tiếp tục học tốt nghiệp Cử nhân Thần học tại Đại học Fribourg. Từ năm 1971 đến 1974, cha Giuse Minh được Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền gởi sang học chuyên về Kinh Thánh tại Giáo Hoàng Học viện Kinh Thánh Rome (Biblicum), và tốt nghiệp Cử nhân Kinh Thánh vào năm 1974.

Trong thời gian sinh viên, cha đã tận dụng các kỳ nghỉ hè để làm mục vụ tại một số giáo xứ: phó xứ tại Kranken und Erholungsheim tại Aachen, Đức; phó xứ tại giáo xứ Notre Dame ở Vevey, Thụy Sĩ; quyền quản xứ tại giáo xứ Notre Dame du Peuple ở Genève, Thụy Sĩ; phó xứ tại giáo xứ Notre Dame des Neiges ở Montréal, Canada.

Mùa hè năm 1974, cha Minh trở về giáo phận Đà Lạt và được bổ nhiệm làm giáo sư Kinh Thánh tại Đại Chủng viện Minh Hòa Đà Lạt. Cha còn dạy Kinh Thánh và Thần học tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn, Giáo Hoàng Học viện Thánh Piô X Đalat, Đại Chủng viện Sao Biển Nha Trang và nhiều học viện dòng tu nam nữ ở Việt Nam.

Năm 1975, cha được Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm bổ nhiệm làm Thư ký Tòa Giám mục Đà Lạt cho đến năm 1991. Ngày 20.6.1991, cha được đặt làm quản xứ nhà thờ Chánh tòa Đà Lạt, đồng thời làm linh mục quản hạt Đà Lạt. Ngày 19.6.1999, cha được bổ nhiệm làm linh mục Tổng Đại diện giáo phận Đà Lạt.

Ngày 8.11.2005, cha Giuse Võ Đức Minh đã được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bổ nhiệm làm Giám mục Phó giáo phận Nha Trang. Khẩu hiệu giám mục của ngài: “Ngài đã yêu thương họ đến cùng”. Ngày 15.12.2005, tại Nhà thờ Chánh tòa Đà Lạt, cha được tấn phong Giám mục do Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, Giám mục giáo phận Nha Trang, Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam khóa thứ IX chủ phong. Hai Đức cha phụ phong là hai vị đàn anh của ngài cùng xuất thân từ giáo xứ Chánh tòa Đà Lạt là Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Giám mục Giáo phận Đà Lạt khi ấy, cùng với Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc, lúc đó là Giám mục Giáo phận Mỹ Tho. Hiện diện trong thánh lễ truyền chức có tất cả 30 vị hồng y, tổng giám mục, giám mục; khoảng 400 linh mục, đông đảo tu sĩ nam nữ, chủng sinh và khoảng trên mười ngàn giáo dân tham dự.

Ngày 30.12.2005, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn cùng đông đảo linh mục, đại diện tu sĩ, chủng sinh và giáo dân đã đồng hành tiễn Đức cha Giuse từ giáo phận Đà Lạt về giáo phận Nha Trang. Đức cha Giuse và phái đoàn Đà Lạt đã dừng chân tại nhà thờ giáo xứ Sông Pha thuộc giáo phận Nha Trang, giáp ranh với giáo phận Đà Lạt. Tại đây, Đức cha Giuse đã hôn phần đất của giáo phận mới và chúc lành cho Dân Chúa. Vào trưa cùng ngày, phái đoàn đã đến Tòa Giám mục Nha Trang. Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, Giám mục Nha Trang cùng đông đảo linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân đã chờ sẵn và nồng nhiệt đón tiếp Đức cha Giuse, Đức cha Phêrô và phái đoàn Đà Lạt.

Ngày 1.1.2006, tại nhà thờ Chánh tòa Nha Trang, Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa đã chủ sự thánh lễ trọng thể trước cộng đoàn đông đảo thuộc mọi thành phần Dân Chúa giáo phận Nha Trang; đồng tế có Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, người con của giáo phận Nha Trang, khi ấy là Giám mục giáo phận Thanh Hóa và một số đông linh mục giáo phận. Ngay trong thánh lễ này, Đức cha Phaolô đã cho công bố tông sắc của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bổ nhiệm Đức cha Giuse làm Giám mục Phó giáo phận Nha Trang và trân trọng giới thiệu ngài với Ban Tư vấn Giáo phận và mọi thành phần Dân Chúa trong giáo phận. Kể từ hôm đó, trong cương vị Giám mục Phó, Đức cha Giuse đã sát cánh bên Đức cha Phaolô trong mọi sinh hoạt mục vụ của giáo phận.

Tại Đại hội của HĐGMVN lần thứ X vào năm 2007 diễn ra tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Đức cha Giuse đã được bầu vào Ban Thường vụ của HĐGMVN, với chức vụ Phó Tổng thư ký. Đức cha Giuse còn được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Kinh Thánh trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam và được bầu làm một trong hai đại biểu chính thức của HĐGMVN tham dự Thượng Hội đồng Giám mục thế giới năm 2008.

Ngày 4.12.2009, tại nhà thờ Chánh tòa Nha Trang, Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa đã chủ sự thánh lễ tạ ơn trọng thể dịp mừng Kim khánh linh mục của ngài. Sau phần Phụng vụ Lời Chúa, trước mặt các Đức Tổng Giám mục, Giám mục, linh mục đoàn đồng tế và đông đảo mọi thành phần Dân Chúa trong và ngoài giáo phận Nha Trang, Đức cha Phaolô công bố: Năm nay ngài đã 78 tuổi, vượt qua tuổi hạn định theo giáo luật 3 năm, ý nguyện từ nhiệm sứ vụ mục tử giáo phận Nha Trang của ngài đã được đệ trình Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI từ hơn 3 năm trước, đã được Đức Thánh Cha chấp thuận. Và như vậy, kể từ lúc ấy, Đức cha Giuse Võ Đức Minh tiếp nối sứ vụ mục tử của ngài trong cương vị là Giám mục Chánh tòa thứ tư của giáo phận Nha Trang, thể hiện tính tông truyền trong Hội Thánh Công Giáo.

TIỂU SỬ ĐỨC CHA GIUSE NGUYỄN CHÍ LINH

Ngài sinh tại xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ngày 22.11.1949. Thuở nhỏ, ngài học tại trường Tiểu học giáo xứ Thanh Hải, Phan Thiết từ năm 1955-1962, giai đoạn 1962 - 1967 học tại Tiểu Chủng viện Nha Trang. Sau đó, ngài lần lượt học tại Trường Thiên Hựu, Huế (1967, 1968); Chủng viện Chúa Chiên Lành, Đà Lạt (1968 - 1970); Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X, Đà Lạt (1970 - 1977). Từ năm 1977 - 1992, ngài sống với gia đình tại giáo xứ Song Mỹ, Nha Trang.

Ngày 30.12.1992, thầy Giuse Nguyễn Chí Linh được Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hoøa, Giám mục giáo phận Nha Trang truyền chức linh mục. Sau đó, vị tân linh mục về làm phó xứ Phước Thiện, giáo phận Nha Trang cho đến năm 1995. Từ năm 1995 - 2003, cha Giuse Nguyễn Chí Linh du học tại Paris, Pháp và tốt nghiệp với học vị Tiến sĩ Triết học. Ngày 8.11.2003, ngài trở về Việt Nam, làm giáo sư Đại Chủng viện Sao Biển, Nha Trang. Ngày 12.6.2004, ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Giám mục Chánh tòa giáo phận Thanh Hóa. Ngày 4.8.2004, ngài được truyền chức giám mục tại nhà thờ Chánh tòa Thanh Hóa, với khẩu hiệu giám mục “Xin cho họ nên một”. Từ năm 2007 đến tháng 9.2009, ngài kiêm nhiệm Giám quản Tông tòa giáo phận Phát Diệm.

Ngày 29.10.2016, Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế. Ngài đồng thời cũng là Giám quản Tông toà giáo phận Thanh Hoá cho đến tháng 4.2018.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh đã đảm nhiệm các chức vụ:

Từ 2004 - 2007: Chủ tịch Uỷ ban Giáo dân trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Từ 2007 - 2013: Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Từ 2013 - 2016: Chủ tịch Uỷ ban Mục vụ Di dân trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Từ tháng 10.2016: Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam.

SƠ LƯỢC VỀ GIÁO PHẬN NHA TRANG

Tiền Tông Tòa: Thời kỳ chuẩn bị với những dấu ấn đức tin

Với chiến thắng của Hiền vương Nguyễn Phúc Tần vào năm 1653, bờ cõi của Đàng Trong được mở rộng thêm từ đèo Cù Mông (Phú Yên) đến tận phía Bắc sông Phan Rang. Phủ Thái Khang và Diên Ninh đã được thiết lập sau chiến thắng này. Từ đó, một số giáo dân Công giáo gốc Nam sông Gianh, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định đã di chuyển đến lập nghiệp, sinh sống rải rác tại một số nơi như Nha Ru - Gò Muồng (Ninh Hòa), Lâm Tuyền (Chợ Mới), Dinh Thủy (Tấn Tài). Họ thuộc số di dân được chúa Nguyễn đưa đi khai khẩn và trấn giữ những vùng đất mới. Những tín hữu này phải sống đạo cách âm thầm, kín đáo. Tuy không được các thừa sai thăm viếng và chăm sóc thường xuyên nhưng họ vẫn trung kiên với đời sống đức tin nơi gia đình, làng xóm. Đây có thể là một điểm lịch sử rất đặc thù của giáo phận Nha Trang.

Thời Kỳ Tông Tòa: 300 năm đặt nền móng và bảo vệ đức tin

Qua Sắc chỉ Super Cathedram ban hành ngày 9.9.1659, Đức Thánh Cha Alexandre VII bổ nhiệm cha Phêrô Lambert de la Motte làm Giám mục hiệu tòa Beryte cai quản giáo phận Đàng Trong và cha Phanxicô Pallu, Giám mục Hiệu tòa Hélipolis cai quản giáo phận Đàng Ngoài.

Sau 9 năm chờ đợi tại Ayuthaya - Thái Lan, ngày 1.9.1671 Đức cha Phêrô Lambert de la Motte với bốn linh mục tháp tùng là cha Vachet, cha Mahot, cha Giuse Trang và cha Luca Bền, đã đặt chân đến vùng đất mà ngài được ủy thác, và điểm đến đầu tiên chính là địa sở Chợ Mới (Lâm Tuyền) nằm bên bờ sông Cái, Nha Trang. Theo sử gia Françoise Fauconnet-Buzelin, Đức cha Lambert đã đến đây vào ban đêm. Nhờ sự tổ chức của các Kitô hữu địa phương, ngài được giấu trong lưới đánh cá và cáng bằng võng đến một ngôi nhà nơi đang có các giáo dân quy tụ. Hơn 800 giáo dân lần lượt đến chào ngài và cũng trong dịp này, ngài đã ban phép Thêm sức cho khoảng 200 trẻ em cùng vài người lớn. Sau đó, Đức cha Lambert đã đi thăm và dâng thánh lễ cho khoảng 100 giáo dân vùng Ninh Hòa (Nha Ru) trước khi ngài lên đường đi Nước Mặn và Hội An.

Từ năm 1672, tại vùng đất Khánh Hòa ngày nay đã có hai linh mục là cha Mahot (MEP) và cha Luca Bền đặc trách công việc mục vụ, chăm lo đời sống tinh thần cho bà con giáo dân. Khoảng thời gian 1673 - 1674, đời sống đạo khá yên ổn, các cuộc bách hại tạm dừng, nên số người đón nhận Bí tích Rửa tội gia tăng đáng kể. Năm 1674 Đức cha Lambert đã tăng cường cho giáo phận Đàng Trong ba linh mục: cha Gabriel Bouchard, cha Jean Courtaulin - thừa sai người Pháp, và cha Manuel Bổn, người Việt. Năm 1676, cha chính Courtaulin đã thành lập cộng đoàn Mến Thánh Giá tại Lâm Tuyền (Chợ Mới), sau đó mở nhà thương tại Hà Dừa, nhà mồ côi và dưỡng lão tại Gò Muồng. Lịch sử Công giáo vùng Nha Trang và Ninh Hòa còn lưu lại tên tuổi của một số chứng nhân đức tin, đã chết vì danh Chúa vào hậu bán thế kỷ XVII tại Ninh Hòa, như: ông Lôrensô Hoan, ông Antôn An, ông Inhaxiô Lữ, ông Phêrô Tam, bà Anê Bưởi và bà Agata Cư…

Vào thời Tây Sơn (1771-1777), tại Khánh Hòa và Ninh Thuận, đạo Công giáo không phát triển nhiều; một phần vì chiến tranh, phần khác vì thiếu nhân sự để rao giảng Tin Mừng. Trong suốt thời kỳ này, chỉ có một mình cha Martinô Phiên chăm sóc giáo dân cả hai tỉnh mà thôi. Xuyên suốt thế kỷ XVIII, đạo Công giáo ở vùng Khánh Hòa - Ninh Thuận gánh chịu cùng một số phận với toàn địa phận Đàng Trong: bị cấm cách, bắt bớ, chiến tranh loạn lạc nên Kitô hữu phải chịu nhiều cuộc ly tán và sống trong âm thầm.

Thời vua Minh Mạng (1820 - 1841), Tự Đức (1847 - 1883) vùng Khánh Hòa - Ninh Thuận thuộc giáo phận Tông tòa Đông Đàng Trong, giáo dân chịu nhiều bách hại với những cuộc lưu đày, phân tháp, sách nhiễu nặng nề. Đặc biệt, trong số các chứng nhân đức tin, tại Chợ Mới - Bình Cang có hai vị tôi tớ Chúa là Giuse Hữu và Anê Dần tử đạo năm 1860 và hai nữ tu tôi tớ Chúa là Anna Trị và Anê Soạn bị bắt tại Dinh Thủy và tử đạo ở Phan Rí năm 1862.

Từ sau thời bắt đạo đến hết nửa đầu thế kỷ XX là thời gian mở mang, kiến thiết và xây dựng lại các nhà thờ tại Láng Mun (Tân Hội ngày nay), Phước Thiện, Cây Vông, Đại Điền, Mỹ Hoán, Vạn Giã… Đồng thời, khi con số giáo dân ngày càng tăng nhanh, nhiều giáo xứ mới đã được hình thành như Hộ Diêm, Gò Đền, Thanh Điền, Hòa Tân… Sau khi hiệp đinh Genève được ký kết (20.07.1954), hàng chục ngàn giáo dân từ khắp nơi đã di cư đến Khánh Hòa, thêm nhiều giáo xứ mới được thành lập ở Nha Trang và Cam Ranh như Phước Hải, Thanh Hải, Bắc Thành, Ba Làng, Tân Bình, Phú Nhơn, Xuân Ninh… Có thể nói, 300 năm lịch sử đã từng bước tạo nên nền móng vững chắc cho sự ra đời của giáo phận Nha Trang ngày nay.

Giáo phận Nha Trang được thành lập và trở thành giáo phận chính tòa

Với sắc chỉ Crescit Laetissimo ký ngày 5.7.1957, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã ấn định lấy 3 tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận (thuộc giáo phận Qui Nhơn) và Bình Thuận (thuộc giáo phận Sài Gòn) để thành lập giáo phận Tông Tòa Nha Trang. Tân giáo phận được cắt đặt dưới sự cai quản của Đức cha Marcellô Piquet Lợi, nguyên Giám mục giáo phận Tông Tòa Qui Nhơn từ năm 1943. Lễ Chúa Lên Trời, 15.5.1958, Đức ông Giuse Caprio, Nhiếp chính Khâm sứ Tòa Thánh đã chủ sự nghi thức thành lập giáo phận Tông tòa theo luật định. Ngày 24.11.1960, hàng giáo phẩm Việt Nam được thành lập. Giáo phận Tông tòa Nha Trang trở thành giáo phận chánh tòa. Do đó, ngày 23.6.1961 Đức cha Piquet nhận Tòa tại nhà thờ Chánh tòa Kitô Vua, Nha Trang.

Từ khi được thành lập, giáo dân trong giáo phận đã gia tăng nhờ những giáo xứ mới thiết lập vào những năm 1965-1975 do cuộc chiến ở miền Trung và những giáo xứ ở vùng sâu vùng xa từng là khu kinh tế mới sau năm 1975. Đến nay, hầu hết các thành phố, thị xã và huyện của hai tỉnh Khánh Hòa  và Ninh Thuận đều có các nhà thờ và một số cộng đoàn dòng tu. 

Địa lý

Giáo phận Nha Trang hiện nay gồm hai tỉnh: Khánh Hòa và Ninh Thuận, vì phần đất tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy được cắt khỏi giáo phận để thành lập giáo phận Phan Thiết vào ngày 30.1.1975. Phía đông giáp Biển Đông, Bắc giáp giáo phận Qui Nhơn (tỉnh Phú Yên), Tây Bắc giáp giáo phận Ban Mê Thuột (tỉnh Đăk Lăk), Tây Nam giáp giáo phận Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), và phía Nam giáp giáo phận Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận).

Dọc theo bờ biển vùng duyên hải Nam Trung bộ, giáo phận Nha Trang kéo dài khoảng 495km với hơn 200 đảo lớn nhỏ và nhiều vịnh biển đẹp. Đất đai hai tỉnh chiếm khoảng 85% là đồi núi và đồng bằng ven biển chỉ chiếm khoảng 15%.

Theo thống kê Tòa Thánh hiện nay, diện tích của giáo phận Nha Trang là 9.486.25 km2. Tuy nhiên, diện tích của hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận theo Tổng cục Thống kê Việt Nam là 8.576 km2. Lý do của sự khác biệt này là vì diện tích tỉnh Khánh Hòa có thay đổi sau năm 1975. Năm 1959 quận Khánh Dương (tỉnh Khánh Hòa) được thành lập từ một phần đất của quận M’Drăk (tỉnh Đăk Lăk) nhưng sau năm 1975, quận Khánh Dương được cắt khỏi tỉnh Khánh Hòa và sáp nhập vào huyện Krông Păk và nay là huyện M’Dăk thuộc tỉnh Đăk Lăk.

Dân số

Tính đến năm 2017, tổng dân số là 1.859.765 người trong đó có khoảng 200.000 người thuộc 31 dân tộc: Chăm (khoảng 70.000 người), Ralay (khoảng 110.000 người), Hoa, K’ho, Ê-đê, Tày, Nùng, Tring, Chu ru…

Theo thống kê (2017), số giáo dân Công giáo là 220.000 tín hữu, trong đó có khoảng 11.000 giáo dân người dân tộc thiểu số, tại 9 giáo hạt và 110 giáo xứ. Giáo dân nhiệt thành trong đời sống đạo với cuộc sống làm ăn tương đối ổn định, tuy nhiên cũng có một số người trẻ và trung niên ở tỉnh Ninh Thuận phải đi làm ăn xa ở Sài Gòn và những khu công nghiệp thuộc các tỉnh Đồng Nai và Bình Dương.

Hiện nay, giáo phận có một số đoàn thể với số lượng lớn hội viên như: Các Bà mẹ Công giáo, Legio Mariae, Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm, Phan Sinh Tại thế, Thiếu nhi Thánh thể (có 2.113 giáo lý viên) và một số hiệp hội tại thế của dòng tu.

Ngoài ra, còn có các thành viên các Hội đồng Mục vụ giáo xứ phụ giúp các cha quản xứ trong một số công việc điều hành, tổ chức cộng đoàn và các giáo lý viên giúp giảng dạy chương trình giáo lý phổ thông của giáo phận Nha Trang gồm 14 lớp từ Đồng cỏ non (4 tuổi) đến Vào đời (18 tuối).

Dòng tu

Giáo phận có 25 hội dòng, đan viện và tu hội: đan viện Carmel Chúa Kiô Vua Nha Trang (thành lập năm 1960), đan viện Xitô Thánh Mẫu Tâm Mỹ Ca (1934), hai dòng giáo phận là Khiết Tâm Đức Mẹ Nha Trang (1958) và Mến Thánh Giá (MTG) Nha Trang (1955), MTG Qui Nhơn, MTG Huế, MTG Đà Lạt, Carmel Thánh Giuse, Carmel Thánh Tâm, Con Đức Mẹ Đi Viếng, Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, Nữ Vương Hòa Bình, Nữ La San, Đức Bà Truyền Giáo, Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ, Thánh Phaolô Thành Chartres, Con Đức Mẹ Phù Hộ, Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn; các dòng nam: Phanxicô, Chúa Cứu Thế, Ngôi Lời, Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn, La San và hai tu hội đời: Thánh Tâm và Thừa Sai Chúa Giêsu.

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.