SUY NIỆM TAM NHÂT TUẦN THÁNH
(Xh 12,1-8. 11-14; 1 Cr 11,23-26; Ga 13,1-15)
“Mùa Chay là mùa ăn năn thống hối, cầu nguyện, bố thí, mùa chịu nạn, thương khó, chuẩn bị cho các tín hữu sẵn sàng cử hành mầu nhiệm vượt qua sau thời gian tiếp cận, gần gũi hơn với Lời Chúa và nồng nhiệt hơn trong sự cầu nguyện” (Hiến chế về Phụng vụ Thánh “Sacrosanctum concilium”, số 109). Trong Sứ điệp Mùa Chay 2017, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô viết: “Mùa Chay dẫn đưa chúng ta vào một cuộc hành trình thực sự của hoán cải, qua đó chúng ta có thể tìm lại hồng ân Lời Chúa, được thanh tẩy khỏi những tội lỗi làm mờ mắt chúng ta, và phục vụ Chúa Ki-tô hiện diện nơi những anh chị em cùng quẫn của chúng ta.”
Sang đến Sứ điệp Mùa Chay 2018, ĐTC nhấn mạnh: “Nhất là tôi mời gọi các phần tử của Giáo Hội hãy nhiệt thành tiến bước trên hành trình Mùa Chay, được nâng đỡ nhờ các hoạt động làm phúc bố thí, chay tịnh và kinh nguyện. Nếu đôi khi lòng bác ái dường như bị tắt lịm trong bao nhiêu tâm hồn, thì nó vẫn không bị lịm đi trong con tim của Thiên Chúa! Ngài luôn ban cho chúng ta những cơ hội mới để chúng ta có thể tái bắt đầu yêu thương.” Như vậy, “cuộc hành trình thực sự của hoán cải” chinh là “hành trình Mùa Chay”. Xin được chia sẻ:
Bài Tin Mừng trong Thánh lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh (Ga 13,1-15) trình thuật về “Bữa ăn cuối cùng của Đức Giê-su và các môn đệ”. Cùng đề tài, Thánh sử Mac-cô viết: “Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, các thượng tế và kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Đức Giê-su và giết đi; vì họ nói: “Đừng làm vào chính ngày lễ, kẻo dân chúng náo động.” (Mc 14, 1-2); và Thánh Lu-ca viết: “Khi giờ đã đến, Đức Giê-su vào bàn, và các Tông Đồ cùng vào với Người. Người nói với các ông: "Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa.” Rồi Người nhận lấy chén, dâng lời tạ ơn và nói: "Anh em hãy cầm lấy mà chia nhau. Bởi vì, Thầy bảo cho anh em biết, từ nay, Thầy không còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến khi Triều Đại Thiên Chúa đến." (Lc 22, 14-18).
Như vậy là Đức Giê-su đã không ăn lễ Vượt Qua theo nghi thức Do Thái, mà là muốn nhân dịp này, Người từ biệt các môn đệ để bước vào cuộc Vượt Qua của chính mình. Bữa tiệc lễ Vượt Qua đã trở thành bữa Tiệc Ly. Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giê-su đã làm 2 việc mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc:
1- Rửa chân cho các môn đệ:
“Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.” (Ga 13, 4-5). Sau đó, Người đã giải thích rõ ràng việc làm này: "Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là "Thầy", là "Chúa", điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” (Ga 12, 12-17).
Trong cuộc sống, vấn đề rửa chân chỉ có thể xảy ra khi người chủ hoặc vua chúa quan quyền bắt nô lệ, tôi tớ phục vụ, hoặc những con cháu tỏ lòng hiếu thảo rửa chân cho cha mẹ, ông bà khi các ngài già yếu bệnh tật… Ở đây Đức Giê-su là Thầy là Chúa mà lại quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, không những chỉ dạy cho người thế hiểu được cách sống khiêm tốn phục vụ, mà còn có tác dụng giáo dục về đức Mến (cao trọng nhất trong 3 nhân đức đối thần: Tin, Cậy, Mến). Anh yêu quý bản thân anh, tất nhiên anh muốn thân thể anh phải sạch sẽ. Cả thân thể sạch sẽ mà để đôi chân dơ dáy thì có coi được không? Vì thế, anh sẽ rất siêng năng rửa chân cho bản thân mình. Thiên Chúa lại dạy anh “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi, ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” (Mt 22, 37). Như vậy, để yêu được tha nhân như yêu chính mình (“ái nhân như ái thân”), thì “anh em cũng phải rửa chân cho nhau” là điều đương nhiên rồi.
2- Lập Bí tích Thánh Thể:
Trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: "Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." (1Cr 11, 23-25). Trước đây, trên núi Si-nai, Thiên Chúa đã lập Giao ước và ban bia đá 10 Điều Răn (mến Chúa yêu người) cho Dân Người thông qua ngôn sứ Mô-sê (Xh 24, 12-18), thì giờ đây Đức Giê-su Thiên Chúa lại lập một Giao ước Mới, ban chính Thịt Máu mình làm hy tế Thập Giá cứu độ nhân loại, đồng thời làm của dưỡng nuôi linh hồn đoàn chiên tín hữu đến muôn đời muôn kiếp. Rõ ràng Thiên Chúa, thông qua Con Một Người, lại một lần nữa lập Giao Ước Tình Yêu với toàn thể nhân loại nói chung và cách riêng với những người tin (tín hữu).
Xét cho cùng, cả hai việc Đức Ki-tô thực hiện trong đêm bị nộp đều nói lên Tình Yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, Người luôn luôn mong mỏi con cái sống trọn vẹn trong Tình Yêu cao vời khôn vi đó. Mà nếu con cái của Người biết vâng nghe Lời Người thực hành đúng những điều Người truyền dạy, thì đó chính là sống quây quần đùm bọc lấy nhau, gắn kết với nhau nên một. Hóa cho nên trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giê-su lại muốn các môn đệ, tín hữu “đoàn tụ” yêu thương nhau, như các chi thể hiệp nhất nên một Thân thể Ki-tô ở dưới thế, để rồi sẽ được đoàn tụ với nhau trong Nước Trời mai sau. Lời Đức Giê-su cầu nguyện cùng Chúa Cha (“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta.” – Ga 17, 20-21), cho thấy “những người này” là các Tông đồ và “những ai nhờ lời họ mà tin vào con” chính là những Ki-tô hữu. Nói rõ hơn là những người tin vào Con Thiên Chúa nhờ lời rao giảng của các Tông đồ đã được chính Đức Ki-tô Thiên Chúa cầu nguyện cho.
Như vậy là đã rõ, thông qua bữa ăn cuối cùng để từ biệt các môn đệ, Đức Giê-su Ki-tô lại muốn các môn đệ thực sự đoàn tụ, sống hiệp thông như các chi thể liên kết với nhau nên một thân thể duy nhất mà Đầu là Đấng Cứu Độ. Tóm lại, “Mùa Chay là mùa thuận lợi cho việc đổi mới cuộc gặp gỡ của chúng ta với Chúa Ki-tô, cho việc sống trong lời Ngài, trong các phép bí tích và nơi những người láng giềng của chúng ta. Chúa, là Đấng đã chiến thắng sự lừa dối của tên cám dỗ trong bốn mươi ngày trong sa mạc, chỉ cho chúng ta thấy con đường chúng ta phải đi... Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau để khi chia sẻ trong chiến thắng của Chúa Ki-tô, chúng ta có thể mở cửa lòng chúng ta đối với người yếu thế và người nghèo. Khi đó chúng ta sẽ có thể trải nghiệm và chia sẻ đầy đủ niềm vui Phục Sinh.” (“Sứ điệp Mùa Chay 2017”, phần kết luận).
Thánh Phao-lô đã quả quyết ”Các chi thể chăm sóc lẫn nhau” (1 Cr 12, 25). “Quả thế, thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” (Gl 5, 13-14). Ấy cũng bởi vì cuộc sống của chúng ta có liên hệ tới cuộc sống của người khác, trong điều thiện cũng như trong điều ác, tội lỗi cũng như những việc lành bác ái. Vì thế, nên sự sửa lỗi và khuyên nhủ nhau trong tinh thần khiêm tốn và bác ái phải là nền tảng đời sống của cộng đoàn Ki-tô hữu.
Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã dạy: “Sau cùng, việc chay tịnh giải tỏa bạo lực của chúng ta, và là cơ hội quan trọng để tăng trưởng. Một đàng chay tịnh cũng giúp chúng ta cảm nghiệm điều mà nhiều người khác đang thiếu thốn, thiếu những điều cần thiết và bị đói. Chay tịnh biểu lộ tình trạng tinh thần của chúng ta, đang đói khát lòng từ nhân và sự sống của Thiên Chúa. Chay tịnh thức tỉnh và làm cho chúng ta chú ý hơn đối với Thiên Chúa và tha nhân, thúc đẩy ý chí vâng phục Thiên Chúa, là Đấng duy nhất có thể thỏa mãn sự đói khát của chúng ta.” (Sứ điệp Mùa Chay 2018). Mong rằng mọi sự sẽ được hoàn hảo khi chúng ta không những rửa chân mình mà còn sẵn sàng rửa chân cho nhau (giúp nhau thanh tẩy tội lỗi) để được tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể, ngõ hầu cùng nhau đoàn tụ trên Thiên quốc. Ước được như vậy.
Ôi! “Lạy Chúa, trong bữa Tiệc Ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Đức Giê-su đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người. Chiều nay, chúng con đến tham dự yến tiệc cực thánh, như lời Người truyền dạy, xin Chúa cho tất cả chúng con được tràn đầy tình yêu và sức sống viên mãn của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thủa muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Tiệc Ly)
JM. Lam Thy ĐVD.
THÂM TÌNH
THÁNH THỂ THẦN LƯƠNG TRAO BAN NGUỒN SỐNG
NHÂN GIAN TỘI LỖI ĐÓN NHẬN PHÚC VINH
Thánh Phanxicô Assisi nói: “Cần đốt lên LỬA YÊU THƯƠNG, bởi vì có yêu thương thì tự nhiên sẽ đối đãi tốt với mọi người, luôn nói những lời yêu thương, và tâm hồn sẽ tự nhiên thu hoạch được rất nhiều kết quả”. Còn “Đoá Hồng Nhỏ” Teresa Lisieux, một chuyên gia tình yêu, cho biết: “Mặc dù tôi chỉ là người nhỏ nhất không chuyên làm những việc khác, nhưng chuyên làm việc yêu mến Thiên Chúa và hy sinh bản thân mình”.
Không thể tưởng tượng nổi nếu thế gian này vắng bóng tình yêu thương. Ai cũng muốnn yêu và được yêu, dù biết rằng “yêu là chết trong lòng một ít”. Yêu là khổ, không yêu thì lỗ, thôi thì thà chịu khổ hơn chịu lỗ. Rất lô-gích. Và người ta có cách gọi đó là “thú đau thương”. Chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Sau những ngày tháng hoang đàng, Thánh Giám mục Tiến sĩ Augustinô đã hối tiếc và thốt lên: “Con yêu Chúa quá muộn màng”, và rồi ngài cho biết: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”. Một mức độ kỳ lạ: mức-độ-không-giới-hạn. Thật thú vị!
Từ cổ chí kim, chắc hẳn chưa có một định nghĩa nào về tình yêu được coi là trọn vẹn nhất và có thể khiến người ta thỏa mãn. Chữ Yêu rất đơn giản mà cũng rất nhiêu khê. Chỉ có một tình yêu đích thực nhưng được nhìn với nhiều lăng kính, mỗi người yêu mỗi cách và mức độ cũng rất khác nhau. Nói chung, yêu là CHO nhiều hơn NHẬN, yêu đến quên mình, đó mới là Tình Yêu chân chính. Việt Nam có chuyện tình Đồi Thông Hai Mộ và chuyện tình Lan và Điệp, còn Tây phương có chuyện tình Romeo và Juliet. Những chuyện tình thật lãng mạn và đẹp, mà cũng đầy chất bi thương, thế nhưng vẫn có sự vị kỷ trong tình yêu đó!
DẤU CHỈ
Dù tốt hay xấu, sự gì cũng đều có dấu chỉ – dấu hiệu, triệu chứng, điềm báo,… Bề ngoài khả dĩ thể hiện bề trong, và bề trong khả dĩ biểu lộ ra bề ngoài. Lửa và khói có laa lẫn nhau.
Trình thuật sách Xuất hành (Xh 12:1-8, 11-14) cho biết chi tiết về cách mừng lễ: Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon trên đất Ai Cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”.
Luật cũ chú trọng cách sống tự nhiên của con người, và cách hành lễ cũng cụ thể hơn ngày nay, nhưng đó là cách thể hiện đức vâng lời – vâng lời Thiên Chúa nghĩa là yêu mến Ngài, giữ luật Ngài.
Cái gì cũng có nguyên tắc, và cách ăn cũng có luật riêng: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Cách ăn “lạ” nhất là “phải ăn vội vã”, vì đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Ngay đêm ấy Thiên Chúa rảo khắp đất Ai Cập, sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập. Nghe vậy chúng ta cảm thấy Chúa “dữ tợn” quá. Nhưng không phải vậy, vì luật cũ là luật tự nhiên, những gì là “đầu tiên” thì phải được dành ưu tiên cho Thiên Chúa, gọi là “của lễ đầu mùa” – kể cả con đầu lòng. Ngày nay, một số dân tộc cũng vẫn có cách mừng thu hoạch mùa màng như lễ mừng lúa mới, lễ mừng thu hoạch, lễ mừng cơm mới,…
Dịp lễ Vượt Qua, chính “vết máu bôi trên nhà” là dấu chỉ về việc “giữ luật”, là dấu chỉ của tình yêu thương, và những người trong nhà đó sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Thiên Chúa giáng họa trên đất Ai Cập. Ngày hôm đó được chọn làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Và Ngài xác nhận rằng “đó là luật quy định cho đến muôn đời”. Luật đó là hồng ân Chúa ban. Ngài ban đủ thứ ân sủng để con người đủ sức “vượt qua” biển đời. Thiên Chúa YÊU THƯƠNG nhiều và TRAO BAN nhiều, còn chúng ta ĐÓN NHẬN quá nhiều, thế nên cảm thấy ngại. Nhưng chính lúc biết ngại như vậy là tỏ lòng biết ơn, và tự đặt vấn đề:
Lấy chi đền đáp Chúa đây
Vì bao ân huệ chính Ngài đã ban? (Tv 116:12)
Mặc dù chúng ta thật lòng muốn đền ơn đáp nghĩa đối với Thiên Chúa nhưng lại chẳng có gì để tiến dâng, nếu có thì cũng chỉ là những thứ bất xứng mà thôi. Thân tro phận bụi quá đỗi mọn hèn, nhưng vì tin yêu mà cả dám thân thưa:
Con nâng chén hồng ân cứu độ
Mà xưng tụng danh Chúa mãi thôi (Tv 116:13).
Trong thời quân chủ, thần dân không được phép ngước nhìn Long Nhan, ai nhìn sẽ bị tội “khi quân” và phải chết. Thần dân muốn tâu trình điều gì đều phải quay hướng khác và không được tâu trực tiếp, chỉ được tâu với cái “bệ rồng” Vua ngồi: “Muôn tâu bệ hạ”. Thế nhưng, đối với Thiên Chúa là Vua các vua và Chúa các chúa, thân sâu bọ chúng ta lại được diện kiến Tôn Nhan thì quả là vô cùng diễm phúc: “Trước Thánh Nhan thật là quý giá, cái chết của những ai hiếu nghĩa với Ngài” (Tv 116:15). Chúng ta chỉ là tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, mà lại được diễm phúc như thế thì phải hết lòng ghi nhớ thâm ân: “Con sẽ dâng hiến lễ tạ ơn mà xưng tụng danh Chúa” (Tv 116:17), đồng thời phải luôn tự thề hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể Dân Ngài” (Tv 116:18).
Chúng ta có làm vậy thì cũng là điều tất yếu mà thôi! Nhưng không thể yêu suông bằng lời nói, mà phải yêu bằng hành động cụ thể. Nói chưa đủ tin, làm mới thuyết phục.
CHỨNG TỎ
Hành động là thể hiện bằng việc làm, chia sẻ bằng cách nào đó. Thật vậy, Thánh Phaolô cho biết: “Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em” (1 Cr 11:23). Rồi ngài kể lại việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”, và cuối bữa thì Chúa Giêsu nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11:24-25).
Thánh Phaolô giải thích: “Từ nay cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:26), do đó mà chúng ta hằng ngày tuyên tín trong mỗi Thánh lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”, hoặc “Lạy Chúa, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, chúng con loan truyền Chúa chịu chết cho tới khi Chúa đến”.
Không lâu trước dịp lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết “giờ của Ngài” đã đến, giờ mà Ngài phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Với nhân tính, Ngài cũng cảm thấy lưu luyến người thân, những người mà Ngài yêu thương đến giọt Nước và giọt Máu cuối cùng.
Là Thiên Chúa, Ngài biết rõ Giuđa nghĩ gì, tính toán ra sao, và sắp làm gì. Nhưng Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu. Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến, và Ngài sắp trở về cùng Thiên Chúa. Do đó, trong một bữa ăn tối, bữa mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Chắc hẳn môn đệ nào cũng ngạc nhiên vô cùng khi thấy Sư Phụ có cách hành động “kỳ lạ nhất thế gian”.
Vì thế, khi Ngài đến chỗ Simôn Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13:6). Theo lẽ thường, không hề có bề trên nào dám làm chuyện “ngược đời” và “động trời” như vậy. Nghe Phêrô nói, Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu” (Ga 13:7). Ông Phêrô chưa thể hiểu nên lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (Ga 13:8a). Đức Giêsu đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13:8b). Nghe Thầy nói “không được chung phần” thì ông Phêrô liền thưa: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa” (Ga 13:9). Nhưng Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13:10). Ông Phêrô cụt hứng, như bị tạt ca nước lạnh. Rõ ràng Ý Chúa hoàn toàn khác ý loài người. Ngài rất thâm ý nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”.
Sau khi rửa chân cho các môn đệ xong, Ngài mặc áo vào, về chỗ và thổ lộ tâm sự: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?” (Ga 13:11). Hỏi vậy thôi, chứ Ngài biết tỏng là chẳng ai hiểu gì ráo trọi, bởi vì đệ tử nào cũng “mắt chữ O và miệng chữ A”, y như trời trồng hết thảy. Thế nên Ngài nói luôn: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-15).
Thật vậy, Thầy mà còn rửa chân cho đệ tử thì chắc chắn đệ tử không thể không rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho đệ tử, để đệ tử cũng làm như Thầy đã làm cho đệ tử. Đó là Luật Yêu của Chúa. Luật nhẹ nhàng thế mà lại không dễ thực hiện, lời giản dị mà lại thâm thúy lắm. Và đó cũng là điều mỗi chúng ta phải suy nghĩ, bởi vì chính Chúa Tể muôn loài đã làm gương cho mọi người soi chung.
Xét theo Việt ngữ, chữ Yêu bắt đầu bằng mẫu tự Y có hình “ngã ba”, nghĩa là có 3 hướng: Hướng lên Thiên Chúa, hướng tới tha nhân, và hướng về chính mình. Yêu Chúa hết linh hồn và hết trí khôn, yêu người như chính mình, còn yêu mình ít thôi – không được yêu mình thái quá, vì sẽ biến thành “tự ái” (tự yêu mình thái quá) mà hóa thành vị kỷ (ích kỷ). Yêu có những hệ lụy quan yếu. Yêu là điều luôn có mối liên kết quan trọng: Cần Thiết ⇾ Thiết Tha ⇾ Tha Thứ. Đó là chu-trình-yêu-thương kỳ diệu vô cùng!
Và rồi phát sinh một hệ lụy khác: YÊU thì phải KÍNH (yêu kính), KÍNH thì phải NỂ (kính nể), NỂ thì phải TRỌNG (nể trọng), TRỌNG thì phải VỌNG (trọng vọng – vọng là mong), MONG thì thấy NHỚ (mong nhớ), NHỚ nghĩa là THƯƠNG (nhớ thương), tức là YÊU rồi đấy. Đó là vòng-tròn-tình-yêu bắt đầu và kết thúc bằng động từ YÊU. Chúa nhớ chúng ta và chúng ta cũng phải nhớ Chúa, mà NHỚ Ngài thì PHẢI THỰC THI Thánh Ý Ngài. Hoàn toàn hợp lý!
Tương tự, khi nói về gia đình, chúng ta áp dụng từ ngữ “hiếu đễ”. HIẾU thì phải ĐỄ (nhường), NHƯỜNG thì phải NHỊN. Nhờ đó mà gia đình luôn “trong ấm, ngoài êm”, tạo nên “tổ ấm” đích thực, đó là hạnh phúc gia đình. Đối với các mối quan hệ xã hội hoặc cộng đoàn cũng vậy. Nói chung, tất cả tóm gọn trong một chữ YÊU. Biết thương yêu cũng chính là biết thương xót theo ý muốn của Thầy Chí Thánh Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, xin thánh hóa và biến đổi trái tim chúng con nên giống Thánh Tâm Ngài, để càng ngày trái tim của chúng con càng chứa nhiều “máu yêu” hơn, nhờ đó chúng con biết thể hiện cách yêu Ngài qua việc yêu tha nhân, đồng thời cũng can đảm sống và hành động “ngược đời” như Ngài, hôm nay và mãi mãi. Xin làm cho chúng con xứng đáng và vui mừng đón nhận Nguồn Sống từ Thánh Thể Ngài, và xin Thánh Thể tăng lực cho những người đau khổ phần hồn và phần xác. Chúng con tin kính Ngài là Đấng hằng sống và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.
TRẦM THIÊN THU
† TÌNH CHÚA CHIỀU XƯA: https://www.youtube.com/watch?v=Ie7tQ4Zg0p4
† BÀI CA RỬA CHÂN: https://www.youtube.com/watch?v=lyitpT3crsQ
VÌ YÊU, NÊN CHẤP NHẬN TẤT CẢ
Chiều hôm nay, chiều mà Giáo Hội cử hành thánh lễ Tiệc Ly. Trong thánh lễ này, chúng ta thấy toát lên vẻ trầm buồn bởi cảnh ly biệt của người đi và kẻ ở!
Đức Giêsu sẽ ra đi để chịu chết chuộc tội thiên hạ. Các môn đệ sẽ ở lại để rồi mai đây sẽ tiếp bước trên con đường mà Thầy Giêsu đã đi.
Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở cảnh sầu ly chia ngả, nhưng nó còn đi xa hơn nữa để thấy được tình yêu của người ra đi và sự phản bội, bất trung của nhiều kẻ ở lại! Từ đó, chúng ta nhận ra lòng thương xót của Đấng là Chúa và là Thầy thì lớn lao vô bờ, trong khi đó, sự vô ơn, nhát đảm dẫn đến sự phản bội của người môn sinh lại cứ dần leo thang!
Điều tốt và xấu luôn tồn tại
Trong cuộc sống của con người, sự bất trung, vô ơn, phản bội, có lẽ luôn tồn tại song song với thời gian. Những thái độ, hành vi và lựa chọn tiêu cực ấy lại được diễn ra đây đó giữa cha mẹ với con cái; giữa vợ với chồng; giữa bạn bè, đồng nghiệp với nhau; giữa thầy với trò…, và, nhất là giữa con người với Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương ta.
Họ bội ước quên thề và phản bội với nhau có thể do động lực tiền bạc, tình cảm và chức quyền gây nên. Những sự vô ơn và phản bội như thế, dân gian người ta gọi những hạng người đó là kẻ: “Ăn cháo đá bát”; “lừa thầy phản bạn”; “qua cầu lướt ván…”.
Với Đức Giêsu, từ khi đón nhận bản tính nhân loại nơi mình, Ngài cũng là con người giống như bao người, vì thế, Đức Giêsu cũng đã từng nếm trải những chuyện như: vô ơn, phản phúc, đổi trắng thay đen, nói không thành có… đến từ những người mà Ngài làm ơn làm phúc; những người mà Ngài đã cứu sống, và, nhất là đến từ các môn đệ là những người được chính Ngài tuyển lựa để ngày đêm ở với Ngài và được Ngài dạy dỗ nhiều điều!
Sự thật cay đắng này diễn ra trong bữa Tiệc ly buổi chiều năm xưa, mà hôn nay chúng ta đang tưởng niệm.
Điều này được thấy qua những nghi thức phụng vụ, nhất là Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay.
Kinh Thánh diễn tả buổi chiều hôm nay là một buổi chiều ly biệt giữa Thầy và trò.
Khung cảnh trầm buồn ấy cộng thêm những nét chấm phá hết sức ấn tượng diễn tả sâu sắc tình yêu thương của Thầy dành cho trò. Tuy nhiên, mặt trái của bức tranh tình yêu đó lại bị những vết đen phản bội, vô ơn và bất trung xen lấn, làm cho họa tiết lộ rõ sự hỗn độn, khiến cho người thưởng thức không khỏi khó chịu và xót xa!
Tất cả vì tình yêu
Câu chuyện diễn tả bản chất của Thiên Chúa là tình yêu, được khởi đi từ việc Đức Giêsu muốn ăn bữa tiệc vượt qua sau cùng với các môn đệ trước khi lên đường hy sinh mạng sống để cứu chuộc nhân loại. Vì thế, đây là một bữa tiệc mang nhiều ý nghĩa thâm sâu.
Đỉnh điểm của buổi họp mặt hôm nay giữa thầy và trò, đó là việc Đức Giêsu loan báo: Một người trong anh em sẽ phản bội. Một trong anh em sẽ chối Thầy, và, đêm nay anh em sẽ vấp phạm vì Thầy.
Từ lời loan báo trên, Đức Giêsu đã nói rất rõ ràng cho các môn đệ biết về sự vô ơn, hèn nhát và thiếu trung thành của các ông đối với Ngài.
Nhưng ngay lúc này, các ông rất hoang mang và nhiều người không thể ngờ được là: tại sao trong nhóm của mình lại có những kẻ “được cá bẻ đăng”, rồi hèn nhát và thiếu trung thành đến vậy…!
Chính vì thế, mà họ bắt đầu nhao nhao hỏi Đức Giêsu: “Thưa thầy, có phải con không?”. Đức Giêsu không nói rõ ai sẽ là người phản bội mình, Ngài chỉ đưa ra hành động ám chỉ: Thầy chấm miếng bánh trao cho ai, thì đó là người ấy. Rồi Giuđa là kẻ đã lĩnh miếng bánh trước mặt anh em. Sau khi đã nhận miếng bánh ân tình, ma quỷ đã nhập vào y và y đã quyết định rời khỏi nơi chốn tình yêu, không gian ánh sáng để tiến về vùng tối tăm của sự ác!
Đọc tiếp trang Tin Mừng, chúng ta còn thấy sự bất trung của các môn đệ khác được tìm thấy trong biến cố tại Vườn Cây Dầu. Các môn đệ đang ở với Đức Giêsu, khi thấy toán lính đến bắt Thầy mình, thế là họ đã bỏ chạy hết. Rồi sự hèn nhát của Phêrô, vị Tông đồ trưởng được diễn ra trong dinh Thượng tế, ông đã trối Thầy trước sự đe loi của đám lính.
Tuy nhiên, dù tội lỗi của các ông có lớn thế nào đi chăng nữa, thì ngay tại phòng tiệc ly, Đức Giêsu làm một loạt những hành vi và lời nói nhằm diễn tả tình yêu của vị Thầy khả kính dành cho môn sinh, qua đó giúp cho các ông tin và đi vào mối tương quan tình yêu với Ngài.
Chính vì yêu và yêu họ đến cùng, nên Đức Giêsu đã không ngần ngại, trao ban, hiến tặng tất cả, ngay cả mạng sống của mình cho con người. Điều này được thể hiện qua việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể. Không dừng lại ở đó, Đức Giêsu còn muốn ở lại với loài người mọi ngày cho đến tận thế, nên liền ngay sau đó, Ngài đã thiết lập thiên chức linh mục.
Để tình yêu thương được cụ thể, nên vào cuối bữa ăn, Đức Giêsu đã làm một hành động ngược đời đến kỳ quặc, đó là quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Đây là hành động của nô lệ rửa chân cho ông chủ, trò rửa chân cho thầy. Khi làm ngược lẽ tự nhiên như vậy, Đức Giêsu muốn dạy các ông bằng hành động chứ không chỉ lời nói. Điều này đã gây nên sự ngỡ ngàng tột độ, khiến Phêrô đã phải thốt lên: “Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?”; “Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con”.
Tuy nhiên, Đức Giêsu nói với ông: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy”.
Sau đó Ngài đã dạy các ông: “Nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau”.
Như vậy, việc Đức Giêus rửa chân cho các ông, Ngài muốn làm một cử chỉ sâu xa để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa với nhân loại.
Bên cạnh đó, Ngài muốn gột rửa tâm hồn các ông thực sự. Bởi vì nơi các ông vẫn còn nhiều vấn vương bụi đời. Nào là tranh dành quyền lực; thích được phục vụ; ăn trên ngồi trước. Nào là chia rẽ nội bộ; nhát đảm, sợ sệt, ham tiền, hám lợi và phản bội….
Sứ điệp Lời Chúa
Ngày nay, vẫn còn đó những con người chẳng khác gì các môn đệ là bao. Họ vẫn mang trong mình những sự kiêu ngạo, ích kỷ, chia rẽ và thiếu trung thành, phản bội và vô ơn…!
Vẫn còn đó những kẻ chỉ vì miếng cơm manh áo mà bán đứng anh em của mình cho sự ác.
Lại có kẻ miệng thì nói tin Chúa, sống chết với đức tin, đạo giáo. Nhưng khi có lợi đến, hay bị thử thách, họ sẵn sàng từ chối thuộc về Chúa để được yên thân.
Và, cũng không thiếu những kẻ “khi hay thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì lìa nhau ra”. Họ tin và theo Chúa chẳng khác gì trẻ con. Họ rất giống những người thiếu lập trường và bị hiệu ứng đám đông điều khiển!
Sứ điệp Lời Chúa và phụng vụ ngày lễ hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết cảm tạ hồng ân của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Luôn sống tâm tình biết ơn Thiên Chúa ngang qua sự kiên trì và trung thành với đức tin của mình.
Cuối cùng, hãy sống bản chất của Bí tích Thánh Thể là Bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái; đồng thời luôn biết yêu thương nhau thật lòng như Chúa đã yêu, đó là một tình yêu bằng hành động, hướng tha, hy sinh và phục vụ.
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay, Chúa đã thể hiện tình yêu trọn vẹn của Chúa dành cho nhân loại. Xin Chúa ban cho chúng con cảm nghiệm được tình yêu ấy và ra sức thi hành trong cuộc sống qua các mối tương quan với Chúa và tha nhân. Amen.
Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.
THỨ NĂM TUẦN THÁNH
TỰ HẠ
Thánh Phaolô đã từng ca ngợi sự khiêm nhường của Chúa Kitô: “Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2, 6-7).
Sự khiêm nhường của Thiên Chúa không chỉ đơn thuần là ‘quên’ đi cái ‘tôi’, như khi người ta nói ông A, bà B khiêm nhường, cho dù ông A, bà B có khiêm nhường thật. Sự khiêm nhường của Con Thiên Chúa là sự khiêm hạ của Đấng là Thiên Chúa trở nên người phàm. Đó là sự KHIÊM HẠ đúng nghĩa. Người hạ mình để đến nỗi trở thành loài thụ tạo mà chính Người dựng nên.
Bởi nếu con người khiêm nhường thì trước sau họ vẫn là con người. Còn Thiên Chúa khiêm hạ đã trở thành người thật sự. Người là người như chúng ta là người. Người là người không hề "khác người". Người trở nên một trong những con người, sống giữa xã hội loài người như chính con người là con người.
Thứ năm tuần Thánh, sống lại hành động rửa chân của Chúa Kitô, chúng ta như được chính Người minh chứng cách cụ thể sự hạ mình của Người. Qua sự hạ mình trong vai trò của một đầy tớ, Chúa Kitô để lại sứ điệp mà ngàn đời chúng ta không được phép quên. Đó là: Hãy hạ mình và phục vụ lẫn nhau.
1. “NẾU THẦY KHÔNG RỬA CHO ANH…”.
Có ai trong chúng ta thương con tằm, con bướm đến nỗi trở nên bất thường, muốn hóa kiếp thành tằm, thành bướm nhằm thông cảm và chia sẻ cái kiếp làm tằm, làm bướm của chúng? Nếu yêu như thế, sẽ bị xem là đặt tình yêu sai chỗ, nặng hơn, là khó hiểu đến mức điên dại. Nhưng suy cho cùng, dù là loài người hay loài tằm, loài bướm, tất cả đều là thụ tạo. Có khác chăng là do chúng ta là thụ tạo bậc cao mà thôi. Một thụ tạo bậc cao muốn chia sẻ kiếp sống với thụ tạo bậc thấp lại bị coi là bất thường...
Vậy mà Thiên Chúa đã yêu chúng ta bằng tình yêu mà chính chúng ta cho là điên dại ấy. Bởi Người là Đấng Tạo Hóa đã hóa thân trở nên loài thụ tạo do chính mình dựng nên!! Một tình yêu tuyệt vời, một tình yêu vượt trên tất cả mọi thứ tình yêu, vượt trên mọi suy nghĩ, mọi thanh âm, Chúa Kitô yêu chúng ta bằng tình yêu của một vì Thiên Chúa đã làm người.
Chính vì yêu, Chúa Kitô trở thành Lời chung quyết của Tình yêu tự hạ nơi cung lòng Chúa Cha. Một tình yêu bí nhiệm đến nỗi, thánh Phêrô phải thốt lên: “Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13, 8a). Thánh Phêrô đâu biết rằng, tình yêu tự hạ của Thiên Chúa cần lắm. Cần đến nỗi: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh không được dự phần với Thầy” (Ga 13, 8b).
Vâng, chúng ta rất cần, cần lắm một tình yêu tự hạ như thế. Vì chỉ có một tình yêu tự hạ phát xuất từ Thiên Chúa, con người mới được cứu độ. Chỉ có một tình yêu tự hạ ấy, con người mới được tham dự vào Thiên tính của chính Thiên Chúa. Và chỉ có một tình yêu tự hạ như thế, con người mới được sống trong hạnh phúc đời đời.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Tình yêu của Chúa mạnh hơn, lớn hơn sự chết. Không ai đứng ngoài tình yêu ấy, lại có thể sống. “Nếu Thầy không rửa chân anh”, nếu Chúa không tự hạ, không yêu như thế, trần gian đã không còn là trần gian của hôm nay.
Xin làm cho trái tim nhân loại, và trái tim của mỗi chúng con biết rung trong nhịp đập của tình yêu Thiên Chúa, để chúng con biết yêu tất cả những gì thuộc về chúng con theo mức độ và bằng cách thức Chúa muốn.
2. “VÌ THẦY LÀ THẦY VÀ LÀ CHÚA…”.
Không ít lần trong cuộc đời, chúng ta gặp phải những bi thương, mất mát. Có những bi thương, mất mát như muốn nhận chìm đời mình, làm cho mình suy sụp tưởng như chẳng còn gì...
Biết bao nhiêu gia đình đang sum họp, bỗng dưng người vợ hay người chồng phản bội, rẽ sang hướng khác. Gia đình đang sung túc, bỗng dưng một người thân ra đi vĩnh viễn, mà người thân đó có khi là cột trụ của đời sống, của kinh tế gia đình. Mất mát thật to, nỗi buồn càng lớn. Hay con đường tương lai của mình đang rộng mở, sự thành công đang ở trước mặt, bỗng dưng một biến cố đau thương xảy đến, làm mất hết tất cả. Hoặc hy vọng đang ngời ngời sáng phía trước, bỗng dưng mất mát người thân yêu nhất đời mình…
Những lúc bi đát đến cùng cực ấy, tâm hồn chúng ta không còn bình an, vì thế đức tin dễ chao đảo, có khi còn oán trách Thiên Chúa.
Những lúc như thế, chúng ta hãy tìm gặp Chúa Giêsu, Đấng đã từng khẳng định: “Anh em gọi Thầy là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy và là Chúa”, để lấy lại can đảm, tìm lại nghị lực cho mình.
Gặp gỡ Chúa, ta sẽ thấy ánh sáng từ cuộc đời của Chúa, gương sống của Chúa dòi dọi chiếu tỏa và lan tỏa trong cuộc đời và trên nỗi đau của ta.
Bởi “Thầy” và “Chúa” nơi Chúa Giêsu, không phải là “thầy” ở phía trên thiên hạ, cũng không phải là “chúa” cai trị mọi người, mặc dù Chúa Giêsu có tất cả quyền hành đó. Vì Chúa là “Thầy” và là “Chúa” nghĩa là “Thầy” và “Chúa” ấy cúi xuống “rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau”.
Chúa cúi xuống trên thân phận con người không phải chỉ khi rửa chân, nhưng ngay từ khi bỏ trời cao mặc lấy kiếp người, chấp nhận sinh ra và lớn lên thiếu thốn, nghèo nàn đến cùng cực.
Người đã cúi xuống đến mức chấp nhận chết như một tên tử tội, để chia sẻ đến cùng cái cùng cực, bi thương của thân phận làm người.
Chúa Giêsu vẫn cúi xuống trong từng ngày sống của cuộc đời chúng ta, khi chấp nhận làm tấm bánh bẻ ra cho chúng ta.
Hôm nay, trong bữa tiệc ly, trước khi rời xa các môn đệ, bằng hành động rửa chân cho các ông, Chúa như đúc kết thành bài học, kết hợp với lời, để nói về tình yêu tự hạ trải dài cả cuộc sống trần gian của Người, dạy ta bài học của yêu thương, khiêm nhường và chấp nhận hiến dâng đến mức hao mòn sức lực, hao mòn thời gian, hao mòn cuộc sống và hao mòn cả đến sự sống của bản thân ta.
Đúng! Chúa Giêsu là Thầy và là Chúa. Là Thầy và là Chúa, Chúa Giêsu đã làm cho chức vị “Thầy” và “Chúa” của mình nổi bậc, không phải do quyền hành, nhưng do lòng yêu thương, một tình yêu xuất phát từ trái tim Thiên Chúa làm người.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, nơi Chúa, chúng con bắt gặp hình ảnh một Người Thầy rất cao cả, nhưng cũng rất gần gũi, có thể xoa dịu mọi vết thương lòng, mang lại bình an thật cho chính tâm hồn chúng con.
Bởi những gì chúng con gặp phải hôm nay, chính Chúa đã tự nguyện gánh lấy để chia sẻ đến cùng cái bi ai đang gieo rắc trong cuộc đời chúng con. Chúng con nguyện xin cho chúng con, sau khi đã tìm gặp Chúa, cũng biết cúi xuống để đem yêu thương chia sẻ cho anh chị em xung quanh, nhằm mang lại bình an, niềm hạnh phúc cho tất cả những ai chúng con gặp gỡ.
Xin cho chúng con vững tin, dù gặp phải bất cứ hoàn cảnh nào trong cuộc sống. Xin Chúa nâng đỡ bao nhiêu người, họ là anh em của chúng con, đang quằng quại trong nỗi đau của cuộc đời này.
3. “ANH EM CŨNG PHẢI RỬA CHÂN CHO NHAU…”.
“Anh em chớ mắc nợ nhau điều gì, trừ ra tình thương mến”. Thánh Phaolô gọi bổn phận yêu thương là “nợ”. Mà nếu là nợ thì phải trả.
Nhưng điều thánh Phaolô nói, đã là điều Chúa Giêsu dạy: “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau”.
Không ai có thể đi vào quỹ đạo của tình yêu Thiên Chúa mà lại khước từ bổn phận yêu thương đồng loại. Nếu Thiên Chúa đã tự hạ thì con người cũng phải khiêm nhường.
Bài học của nhập thể, của thập giá, của bí tích Thánh Thể, ngàn đời vẫn còn đó để con người tra vấn về lòng mến của mình. Họ phải yêu như Chúa là Thiên Chúa của họ. Họ phải hy sinh cho nhau như chính Người hy sinh cho họ.
Trong những ngày này, người ta vẫn còn xôn xao về vụ cháy chung cư Carina ở quận 8, Sài Gòn (phát cháy khoảng 1 giờ 30 đầu ngày 23.3.2018). Trong câu chuyện, người ta không quên nhắc đến người bảo vệ chung cư là Trần Văn An, 43 tuổi, đã vĩnh viễn nằm lại trong lửa khó, sau khi đã tri hô báo cháy giữa đêm và hoàn thành nhiệm vụ cứu nhiều người sống sót.
Không biết người anh hùng bảo vệ ấy có phải là người mang niềm tin Công giáo? Nhưng anh đã hy sinh mình để cứu người. Hình ảnh hiến mình của anh đẹp quá. Lại là hình ảnh diễn ra đúng vào những ngày cận tuần Thánh, càng mang lại chiều ý nghĩa cho tất cả mọi người Công giáo.
Bởi như Chúa Giêsu đã hoàn thành cuộc đời dương thế của Người để cứu loài người. Chúng ta cũng phải họa lại đời sống của Chúa bằng chính những hy sinh từng ngày trong bổn phận của chúng ta như Chúa.
Tấm gương của người anh hùng bảo vệ Trần Văn An mà mọi người vẫn đang ngưỡng mộ là bằng chứng của lòng hy sinh, của sự hạ mình, của tình yêu mến mà chúng ta cần học lấy để sống chính lời dạy của Chúa: "ANH EM CŨNG PHẢI RỬA CHÂN CHO NHAU".
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một trái tim mới, một trái tim biết đau nỗi đau của người khác, biết vui trong hạnh phúc của người bên cạnh. Xin cho chúng con biết bắt chước Chúa mà hạ mình xuống phục vụ đồng loại theo Lời Chúa dạy: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”.
Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG
TÌNH YÊU VÀ THẬP GIÁ
Suy niệm thứ Sáu Tuần Thánh (Ga 18,1-19,42)
Hôm nay, Giáo hội, Hiền Thê yêu dấu nhìn ngắm Chúa Giêsu vị Phu Quân của mình bị treo trên thập giá, chân tay đanh nhọn đâm thâu, cạnh sườn lưỡi đòng đâm thủng, máu cùng nước chảy ra làm cho Giáo hội nhớ đến ngày mình được sinh ra từ cạnh sườn Chúa, lúc Chúa ngủ trên Thánh Giá. Bởi theo thánh Ambrosiô, khi Ađam đang ngủ Thiên Chúa đã lấy xương sườn của ông để tạo dựng Evà, Giáo hội cũng được sinh ra từ Trái Tim bị đâm thủng của Chúa Giêsu khi ngài chết trên Thánh Giá, và Giáo hội mời gọi chúng ta tưởng nhớ tình yêu dâng trào ấy.
Chúa đã chết vì yêu
Thật không thể hiểu nổi Thiên Chúa yêu thương chúng ta biết chừng nào. Người đã yêu chúng ta bằng tình yêu vô bờ bến, tình yêu thương xót và thứ tha, khi phải mang trên mình những đau khổ vì tội lỗi chúng ta. Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa được Isaia mô tả : « Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.
Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta » (Is 53, 2-6).
Người ta nói rằng : nếu tất cả Thánh Kinh trên trái đất này bị hủy diệt bởi tai biến nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn một bản Kinh Thánh, và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được, và nếu dòng đó là thư thứ nhất của thánh Gioan viết “Thiên Chúa là Tình Yêu”, thì coi như toàn bộ Thánh Kinh được khôi phục, bởi vì toàn bộ nội dung là ở đó. Mầu Nhiệm Thập Giá mà chúng ta cử hành là bằng chứng. Vì thế, khi suy tôn Thánh giá Chúa, kính nhớ Chúa chịu chết, chúng ta cảm nhận được sự thật rằng : “Thiên Chúa là Tình Yêu”.
Thờ lạy Thánh Giá Chúa
Phần tiếp theo của nghi thức chiều nay là thờ lạy Thánh Giá, tiến xướng chúng ta hát : Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa… vì nhờ gỗ này mà cả vũ trụ được hân hoan. Tại sao vậy ?
Với khí giới của riêng mình là cây Thánh Giá, Chúa Giêsu đã chiến thắng cách diệu kỳ. Người đã chiến thắng ma quỉ bằng phương cách do chính ma quỉ dùng để chiến thắng thế gian. Chúng ta thấy : Một người nữ, cây gỗ, sự chết, là những phương tiện và khí cụ làm con người thất bại. Người nữ ấy là Evà đã không còn biết đến Adam; cây trái cấm, và bản án tử hình đối với người đầu tiên. Một người nữ, cây gỗ, sự chết, là những phương tiện và khí cụ làm chúng ta thất bại đã trở nên phương tiện và khí cụ giúp chúng ta chiến thắng. Đức Maria đã thay thế Evà; gỗ thánh giá, gỗ của cây biết lành biết dữ ; sự chết của Chúa Giêsu Kitô, cái chết của Adam. Ma quỷ đã bị đánh bại bởi cùng một phương tiện mà nó đã chiến thắng. Ma quỉ đã dùng cây để quật ngã Adam, Chúa Giêsu Kitô đã dùng cây Thánh Giá để đánh bại quỉ ma. Cây trái cấm đã ném con người vào vực thẳm, nay gỗ Thánh Giá kéo con người lên. Cây đã làm cho con người mất đi tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa, tống con người vào ngục ; nay gỗ Thánh Giá tước lấy vũ khí của ma quỉ đã chiến thắng con người, giúp con người vượt qua trần thế. Cái chết của Adam đã kéo theo con cháu mình là kẻ sinh sau ông ; sự chết của Chúa Giêsu Kitô mang lại sự sống cho những kẻ sinh ra trước Người.
Nhờ những ân huệ và kỳ công từ cây Thập Giá, chúng ta đã từ cái chết đến cõi trường sinh. Thập Giá đã mang lại chiến thắng cho chúng ta; chúng ta hãy học để chiến thắng mà không phải chiến đấu, không phải dàn trận, vũ khí không dính máu, chúng ta không bị thương vong nhưng lại giành chiến thắng : Thiên Chúa chiến đấu, còn vương niệm chiến thắng chúng ta nhận.
Từ đó chiến thắng là của chúng ta, hãy để niềm vui dâng trào như những người lính, hát bài ca chiến thắng để ngợi khen Thiên Chúa: "Sự chết đã bị vùi trong toàn thắng. Tử thần hỡi, đắc thắng của ngươi đâu? Tử thần hỡi, nọc của ngươi đâu?" (1Cr 15, 54-55).
Đây là những lợi ích mà chúng ta có được từ cây Thập Giá; Thánh Giá là cờ vua cả toàn thắng đã cứu chúng ta cho khỏi tay ma quỉ, là vũ khí chông lại tội lỗi, là thanh gươm sắc bén Chúa Giêsu dùng để chiến thắng con rắn xưa. Thánh Giá là ý Chúa Cha, là vinh quang của Chúa Con độc nhất, là chiến thắng của Thánh Thần Thiên Chúa, là niềm vinh dự của các thiên thần, là sự an toàn của Giáo hội, là bức tường thành của các vị thánh, niềm tự hào của thánh Phaolô, là ánh sáng chiếu soi trên toàn thế giới.
Thật vậy, để xua tan bóng tối của một ngôi nhà tăm tối, chúng ta thắp một ngọn nến hay nâng cao ngọn đuốc ; chính Chúa Giêsu Kitô đã thắp sáng và nâng cao cây thánh giá như một ngọn đuốc để xua tan bóng tối nhân gian. Thế giới khi nhìn xem Con Thiên Chúa chịu đóng đinh, rùng mình, trời đất động địa, đã vỡ ra ; nhưng trái tim của những người Do Thái, cứng hơn đá vẫn không động đậy. Các màn trong đền thờ bị xé ra; nhưng các âm mưu phạm tội vẫn không bị phá vỡ. Tại sao màn che bị xé ? Phải chăng đền thờ đau đớn khi chứng kiến cảnh Thiên Chúa bị giết bên ngoài trên bàn thờ Thập Giá; và khăn che trong đền thờ xé ra như muốn nói với mọi người rằng: sẽ có nhiều đền thờ trở nên hoang vắng và bị bỏ rơi.
Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Xin Chúa cho chúng con khi nhìn lên Thánh Giá Chúa, biết khám phá ra rằng Thiên Chúa đã chết chỉ vì yêu, để chúng con biết yêu thương nhau hầu chứng tỏ rằng chúng con yêu Chúa, vì đó là cốt lõi của Đạo Chúa. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
THỨ SÁU TUẦN THÁNH
SỐNG MẦU NHIỆM THÁNH GIÁ
1. Thánh Giá – Tình yêu của Thiên Chúa trong đời người.
Theo thánh Gioan, cái chết của Chúa Kitô, trước hết là sự tôn vinh chính Chúa Kitô, tôn vinh tình yêu của Người, một tình yêu hiến dâng mạng sống, một tình yêu chết thay cho người mình yêu, một tình yêu tự hiến thành tấm bánh nuôi sống người mình yêu, một tình yêu tự nguyện trở thành lễ tế hiến dâng Thiên Chúa…
Kế đến là vừa thể hiện, vừa tôn vinh tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu tràn trề, một tình yêu mạnh mẽ, một tình yêu thôi thúc “đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3, 16-17).
Còn thánh Phaolô lại nhận ra chính cái chết của Chúa Kitô là sức mạnh giải thoát con người: Chính nhờ Chúa Kitô tử nạn và phục sinh mà “ơn tha tội được loan báo cho anh em; và trong khi anh em không thể được giải thoát khỏi tội lỗi mà trở nên công chính nhờ giữ luật Môsê, thì nhờ Người, mọi kẻ tin đều được nên công chính” (Cv 13, 39).
Trong thư gởi tín hữu thành Philipphê, thánh Phaolô còn nói rõ hơn sự được tôn vinh của Chúa Kitô: “Thiên Chúa đã siêu tôn Người, tặng ban Danh hiệu vượt trên mọi Danh hiệu. Và khi nghe Danh Thánh Chúa Giêsu, mọi gối phải bái quỳ để tôn vinh Chúa Cha và tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa” (Pl 2, 10-11).
Như vậy, cùng xác tín với hai tông đồ Gioan và Phaolô, chúng ta khẳng định, nơi Thánh Giá, Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu tuyệt đỉnh của mình.
Đó là tình yêu không cùng của Thiên Chúa Cha hiến dâng Con Một. Đó là tình yêu quyết hy sinh của Thiên Chúa Con để hiến dâng chính mình. Đó là tình yêu tràn đầy sức mạnh của Thiên Chúa Ngôi Ba làm biểu lộ đến vô cùng, khắc sâu đến vô cùng lòng đại lượng của Đấng Chí Thánh là Tình Yêu.
Đấng chịu đóng đinh là Đấng được tôn vinh. Thánh Giá, phương tiện treo thân Đấng chịu đóng đinh, ngàn đời xứng danh Thánh Giá Cứu Độ.
Vì thế, không có bất cứ nơi nào, không có bất cứ lối đường nào, ngoài Thánh Giá, mà chính Thiên Chúa, chính tình yêu của Thiên Chúa được tôn vinh. Bởi chỉ nơi Thánh Giá, nơi Đấng chịu đóng đinh, tình yêu tuyệt đỉnh của Thiên Chúa, khuôn mặt rạng ngời lòng xót thương tha thứ của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn, mạnh mẽ, vững bền.
Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa. Bởi “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).
Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Giá là biểu tượng của Tình Yêu cứu độ. Thánh giá là niềm tự hào và vinh quang của người tín hữu. Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).
Cái chết của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, minh chứng rằng, Người yêu thế gian hơn yêu chính mình. Cái chết ấy còn chứng tỏ, tình yêu Thiên Chúa dành cho ta là thứ tình ở dạng thức cao nhất: Yêu đến tận cùng. Yêu đến tự hiến trọn vẹn. Yêu chấp nhận hiến tế. Yêu chấp nhận hy sinh chỉ vì ích lợi của kẻ khác.
Thánh Giá in sâu vào và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau phục sinh, những thương tích khổ nạn, dấu vết đớn đau của Thánh Giá vẫn hiển hiện, vẫn không bị xóa nhòa.
Thánh Giá băng qua lịch sử, xuyên qua thời gian. Nó còn tiếp tục trải dài và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta.
Ta yêu mến, tôn thờ Chúa Giêsu trên Thánh Giá. Sự yêu mến và tôn thờ ấy, dẫn ta đến việc tự nguyện đón nhận thánh giá của đời mình, hợp làm một cùng Thánh Giá Chúa, bước theo Chúa, sống như Chúa suốt hành trình dương thế.
Trong xã hội tiêu thụ và hưởng thụ ngày nay, bóng tối của quyền lực, tiền của, danh vọng, lạc thú như che mờ bóng Thánh Giá. Con người lao mình vào bóng tối bằng mọi giá. Xã hội hôm nay cần phải được ánh sáng của Thánh Giá soi dẫn. Từ Thánh Giá Chúa Kitô, tuôn trào tình thương chúc phúc thế gian, sự sống chan chứa cho lòng người.
Bởi thế, suy tôn Thánh Giá chính là suy tôn tình yêu, sự sống của Chúa Kitô. Đó cũng là dịp giúp ta ý thức tình yêu, sự sống ấy đang đồng hành với mình, với cuộc đời của từng con người. Nhờ ý thức, ta không dám trôi theo những cám dỗ của thế gian, không dám đánh mất mình cho những “trái cấm” thế tục…
2. Để hiểu Thánh Giá Chúa Giêsu.
Trước khi mạc khải về ý nghĩa của mầu nhiệm Thánh Giá, Chúa Giêsu nhắc ông Nicôđêmô về nguồn gốc thần linh của mình: Người là Con Thiên Chúa: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống”.
Tự nó, thập giá là sự độc ác, sự thua bại đến nghiệt ngã của lòng yêu thương nơi loài người. Nó cũng chính là thực tại đau buồn do con người tạo ra để giết nhau sao cho tàn bạo nhất, rùng rợn nhất.
Nhưng để hiểu trọn vẹn ý nghĩa của nó, dù ở bất cứ thời đại nào, loài người phải “đóng đinh” Con Thiên Chúa vào đó.
Bởi chỉ có thể hiểu mầu nhiệm thập giá trong cái nhìn "từ trên cao", trong cái nhìn của Thiên Chúa - Đấng muốn và đã sai Con Một mình xuống trần gian chịu chết treo trên thập giá - để biến dấu chỉ của sự trừng phạt thành dấu chỉ của tình yêu cứu rỗi. Biến thập giá thành Thánh Giá, biểu tượng của tình yêu chiến thắng mà chúng ta tôn thờ.
“Như Môsê treo con rắn nơi hoang địa thế nào, thì Con Người cũng sẽ bị treo lên như vậy, để ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời”. Qua câu chuyện với ông Nicôđêmô, Chúa muốn con người nhìn về thập giá "từ trên cao" theo cái nhìn của chính Chúa. Lúc đó, con người sẽ khám phá ra, Thiên Chúa dùng Thánh Giá để mạc khải tình yêu thần linh, để hòa giải con người với Thiên Chúa và với nhau.
Như lời mời gọi của Chúa giành cho ông Nicôđêmô, cần phải "đặt" Con Thiên Chúa vào Thánh Giá, cần phải "treo" Con Thiên Chúa lên Thánh Giá, để con người hiểu được ý nghĩa của Thánh Giá.
Thánh Giá mạc khải cho con người biết tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng là dấu chỉ sự khước từ của con người đối với Thiên Chúa, là dấu chỉ sự thù ghét của con người đối với con người.
Nhưng lại là dấu chỉ rõ rệt cho thấy con người say mê quyền hành và danh vọng, muốn làm mọi cách để loại bỏ đối thủ của mình như những người Pharisêu ngày xưa đã dùng thập giá để loại bỏ Chúa Giêsu, Đấng đang lôi kéo dân chúng bỏ họ mà theo Chúa. Cũng có nghĩa là các Pharisêu không muốn chứng kiến việc Chúa đang lôi kéo lòng dân bước ra từ thế giới của tà tâm đến thế giới chính tâm. Họ tức tối tối. Họ dùng thập giá hòng tiêu diệt Ánh Sáng của trần gian.
Mỗi người Kitô hữu hôm nay, hãy kiểm điểm lại thái độ của mình đối với Thánh Giá Chúa. Phải chăng Thánh Giá Chúa đã bị tục hóa, bị chúng ta biến trở thành món trang sức để khoe của, để củng cố địa vị, để lường gạt anh chị em?
Chúng ta làm dấu thánh giá trên mình, chúng ta mang dấu thánh giá trên áo, trên cổ nhưng chúng ta đã sống ý nghĩa của thập giá như Chúa đã mạc khải như thế nào?
3. Thập giá đời và Thánh Giá phúc.
Đức Thánh Cha Phaolô VI đã nói: Không thể có một Kitô giáo mà không có đổ máu. Đổ máu là dấu hiệu của chết chóc, của thất bại. Việc đổ máu của Chúa Kitô, trước mặt người đời, trước tất cả mọi phù phím của thế gian mang vỏ bộc khôn ngoan, tiến bộ, văn minh…, cũng chỉ là một thất bại lớn, một sự bị đốn ngã nhục nhã.
Nhưng dưới dòng lịch sử của ơn Thánh - một dòng lịch sử chỉ có thể khám phá bởi lòng tin, bởi sự đơn thành, bởi cái nhìn thoát tục không bao giờ bị rào, bị cản của tiến bộ, của văn minh mà con người theo đuổi - việc đổ máu của Chúa Kitô là sự tôn vinh Thiên Chúa và là ơn cứu độ vĩnh cửu của loài người.
Đó cũng là niềm sung sướng của Hội Thánh, bởi không chỉ trong ngày đổ máu của Chúa Kitô là ngày Hội Thánh đã được khai sinh, mà còn là ngày mà Hội Thánh sung sướng tiến vào cuộc sống mới của Thiên Chúa, được sống bằng chính sự sống của Thiên Chúa.
Càng suy niệm, chúng ta thấy nơi Thánh Giá, Chúa như tóm gọn cả một hành trình dài của con người đầy trắc trở, đầy mâu thuẫn, đầy xót xa, biến động. Và những gì diễn ra nơi Thánh Giá cũng như nơi cuộc đời con người vừa như tương tác lẫn nhau, vừa như hoàn toàn đối nghịch nhau.
Thánh Giá như tóm gọn hành trình của một kiếp người, như đang diễn tả toàn bộ mọi trạng thái của kiếp nhân sinh đang trải qua: Yêu thương và thù hận, thành công và thất bại, hy vọng và thất vọng, tin tưởng và sợ hãi, tự do và trói buộc, trung thành và phản bội, hạnh phúc và đau khổ, sự sống và giết chóc…
Đặc biệt, mỗi khi dừng lại ở từng chặng Đường Thánh Giá, Hội Thánh mời gọi mỗi người, không chỉ làm dấy lên trong tâm hồn một cảm xúc đối với cuộc khổ nạn, mà còn là ý thức hồng ân đã được lãnh nhận qua Đường Thương Khó, qua cây Thánh Giá của Chúa Giêsu, và qua đau khổ là mỗi cây thánh giá trong đời mỗi con người, để xây dựng thế giới tốt đẹp bằng cách mang tình yêu vào giữa lòng thế giới, làm cho con người được sống và sống dồi dào.
Chính vì sự liên quan mật thiết giữa Thánh Giá và những gì diễn ra trong đời người, cho ta hiểu rằng, cuộc sống hôm nay không tách rời Thánh Giá. Thánh Giá sẽ biến cuộc sống thành hoa quả ngày mai trong hạnh phúc vĩnh cửu. Bởi Thánh giá bao trùm trên cuộc sống hôm nay, nên ta tin tưởng, giá trị cuộc sống không là những thực tại trần gian nhưng là thực tại Nước Trời.
Chính nơi đó mới là quê hằng sống. Chính nơi đó mới là quê bình yên. Chính nơi đó mới là quê của niềm hy vọng. Chỉ có nơi quê Trời ấy, ta mới thực sự thoát ly bất trung và bội phản, oán ghét và thù hận.
Sẽ không bao giờ còn giết chóc, lừa lọc, gian dối. Sẽ tiêu tan hết những áp bức, những chà đạp, những độc ác… Và lúc đó, công lý được giương cao, hòa bình được trao tặng, sự thật được hoàn lại cho những ai đã từng bị cuộc sống hôm nay giày vò, ức hiếp.
Bởi đó là Nước mà lòng xót thương của Thiên Chúa ngự trị. Mọi người là anh chị em có Thiên Chúa là Cha chung. Nước mà giờ đây Thánh giá đã chiến thắng. Chúa Kitô sẽ giương cao ngọn cờ Thánh Giá như biểu tượng của một tình yêu tuyệt đỉnh, của một sự bình an không cùng mà chính Người đã đi qua cuộc đời này và nay trao lại cho chúng ta trong Nước hằng sống.
Cha Hoàng Kim để lại một bài Thánh Ca thường được hát trong Tuần Thánh, ai hát lên cũng thấy bàng hoàng xúc động:
“Thập giá ngất cao ở trên thế gian này
Ôi hỡi thập giá chúa Giêsu.
Từ nơi Thánh Tâm yêu thương Ngài,
Sông ơn thiêng khơi nguồn chan hòa,
Qua ngươi máu cứu độ chảy xuống nơi đây.
Ôi hỡi thập giá Chúa Kitô”.
“Thập giá ngất cao ở trên thế gian này, ôi hỡi Thập Giá Chúa Giêsu !”. Vâng! thập giá ở đâu mà chẳng có. Mấy chữ “ngất cao ở trên thế gian” vừa như muốn nói lên chiều cao, vừa như cho thấy chiều rộng, vừa như là sự cao cả, quý giá, nhưng cũng nặng nề, lo sợ.
Và Giữa một rừng thập giá của kiếp nhân sinh, lại thấy nổi lên, lại thấy “ngất cao” cây Thánh Giá của Chúa chúng ta. Thánh Giá của Chúa ngất cao là để tỏa bóng, để lôi kéo, để đỡ nâng, để thánh hóa tất cả mọi cây thập giá đời.
Vâng! Thập giá lúc nào mà không có, không mời gọi. Dù run rẫy khi đón nhận, nhưng có ai thoát khỏi thập giá? Thập giá là một người bạn không ai chờ đợi, nhưng nó vẫn cứ đến, vẫn cứ đồng hành trên suốt chặng đường đời của mỗi con người.
Là Kitô hữu, chúng ta hạnh phúc, vì thập giá của chúng ta đong đầy ý nghĩa. Chúng ta biết, thập giá đời mình được tháp nhập, được lồng trong Thánh Giá Chúa Kitô. Thập giá đời dẫu có “ngất cao ở trên thế gian này”, thì mãi mãi vẫn còn đó Thánh Giá Chúa Kitô soi bóng, chiếu sáng ý nghĩa, lan tỏa hạnh phúc, như mặt trời soi vào từng ngõ ngách của trần thế.
Cây thập giá được Chúa Giêsu chọn để làm nơi phó dâng linh hồn trong tay Chúa Cha đã trở nên một báu vật của nhân loại và được gọi là Thánh Giá sau khi Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết và lên trời vinh hiển.
Thiên Chúa đã thánh hóa cây thâp tự: từ một dụng cụ độc ác tàn nhẫn của con người thành công cụ của tình yêu thương, tha thứ. Từ biểu tượng của sự chết đã trở thành biểu tượng giải thoát con người khỏi phải án chết đời đời. Từ sự ô nhục, điên rồ và ngu xuẩn trở nên chiến thắng vinh quang của Đức Kitô.
Người Kitô hữu luôn kính mến và tôn xưng cây thập giá đồng hành với Chúa Giêsu trên đường lên núi Sọ là Thánh Giá. Chúng ta thường đọc trước mỗi chặng đàng Thánh Giá: “Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô, vì Chúa đã dùng Thánh Giá mà chuộc tội cho thiên hạ”, thường làm dấu Thánh Giá trước khi cầu nguyện, thường ghi dấu Thánh Giá lên thân mình trước và sau khi dùng bữa, thường ghi dấu Thánh Giá trước bất cứ một nghĩa cử đạo đức nào…, chúng ta thực sự hãnh diện, vui mừng vì Thánh Giá vinh quang của Chúa Giêsu trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa:
Vinh quang của ta
Là Thánh Giá Đức Kitô
Nơi Ngài, ơn cứu độ của ta
Sức sống của ta
Phục sinh của ta
Nhờ Chúa ta được cứu độ
Nhờ Chúa ta được giải thoát.
Vậy chúng ta hãy chạy đến với Chúa Giêsu vì chính Người là nguồn sức mạnh duy nhất có thể nâng đỡ và thêm sức cho chúng ta vác thập giá: "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt. 1,28).
Xin Chúa ngự trị và cùng vác thập giá với từng người hàng ngày. Nếu ta mang vác những gánh nặng, những trách nhiệm, những lo toan hàng ngày một mình thì sức nặng của cây thập giá đời mình sẽ càng nặng, càng đau đớn, càng u uất… Nhưng nếu ta ngã mình vào Thánh Giá Chúa Giêsu, xin Người đồng hành với, thập giá đời ta, vẫn là thập giá ấy thôi, vẫn nặng nề, vẫn khổ đau, vẫn u uất, sẽ được biến đổi thành những cây Thánh giá phúc, có tình yêu của Chúa, có ơn cứu độ của Chúa, có sức sức mạnh của Chúa, có sức sống phục sinh của Chúa.
Mãi mãi thập giá không nhẹ. Nhưng tình yêu Thánh Giá sẽ làm thập giá dễ chịu hơn, và chan đầy ý nghĩa.
Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG
THỨ BẢY TUẦN THÁNH 2018
TỰ HỦY CHỨNG MINH LÒNG THƯƠNG XÓT
Thứ bảy tuần Thánh, Đấng là Ngôi Lời làm người đã ngủ yên trong mồ. Chiêm ngắm hình ảnh Đấng Cứu Chuộc chôn vùi xác thân, chúng ta nghe rõ mồn một lời bài ca về sự tự hủy. Chúa Kitô, vì vâng lệnh Chúa Cha, vì phần rỗi đời đời của chúng ta, đã tự hủy chính mình nên nguồn sống cho chúng ta.
Cùng đọc lại bài ca về sự tự hủy mình của Ngôi Lời trong thư gởi tín hữu thành Philipphê, một lần nữa, ta hãy chiêm ngắm lòng thương xót của Thiên Chúa nơi mầu nhiệm tự hủy chính mình của Chúa Giêsu Kitô.
Bài ca như sau:
“Đức Giêsu Kitô
vốn dĩ là Thiên Chúa
Mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự.
Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người
và tặng ban danh hiệu
trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu,
cả trên trời dưới đất
và trong nơi âm phủ,
muôn vật phải bái quỳ;
và để tôn vinh Thiên Chúa Cha,
mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng:
Đức Kitô là Chúa” (Pl 2, 6-11).
Tự hủy nói lên lòng thương xót. Lòng thương xót đã đưa Thiên Chúa đi đến một quyết định chưa từng thấy: Hiến trao Con Một mình cho nhân loại. Mà khi hiến trao Người con, có nghĩa là Thiên Chúa chấp nhận hủy mình nơi Người Con.
Còn Chúa Giêsu, cùng một lòng thương xót như Chúa Cha, với quyết định thi hành ý Chúa Cha, đã hiến trao chính mình. Người bước vào mầu nhiệm tự hủy là bước vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, và là nguồn ơn cứu độ của loài người.
1. Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa từ muôn đời (Pl 2, 6).
Vì lòng xót thương nhân loại hết sức lớn lao, dù từ đời đời, Ngôi Hai đã là Thiên Chúa và vẫn là Thiên Chúa, Người quyết định từ khước địa vị cao cả ấy, chấp nhận hòa mình với thụ tạo.
Qua hành động nhập thể, Con Thiên Chúa đã trút bỏ mọi uy quyền, mang lấy xác phàm như chúng ta. Ngôi Lời nhập thể đã tự hiến “cái tôi” uy quyền của một vì Thiên Chúa để mặc lấy “cái tôi” hèn hạ tột cùng của kiếp người.
Không những thế, Người còn hạ mình tới tận cùng của kiếp nô lệ, để “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, và chết” đớn đau, ô nhục như một tử tội.
Nhưng hành động tự hạ đến mức kỳ diệu cũng là hành động khó hiểu đối với suy luận của loài người. Dù là huyền nhiệm không thể lý giải, chúng ta vẫn có thể cảm nghiệm thật mạnh mẽ tình yêu thương xót của Chúa Kitô, một tình yêu thương xót chỉ có thể có được từ trái tim của Đấng Thiên Chúa làm người.
Dù suốt dòng lịch sử cứu độ, Thiên Chúa luôn biểu tỏ lòng thương xót của Người qua công trình sáng tạo, qua lịch sử dân Itrael, qua những chương trình, qua nhiều lời giáo huấn…, nhưng tất cả đều chưa rõ nét. Ví thế, con người ít nhiều khó hình dung về Thiên Chúa.
Giờ đây, với sáng kiến độc đáo, Thiên Chúa sai Con của Người tự hủy mình đến “cắm lều” giữa loài người, đồng cam cộng khổ với kiếp người... Bằng cách ấy, Thiên Chúa tỏ bày một trái tim chứa chan lòng xót thương thật cụ thể, thật gần gũi, thật nồng ấm. Từ đó, loài người tự nhận biết, trong tình yêu thương xót vô cùng của Thiên Chúa, họ quan trọng biết chừng nào.
2. Chiêm ngắm thân phận “nô lệ” của Chúa Giêsu (Pl 2, 7).
Thân phận nô lệ, hiện thân của sự thất bại thảm hại mà Ađam đã gieo rắc cho mình và cho muôn thế hệ, lại được Con Thiên Chúa chọn như một phương cách cần thiết cho sự cứu độ. Vì thế, nơi Chúa đối lập hoàn toàn với Ađam:
- Bởi trong khi Ađam chỉ là loài được tạo dựng lại muốn vươn lên chính Thiên Chúa, Đấng tạo dựng mình. Còn Chúa Giêsu Kitô, Đấng là chính Thiên Chúa, thì lại hóa thân trong kiếp phàm nhân.
- Trong khi Ađam phải là kẻ hoàn toàn tuân phục Thiên Chúa, thì chính sự bất tuân phục của ông mở lối cho tội lỗi và sự chết xâm nhập trần thế.
Còn Chúa Giêsu Kitô, nhờ tình yêu thương xót lớn lao, Người đã tự hạ và lựa chọn hủy mình mang kiếp nô lệ. Nhờ đó, Người chạm tới cùng đích của thân phận thụ tạo.
Không chỉ thế, “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 8). Tình yêu thương xót của Chúa Kitô, đã trao cho nhân loại ơn giải thoát, đưa họ tiến về sự sống, đạt tới đỉnh cao của ơn được làm con Thiên Chúa như chính Chúa Giêsu.
- Trong khi Ađam tìm cách vượt thoát Thiên Chúa, cũng có nghĩa là tự tách mình khỏi ảnh hưởng và khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thì Chúa Kitô lại đến trú ngụ giữa trần thế, hòng tuôn đổ tình yêu cho thế giới, đưa con người về lại trong tầm ảnh hưởng của Thiên Chúa.
- Ađam đang sống trong sự sống của Thiên Chúa, nhưng dại dột để cái chết chiếm lấy mình, thì Chúa Kitô lại bước vào cái chết, dùng sự chết của mình hủy diệt cái chết của con người, đưa con người về lại sự sống của Thiên Chúa
Bởi những gì vừa trình bày, ta có thể gói gọn cuộc đời làm người của Chúa Giêsu Kitô trong hai tiếng “vâng phục”: Người đã vâng phục Chúa Cha. Nhờ vâng phục, Chúa Giêsu trở thành nguyên nhân ơn cứu độ của cả loài người.
Như vậy, Chúa Giêsu đã chấp nhận thánh ý của Cha bằng một đường lối khiêm nhường và phục vụ thay vì thống trị bằng quyền lực (x.Lc 4, 1-13). Điều này cũng cho thấy, Chúa Giêsu đã chiến thắng sự yếu đuối của xác phàm, sự yếu đuối đã từng đốn ngã một cách thảm bại đối với Ađam.
3. Chúa Giêsu được Chúa Cha tôn vinh (Pl 9-11).
Chúng ta nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu qua sự "hạ cố" chính mình của việc Ngôi Lời tự hủy. Nhưng chúng ta cũng sẽ nhận thấy lòng thương xót ấy vẫn tiếp tục tuôn tràn dồi dào trên nhân loại ở sự vinh thăng, khi Chúa Cha tôn vinh Chúa Giêsu Kitô, Con của Người.
“Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu”. Dù trong xã hội Dothái, tên “Giêsu” là tên gọi khá phổ biến. Đó cũng là lý do mà Tin Mừng cho biết, đám đông thường gọi Chúa Giêsu là “Ông Giêsu thành Nazareth” để phân biệt với "các Giêsu" khác.
- Nhưng nơi Chúa Giêsu, danh “Giêsu” không chỉ là danh của một con người, mà danh ấy đồng nhất với danh của Đức Chúa vì chính Người là Thiên Chúa, để mỗi khi ta gọi danh Chúa Giêsu, lập tức, ta biết mình gọi Đấng mà mình phải tôn thờ. Người là chính Thiên Chúa và là chính con người. Thiên Chúa và con người ấy chỉ là một, trong một thánh danh duy nhất: GIÊSU.
Ngay tên gọi “Giêsu”, nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ”, lòng thương xót đã được thể hiện. Bởi mỗi lần gọi tên Chúa Giêsu, ta biết thật, Người chính là Đấng cứu độ của Thiên Chúa. Bằng mọi giá, Người sẵn sàng hủy mình để cứu độ ta.
Gọi tên Chúa Giêsu, Đấng là hiện thân của lòng thương xót, chúng ta biết rằng, Người là một con người, hoàn toàn mang bản tính người, có một tên gọi như bất kỳ ai, sống thân phận loài người không hề khác người, để chia sẻ phận người với ta, đồng cam cộng khổ cùng ta nơi trần thế.
Lòng thương xót đã trao ban cho trần thế một con người Giêsu là chính Thiên Chúa làm người, để ở giữa thế giới loài người có Thiên Chúa, và để ở tận cung lòng của Thiên Chúa có con người.
- Khi tuyên xưng “Giêsu” là danh hiệu “trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu”, chúng ta đồng tuyên xưng đó là danh vượt không gian, vượt thời gian, danh có quyền tối thượng trên hoàn vũ, trên muôn loài hữu hình, vô hình.
Danh Chúa Giêsu oai phong đến nỗi, mọi quyền lực, dù tốt lành hay tội lỗi, dù ngang bướng hay vâng phục đều phải thờ lạy, suy tôn: “Khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ”.
Dựa vào lời xưng tụng ấy, mỗi khi tuyên xưng vương quyền Chúa Giêsu, chúng ta ca tụng: “Khi nghe Danh Thánh Chúa Giêsu, cả bầu trời bừng sáng, cả tà thần chạy trốn, khắp trái đất khiếp run” (lời bài hát Chúa là Vua).
Lại một lần nữa, ta thấy lòng thương xót trao ban cho thế giới, không chỉ danh Chúa Giêsu, mà còn trao uy quyền lớn lao của danh ấy, để từ nay, mỗi lúc rơi vào cám dỗ, chạm phải những thách thức của linh hồn, rơi vào những tăm tối của đời sống, những bế tắc vây bũa, ta đều nại đến danh Chúa Giêsu.
Có quyền lực trên tội lỗi và ma quỷ, Chúa Giêsu tha thứ cho ta. Là ánh sáng soi trần thế như Chúa đã từng khẳng định: “Ta là sự sáng thế gian”, Chúa sẽ mở lối bình an để ta tiến về phía Người. Là chính ơn phục sinh của trần thế, Chúa tháp nhập đời ta vào thập giá của Người, để ta cùng chết và cùng vinh hiển phục sinh với Người.
- Chúa Giêsu cũng được gọi là Đức Chúa như Chúa Cha. Danh của Người cao trọng tột bậc, vì mỗi lần ta tuyên xưng, sẽ là mỗi lần ta tôn vinh Chúa Cha: “Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Kitô là Chúa”.
Danh hiệu Giêsu được siêu tôn để trở thành quyền năng của sự cầu nguyện: “Bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó” (Ga 14, 13-14).
Chính vì tin vào danh Chúa Giêsu, khi cử hành phụng vụ và cử hành các giờ cầu nguyện nói chung, Hội Thánh đều nại vào danh ấy. Hội Thánh luôn kết thúc mọi lời nguyện bằng câu: “Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con”.
Lòng thương xót của Thiên Chúa trao cho ta thánh danh “Giêsu” để ta biết sử dụng mà liên lỉ cầu nguyện, mà sống với danh ấy, để Thiên Chúa luôn trong ta, ở cùng ta.
Nếu Chúa Giêsu là chính “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, thì danh thánh Giêsu minh chứng, Thiên Chúa luôn hiện diện, luôn song hành cùng ta trong từng giây phút của cuộc đời.
Lòng thương xót trao ban thánh danh Giêsu luôn thúc giục ta hãy kêu cầu danh Chúa Giêsu, hãy nại vào danh Chúa Giêsu mà kêu cầu. Hiệu lực của lời cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu là một hiện thực quý báu mà mỗi chúng ta, nếu không chểnh mảng việc cầu nguyện, đều trải nghiệm và kinh nghiệm.
- Còn thánh Phêrô thì khẳng định, ngoại trừ thánh danh Chúa Giêsu, “dưới gầm trời này không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta phải nhờ vào danh nào đó mà được cứu độ” (Cv 4,12). Thánh danh Chúa Giêsu cũng chính là trung tâm của sứ điệp mà các tông đồ, các vị truyền giáo, cả Hội Thánh loan báo cho thế giới qua mọi thế hệ.
Lòng thương xót của Thiên Chúa trao ban thánh danh Chúa Giêsu còn như phương tiện để Thiên Chúa cứu độ mọi người. Công tác truyền giáo của Hội Thánh nhấn mạnh hết sức ơn cứu độ mà Chúa Giêsu mang đến cho trần thế.
Vì thế, Hội Thánh truyền giáo là Hội Thánh giới thiệu Chúa Giêsu cho thế giới. Theo lệnh truyền của Chúa Giêsu, mọi người phải được cứu độ, Hội Thánh mời gọi hãy tuyên xưng danh Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của Thiên Chúa mà cả loài người đều có quyền tận hưởng.
4. Kết luận.
Ta có thể diễn tả cuộc đời của Ngôi Lời nhập thể bằng đồ thị hình parabol mà chiều xuống là sự tự hủy của Người, đáy là kiếp phàm nhân mà Người đảm nhận và chiều lên là việc Thiên Chúa Cha siêu tôn người con của mình.
Thứ bảy tuần Thánh, khi Chúa Giêsu ngủ yên trong mồ, ta thấy nơi đó là tất cả tình yêu tự hạ vì xót thương mà Thiên Chúa không bao giờ tiếc để ban phát cho ta.
Phận là phận Thiên Chúa, nhưng nay lại có thể ngủ yên trong mồ. Chỉ có thể là lòng thương xót xuất phát từ chính Thiên Chúa mới diệu kỳ đến vậy.
Tự hủy và hạ mình vì xót thương, Đấng là Thiên Chúa làm người ngủ yên trong mồ, dạy nhân loại này, thế giới này và từng con người không được bỏ qua bất cứ hoàn cảnh nào đòi hỏi họ phải dấn thân, phải ném mình trong hy sinh và phục vụ.
Bởi khi trình bày mầu nhiệm tự hủy của Con Thiên Chúa, tác giả thư Philipphê như muốn mọi người hãy học, hãy bắt chước mẫu gương tự hủy của Người mà sống cho nhau, sống vì nhau, sống trong lòng yêu mến mà Người hằng dạy và nêu gương.
Nếu tự hủy lừ hành động khởi đi từ lòng thương xót, thì bất cứ ai, luôn biết ý thức theo gương Chúa Giêsu để sống mầu nhiệm tự hủy, người đó cũng cho thấy mình đang nỗ lực sống lòng thương xót của Chúa.
Được gọi là con Thiên Chúa, rõ ràng chúng ta đang sống trong ơn gọi làm con trong tương quan với Người Con Một của Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. Như vậy, chúng ta đã sống, đang sống, và còn tiếp tục hướng tới mầu nhiệm tự hủy của chính Chúa Giêsu, để biểu lộ lòng thương xót như Chúa Giêsu nơi chính ơn gọi của chúng ta.
Bởi đang sống chính mầu nhiệm tự hủy, chúng ta cần nghiêm túc tra xét chính mình, để đừng chểnh mảng trong ơn gọi, đừng lơ đãng hay biếng nhát bổn phận của người thuộc về Thiên Chúa, người có nhiệm vụ phản ánh thực chất đời sống của Chúa Giêsu cho thế giới.
Sống ơn gọi làm con, chúng ta là họa ảnh của Chúa Giêsu Kitô nơi thế gian. Không ai cho phép họa ảnh lại có thể khác chủ thể. Họa ảnh mà khác chủ thể, sẽ không là họa ảnh của chủ thể ấy. Họa ảnh mà khác chủ thể, nó chỉ là dị ảnh, là lệch chuẩn, la sản phẩm sai lầm. Mà đã dị, đã lệch, đã sai, chắc chắn sẽ xấu, sẽ chỉ là một thứ tầm thường, có khi cần phải vứt bỏ.
Chính Chúa Giêsu đã từng lên tiếng chỉ trích lối sống mang danh Kitô hữu mà không sống thực chất Kitô hữu. Người gọi đó là những kẻ giả hình. Người nói nặng: “Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt 23, 27-28).
Lối sống giả hình không bao giờ có lợi cho ai, có khi còn rất nguy hiểm, vì nó che đậy biết bao nhiêu sự xấu, sự dữ. Nếu sự dữ, sự xấu mà được che đậy, được ấp ủ thì nguy hiểm vô cùng. Bởi sẽ có lúc nó bùng phát.
Thà đừng là Kitô hữu, còn hơn là Kitô hữu mà chẳng bao giờ biết hy sinh, chẳng bao giời ý thức mầu nhiệm tự hủy để trao ban chính mình như tặng phẩm của tình yêu gởi đến anh chị em quanh mình.
Có một lời kinh đơn sơ, nhưng sâu sắc, vẫn sống cùng Hội Thánh, “Kinh Hòa Bình”. Lời kinh mà bất cứ ai nghiền ngẫm và sống đúng như vậy, không chỉ trở nên tặng phẩm tuyệt vời cho trần gian, nhưng còn mang lại niềm bình an, nỗi hạnh phúc lớn lao cho chính người dâng tặng: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người....”.
Thứ bảy tuần Thánh, chiêm ngắm mầu nhiệm tự hủy vì lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta hãy ca vang lời Kinh Hòa Bình, biến nó trở thành lời cầu xin Chúa ban ơn giúp sức để sống chứng tá của mầu nhiệm tự hủy, sống chứng tá của tình yêu thương xót.
Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG
Xem đính kèm : tại đây.
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.