CHUẨN BỊ PHỤC SINH

05-04-2023 2,082 lượt xem

Phụng vụ theo từng bước đời Chúa Kitô. Trong Mùa Giáng Sinh, chúng ta biết về sự ra đời nơi hang đá, sự tôn thờ của các mục đồng, sự tàn sát các trẻ em vô tội, cuộc chạy trốn đến Ai Cập, sự tôn thờ của các đạo sĩ, và cuối cùng là sự trở về từ Ai Cập.

Sau đó, chúng ta gặp lại Chúa khi Ngài chịu phép rửa, chúng ta theo Ngài vào sa mạc trong cuộc chay tịnh của Ngài, chúng ta đi với Ngài trong năm thứ nhất và thứ hai trong cuộc đời công khai của Ngài, chúng ta lắng nghe những dụ ngôn của Ngài, chúng ta ngưỡng mộ các phép lạ Ngài làm, chúng ta hiệp thông với Ngài trong cuộc đời lao nhọc và tình yêu truyền giáo của Ngài dành cho chúng ta.

Những tuần Mùa Chay trôi qua. Chúng ta theo Chúa trong sứ vụ tông đồ của Ngài và đã đến lúc, cùng với Mẹ Giáo Hội, chúng ta chiêm niệm các diễn biến đau buồn trong tuần lễ cuối cùng của cuộc đời Ngài trên trần gian.

Chúng ta có thể cảm thấy sự căm hờn của những kẻ thù ghét Đức Kitô càng lúc càng gia tăng. Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, một lần nữa chúng ta sẽ chứng kiến biến cố đáng sợ nhất, đã được các tiên tri và ngay cả chính Chúa Giêsu đã báo trước, thảm kịch đẫm máu trên đồi Canvê.

Mục đích của Mùa Thương Khó là gợi lại ký ức của chúng ta về sự bách hại mà Chúa Giêsu là đối tượng trong suốt cuộc đời công khai của Ngài và đặc biệt là 24 giờ cuối cùng. Nếu Septuagesima (Mùa Bảy Mươi – tuần thứ 3 trước Mùa Chay, hoặc tuần thứ 9 trước Lễ Phục Sinh) hoạt động như sự chuẩn bị từ xa cho Lễ Phục Sinh và Mùa Chay gần nhất, thì hai tuần của Mùa Thương Khó là sự chuẩn bị ngay lập tức.

LỄ LÁ

Rồi đến tuần được gọi trong nghi lễ là “Hebdomada Major” – Tuần Thánh, trong đó chúng ta đồng hành với Chúa từng ngày cho đến tuần cuối cùng của đời Ngài, như đã được tường thuật trong Phúc Âm. Trước tiên, chúng ta cùng với Ngài trong sự khải hoàn khi Ngài vào Thành Thánh Giêrusalem trong Chúa Nhật Lễ Lá.

Ngay sau khi Giáo Hội được giải thoát khỏi hoàng đế Constantine hồi thế kỷ IV, các Kitô hữu bắt đầu cử hành Chúa Nhật Lễ Lá một cách rất ấn tượng ở Giêrusalem. Ngay tại nơi nó đã xảy ra, các bản văn thánh đã được đọc: “Hãy vui mừng, hỡi con gái Sion, kìa Vua của ngươi sẽ đến với ngươi.” Dân chúng trải áo xuống đất và lớn tiếng reo hò: “Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa.” Vị giám mục ngồi trên một con lừa sẽ tiến lên nhà thờ trên Núi Ô-liu, được vây quanh bởi vô số người cầm lá cọ và hát những bài thánh ca vui tươi.

Từ Giêrusalem, sự tái hiện cảnh Chúa Giêsu long trọng bước vào thành thánh được truyền đến Rôma, nơi Giáo Hội đã sớm áp dụng cùng một cách thực hành. Tuy nhiên, buổi lễ được bắt đầu bằng phần đọc long trọng đoạn Kinh Thánh liên quan cuộc chạy trốn khỏi Ai Cập, do đó nhắc nhở dân Chúa rằng Chúa Kitô là Môsê mới, khi ban cho họ manna thực sự, đang giải thoát họ khỏi Ai Cập tội lỗi và nuôi dưỡng họ bằng Thánh Thể.

Khoảng thế kỷ IX, Giáo Hội đã thêm một nghi thức mới. Những lá cọ mà mọi người sẽ cầm trên tay khi họ tháp tùng giám mục của họ đã được làm phép một cách trọng thể. Chúng ta chứng kiến một số phép lành đặc biệt long trọng này dịp Lễ Hiển Linh, Lễ Nến, và Thứ Tư Lễ Tro. Một lần nữa, các bản văn này chứa đựng rất nhiều ý tưởng tốt lành để suy ngẫm, các gia đình nên cùng đọc với tinh thần cầu nguyện.

Từ Rôma, ý tưởng tái hiện cuộc khải hoàn của Chúa vào Thành Thánh Giêrusalem đã lan rộng khắp thế giới Kitô giáo. Thời Trung Cổ, các tín hữu và giáo sĩ gặp nhau tại một nhà nguyện hoặc một ngôi đền bên ngoài thị trấn, nơi những lá cọ được làm phép, và từ đó di chuyển thành đám rước long trọng đến nhà thờ lớn. Chúa Giêsu được đại diện bởi giám mục cưỡi lừa, hoặc bằng Mình Thánh Chúa do nhà vua khiêng, hoặc bởi một cây Thánh Giá được vác đi phía trước. Ở một số làng tại Áo, người ta rước tượng Chúa Kitô ngồi trên một con lừa bằng gỗ.

Các Kitô hữu có bản năng không sai lầm về hiệu quả của những bí tích được làm phép long trọng đó, giống như khi họ mang về nhà nước và nến thánh trong Lễ Hiển linh, họ cũng sẽ mang về nhà những lá cọ được làm phép. Ngày xưa, đó là chức năng tỉ mỉ của “phụng vụ tại gia.” Khi không có cây cọ ở Áo, người ta dùng cành lá xanh và cành liễu, vì lúc đó là những thứ đầu tiên của mùa xuân.

Giống như tất cả các gia đình người Áo khác sống ở nông thôn, người ta làm nhiều bó hoa nhỏ tùy theo sự phân chia trên khu đất của họ – một cho vườn rau, một cho vườn cây ăn quả, một cho vườn hoa, một cho mỗi đồng cỏ và một cho mỗi khu vực cánh đồng. Mỗi bó hoa nhỏ này được buộc vào một cái cây cao khoảng 1 mét. Bên cạnh đó, có rất nhiều cành liễu được đặt sau những tấm hình ở xung quanh nhà.

Những bó hoa này được tô điểm bằng những dải băng màu hoặc những miếng vải nhuộm. Những đứa trẻ đem những bó hoa đó vào nhà thờ, và trong khi làm phép, các em giơ cây gậy của mình lên cao nhất để đón lấy nước phép rảy lên cây. Những bó hoa được đem theo trong một cuộc rước phụng vụ và sau đó được đem về nhà. Buổi chiều, cả gia đình sẽ theo người cha đi khắp nhà và khắp sân, và ông sẽ đặt những cây gậy với bó hoa đã làm phép ở quanh sân như phương tiện bảo vệ tài sản khỏi ảnh hưởng của ma quỷ, tránh bị thiệt hại do mưa đá và lũ lụt.

Trong khi gia đình di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, họ đọc Kinh Mân Côi, xen vào giữa các chục kinh là các bài thánh ca “Pueri Hebraeorum” và “Gloria, Laus et Honor.” Vào Chúa Nhật Phục Sinh, gia đình sẽ thăm lại những cây gậy này, đem theo những chai nhỏ chứa đầy Nước Phục Sinh (nước được làm phép long trọng vào Lễ Phục Sinh) và buộc những chai nước nhỏ này vào cây, như thêm một bí tích khác vậy.

TUẦN THÁNH

Theo truyền thống lâu đời, ba ngày đầu tiên của Tuần Thánh – Thứ Hai, Thứ Ba và Thứ Tư – được dành riêng cho việc dọn dẹp mùa xuân. Vào những ngày trước khi máy hút bụi được phát minh, đó là công việc ngoạn mục: ghế sofa, ghế bành và tất cả nệm sẽ được mang ra khỏi nhà và đập bằng máy đập thảm. Những bức tường bị phủi bụi, rèm cửa đã được thay – sự xáo trộn toàn diện trong nhà. Có rất ít thời gian để nấu ăn, và các bữa ăn được làm từ thức ăn còn thừa.

Tối Thứ Tư, ngôi nhà trông thật khang trang. Và đến lúc Feierabend (Feier + Abend) bắt đầu. Feierabend là một từ không thể dịch sát nghĩa. Nó thực sự có nghĩa là canh thức – buổi tối trước một bữa tiệc, buổi tối trước Chúa Nhật, khi công việc kết thúc sớm hơn bất kỳ ngày nào khác trong tuần để có thời gian ăn mừng. Chữ Feier có nghĩa là “ăn mừng,” chữ Abend có nghĩa là “buổi tối.” Từ lúc đó tới Thứ Ba sau Lễ Phục Sinh, không làm bất cứ công việc không cần thiết nào. Những ngày này được dành riêng cho Chúa mà thôi.

Ngày Thứ Tư, với tất cả sự hài lòng vì ngôi nhà của chúng tôi đã yên bình, và sau khi các món ăn của bữa tối đơn giản đã hoàn thành sớm, người ta đi xuống nhà thờ làng ở Stowe để dự lễ Tenebrae đầu tiên. Trong cung thánh, người ta đặt một chân đèn hình tam giác bằng sắt lớn, với mười lăm cây nến đen. Mọi người vào vị trí trong dàn đồng ca, và phần Kinh Sáng được long trọng bắt đầu.

Đó là phần đầu tiên của Kinh Thần Vụ, được các linh mục và tu sĩ đọc hằng ngày trên khắp thế giới, kể từ thời sơ khai của Giáo Hội. Trong các tu viện và nhiều nhà thờ, kinh này được đọc chung. Có thể nói rằng vào những ngày cuối cùng của Tuần Thánh, kinh này được thể hiện chung – không chỉ ở các nhà thờ chính tòa mà ở bất kỳ nhà thờ nào, để các tín hữu có thể tham gia.

Đó là niềm vinh dự lớn nhất đối với chúng ta, gia đình ca hát, phần thưởng lớn nhất cho tất cả những khó khăn xảy ra với cuộc sống nơi công cộng, rằng mọi người có thể hát Kinh Thần Vụ trong nhà thờ.

Giáo Hội theo dõi chặt chẽ các cuốn sách nhỏ có toàn bộ nghi lễ thờ phượng mà chúng ta hát bằng tiếng Latinh và được trình bày bằng tiếng bản xứ. Đó là nghi lễ buổi tối cảm động nhất trong cả năm. Khi chúng ta hát bài “Tenebrae Factae Sunt,” một sự im lặng đáng sợ bao trùm toàn bộ nhà thờ, và khi hát bài “Improperia: Popule meus” nổi tiếng của Palestrina, tất cả mọi người đều xúc động sâu sắc.

Thật đau lòng khi nghe tiếng kêu gào của Đấng Cứu Độ trong khi lo lắng: “Hỡi dân Ta, Ta đã làm gì cho ngươi, hay Ta đã làm phiền ngươi điều gì, hãy trả lời Ta đi. Ta còn phải làm gì cho ngươi mà Ta chưa làm?”

Maria Augusta Von Trapp - https://catholicexchange.com
Trầm Thiên Thu chuyển ngữ

CHÚA GIÊSU Ở ĐÂU GIỮA SỰ CHẾT và PHỤC SINH? 

Trong khoảng thời gian từ khi Chúa Giêsu chịu chết vào 3 giờ chiều thứ Sáu tới khi Ngài sống lại vào đầu ngày Chúa Nhật Phục Sinh, Ngài ở đâu? Cả Kinh Thánh và Tông Truyền đều trả lời câu hỏi này. Hãy cân nhắc vài điều sau đây:

1. TRÍCH TỪ BÀI GIẢNG CỔ VỀ THỨ BẢY TUẦN THÁNH, KHOẢNG THẾ KỶ II

Sự im lặng bao trùm trái đất, vô cùng lặng lẽ và tĩnh mịch. Tĩnh lặng vì Vua đang yên giấc. Trái đất run sợ và tĩnh lặng vì Thiên Chúa yên nghỉ trong nhục thể và Ngài đã phục sinh những người đã chết từ khi thế giới khởi sự… Ngài đã đi tìm Ađam, thân phụ của chúng ta, như con chiên thất lạc. Ước muốn thăm những người sống trong bóng tối của sự chết, Ngài đã trả tự do cho Ađam và Êva. Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là Con của Eva…

Không gì đẹp hơn những từ được nói với Ađam và Êva: “Ta là Thiên Chúa của các ngươi, Đấng vì các ngươi mà trở nên Con của các ngươi… Ta ra lệnh cho các ngươi, hỡi những người còn ngủ mê, hãy trỗi dậy. Ta không tạo dựng các ngươi để bị giam cầm trong hỏa ngục. Hãy trỗi dậy từ cõi chết, vì ta là sự sống của kẻ chết.”

2. KINH THÁNH CHỨNG TỎ CHÚA GIÊSU ĐI GẶP KẺ CHẾT và NHỮNG GÌ NGÀI ĐÃ LÀM

“Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi – Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương – hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh… Chính vì thế mà Tin Mừng đã được loan báo ngay cho cả những kẻ chết, để tuy bị phán xét về phần xác theo cách nhìn của loài người, họ được sống về phần hồn theo ý định của Thiên Chúa.” (1 Pr 3:18; 1 Pr 4:6)

3. CÂN NHẮC ĐOẠN VĂN NÓI VỀ VIỆC CHÚA GIÊSU GẶP KẺ CHẾT (GLCG, 631-635)

Ý nghĩa có trong bài giảng về việc Chúa Giêsu xuống Ngục Tổ Tông vì Chúa Giêsu, cũng như mọi người, đã trải qua sự chết và linh hồn Ngài kết hợp với người khác trong thế giới của người chết.

Nhưng Ngài xuống đó với tư cách là Đấng Cứu Độ, công bố Tin Mừng cho những vong linh bị giam cầm ở đó. (1 Pr 3:18-19; 1 Pr 4:6; Dt 13:20) Kinh Thánh gọi đó là nơi ở của kẻ chết, Đức Kitô tử nạn xuống đó vì những người ở đó bị tước quyền nhìn thấy Thiên Chúa. (1 Pr 3:18-19)

Trường hợp của những kẻ chết là vậy, dù tội lỗi hay công chính, họ mong chờ Đấng Cứu Độ: Chính những linh hồn thánh này đã mong chờ Đấng Cứu Độ của họ… những người mà Chúa Kitô đã giải thoát khi Ngài xuống Ngục Tổ Tông. (x. Tv 89:49; 1 Sm 28:19; Ed 32:17; Lc 16:22-26)

Chúa Giêsu không xuống hỏa ngục để giải thoát những kẻ bị nguyền rủa, cũng không hủy hoại Ngục Tổ Tông mà để giải thoát những người chết trước Ngài.

Thậm chí Tin Mừng cũng được rao giảng cho những người chết. (1 Pr 4:6) Việc xuống Ngục Tổ Tông đem lại cho Phúc Âm sứ điệp cứu độ để hoàn tất. Đây là giai đoạn cuối của sứ vụ cứu thế của Chúa Giêsu, một giai đoạn được cô đọng đúng lúc nhưng rộng rãi về tầm quan trọng thực tế: sự lan truyền công cuộc cứu độ của Đức Kitô đối với mọi người ở mọi thời đại và mọi nơi, để những người được cứu đều được thông phần Ơn Cứu Độ.

Đức Kitô chịu chết để “kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Thiên Chúa, và ai nghe thì được sống.” (x. 1 Pr 4:6) Chúa Giêsu, “tác giả của sự sống,” bằng cái chết, Ngài đã hủy diệt sức mạnh của tử thần – tức là ma quỷ, và những người qua nỗi sợ của sự chết được khuất phục mãi mãi. (x. Ga 5:25; Mt 12:40; Rm 10:7; Ep 4:9)

Do đó, Chúa Kitô Phục Sinh nắm giữ “chìa khóa của tử thần và hỏa ngục,” (Kh 1:18) để “khi nghe tên Giêsu, mọi gối phải bái quỳ, cả trên trời, dưới đất và hỏa ngục.” (x. Pl 2:10; Dt 2:14-15; Cv 3:15)

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ từ Archdiocese of Washington

SỰ KHÔN NGOAN và SỨC MẠNH của THẬP GIÁ

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.