Ước chi niềm khao khát của con cho Ngài vượt tầm với của con

20-07-2024 2,692 lượt xem

Hình: the Papal Visit - Pope Benedict XVI in the UK

Tựa gốc: May My Hunger for You Far Exceed My Reach
Tác giả: Rachel Bulman
Trên trang: Word on Fire, ngày 03.07.2024
Chuyển ngữ: M. Duy Ân
 
Khi còn là một thiếu nữ, tôi đã dấn thân sâu vào Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Tôi từng đứng ra làm người hướng dẫn thờ phượng, chia sẻ tại các nhóm thanh thiếu niên, dấn thân trong các chuyến đi truyền giáo, và còn nhiều nữa. Có một cuốn sách đã mê hoặc tôi. Đó là Godchasers (tạm dịch: Những kẻ theo đuổi Thiên Chúa) của Tommy Tenney. Nó kể về một cuộc phục hưng xảy ra trong một hội thánh, noi mà sự hiện diện của Chúa nặng nề đến nỗi mọi người phải thực sự tấp vào nhà thờ và lang thang trong đó mà không hoàn toàn ý thức được vì sao họ cảm thấy muốn làm như vậy. Họ chỉ biết rằng bất cứ thứ gì ở trong nhà thờ đó là đều là thứ họ cần.

Ngoài lời chứng thuyết phục, còn có một đoạn văn rất hấp dẫn: “Lạy Chúa, ước gì sự khao khát Ngài của con vượt quá tầm với của con”. Và đến hôm nay tôi vẫn mang theo lời cầu nguyện đó.

Tôi chưa bao giờ có thể tưởng tượng được: một đứa con đầy nhiệt huyết của một ông mục sư, đứa con của truyền giáo, một thiếu nữ Tin Lành nhiệt thành. Lại chứng kiến mình ở giây phút hiện tại này. Dẫu vậy, tôi biết rằng, chính Bí tích Thánh Thể đã dẫn tôi đến nơi đây.

Đó là một buổi sáng Lễ Phục Sinh, và tôi không biết điều gì sẽ xảy ra. Thánh Lễ bắt đầu lúc 11 giờ sáng. Khi chúng tôi bước vào đó khoảng 11 giờ 55, chúng tôi thấy mình đang ở phía sau gác đàn (gác/tầng dành cho ca đoàn trong nhà thờ). Đủ cao để không thể nhìn thấy bất cứ điều gì đang xảy ra bên dưới. Tôi chẳng nhớ bài thánh ca nào đã được hát, nhưng tôi nhớ tiếng leng keng của bình hương và mùi trầm hương. Tôi nhớ các cử chỉ đồng loạt của cả nhà thờ: đứng lên, ngồi xuống, quỳ gối. Và tôi nhớ nhất hết thảy chính là Phụng Vụ Thánh Thể.

Sự im lặng đầy ẩn ý này tràn ngập nơi đây khi Phụng Vụ Thánh Thể bắt đầu. Chuông lại rung, và khói hương lại bay nghi ngút khắp thánh đường đến tận xà nhà. Tôi đã bị choáng ngợp. Trong giây phút đó, tôi không hiểu vì sao lòng tôi lại thấy bình yên quá đỗi, vui mừng đến thế. Tôi thu nhận tất cả những điều đó vào tâm.

<< Khao khát Chúa Kitô. Hãy đến với Chúa Kitô. >>

Khi Thánh Lễ kết thúc, tôi leo lên xe bạn trai và chúng tôi cùng đến nhà ba mẹ anh ấy để ăn tối Lễ Phục Sinh, cách đó 10 phút lái xe ngắn ngủi. Tôi không nói một lời nào. Trong tâm trí, tôi nghĩ mình vẫn đang ngồi trên ghế và ghi nhớ toàn bộ Thánh lễ vào lòng. Và khi chúng tôi đến đường lái xe vào nhà bố mẹ anh ấy, bạn trai tôi không thể chịu đựng được sự im lặng nữa. Khi chúng tôi ra khỏi xe, anh ấy nói: “Được rồi. Chuyện gì đang xảy ra vậy? Em đã không nói một lời nào kể từ khi chúng ta rời nhà thờ. Em có ghét nó không? Không lẽ chúng ta chia tay hả?”

Một vài tuần trước đó, chúng tôi đã có một cái gọi là thỏa thuận với nau. Sau khi nhận ra rằng có một khoảng cách lớn giữa đức tin Công Giáo của anh ấy và đức tin Tin Lành của tôi, sáu từ nhỏ đã đặt ra cho chúng tôi sứ mệnh này: “Hai ta đều không thể đúng”. Những lời mà tôi đã nói ra mà không vội vàng hay lo lắng, giờ đây tôi thấy rõ đó là công việc của Chúa Thánh Thần. Chúng tôi quyết định đến nhà thờ của nhau, đọc vài cuốn sách và tìm kiếm lời khuyên.

Và chúng tôi ở đó, ngay trước lề đường nhà ba mẹ anh ấy, tôi chưa hề nói một lời nào. Còn anh thì nóng lòng muốn biết điều gì làm tôi im lặng. Anh hỏi: “Chuyện gì đang xảy ra vậy?”

Mắt tôi bắt đầu rưng rưng, và tôi trả lời: “Em tìm thấy nhà rồi. Em không biết đó là gì, nhưng em đã tìm thấy tất cả những gì trái tim em đã hằng mong đợi, trong Thánh Lễ đó.”

Cảm tưởng rằng tôi đã trên hành trình tìm kiếm tâm linh suốt cuộc đời mình, chẳng biết mình đang tìm kiếm điều gì. Biết rằng đó là Chúa nhưng cũng biết rằng những gì tôi đã khám phá bấy lâu nay vẫn chưa đủ. Lớn lên, tôi là một thành viên ở một vài nhà thờ xinh đẹp. Tất cả họ đều tập trung cao độ vào Thánh Kinh như nguồn lẽ thật duy nhất, và hầu hết các buổi thờ phượng đều bao gồm nhạc sống, lời kêu gọi ăn năn xám hối, cầu nguyện, và một bài giảng. Thế nhưng tôi vẫn thấy mình đang có một câu hỏi rất sâu xa: “Liệu có thể được gần Chúa hơn thế này nữa không?” Không chỉ là gần hơn về mặt linh thiêng, vì điều đó dường như chưa đủ, mà còn gần gũi về thể lý hơn và hữu hình hơn. Tôi cần một thứ gì đó tôi có thể chạm lấy. Đó là câu hỏi đã luôn lơ lửng trong đầu tôi. Nó đã được giải đáp trong Thánh Lễ ngày hôm đó.

Trong Tông Huấn Sacramentum Caritatis (Bí Tích Tình Yêu), mục 35, viết rằng:

<< Phụng vụ vốn có mối liên hệ với cái đẹp: đó là ánh rạng ngời chân lý (veritatis splendor). Phụng vụ là ánh rạng ngời của mầu nhiệm Vượt qua, trong mầu nhiệm này Đức Kitô lôi kéo chúng ta đến với Người và mời gọi chúng ta hiệp thông. Như thánh Bônaventura nói, trong Chúa Giêsu chúng ta chiêm ngắm cái đẹp và ánh rạng ngời tại chính cội nguồn của chúng. Đây không phải là tính thẩm mỹ đơn thuần, nhưng là cách thức cụ thể để chân lý về tình yêu của Thiên Chúa đến với chúng ta, hấp dẫn chúng ta và làm chúng ta hân hoan, khi đưa chúng ta ra khỏi chính mình và hướng chúng ta đến với ơn gọi đích thực của chúng ta: là tình yêu. >>

(bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin, trực thuộc HĐGMVN)

Ngay sau đó, tôi sớm bước vào tình hiệp thông với Giáo Hội, và tôi có thể thực sự làm chứng cho sự hoán cải này. Sự hoán cải bắt đầu trong tâm hồn tôi tại Thánh Lễ đặc biệt đó, và tiếp ở mọi Thánh Lễ kể từ đó trở đi.

Trong Tin Mừng Máccô, một người cha đã đưa con trai mình đến với Chúa Kitô. Con trai ông bị quỷ ám, và người cha nói với Chúa Giêsu rằng điều này đã xảy ra trong nhiều năm. Sau đó, anh ấy nói: “nếu Thầy có thể làm được gì, thì xin chạnh lòng thương mà cứu giúp chúng tôi.”

Đức Giê-su nói với ông ta: “Sao lại nói: nếu Thầy có thể? Mọi sự đều có thể đối với người tin.”

Và lời đáp của người cha đôi khi cũng là lời cầu xin của tôi: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi!” (Mc 9,21-24)

Đó có vẻ như là một sự phân đôi kỳ lạ, khi một mặt thì tuyên xưng niềm tin, và một mặt khác thì van nài sự cứu giúp cho lòng tin yếu kém. Tôi nghĩ đây cũng là lời cầu nguyện được nhiều người Công Giáo ngày nay nói. Khi nhìn lên Mình Thánh, chúng ta phải tin rằng đó là Chúa Kitô, nhưng để tin thì đòi hỏi phải có một mức độ đau khổ nhất định, một lời kêu gọi thay đổi cách chúng ta sống. Và đó là một nỗi đau khổ mà nhiều người không thể chịu nổi.

Chúa Kitô trong Thánh Thể mang lại cho chúng ta một cuộc gặp gỡ “có vẻ như chưa trọn vẹn”. Ta rước vào người mà ta khao khát muốn bắt chước, và ta cầu nguyện để ngày càng trở nên giống điều chúng ta rước lấy. Chúng ta chạy đến bên bàn thờ với nỗi đau đớn và khao khát, rước Mình Thánh Chúa, và rồi lại bước vào nỗi khao khát và đau đớn với ơn cứu chuộc đang chảy trong huyết quản của mình.

Lời nguyện trong cuốn sách hướng dẫn tâm linh của Tin Lành nói trên vẫn luôn là lời cầu nguyện của tôi cho đến ngày nay: Xin cho sự khao khát của con cho Ngài vượt quá tầm với của con. Cho nên đối với Bí Tích Thánh Thể cũng vậy, Bánh này có thể giúp tôi no thỏa trong chốc lát, nhưng chắc chắn nó đánh thức trong tôi một nỗi khát khao được gần gũi hơn, một sự gần gũi vĩnh cửu mà các thánh gọi là mối phúc. Và khi bạn rước Mình Thánh ở Thánh Lễ tiếp theo, xin cho toàn bộ con người bạn được đổi mới dưới sức nặng vinh quang của Người. Tất cả chúng ta biết rằng trong chúng ta có nhiều người chưa tin vào Sự Hiện Diện Đích Thực. Và thưa anh chị em, đó là gánh nặng chúng ta phải gánh. Vì nếu chúng ta không được biến đổi khi đón nhận Đấng mà chúng ta tuyên xưng hiện diện dưới hình bánh, thì làm sao người ta có thể được thuyết phục về sự đổi mới được mời gọi trong đó?

Khao khát Chúa Kitô. Hãy đến với Chúa Kitô. Và xin cho cơn khao khát của chúng ta vượt quá tầm với của chúng ta đến nỗi cả cuộc đời chúng ta sẽ hướng về cõi vĩnh hằng trong Chúa. Để cuối cùng chúng ta có thể được no thỏa với lương thực chúng ta hằng mong ước.

CHẦU THÁNH THỂ CHÚA

Image: istockphoto

Đối với những người Công giáo sùng đạo, không có gì thân mật và tôn thờ hơn là rước lễ – lãnh nhận Thánh Thể, Mình Máu Chúa Kitô.

Trong bí tích tuyệt vời này, chúng ta cảm nghiệm và kết hợp với Chúa Giêsu. Mẹ Giáo Hội từ lâu đã cung cấp cho chúng ta những cách sùng kính nhằm mở rộng sự kiện kỳ ​​diệu này ra ngoài phạm vi Thánh Lễ. Việc sùng kính như vậy thường được gọi là Chầu Thánh Thể.

Trong 300 năm đầu của Kitô giáo, không có hoạt động Chầu Thánh Thể nào có tổ chức và riêng biệt ngoài các buổi thờ phượng Chúa Nhật. Sau khi hoàng đế Constantine chấm dứt cuộc đàn áp các Kitô hữu năm 313 sau công nguyên, việc xây dựng các nhà thờ bắt đầu và Bí tích Thánh Thể dành riêng cho người bệnh được lưu giữ trong nhà thờ và thường được bảo quản trong phòng áo. Trong nhiều thế kỷ tiếp theo, Bí tích Thánh Thể được di dời ra khỏi phòng áo và được cất giữ ở những vị trí xung quanh và phía trên bàn thờ. Mặc dù không nhất thiết phải có mục đích vào thời điểm đó, nhưng điều này khuyến khích việc cầu nguyện riêng trước sự hiện diện của Mình Thánh Chúa được lưu giữ.

NGẮM NHÌN CHĂM CHÚ

Thời Trung Cổ, thói quen phát triển về việc mọi người rước lễ ít thường xuyên, và Giáo Hội cuối cùng đã ra lệnh rằng mọi người phải rước lễ ít nhất mỗi năm một lần. Để phản ánh thêm những thái độ đang thay đổi này, các bàn thờ đã được chuyển ra khỏi cộng đoàn, trong một số nhà thờ có các tấm bình phong đặt giữa cung thánh và gian giữa như thể để tách chủ tế với giáo dân.

Việc tách biệt về thể lý khỏi các hoạt động xung quanh bàn thờ và không thường xuyên rước lễ đã dẫn đến hiện tượng “chầu Thánh Thể bằng cách nhìn chăm chú” – nghĩa là người ta tôn thờ Thánh Thể bằng cách nhìn Thánh Thể thay vì rước Mình Máu Chúa Kitô. Việc người ta không rước lễ không có nghĩa là họ không tin vào sự Hiện Diện Thật của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể.

Thật vậy, những người tham dự Thánh Lễ đặc biệt chú ý đến những khoảnh khắc linh mục nâng cao Mình Thánh Chúa, và mọi người đến tham dự Thánh Lễ sớm để tìm những vị trí thuận lợi để thấy linh mục cầm Mình Thánh Chúa. Do cấu trúc của nhà thờ và việc sử dụng tiếng Latinh, nên thường rất khó để nhìn và hiểu những gì đang diễn ra nơi bàn thờ. Do đó, việc nâng cao được bắt đầu bằng tiếng chuông báo hiệu Mình Thánh Chúa được nâng lên. Các tín hữu hào hứng di chuyển xung quanh để xem sự kiện trọng đại này.

Thông thường người ta tôn thờ Mình Thánh Chúa tại một nhà thờ và sau đó đến tham dự Thánh Lễ ở một nơi khác để chiêm ngưỡng Thánh Thể một lần nữa. Nhiều sử gia Giáo Hội chỉ ra thời kỳ này, khi có thêm việc nâng cao Thánh Thể, là thời điểm bắt đầu cho việc Chầu Thánh Thể, kéo dài và chiêm ngưỡng Mặt Nhật sớm nhất.

LỄ MÌNH MÁU THÁNH

Lễ trọng kính Mình Máu Chúa Kitô bắt đầu từ thế kỷ XIII. Khoảng năm 1209, Thánh Juliana, một nữ tu ở tu viện gần Liege, Bỉ, đã có một loạt thị kiến, ​​trong đó Chúa Giêsu yêu cầu nữ tu này cổ vũ việc thành lập một lễ đặc biệt nhằm tôn vinh và tôn thờ Thánh Thể Ngài. Hai mươi năm sau, Nt Juliana kể với giám mục địa phương, ĐGM Robert de Thorete (hoặc Torote), về những thị kiến của bà.

Mặc dù ý tưởng ban đầu gặp phải một số do dự, nhưng năm 1246, ĐGM Thorete đã ra lệnh cử hành Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô trong toàn giáo phận. Năm 1264, ĐGH Urban IV (triều đại 1261-1264) đã ban hành sắc lệnh chỉ thị rằng ngày lễ này phải được cử hành hàng năm trong toàn thể Giáo Hội hoàn vũ. Mặc dù ĐGH Urban qua đời trước khi chỉ thị được ban hành, nhưng cuối cùng ngày lễ cũng đã được thêm vào lịch Giáo Hội trên toàn thế giới từ năm 1317 dưới triều đại của ĐGH Gioan XXII (1316-1334).

Ban đầu, việc rước kiệu không phải là một phần của ngày lễ nhưng mau chóng trở thành thực tế. Giáo dân vẫn hiếm khi rước lễ, và vẫn tiếp tục việc thờ kính bằng cách chiêm ngưỡng Thánh Thể.

Một cách để kéo dài thời gian nhìn và thể hiện lòng tôn kính của họ là rước Mình Thánh Chúa trong cuộc rước kiệu ngày Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Một số cuộc rước kiệu này bắt đầu ở Âu châu vào thế kỷ XIV, có sự tham gia của giáo dân và giáo sĩ đi phía sau giám mục cầm Mặt Nhật có Mình Thánh Chúa. Đầu những năm 1300, các cuộc rước Mình Thánh Chúa được kết thúc bằng phép lành. Đến năm 1600, Giáo Hội ban hành hướng dẫn chi tiết về việc thực hiện phép lành. Ngày nay, hầu hết các việc sùng kính Thánh Thể thường kết thúc bằng phép lành. Những cuộc rước Mình Thánh Chúa công khai này, đặt Mình Thánh Chúa bên ngoài Nhà Tạm, là tiền thân của việc sùng kính Bốn Mươi Giờ.

BỐN MƯƠI GIỜ

Lịch sử Giáo Hội chỉ ra rằng các Kitô hữu thế kỷ XII nằm trong số những người đầu tiên giữ việc canh thức cầu nguyện 40 giờ và đã làm như vậy trong Tam Nhật Phục Sinh. Bốn mươi giờ là thời gian Chúa Giêsu nằm trong mộ. Ít chắc chắn về việc Mình Thánh Chúa có được trưng bày trong các buổi canh thức hay không. Việc đặt Mình Thánh Chúa ngoài Thánh Lễ, điều mà ngày nay chúng ta gọi là Chầu Thánh Thể – nghĩa là lấy Mình Thánh Chúa từ Nhà Tạm và đặt trên bàn thờ trong một thời gian – có thể bắt nguồn từ thế kỷ XVI. Năm 1537, Giáo Hội và tín hữu ở Milan, Ý, bắt đầu cử hành 40 giờ cầu nguyện vào những thời điểm khác ngoài Tam Nhật Thánh.

Khi việc sùng kính kết thúc ở một nhà thờ, Mình Thánh Chúa được rước đến một nhà thờ khác, Thánh Thể sẽ được trưng bày trên bàn thờ trong 40 giờ cầu nguyện nữa, sau đó tiếp tục đem đến nhà thờ khác,...

Cuộc xâm lược được tiên đoán của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ vào Ý vào năm 1541 đã khiến ĐGH Phaolô III (triều đại 1534-1549) ban hành một ân xá cho GP Milan, một phần có nội dung: “Đức Tổng Giám Mục Milan, theo lời cầu nguyện của cư dân Milan,” thành phố nói trên, để xoa dịu cơn giận của Chúa bởi hành vi phạm tội của những người theo Kitô giáo, để vô hiệu hóa những nỗ lực và mưu đồ của người Thổ Nhĩ Kỳ đang thúc đẩy sự hủy diệt của Kitô giáo, cùng với các thực hành đạo đức khác, đã thành lập một một loạt các lời nguyện và nài xin được dâng lên suốt ngày đêm bởi tất cả các tín hữu của Chúa Kitô, trước Mình Thánh Chúa, trong tất cả các nhà thờ của thành phố Milan, theo cách mà các tín hữu thực hiện những lời cầu này, họ thay phiên nhau tiếp tục trong 40 giờ liên tiếp ở mỗi nhà thờ.”

Lòng sùng kính này, đặc biệt là sau cuộc nổi dậy của Tin Lành vào thế kỷ XVI, đã mau chóng lan rộng khắp Âu châu, bao gồm cả Rôma, nơi mà năm 1592, ĐGH Clement VIII đã ban hành sắc lệnh “Graves et Diuturnae” bắt buộc phải tuân giữ liên tục việc sùng kính Bốn Mươi Giờ trong dịp Lễ Phục Sinh tại các nhà thờ ở Rôma. Sau đó, ĐGH Clement XI (triều đại 1700-1721) và ĐGH Clement XII (triều đại 1730-1740) đã ban hành các hướng dẫn và chữ đỏ, hầu hết vẫn được sử dụng, trình bày chi tiết việc sùng kính Bốn Mươi Giờ.

Năm 1853, Thánh John Neumann giới thiệu lòng sùng kính này tới Hoa Kỳ. Giáo Luật năm 1917 yêu cầu tất cả các giáo xứ hàng năm cử hành Bốn Mươi Giờ Chầu, nhưng vào năm 1983 đã thay đổi, và ngày nay giáo luật chỉ khuyến khích việc chầu Mình Thánh Chúa hàng năm. Giờ chầu và cử hành Thứ Sáu Đầu tháng là sản phẩm của Bốn Mươi Giờ.

Trong số những việc sùng kính Thánh Thể được chúng ta thực hành nhiều nhất là cầu nguyện trước Nhà Tạm. Là người Công Giáo, chúng ta có thể bước vào bất kỳ nhà thờ Công Giáo nào, nhìn thấy đèn đỏ, rồi thầm cầu nguyện, tôn vinh và tôn thờ Sự Hiện Diện Thật của Chúa Giêsu trong Bí tích Cực Thánh.

Trước mỗi Thánh Lễ, chúng ta suy nghĩ về Chúa Giêsu Thánh Thể trong Nhà Tạm, sau Thánh Lễ chúng ta ở lại cầu nguyện trước Thánh Thể, và khi ra khỏi tòa giải tội, chúng ta thường đọc lời nguyện sám hối gần Nhà Tạm. Có sự đồng ý chung giữa các chuyên gia Giáo Hội rằng việc tôn thờ Thánh Thể trong Nhà Tạm bắt đầu vào cuối thế kỷ XI hoặc đầu thế kỷ XII.

CHẦU LIÊN TỤC

Việc chầu liên tục 24 giờ suốt ngày đêm trước khi Mình Thánh Chúa có thể được bắt nguồn từ Giáo Hội Tây phương đến thế kỷ VI. Sau đó nó được gọi là “ca ngợi liên tục” và được tìm thấy chủ yếu ở các tu viện hoặc cộng đoàn tu trì. Trong số những địa điểm sớm nhất là nhà thờ chính tòa ở Lugo, Tây Ban Nha, nơi việc cầu nguyện trước Thánh Thể đã diễn ra liên tục trong hơn 1.000 năm.

Năm 1226, Vua Louis VIII của Pháp, tại nhà nguyện Holy Cross ở Avignon, đã đưa ra việc tôn thờ liên tục như một lời tạ ơn vì những nỗ lực thành công của ông nhằm chấm dứt tà giáo Albigensian. Nhóm lạc giáo này bác bỏ đạo Công giáo nói chung và sự Hiện Diện Thật của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể nói riêng. Người dân Avignon liên tục cầu nguyện ngày đêm trong nhà nguyện Holy Cross trong 500 năm tiếp theo.

Mặc dù lịch sử Giáo Hội xác định một số nhóm tôn giáo và địa điểm nơi việc tôn thờ liên tục đã được thực hiện, nhưng phải đến một thời gian nào đó giữa thế kỷ XV và XVI, việc tôn thờ này mới mở rộng cả hoàn vũ.

Trong số những người Công giáo đáng chú ý ở thế kỷ XIX ủng hộ việc tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh Lễ, đặc biệt là việc chầu liên tục, có Thánh Phêrô Julian Eymard (1811-1869), Tông Đồ Thánh Thể.

Thánh Phêrô Julian Eymard đã ủng hộ việc chầu Thánh Thể liên tục và thành lập các dòng nam và dòng nữ chuyên tâm thờ phượng và tôn vinh Thiên Chúa qua Bí tích Cực Thánh. Từ những nỗ lực ban đầu này, việc chầu liên tục đã mở rộng đến các giáo xứ, và các nhà nguyện trên khắp thế giới.

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.