SUY NIÊM CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH

04-01-2025 1,398 lượt xem

Is 60,1-6; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12

Mục Lục

TRỞ NÊN DẤU CHỈ CỦA NIỀM HY VỌNG – + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

HAI CUỘC TÌM KIẾM, AI TÌM AI? – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

ÁNH SÁNG CHIẾU RỌI MỌI DÂN NƯỚC – Phêrô Phạm Văn Trung

ÁNH SÁNG CHIẾU TOẢ TRÊN ĐỊA CẦU – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ÁNH SÁNG CỦA NGÔI LỜI THIÊN CHÚA – Jorathe Nắng Tím 

SỰ HIỂN LINH CỦA CHÚA ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA NÀO? – Lm. Giuse Nguyễn Trọng Sơn

NIỀM VUI CHO DÂN NGOẠI – Thiên San

HAI HƯỚNG DẪN VIÊN – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

CHIÊM NGẮM KHUÔN MẶT THIÊN CHÚA – Lm. Gioan Phạm Duy Anh, S.J.

TRỞ NÊN DẤU CHỈ CỦA NIỀM HY VỌNG

Giáo Hội hoàn vũ và Giáo Hội địa phương vừa long trọng khai mạc Năm Thánh thường lệ 2025. Đối với một số anh chị em tín hữu, Năm Thánh không gợi cho họ một điểm nhấn đặc biệt trong đời sống đức tin và trong đời sống hằng ngày, vì thế, dường như thời điểm Hồng ân này không tác động và ảnh hưởng đến họ. Năm Thánh đến rồi lại đi. Người tín hữu chúng ta phải làm gì?

Đức cha Rino Fisichella, quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng, nói đến điều mong muốn của Đức Thánh Cha khi cử hành Năm Thánh 2025 như sau: “Ý nghĩa sâu xa nhất của Năm Thánh luôn luôn là kinh nghiệm về sự tha thứ và lòng thương xót của Thiên Chúa, và điều này sẽ càng trở nên quan trọng hơn khi đứng trước việc loan báo niềm hy vọng. Trong Năm Thánh, chúng ta không chỉ có niềm hy vọng nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa. Niềm hy vọng trở thành một điều chắc chắn, một kinh nghiệm cụ thể mà qua đó mỗi người chúng ta có thể chạm tới lòng thương xót và sự tha thứ của Ngài”.

Đức Giê-su là niềm hy vọng cho thế giới. Người đã đến trần gian để loan Tin Mừng cho người nghèo khó, băng bó những vết thương tinh thần và thể xác của con người, đồng thời loan báo cho họ: Năm Hồng ân và ngày khen thưởng của Thiên Chúa đã đến rồi (x. Lc 4,16-22). Qua lời giáo huấn, và nhất là qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Người, Đức Giê-su khẳng định với thế giới: Thiên Chúa luôn hiện diện bên con người trong những thăng trầm đau khổ của họ. “Hết thảy những ai khó nhọc và gánh nặng, hãy đến với tôi. Tôi sẽ nâng đỡ bổ sức cho các người” (Mt 11,28).

Khi cử hành Năm Thánh, Giáo Hội Công giáo muốn giới thiệu Đức Ki-tô với toàn thể thế giới, đồng thời khẳng định, Người là niềm hy vọng cho nhân loại, mặc dùng bối cảnh thế giới đang trong tình trạng ảm đạm đau thương. Người là Đấng Cứu nhân độ thế. Mọi nền văn hóa, mọi chủng tộc và ngôn ngữ đều có thể đón nhận ơn Cứu độ, nếu biết đón nhận Người.

Lễ Hiển Linh trong Năm Thánh mang một ý nghĩa đặc biệt: Như Chúa Giê-su đã tỏ mình cho muôn dân, mà đại diện là các nhà đạo sĩ, hôm nay, đến lượt Giáo Hội nói với muôn dân về tình yêu của Thiên Chúa đối với toàn thể nhân loại. Tình yêu này được thể hiện qua cuộc đời dương thế của Đức Giê-su, nhất là qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Người.

Các Bài đọc Lời Chúa trong lễ Hiển Linh đều mang một nội dung chính: Đức Giê-su là Vua muôn loài. Người đến trần gian làm cho thế gian tỏa sáng. Người là Ánh sáng muôn dân, dẫn đưa con người ra khỏi tối tăm tội lỗi. Những ai thành tâm đón nhận và bước theo Người, sẽ được chiếu sáng bởi Ánh sáng thiên linh ngàn đời. Họ sẽ trở nên ánh sáng thế gian để cộng tác với Chúa Giê-su, làm cho ơn Cứu độ lan tỏa đến tận cùng thế giới.

Nếu thành thánh Giê-su-sa-lem được ngôn sứ I-sa-i-a hối thúc tỏa sáng ra khắp miền xung quanh, thì ngày nay, Giáo Hội của Chúa Ki-tô được mời gọi hãy tỏa sáng khắp thế giới. Giáo Hội là công trình của Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa lại muốn qua nỗ lực của con người – thành viên của Giáo Hội – để làm cho Ánh sáng muôn dân được loan truyền. Năm Thánh là thời điểm nhắc cho mỗi Ki-tô bổn phận cao quý này. Mỗi chúng ta hãy trở nên dấu chỉ của niềm hy vọng, là hình ảnh sống động của Đức Giê-su, để trở nên ánh sáng giữa xã hội còn nhiều tăm tối và bất công. Đây cũng là thao thức của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô. Trong sắc chỉ hiệu triệu của mình, Đức Thánh Cha viết: “Loan báo niềm hy vọng thì chưa đủ, mà còn cần phải đưa ra những dấu chỉ cụ thể về sự Phục Sinh, nghĩa là bảo vệ phẩm giá của mỗi người, thăng tiến con người, làm mọi thứ để mang lại cho mỗi người một tương lai”.

Chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì Hồng ân đức tin. Thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Ê-phê-xô ý thức phẩm giá và vinh dự cao quý của mình, vì từ nguồn gốc dân ngoại (tức là ngoài Do Thái), Thiên Chúa đã cho chúng ta được cùng thừa kế với dân riêng của Ngài.

Các đạo sĩ đến từ phương Đông để chiêm bái vị Vua mới sinh; vua Hê-rô-đê cũng mượn danh chiêm bái Hài nhi Giê-su, nhưng động lực của ông hoàn toàn khác. Ông muốn giết hại Hài nhi mới sinh để trừ một hậu họa. Những cuộc hành hương trong Năm Thánh là những cuộc lên đường tìm kiếm Chúa. Chúng ta chỉ được thực sự gặp Chúa khi thiện chí canh tân đời sống, sống ơn hòa giải với Chúa và với anh chị em mình. Hê-rô-đê không bao giờ được gặp Chúa Giê-su, ông không thể giết hại được Hài Nhi Giê-su, mặc dù ông dã tâm sát hại biết bao hài nhi vùng đồng quê Bê-lem. Thiên Chúa không tỏ mình cho những người sống trong gian ác, ghen tương và hận thù và dùng bạo lực huỷ diệt.

Chúng ta hãy đến bái lạy vị Vua mới sinh. Đó là Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa làm người. Người đang ngự giữa chúng ta. Hãy đến với Người để tìm thấy niềm hy vọng cho cuộc đời, để rồi mỗi chúng ta cũng trở nên dấu chỉ của niềm hy vọng cho thế giới hôm nay. mục lục

+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên

HAI CUỘC TÌM KIẾM, AI TÌM AI?

Anh chị em thân mến,

Trình thuật Tin Mừng trong ngày Lễ Chúa Hiển Linh hôm nay mô tả hai cuộc tìm kiếm:

Trước tiên là con đường tìm kiếm Chúa của các nhà chiêm tinh. Các nhà chiêm tinh chuyên nghiên cứu thiên văn và nhìn ngắm sao trời để đoán ra vận mạng con người, cách riêng một số người nổi tiếng. Vào một đêm kia, trong khi nhìn trời ngắm sao, họ bỗng nhận ra có một vì sao lạ xuất hiện bên phương Đông. Ngôi sao này rực chiếu hào quang, tỏa chiếu ánh sáng hơn các vì sao mà họ đã từng ngắm.

Theo kinh nghiệm và dựa vào khả năng chuyên môn. Họ biết đây là vì sao chiếu mệnh của một vĩ nhân vừa được sinh ra cho thế giới này. Lập tức, các nhà chiêm tinh tuy ở các nơi khác nhau, họ cũng không có phương tiện truyền thông như điện thoại hay hệ thống mạng để báo cho nhau biết khám phá này. Họ không ai bảo ai, lập tức lên đường tìm kiếm.

Hành trình tìm kiếm của họ không dễ dàng. Dù có ngôi sao dẫn đuờng, nhưng ngôi sao lúc ẩn lúc hiện. Cũng có lúc các ông bị mất dấu; không phải do các ông đi lạc; nhưng ngôi sao không xuất hiện thì biết lối nào để đi. Trong hoàn cảnh đó, họ không hề thất vọng, tiếp tục tìm kiếm bằng cách đến hỏi vua Hê-rô-đê về vị quân vương mới được sinh ra ở nơi nào? Nghe tin ấy, Hê-rô-đê một mặt tìm kiếm mặt khác tìm cách thủ tiêu người có thể tranh quyền đoạt vị với ông ta sau này? Vua hỏi các thượng tế và kinh sư để tìm câu trả lời và báo cho ba nhà chiêm tinh biết về nơi chốn đấng chăn dắt dân của Thiên Chúa sẽ ra đời.

Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó biết Chúa theo kinh điển mà không hề cất bước đi tìm nên cái biết của họ đã chẳng giúp gì cho họ. Vua Hê-rô-đê cũng biết; nhưng điều mà vua biết không đem vua lại gần Chúa; trái lại cái biết đó lại là nguyên nhân đem đến cho vua nỗi lo sợ. Phát sinh từ nỗi sợ hãi hoang tưởng, sợ mất quyền hành, ông ta đã giết hết những ai là mầm mống đe doạ sẽ lật đổ ngai vàng của ông.

Sau cùng, ngôi sao lại xuất hiện dẫn các nhà chiêm tinh đi đến nơi mà họ muốn đến. Thấy hài nhi được quấn tã nằm trong máng cỏ. Họ đã sụp lậy và dâng tặng những bảo vật quí giá nhất rồi sợ vua Hê-rô-đê giết, họ đã theo đường khác mà về nhà. Thật tiếc cho họ vì họ đã hoàn tất một cuộc hành trình, đã vất vả tìm kiếm, đã đi đến đích nhưng cuối cùng lại trở về nơi xưa chốn cũ. Họ vẫn chỉ là những nhà chiêm tinh. Họ chưa phải là môn đệ của Chúa!

Thật ra, hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh tuy đáng quí trọng, nhưng đây không phải là mối bận tâm của Thánh Sử. Điều mà Thánh sử muốn nhấn mạnh là sự xuất hiện của Đức Giê-su trong chương trình yêu thương và tìm kiếm con người trở về nẻo chính đường ngay của Thiên Chúa.

Chương trình tìm kiếm con người của Thiên Chúa đã được khởi sự ngay sau khi con người sa ngã. Người tìm đủ mọi cách để tỏ bầy tình yêu và lòng thương xót để mời gọi con người trở về. Và hôm nay, sau khi Giáng trần, Thiên Chúa muốn tỏ bầy cho nhân loại biết về chân tướng của hài nhi.

Do đó, việc Chúa hiển linh là một sáng kiến phát sinh từ kho tàng ân huệ của Thiên Chúa. Ngôi sao cũng là một cách thức để dẫn đưa ba nhà chiêm tinh; thậm chí, Chúa có thể dùng cả những kẻ gian ác như Vua Hê-rô-đê như là cách thức soi sáng, cung cấp thông tin giúp họ khỏi lạc hướng. Như vậy, Thiên Chúa luôn tìm kiếm bằng cách soi sáng cho những ai tha thiết tìm ơn cứu độ, dù đôi khi họ cảm thấy ánh sáng lúc ẩn lúc hiện, đường đi không rõ và tương lai lại mịt mù.

Việc tỏ mình của Thiên Chúa đã trở nên trọn vẹn khi Đức Giê-su đã cho đi tận cùng cuộc sống của mình. Chính việc cho đi và tự hiến sau cùng của Người lại là cuộc tỏ mình huy hoàng nhất về chân tuớng đích thật của Người qua biến cố Phục Sinh. Vào ngày đó, Đức Giêsu bộc lộ trọn vẹn thần tính của Thiên Chúa nơi Người. Và chính nhờ ơn Phục Sinh mà chúng ta nhận ra thần tính của Đức Chúa.

Các môn đệ là nhân chứng về cuộc Hiển Linh Phục Sinh. Niềm tin của chúng ta hôm nay cũng dựa vào lời chứng của các tín hữu tiên khởi; đó chính là: Thiên Chúa đã tỏ mình trong thân phận con người của Đức Giêsu, Người đã ở giữa chúng tôi và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người từ Chúa Cha mà đến.

Anh chị em thân mến,

Như vậy với trình thuật Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho mọi người biết rằng: với Chúa không ai là người ngoài cuộc, tất cả đều được mời gọi đón nhận ơn cứu độ. Ai ai cũng đựợc diễm phúc làm con của Ngài. Ai ai cũng đuợc mời gọi sống để tỏ bầy sự hiện diện của Thiên Chúa.

Thiên Chúa đã làm người, đã tỏ chân tướng đích thật của Ngài cho chúng ta nhận biết. Nhưng chúng ta đã làm gì để việc hiển linh của Thiên Chúa trở thành lời chứng sống động trong cuộc sống mình? Cũng có lúc chúng ta cảm thấy Chúa quá gần gũi, sát bên mình và thúc giục chúng ta ra đi để thực hiện các việc cả thể. Với ý ngay lành chúng ta tuởng như là Chúa rất cần chúng ta để làm các việc phi thường… Nhưng rồi sứ mạng đâu dễ dàng, trải qua những giây phút chán nản và thất vọng khiến chúng ta muốn bỏ cuộc.

Nhưng có một điều khiến ta ngạc nhiên và ngạc nhiên luôn mãi là Thiên Chúa không chán, không thất vọng về ta. Ngài dùng đủ mọi cách thức để bộc lộ và hướng dẫn chúng ta: Từ ngôi sao lúc ẩn lúc hiện, đến người không tin như Hê-rô-đê và các bậc vị vọng am tường đạo Chúa. Thiên Chúa vẫn dùng họ, không chừa một ai, để hỗ trợ, động viên, nhắn gửi cho ta một sứ điệp là ta vẫn đáng tin, đừng chán nản, hãy tiếp tục lên đuờng, căng buồm xuôi gió ra khơi.

Sáng kiến là của Thiên Chúa. Ngài đã đến ngay tại nhà, trong hoàn cảnh riêng của mỗi người. Như các nhà chiêm tinh, chúng ta hãy lên đuờng. Con đuờng làm chứng về việc tỏ mình, hiển linh của Thiên Chúa không nằm xa và ở ngoài khả năng của chúng ta. Nó nằm ngay ở bản thân, trong gia đình, giữa vợ chồng và con cái, giữa kẻ tin và người không tin, giữa những ai đủ can đảm để cho chất ‘người’ lớn hơn và bóp nghẹt chất con (vật) của mình. Để thể hiện lòng quyết tâm này, chúng ta hãy:

Trao cho nhau nụ cuời, các câu nói cảm thông hơn là trách móc, ghen tỵ và oán than nhau.

Đến với nhau bằng con tim mở rộng để khoan hồng và dung thứ cho những thiếu sót và bất toàn của nhau.

Mở rộng đôi tay để đón tiếp hơn là loại bỏ, hất hủi và xua đuổi nhau.

Nói chung, chúng ta làm cho Chúa được hiển linh bằng cách tìm kiếm và thực thi Lời Chúa – lời yêu thương, nâng đỡ, hỗ trợ và khích lệ nhau, hơn là chỉ biết ngồi đó mà kêu nài Lậy Chúa và Lậy Chúa xuông thôi đâu.

Đó là một số đề nghị rất đơn sơ mà ai trong chúng ta cũng có thể thực hiện. Tất cả đều là cơ hội để vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện qua lối sống chứng nhân, tuy tầm thường nhưng lại chứa đựng quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa nơi mình. Cầu xin được như thế. Amen! mục lục

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

ÁNH SÁNG CHIẾU RỌI MỌI DÂN NƯỚC

Tạp chí La Civiltà Cattolica số ra ngày 23 tháng 12 năm 2024 vừa qua có viết rằng: “Đây là lễ Giáng sinh thứ ba liên tiếp mà chúng ta đang sống trong thời kỳ chiến tranh…Cơn thịnh nộ không thể kiểm soát đang tấn công tất cả mọi người, đặc biệt là dân thường, người già, phụ nữ và trẻ em. Những ngôi nhà đổ nát chôn vùi cư dân, toàn bộ khu phố bị san phẳng, bệnh viện trở thành mục tiêu có thể là nơi ẩn náu của bọn khủng bố, những người mê sảng lang thang không biết đi đâu, khắp nơi đều thấy xác trẻ em đã chết. Thiếu hụt các nhu yếu phẩm cơ bản, chẳng hạn như nước và thuốc men. Việc chăm sóc những người bị thương rất khó khăn, nơi trú ẩn an toàn rất hiếm cũng như cơ hội tái tổ chức chuỗi cung ứng thực phẩm. Ở khắp mọi nơi, chúng ta thấy đống đổ nát, máu, sự tuyệt vọng, cái chết: những thực tế gợi lại quá khứ xa xôi mà chúng ta nghĩ rằng mình đã bỏ lại phía sau mãi mãi.”

Sau đó tờ báo nhận định:

“Chúng ta mừng lễ Chúa Giáng Sinh năm nay trong một tình huống bi thảm như vậy. Chúa Giêsu lại một lần nữa sinh ra trong lịch sử và trong cuộc sống của chúng ta. Đây là câu chuyện muôn thuở, một câu chuyện thể hiện kế hoạch của Thiên Chúa, lẽ ra phải diễn ra một cách phong phú và thanh thản, nhưng thay vào đó lại nảy sinh trong một cảnh tượng đau khổ, thất bại, bạo lực và chết chóc.” Và tờ tạp chí đặt một câu hỏi: “Điều này đối với chúng ta, có ý nghĩa gì?” [*]

Ánh sáng chiếu rọi 

Chúng ta đang sống trong một thế giới có quá nhiều sự chia rẽ. Chúng ta không muốn nghĩ mọi thứ trên thế giới lại tồi tệ đến vậy. Nhưng không phải thế giới của chúng ta đen tối như vậy hay sao? Chúng ta dễ có cảm giác có quá nhiều bóng tối ở khắp mọi nơi. Tất cả những điều này làm nổi bật những xung khắc trong các mối tương quan của con người hiện tại. Nhưng có bao nhiêu người trong chúng ta thừa  nhận rằng nguyên cớ của những xung khắc đó nằm ở chính cõi lòng sâu thẳm của tất cả chúng ta: thiếu ánh sáng của Chúa Giêsu Nhập thể và Nhập thế. Bóng tối không nhận ra ánh sáng: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Ngài ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Ngài mà có, nhưng lại không nhận biết Ngài” (Ga 1: 9-10). Nhưng hôm nay - cũng như ngàn năm trước, ánh sáng đó vẫn đang tỏa sáng. Bóng tối cũng không thể chế ngự ánh sáng: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1: 5). Ánh sáng đó - Ngôi Lời Giêsu - chỉ cho chúng ta con đường thoát khỏi tất cả những điều tồi tệ này để đến với những điều tốt đẹp hơn.

Những chương đầu của sách Tin Mừng theo thánh Mátthêu chỉ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu là ai và Ngài từ đâu đến. Chúa Giêsu đến từ Bêlem, quê hương của vua Đavít, thuộc miền Giuđê. Nhưng thực ra chúng ta học biết rằng Chúa Giêsu là Ngôi lời đã có từ lúc khởi đầu: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1:1). Ngôi Lời cũng là “Sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Ga 1:4) cho thời đó và cho đến tận ngày nay. Ánh sáng Ngôi Lời Giêsu chiếu vào thế gian. Những nhà chiêm tinh đến Giêrusalem, theo dấu một ngôi sao. Không phải là một ngôi sao bình thường. Người ta tranh luận: đây có thể là một sao chổi không? Hay là sự giao thoa giữa các hành tinh? Một siêu tân tinh, có lẽ vậy? Chúng ta không biết chắc. Nhưng dù gì đi nữa thì đó hẳn là một thiên thể vô cùng chói lọi mà Đấng tạo nên các tinh tú đã đặt trên bầu trời. Thực tế là ánh sao đó nổi trội và đang chuyển động, rõ ràng là kỳ diệu, chắc chắn là siêu nhiên. Thiên Chúa Cha khiến các tầng trời chuyển động để cho thấy sự lớn lao nơi Ngôi Lời Thiên Chúa, Con của Ngài. 

Thật không hợp lý chút nào khi Vua của người Do Thái lại sinh ra trong một máng cỏ bừa bộn. Ít ra là phải trong một dinh thự dành riêng cho các cậu ấm cô chiêu giàu có và quyền quý chứ! Thế mà Ngài lại là một đứa trẻ nghèo hèn hơn cả những đứa trẻ con nhà bình dân. Tại sao? Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã nói “Dấu hiệu của Thiên Chúa là Ngài đã trở nên nhỏ bé vì chúng ta. . . . Thiên Chúa đã trở nên nhỏ bé để chúng ta có thể hiểu Ngài, chào đón Ngài và yêu mến Ngài” (Bài giảng Lễ Đêm Giáng Sinh, 24 tháng 12 năm 2006). Con trẻ được tỏ lộ ra cho tất cả chúng ta, cho người Do Thái và người ngoại, cho người giàu và người nghèo: “Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel Dân Ngài” (Luca 2:30).

Lễ trọng Hiển Linh hôm nay, Giáo hội mừng Chúa Giêsu tỏ mình ra với thế giới, qua cuộc gặp gỡ với ba nhà thông thái từ phương Đông, được ngôi sao dẫn đường, để chiêm ngắm hài nhi mới sinh trong máng cỏ ở Bêlem. Họ là dân ngoại, không thuộc về Istael, dân Chúa. Hiển Linh có nghĩa là đột nhiên cảm thấy Thiên Chúa bộc lộ chính Ngài cho chúng ta hiểu thấu, cho chúng ta nhận ra được điều gì đó rất quan trọng đối với mình; một trải nghiệm tâm linh mạnh mẽ. Lễ Hiển Linh quan trọng với chúng ta như thế nào, chúng ta được Thiên Chúa bộc lộ cho điều gì và cảm nghiệm mạnh mẽ điều gì?

Liệu chúng ta có cảm nghiệm được điều ngôn sứ Isaia diễn tả trong bài đọc thứ nhất không: “Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Ngài xuất hiện trên ngươi. Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước” (60: 2-3)?

Trong vở kịch Barjona của Sartre, ba đạo sĩ giải thích hành trình của họ với người đứng đầu Do Thái, người này gọi họ là những kẻ ngốc nghếch già nua lẩm cẩm: “Này Barjona, đúng là chúng tôi rất già nhưng chúng tôi có sự khôn ngoan và biết mọi điều xấu xa trên thế giới. Khi chúng tôi nhìn thấy ngôi sao này trên trời cao, trái tim chúng tôi nhảy lên vì vui sướng như trái tim của trẻ thơ. Chúng tôi đã từng như trẻ thơ, và chúng tôi lên đường vì chúng tôi muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình, nhiệm vụ phát xuất từ niềm hy vọng, với tư cách là những con người. Này Barjona, người đánh mất niềm hy vọng, sẽ bị đuổi ra khỏi làng và bị nguyền rủa. Những viên đá trên đường sẽ thô ráp hơn dưới chân ông ta và những bụi cây sẽ nên gai góc hơn. Gánh nặng sẽ đè nặng lên lưng ông ta, mọi bất hạnh sẽ hành hạ ông ta như những con ong giận dữ, và mọi người sẽ chế giễu ông ta. Nhưng mọi thứ đều mỉm cười với người có niềm hy vọng. Đối với người ấy, thế giới là một món quà. Vậy thì hãy đến đây, liệu ông muốn ở lại đây hay quyết định đi theo chúng tôi?”

Chúng ta có dám, như ba vị đạo sĩ, lên đường tìm kiếm niềm hy vọng của chúng ta, nơi Chúa Giêsu, trở thành “Những Người Hành Hương của Hy Vọng” (Chủ đề của Năm Thánh 2025) và trao tặng Ngài món quà đáng giá nhất ở mọi lứa tuổi, chính là tình yêu của chúng ta. Chúng ta hãy mang tình yêu của chúng ta dành cho chồng, cho vợ, cho con cái, bạn bè, hàng xóm, đến máng cỏ của Chúa Hài Nhi. Xin Chúa chấp nhận và chiếu sáng tình yêu đó của chúng ta.

Tỏa sáng như những ngọn đèn giữa bóng tối bao quanh

Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy “mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông” (Mt 2:1), họ thấy một ánh sáng trên bầu trời, và họ lên đường hướng về Giêrusalem tìm kiếm và hỏi: “Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu?” (Mt 2:1-2). Và họ đã được chỉ dẫn, bằng lời trong Sách Thánh: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2:5-6). Tại Bêlem này, họ tìm thấy thứ mà họ đang tìm kiếm. Không chỉ là một kỳ quan thiên văn dẫn họ đến một bữa tiệc thỏa mãn đôi mắt chiêm tinh của họ, mà là một vẻ đẹp trời cao làm no thỏa trái tim của họ: hy vọng, hòa bình, niềm vui, từ vị Vua trẻ thơ mà họ tìm thấy ở Bêlem.

Những lời mở đầu của bài đọc thứ nhất đưa ra cho chúng ta một mệnh lệnh để tuân theo: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi” (Is 60:1). Ngôi sao, ánh sáng của Chúa Giêsu Hài Đồng, là dành cho tất cả chúng ta, những người tìm kiếm hòa bình, ơn cứu độ, cuộc gặp gỡ giữa dân Chúa và dân ngoại, những người tin và những người không tin. Thiên Chúa gọi chúng ta lại với nhau để được thấm đẫm tình yêu của Ngài, và Ngài kêu gọi chúng ta trở thành một gia đình nơi hòa bình và hòa giải ngự trị. Ánh sáng mang lại cho chúng ta đức tin, hy vọng và tình yêu. Làm thế nào chúng ta chào đón những người hàng xóm và bạn bè không chia sẻ đức tin của mình? Giống như các nhà thông thái vốn đã thực hiện một chuyến đi phi thường để tỏ lòng tôn kính Chúa Kitô mới sinh, chúng ta cũng được mời gọi tỏ lòng tôn kính và trở thành người loan báo Tin Mừng, để công bố rằng Chúa Giêsu đã sinh ra và có niềm hy vọng nơi Ngài, Đấng đã sống và yêu thương, đã chết và đã sống lại vì chúng ta. Chúng ta tràn ngập niềm vui và dám mời những người khác bước vào chia sẻ niềm vui đó.

Lễ Hiển Linh không chỉ là một sự kiện cách đây lâu rồi. Lễ Hiển Linh nhắc nhở chúng ta rằng sứ mệnh của Chúa Giêsu là dành cho tất cả mọi người. Ngài đến vì mọi người và mọi dân nước. Ánh sáng của Chúa Giêsu chiếu rọi trên chúng ta ngày hôm nay, hướng dẫn chúng ta và chỉ cho chúng ta con đường. Ánh sáng này mời gọi chúng ta theo Chúa Giêsu và chia sẻ ánh sáng của Ngài với những người khác.

Trong bài đọc thứ hai, thư gửi tín hữu Êphêsô, thánh Phaolô nói về một mầu nhiệm được mặc khải cho ngài. Mầu nhiệm này là dân ngoại là đồng thừa kế với người Do Thái, cùng chia sẻ những lời hứa qua Chúa Giêsu. Bài đọc này cho thấy rằng ơn cứu độ mà Chúa Giêsu mang lại là dành cho tất cả mọi người: “Mầu nhiệm đó là: trong Chúa Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3: 2-3, 5-6).

Trong quá khứ, có những sự chia rẽ mạnh mẽ giữa người Do Thái và người ngoại bang. Sứ điệp của Phaolô phá vỡ những rào cản này. Thánh nhân giải thích rằng trong Chúa Giêsu, tất cả mọi người đều được chào đón. Đây cũng là sứ điệp của Lễ Hiển Linh: các nhà thông thái, vốn không phải là người Do Thái, đã đến để thờ lạy Chúa Giêsu. Chuyến viếng thăm của họ cho thấy Chúa Giêsu đã đến vì tất cả các dân nước.

Lễ Hiển Linh nhắc nhở chúng ta rằng ân sủng của Chúa Giêsu dành cho tất cả mọi người, bất kể xuất thân của họ. Ánh sáng của Chúa Giêsu chiếu rọi trên tất cả mọi người, mời gọi chúng ta trở nên thành viên của gia đình Thiên Chúa. Chúng ta được kêu gọi sống sứ điệp hiệp nhất này và chia sẻ Tin Mừng với những người khác, trở nên những ngọn đèn tỏa sáng giữa bóng tối bao quanh chúng ta. mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung

[*] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giang-sinh-trong-thoi-chien

ÁNH SÁNG CHIẾU TOẢ TRÊN ĐỊA CẦU

Lễ Hiển Linh là mầu nhiệm ánh sáng. Lời nguyện nhập Lễ Ban Đêm, Giáo Hội tuyên xưng Chúa “là nguồn sánh sáng thật đến soi chiếu trần gian làm cho đêm cự thánh này bừng lên rực rỡ”, và lời nguyện Lễ Rạng Đông Giáo Hội chỉ rõ Hài Nhi Giêsu là “ánh sáng mới của Ngôi Lời nhập thể” và cầu xin Thiên Chúa toàn năng “làm cho ánh sáng ấy rực lên trong mọi sinh hoạt của chúng con”. Ánh sáng ấy được biểu lộ trong ngày lễ Hiển Linh, ngày Chúa tỏ mình ra cách rõ nhất mà hôm nay chúng ta mừng kính.

Lời tiên báo của Isaia không ngừng làm cho chúng ta xúc động, nhất là khi chúng ta nghe lời ấy trong phụng vụ đêm Giáng sinh : “Dân đang bước đi trong tăm tối đã nhìn thấy một ánh sáng huy hoàng” (Is 9,1). Khi bóng đen bao phủ toàn cõi đất khiến dân bước đi trong tăm tối, bỗng một ánh sáng huy hoàng đã bừng lên.

Ánh sáng được diễn tả qua biểu tượng ngôi sao hướng dẫn cuộc hành trình của các nhà đạo sĩ. Chúa Kitô chính là Nguồn Sáng Thật, là “Mặt Trời mọc lên từ trên cao” (x. Lc 1,78) toả sáng trên trần gian và lan ra theo những vòng tròn đồng tâm. Trước hết trên Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria và Thánh Giuse được chiếu sáng bởi sự hiện diện thần linh của Hài Nhi Giêsu, kế đến là các mục đồng tại Bêlem; khi được thiên sứ báo tin, các ngài mau mắn chạy đến hang đá và gặp thấy nơi đó “dấu chỉ” đã được báo trước cho họ: một con trẻ được bọc trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ (x. Lc 2,12). Các mục đồng, cùng với Mẹ Maria và Thánh Giuse, đại diện cho “nhóm nhỏ còn lại của Dân Israel”, những người nghèo, những kẻ đã được loan báo Tin Mừng.

Ánh sáng của Chúa Kitô cuối cùng chiếu toả đến các vị Ðạo Sĩ, quả đầu mùa từ các dân ngoại : “Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng… và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người” (Mt 2,11). Trong khí đó, “cả nhà vua cùng các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân” (Mt 2,3) còn nằm trong bóng đêm, nơi mà tin tức về Ðấng Thiên Sai sinh ra, được thông báo một cách nghịch lý cho họ biết qua các vị Ðạo Sĩ, và khơi dậy không phải niềm vui mừng, nhưng sự lo sợ và những phản ứng thù nghịch (x. Mt 2,3). Ý định của Thiên Chúa quả thật là nhiệm mầu: “Sự sáng đã đến trong thế gian, mà người ta đã yêu mến tối tăm hơn sự sáng, vì việc họ làm là điều xấu” (Ga 3,19).

Nhưng thử hỏi ánh sáng đó là gì đây? Nó chỉ là một biểu tượng gợi ý, hay có một thực tại thật, được nói lên qua hình ảnh này? Thánh Gioan viết : “Thiên Chúa là sự sáng, tối tăm không hề có nơi Người” (1Ga 1,5). Gioan thêm: “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Hai lời quả quyết trên giúp chúng ta hiểu rõ hơn rằng: Ánh sáng bừng lên trong đêm Giáng Sinh là Tình Yêu Thiên Chúa.

Chúa Giêsu “là Ánh sáng đã chiếu soi lương dân và Vinh quang của Israel dân Chúa” (Lc 2,32); Ðược Thiên Chúa linh ứng, cụ Simêon đã thốt lên như thế. Ánh sáng chiếu soi mọi dân tộc, ánh sáng của lễ Hiển Linh phát xuất từ vinh quang của Israel dân Chúa, vinh quang của Ðấng Thiên Sai, mà theo Kinh Thánh, đã giáng sinh tại Bêlem, “thành của Vua Ðavít”. Các Ðạo Sĩ thờ lạy một Hài Nhi, vì các ngài nhìn nhận nơi Hài Nhi là ánh sáng đã hướng dẫn các ngài: ánh sáng của ngôi sao và ánh sáng của Kinh Thánh. Các ngài nhìn nhận nơi Con Trẻ vị Vua của người Giuđêa, vinh quang của dân Israel, và cũng là Vua của tất cả mọi dân nước.

Trong khung cảnh phụng vụ của lễ Hiển Linh cũng được biểu lộ mầu nhiệm Giáo Hội và chiều kích truyền giáo của Giáo Hội. Giáo Hội được mời gọi vừa chiếu sáng trong thế giới ánh sáng của Chúa Kitô, vừa phản chiếu ánh sáng đó nơi chính mình, như mặt trăng phản chiếu ánh sáng của mặt trời, đồng thời hoàn tất những lời tiên tri xưa nói cho thành thánh Giêrusalem: “Hãy chỗi dậy, hãy mặc lấy ánh sáng, bởi vì ánh sáng của ngươi ngự đến... Các dân tộc sẽ bước theo ánh sáng của ngươi, các Vua Chúa sẽ đi theo vinh quang của Nguồn Sáng ngươi” (Is 60, 1-3). Người kitô hữu sẽ phải thực hiện ơn gọi của mình là “chiếu toả ánh sáng của chúng con trước mọi người, ngõ hầu nhờ thấy những việc tốt chúng con làm mà họ tôn vinh Cha chúng con trên trời” (Mt 5,16).

Lời ngôn sứ Isaia thôi thúc chúng ta : " Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi. Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi." (Is 66,1-3). Ðây là một lời mời hướng tới Giáo Hội Chúa Kitô và hướng tới từng người Kitô hữu, mời gọi chúng ta ý thức hơn về sứ mệnh và trách nhiệm truyền giáo của mình đối với thế giới trong việc làm chứng và chiếu sáng Tin Mừng khắp thế gian. mục lục

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

ÁNH SÁNG CỦA NGÔI LỜI THIÊN CHÚA

Hầu như ai cũng thích ánh sáng và sợ bóng tối: căn phòng sáng sủa vẫn thích hơn góc tối mù u, nắng ấm ban mai vẫn thích hơn những ngày vắng bóng mặt trời, và không gì ngao ngán, bực bội hơn những buổi tối cả khu phố bị cúp điện, và nhà nhà, người người phải chìm trong bóng tối.

Nhưng không phải ánh sáng nào cũng chiếu sáng, ngọn đèn nào cũng ấm áp, vui tươi, vì có những ánh sáng làm chói mắt, những luồng sáng làm sợ hãi, run rẩy, những ánh đèn làm thui chột, mù lòa như ánh sáng phẫn nộ từ đôi mắt đe dọa của  cán bộ chấp pháp,  như luồng sáng trấn áp, khai thác lột trần từ những bóng đèn cao thế trong phòng hỏi cung, tất cả như muốn lập tức đốt cháy cuộc đời nghi can.

Khác với những ánh sáng khủng bố, tiêu diệt, các bài đọc phụng vụ trong lễ Hiển Linh hôm nay cho chúng ta thấy: Đức Giêsu là Ánh Sáng muôn dân, Ánh Sáng cho muôn dân được thấy đường ngay nẻo chính, Ánh Sáng cho mọi người được nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, Ánh Sáng soi đường chỉ lối cho nhân loại tìm gặp Thiên Chúa là Nguồn Vui vĩnh cửu, Hạnh Phúc đời đời.

Và Ánh Sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa ấy đã được loan báo từ hàng ngàn năm trước trong Cựu Ước qua miệng các ngôn sứ, như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm:  “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi” (Is 60,1-2).

Chính ánh sáng vinh quang của  “Thiên Chúa làm người” đã toả chiếu và  bao phủ các mục đồng trong đêm Giáng Sinh và dắt họ đến gặp Hài Nhi “sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12); chính ánh sáng vinh quang của “Emmanuen – Thiên Chúa ở cùng chúng ta” đã hướng dẫn các đạo sĩ từ phương xa đến Bêlem bái lậy Đấng Kitô, Đức Vua dân Do Thái, đồng thời mở lối mới cho các vị trở về nhà  an toàn, mà không trở lại Giêrusalem gặp vua Hêrôđê, vì ông này có lòng dạ nham hiểm đã sắp đặt kế hoạch truy lùng, sát hại Hài Nhi Giêsu, phòng xa nguy cơ bị tiếm ngôi (x. Mt 2,1-12).

Thánh Phaolô, người có kinh nghiệm thiêng liêng rất đặc biệt về Ánh Sáng của Thiên Chúa, trên đường bách hại các người theo đạo. Sách Công vụ Tông Đồ kể lại: “Đang khi ông đi trên đường và đến gần Đamát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông nói: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Người đáp: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,3-5). Ánh sáng ấy đã biến đổi ông từ kẻ bách hại các Kitô hữu trở thành Tông Đồ Dân Ngoại.

Nhờ kinh nghiệm bản thân được ánh sáng kêu gọi và biến đổi, tông đồ Phaolô là người hiểu rõ hơn ai hết  “mầu nhiệm Đức Kitô”, mà chính thánh nhân đã khẳng định khi viết: “Anh em đọc thì có thể thấy rõ tôi am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô thế nào” (Ep 3, 4), và mầu nhiệm ấy chính là “Trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3,6).

Vâng, Lễ Hiển Linh là lễ của Ánh Sáng, lễ tràn ngập Ánh Sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa toả chiếu vinh quang của Ngài trên tất cả chúng ta. Ngài là Ánh Sáng thế gian (x. Ga 8,12), Ánh Sáng muôn dân, muôn nước, “Ánh Sáng soi đường cho dân ngoại” (Lc 2,32), Ánh Sáng của Lời Hứa cứu độ, Ánh Sáng cảnh tỉnh, thương xót, chữa lành, xóa tội, như Ngài đã ban ánh sáng cho người mù bẩm sinh. Và chính Ngài là Ánh Sáng làm cho chúng ta được biết Ngài, trở lại với Ngài, yêu mến và  hiệp nhất với Ngài trong một Thân Thể là Hội Thánh, đồng thời biến đổi chúng ta thành những người mang ánh sáng của Ngài cho đời tăm tối, và làm chứng Ngài là Ánh Sáng của Tình Yêu thương xót, cứu độ.

Xin Ngôi Lời Thiên Chúa ban cho tâm hồn mỗi người chúng ta Ánh Sáng bình an của Ngài, như lời hứa của Đấng Cứu Thế nhân hậu được các thiên thần hát giữa ánh sáng  huy hoàng của vinh quang Thiên Chúa trong đêm Giáng Sinh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dứới thế cho người Chúa thương” (Lc 2,14). mục lục

Jorathe Nắng Tím

SỰ HIỂN LINH CỦA CHÚA ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA NÀO?

Khi trình bày về thánh Giuse, người ta thích trình bày về dòng dõi hoàng gia để ca tụng sự cao trọng của ngài. Khi nói về Chúa cũng thế. Nhưng xem ra cách nhìn ấy hơi nghiêng về cách suy nghĩ của trần gian, bởi vì Đức Giêsu nói với ông Philatô rằng: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18,36); và trước đó, khi cầu nguyện với Chúa Cha cho các môn đệ, Ngài cũng nói: “Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian” (Ga 17,16). Vậy, sự hiển linh của Chúa nên được hiểu như thế nào?

Bản văn Isaia chương 60 được viết sau lưu đày Babilon thế kỷ 6 tCN là một cổ võ dân hồi hương trong việc tái thiết đất nước với màu sắc quốc gia: vinh quang Thiên Chúa sẻ tỏ hiện ở Giêrusalem, muôn dân sẽ về đó, mọi sự giàu sang của các dân cũng tuốn về đó! Nhưng đến ông Phaolô thì điều này được trình bày cách khác: với Đức Kitô, dân Do Thái và dân ngoại được quy tụ thành một thân thể và cùng được hưởng lời hứa của Thiên Chúa. Cũng chính ông đã đặt đối nghịch giữa sự khôn ngoan của thế gian nơi tinh thần phe nhóm vì cậy dựa vào vị thế các tông đồ với khôn ngoan của Thiên Chúa được biểu lộ qua thập giá của Đức Giêsu Kitô (x. 1 Cr 1-3).

Chỉ vì nghĩ về Đấng Messia theo tinh thần thế gian nên vua Hêrôđê lo sợ một cậu bé thuộc dòng tộc Đavít, còn các vị lãnh đạo tôn giáo, dù nắm vững lời các tiên tri, vẫn dửng dưng với một cậu bé yếu đuối không đáng kể gì, vì cậu bé này không ám hợp với hình ảnh Đấng Messia mà họ chờ đợi.

Cần thay đổi cách suy nghĩ về Thiên Chúa thì người ta mới nhận ra được cách Ngài tự biểu lộ và mới có thể cùng Ngài bước đi về vinh quang của ơn cứu độ, vì vinh quang ấy không giống như thế gian mong đợi. Bằng không, các cộng đồng đức tin vẫn cứ muốn thể hiện mình theo kiểu trần gian, vẫn muốn xây dựng điều mà họ gọi là Nước Thiên Chúa, nhưng thực ra không phải! Thiên Chúa thì khác và Nước Thiên Chúa cũng thế. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Sơn

NIỀM VUI CHO DÂN NGOẠI

“Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” Câu hỏi của các nhà chiêm tinh đến từ phương Đông đã làm náo động cả thành Giêrusalem và nhất là làm náo động tâm hồn vua Hêrôđê. Các ông đã theo dấu của “ngôi sao lạ” để thực hiện một hành trình dài. Cuối cùng, “ngôi sao lạ” dẫn họ đế tận nơi Hài Nhi ở. Họ liền sấp mình thờ lạy Người (x. Mt 2,1-12).

Qua sự kiện các nhà chiêm tinh từ phương Đông tìm đến bái lạy vị vua mới sinh, chúng ta có thể thấy rằng, Tin Mừng Giáng Sinh là tin mừng dành cho dân ngoại. Hành trình của họ quả gặp nhiều khó khăn. Chỉ một dấu từ “ngôi sao lạ”, họ mạnh dạn thực hiện một cuộc hành trình dài. Điều gì đã thôi thúc họ làm điều đó? Họ vào hoàng cung để hỏi tin tức. Dĩ nhiên, sự thường thì vua chúa phải sinh ra trong cung điện, đền đài của vua. Điều đó thật dễ hiểu. Tưởng chừng như họ có thể gặp được Vị Vua mới sinh nhưng họ đã không tìm thấy vị vua ấy nơi cung điện của vua chúa. “Xin quý ngài đi dò hỏi tưởng tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi để tôi cũng đến bái lạy Người” (Mt 2,8). Sau khi được vua Hêrôđê ngỏ lời như vậy, họ liền ra đi. Họ tiếp tục đi dưới sự dẫn đường của “ngôi sao lạ”, lòng mừng rỡ vô cùng (x. Mt 2,10).

Không tìm thấy Vị Vua mới sinh ở đền đài vua chúa, các ông lại được gặp một Hài Nhi mới sinh nơi máng cỏ nghèo hèn. Thật khó tin, Vua mà lại sinh nơi nghèo hèn đến thế. Vừa bước vào cửa, mùi ẩm mốc, mùi của các súc vật, rơm rạ bốc lên. Không một chút do dự, họ liền tiến đến và bái lạy Người. Chúng ta có thể hình dung được khung cảnh lạ lùng này không? Họ mở bảo tráp lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến (Mt 2,11). Không biết, đã bao lần họ thực hiện chuyến đi tương tự. Có thể, mỗi lần nhìn thấy một “ngôi sao lạ” xuất hiện, họ đều thực hiện một chuyến đi như thế. Nhưng chuyến đi lần này thật đặc biệt. Đặc biệt về nơi chốn và cách thức vị vua được sinh ra. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

Khi theo dõi hành trình của ba nhà chiêm tinh, chúng ta như được hòa mình vào niềm vui của họ. Con Một Thiên Chúa, Vị Vua mới hạ sinh tỏ mình ra cách đơn sơ nghèo hèn nơi máng cỏ Bêlem. Chúng ta được mời gọi đi sâu hơn vào kinh nghiệm gặp gỡ với Vị Vua ấy trong biến cố Giáng sinh để cảm nhận được tình yêu bao la Ngài dành cho mỗi người chúng ta. Tình yêu ấy không chỉ dành cho một ít người, một vài dân tộc nhưng dành cho cả nhân loại. Thiên Chúa nhân từ đến trần gian nhưng sự thật là Ngài đã bị từ chối. Như lời thánh Gioan đã từng nói: “Người đã đến nhà mình nhưng ngời nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11). Trong hoàn cảnh này, có thể nói, các nhà chiêm tinh đã an ủi Thiên Chúa của chúng ta biết dường nào khi họ diễn tả được lòng yêu mến, ái mộ của mình qua một chuyến đi đầy vất vả. Thiên Chúa đã đến với dân ngoại và phải chăng Người đã được họ đón nhận?

Chúng ta tiếp tục được mời gọi nhìn về hành trình cuộc đời của mình. Chúng ta có đang hăm hở đến với Thiên Chúa mỗi ngày? Ngài vẫn luôn đến với mỗi người chúng ta qua nhiều cách thức khác nhau. Thỉnh thoảng, Ngài dùng các dấu lạ để hướng dẫn chúng ta hệt như “ngôi sao lạ” đã dẫn các nhà chiêm tinh vậy. Có khi, Ngài âm thầm, đơn sơ nhỏ bé, khiêm tốn đến với chúng ta qua bí tích Thánh Thể. Chúng ta có đang khao khát đi đến để được đón rước Người mỗi ngày? Mỗi khi không nhận đợc một “dấu lạ” nào của Ngài, chúng ta có kiên trì để tiếp tục cuộc hành trình như các nhà chiêm tinh? Khi đã gặp được Ngài, chúng ta đừng ngần ngại, hãy dâng lên Ngài những gì mình có. Ngài sẽ thương đón nhận của lễ mọn hèn của chúng ta. Bởi chúng ta cũng là dân ngoại được Thiên Chúa đoái thương, là “ôliu dại đã được tháp nhập vào đó và cùng được hưởng sự sống dồi dào từ rễ cây ôliu chính” (x. Rm 11, 17). mục lục

Thiên San

HAI HƯỚNG DẪN VIÊN

Về bài Tin Mừng lễ Hiển linh hôm nay, mang tên “Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi”, một chuyên gia Thánh Kinh từng viết: “Trình thuật đó xuất hiện như một hợp tuyển nhỏ gồm nhiều bản văn Thánh Kinh làm nên cho chúng ta một suy niệm tuyệt tác về Lời Thiên Chúa. Trong đó, ta dễ dàng nhận ra các nhân vật và biến cố lịch sử xửa của Ít-ra-en. Thi ca, lịch sử, thần học, bút chiến và hộ giáo góp phần biến câu chuyện này thành một bản văn phong phú và quan trọng của giáo lý sơ thủy, có chủ đích chính yếu là kêu gọi lương dân đến với đức tin.”

Trình thuật được viết theo một thể văn hết sức đặc biệt mà ta không nên coi là lịch sử thuần túy, để hiểu nó đến từng chi tiết mặt chữ. Nó vừa dựa trên một số dữ kiện lịch sử đương thời (nhân vật Hê-rô-đê với tính khí đa nghi và tàn ác chẳng hạn), vừa báo trước nhiều chủ đề tương lai trong Tin Mừng Mát-thêu (tuyển dân khước Đức Giê-su đang lúc lương dân lại đón nhận Người) theo kiểu khúc dạo đầu của một cuốn phim hay một bản nhạc.

Hướng Dẫn Viên Của Vũ Trụ Và Của Lý Trí

Mở màn sân khấu, ta thấy các chiêm tinh gia (hay còn gọi là đạo sĩ) bước vào. Họ hợp thành thế giới Đông phương, thế giới ngoại lai xa lạ đối với chính Kinh Thánh. Chẳng những tượng trưng cho cả một khu vực văn hóa và chủng tộc (cụ thể là Ba-tư), họ còn hiện thân cho nỗi chờ mong Đấng Mê-si-a của nhân loại, tọa độ đích thật của cuộc sống con người. Quả thế, mọi con đường mà không dẫn đến nhà thờ, mọi hành vi mà không quy về việc tạ ơn Thiên Chúa, mọi thực tại mà không trở thành Thánh Thể rồi Nhiệm Thể thì hỏi còn đâu ý nghĩa tối hậu của đời người, của lịch sử và của vũ trụ? Nữ hoàng Sơ-va vốn đã đi tìm khôn ngoan tại Giê-ru-sa-lem từ Sa-lô-mon và các chiêm tinh gia Mê-đi hay Lưỡng Hà tiến về Thành thánh tìm một ông Vua cứu thế, cả hai bên đều là hiện thân cho một nỗi khắc khoải muôn thuở của con người vốn chỉ có thể tìm thấy an bình trong Thiên Chúa thôi.

Và chính vũ trụ với ngôn ngữ im lặng của nó (x. Tv 19) là hướng dẫn viên thứ nhất trong cuộc tìm kiếm này. Quả thế, ngôi sao đã chiếm chỗ lớn biết bao trong suy tư của các chiêm tinh gia đoán điềm giải mộng. Thường hiện diện như dấu chỉ huyền thoại tiên báo cuộc đản sinh của các vĩ nhân, vua chúa, thần linh trong thế giới từ Đông sang Tây (hoàng đế A-lê-xan-đê, Au-gút-tô của La-Hy hay thần Agni của Ấn giáo...), hướng dẫn viên sáng ngời đó có một ý nghĩa xác định trong Thánh Kinh.

Khi viết trang này, Mát-thêu đã hiểu rõ nó và ngầm sử dụng một bản văn Kinh Thánh thời danh được Do-thái giáo coi như chìa khóa giải mã bí mật Đấng Mê-si-a. Bi-lơ-am, một thầy bói A-ram hay Am-mô-nít gì đó, được vua Ba-lác mời đến để nguyền rủa Ít-ra-en, đã chỉ có thể thốt lên những lời chúc phúc và buột miệng: “Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc, tôi nhìn, nhưng chưa thấy nó kề bên; một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en” (Ds 24,17). Một bản văn Do-thái giáo thời danh (bản 70) đã dịch câu đó thành: “Một vì vua xuất hiện từ Gia-cóp, một đấng Mê-si-a trỗi dậy từ Ít-ra-en”. Ngôi sao do đó ngày càng trở thành biểu tượng của vua Mê-si-a, nên sách Khải huyền sẽ gọi Đức Ki-tô như “Sao Mai” là vì vậy (x. Kh 2,28; 22,16). Thật thế, ánh sáng là hậu cảnh trong mọi cuộc xuất hiện của Đấng Mê-si-a, như I-sai-a đã hát trong thánh thi tuyệt diệu về Đấng Em-ma-nu-en của mình: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (9,9). Ánh sáng tiêu diệt bóng tối, biểu tượng của hư vô (x. St 1,2) lẫn chết chóc, và ban khởi đầu cho một cuộc sáng tạo mới.

Hướng Dẫn Viên Của Mạc Khải

Bên cạnh hướng dẫn viên của vũ trụ và của lý trí là ngôi sao, một hướng dẫn viên được xếp vào loại “những công trình của Thiên Chúa” (Rm 1,20), có một hướng dẫn viên thứ hai, mang tính thần học và biệt loại hơn, đó là Kinh Thánh, được chứng nhận trong trường hợp chúng ta bởi đoạn văn thời danh của Mi-kha 5, được Mát-thêu biên soạn lại: “Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.” Chính Ít-ra-en là người thụ thác sự hướng dẫn sáng tỏ hơn này của ngôi sao; tuy nhiên, vì đóng kín trong thái độ dửng dưng và đần độn, Ít-ra-en đã không biết đọc hiểu ý nghĩa sâu xa của nó. Nên vị mục tử/lãnh tụ được sai đến với đoàn chiên lạc của nhà Ít-ra-en sẽ chỉ được khám phá bởi những người ngoại, “đến từ Đông phương” và được cho ngồi vào bàn tiệc trong niềm vui hiệp thông với Thiên Chúa. Thật thế, Mát-thêu nêu bật niềm vui lớn lao (“họ mừng rỡ vô cùng”) các đạo sĩ có khi đón nhận mạc khải dành cho họ. Trái lại, ở hậu cảnh, dần dần nổi rõ biểu tượng của sự từ chối, được hiện thân trong một ông vua khác, Hê-rô-đê, và “cả thành Giê-ru-sa-lem cùng với ông” (c.3). Ít-ra-en chủng tộc chẳng còn là “Ít-ra-en thật của Thiên Chúa”; việc thuộc một cộng đoàn nhờ huyết thống và truyền thống, việc ghi sổ vào một Giáo hội không đủ để được cứu rỗi.

Giờ đây mọi chú ý đều hướng về những “tín hữu mới và thật”, các đạo sĩ. Họ đi vào cung điện khiêm tốn của vị vua mới sinh (“nhà”, c.11), thấy ở giữa là Đức Giê-su và mẹ Người. Họ sấp mình thờ lạy Người trong cử chỉ tôn thờ của phụng vụ Ki-tô giáo chứ không chỉ trong cử chỉ sùng bái kiểu Đông phương. Các lễ vật của họ, điển hình của miền Lưỡi liềm Phì nhiêu, phản ánh lối đọc lại của Ki-tô giáo đối với bài ca vĩ đại làm nên bài đọc thứ nhất hôm nay: “Lạc đà từng đàn che rợp đất..., tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa” (Is 60,6). Hoặc là lối đọc lại thánh vịnh đáp ca 72,10: “Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Xơ-va, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng...”.

“Sau đó họ đã về xứ mình”: cuộc phiêu lưu của các tín hữu ngoại giáo đầu tiên này chấm dứt, nhưng câu chuyện của họ là một biểu tượng về tất cả những ai, qua các thế kỷ, nhờ sự hướng dẫn của lý trí và lời Thiên Chúa, đi tìm Thiên Chúa với tấm lòng thành. Những người ngoại và người nghèo (các mục tử) là các công dân ưu đãi của Vương quốc được Đức Giê-su lập ở Bê-lem. mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

CHIÊM NGẮM KHUÔN MẶT THIÊN CHÚA

Trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô có viết: “Niềm vui của Tin Mừng tràn ngập tâm hồn và toàn thể đời sống của những người gặp gỡ Chúa Giêsu. Những người để cho mình được Người cứu độ được giải thoát khỏi tội lỗi, buồn rầu, trống rỗng nội tâm và cô lập. Với Chúa Giêsu Kitô niềm vui được sinh ra và luôn luôn tái sinh.” [1] Như thế chính niềm vui Tin Mừng được biểu lộ nơi toàn thể đời sống của tôi là cách mà tôi đang làm hiển linh Chúa. Hiển linh là việc Thiên Chúa tỏ mình cho tôi qua nhiều dạng thức khác nhau nhất là qua cuộc đời của tôi. Nói cách khác, hiển linh chính là việc tôi làm cho khuôn mặt của Thiên Chúa vốn đang tiềm ẩn được tỏ lộ qua những bình diện và phương tiện khác nhau của đời sống. Thiên Chúa hiển linh trong đời sống của tôi được thể hiện ở ba bước: Dừng lại và tự hỏi, lên đường và tìm kiếm, gặp gỡ và biến đổi.

Dừng lại và tự hỏi

Dừng lại là tiến trình cần thiết của một hành trình. Dừng lại để định vị chính mình, để biết mục tiêu và ý nghĩa của cuộc hành trình. Hành trình đi tìm vị Vua mới sinh. “Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” [2] Trước khi lên đường đi theo ánh sao để đi tìm Vị Vua mới sinh, các nhà đạo sĩ dừng lại và tự hỏi.

Tôi muốn tìm ai?

Và đối tượng mà tôi đang tìm kiếm trong cuộc hành trình này là gì?

Đời sống của bạn bị cuốn theo bởi công việc và rất nhiều những mối tương quan cho nên nhiều khi bạn không có cơ hội để dừng lại. Tác động đầu tiên để biết mình đang ở đâu và đi về đâu là dừng lại. Dừng lại để tự hỏi và biết hiện trạng, mục đích ý nghĩa của chính mình.

Nguy cơ của việc thiếu dừng lại để phản tỉnh là bạn dễ bị đồng hóa chính mình với công việc, với sự thành công và với một ai đó. Chính khi đồng hóa mình với một cơ chế, một công việc, một ai đó, tôi sẽ mất đi sự tự do và sự khôn ngoan trong quyết định và chọn lựa của mình. Nếu tôi đồng hóa mình với công việc thì khi công việc đó mất đi, tôi cảm thấy vô cùng thất vọng. Nếu tôi đồng hóa mình với một ai đó thì khi không “sở hữu” được người đó tôi cảm thấy đau khổ. Nếu tôi đồng hóa việc dâng hiến của tôi với sứ mạng thì khi tôi không được làm sứ mạng đó, tôi bị mất lửa. Khi tôi tham gia công việc mục vụ giáo xứ hoặc xây dựng Giáo Hội, việc ý kiến của tôi không được đón nhận, tôi sẽ bỏ công việc mà tôi đang dấn thân. Thực tế cho thấy, một số tu sĩ đồng hóa đời tu của mình với chính công việc và sứ mạng hơn là việc bước theo Đức Ki-tô và đi vào tương quan giao ước với Ngài. Chính vì thế, khi những sứ mạng không đạt được những điều như tôi mong muốn hoặc hoạch định, tôi đâm ra chán nản và thậm chí mất lửa. Như thế đằng sau những công việc có thể là việc tìm kiếm chính cái tôi của mình và tự buộc mình vào công việc hơn là tìm kiếm Đức Ki-tô.

Thay vì tự hỏi “Đức Vua dân Do Thái đang ở đâu” trong những công việc và trong đời sống người môn đệ, tôi lại hỏi những công việc này có đáp ứng những đòi hỏi của tôi hay không?” Điều cần thiết trong đời sống của tôi là tôi cần dừng lại và định vị. 

Lên đường và tìm kiếm

Đối với các nhà đạo sĩ, họ không chỉ đặt câu hỏi về việc “Đức Vua dân Do Thái mới sinh ở đâu” nhưng điều quan trọng là họ dấn thân vào việc lên đường và tìm kiếm.

Họ chấp nhận một cuộc lên đường. Chắc hẳn cuộc lên đường này chứa đựng nhiều rủi ro. Tuy nhiên đây lại là điều mà chính cuộc tìm kiếm đòi hỏi. Thiên Chúa ở đâu trong hành trình đi tìm hạnh phúc của tôi. Abraham dám chấp nhận lên đường để đi theo lời mời gọi của Chúa. Mô-sê dám chấp nhận lên đường và chấp nhận rủi ro kể cả mạng sống của mình để đi theo tiếng gọi của Chúa. Đức Maria chấp nhận lên đường cộng tác với kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa khi nói tiếng xin vâng. Các môn đệ chấp nhận lên đường vượt qua sóng gió để đến với Đức Giê-su. Đức tin là một cuộc lên đường. Một cuộc “xuất hành liên lỉ ra khỏi chính mình để đến với Thiên Chúa.” 

Hành trình lên đường đòi hỏi chúng ta có khả năng đọc ra mầu nhiệm và dấu chỉ. Mầu nhiệm Thiên Chúa bị che dấu và cũng có thể được mặc khải trong nhiều cách thức khác nhau. Điều quan trọng là tôi có khả năng đọc ra dấu chỉ và sự hiện diện của Ngài giữa những ngổn ngang của cuộc sống. “Đâu là dấu vết của Thiên Chúa và của Thần Khí đang hoạt động dưới bề sâu của thực tại?” Thiên Chúa có nhiều cách nói với tôi, điều quan trọng là tôi có khả năng đọc ra dấu chỉ. Nếu tôi không có khả năng đọc ra dấu chỉ và ý nghĩa, cũng như hiểu được ngôn ngữ của Chúa thì tôi không thể hiểu Ngài cho dầu tôi có thể nhìn thấy bao nhiêu dấu chỉ.

Mầu nhiệm mà chúng ta muốn nói không gì khác hơn chính là Đức Ki-tô: “Mầu nhiệm đó là: trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.” [3] Thiên Chúa muốn cho muôn người được hưởng ơn cứu độ. Ngài có nhiều cách thức khác nhau để tỏ lộ chính mình. Ngài tỏ lộ chính Ngài qua công trình tạo dựng, qua khao khát sâu thẳm trong tâm hồn, qua những vui buồn trong cuộc sống, qua những khủng hoảng và biến đổi. Một biến cố trong đời sống là dấu chỉ nào đó mà Thiên Chúa đang nói với tôi. Công đồng Vatican II trong Hiến Chế Ad Gentes khẳng định sự tồn tại “Hạt giống Ngôi Lời” và ý định cứu rỗi của Thiên Chúa được mặc khải qua Đức Giê-su.

“Ý định của Thiên Chúa nhằm cứu rỗi toàn thể nhân loại không phải chỉ được thực hiện một cách có thể nói là kín đáo trong tâm trí con người, hoặc bằng những kế hoạch, ngay cả kế hoạch tôn giáo, để nhờ đó con người tìm kiếm Thiên Chúa bằng nhiều cách, “hầu may ra sẽ đến gần Ngài hoặc gặp được Ngài, mặc dù Ngài không ở xa mỗi người chúng ta” (Cv 17,27); những kế hoạch đó cần phải được soi dẫn và tu bổ, tuy đôi khi, nhờ ý định nhân lành của Chúa Quan Phòng, có thể được coi như những con đường hướng về Thiên Chúa chân thật hoặc chuẩn bị Phúc Âm.” [4]

Những ngôi sao lạ trong cuộc sống là những dấu chỉ dẫn bạn đến với Ngôi Lời nhập thể. Khởi từ kinh nghiệm của các nhà đạo sĩ, việc tìm kiếm và hiểu dấu chỉ không tách rời việc hiểu Kinh Thánh và Lời Chúa. Hành trình đi tìm ánh sao của các vị đạo sĩ có những lúc rõ ràng có những lúc mờ nhạt. Tuy nhiên điều cần thiết để giúp họ không bị lạc lối là họ không bị đánh mất đi cái nhìn hướng thiện, hướng đích về Ánh Sao cho dù bối cảnh trước mắt có tăm tối mịt mờ. Những khó khăn thử thách trong cuộc sống đôi khi nhận chìm khao khát sâu thẳm trong tâm hồn bạn. Những mơ hồ và sự lẫn lộn về mặt giá trị đôi khi khiến bạn cảm thấy mấy đi định hướng căn bản trong cuộc sống của mình. Hãy dừng lại, hãy trở lại với khao khát sâu thẳm của lòng mình, hãy trở lại với Lời Chúa để đi tìm ánh sáng.

Hành trình đi theo ánh sao dẫn các nhà chiêm tinh đến một cuộc chiêm ngắm. Họ chiêm ngắm Ngôi Lời nhập thể. Thái độ chiêm ngắm là thái độ ngỡ ngàng và cung kính. Họ cúi chào và dâng những lễ vật cao quý cho Hài Nhi. Từ sự chiêm ngắm Đấng Vô Hình mời gọi tôi bày tỏ thái độ ngỡ ngàng và cung kính. Cuộc chiêm ngắm đó giúp tôi khám phá khuôn mặt Hài Nhi Giê-su đang hiện diện trong những hang đá cuộc đời, hang đá của tâm hồn, hang đá nơi nhà tạm. Cuộc chiêm ngắm đó cuốn hút toàn thể con người tôi, mời gọi tôi dâng hiến chính mình cho Ngài như của lễ quý giá nhất. 

Gặp gỡ và biến đổi

Kết quả của một cuộc chiêm ngắm đích thực luôn là một lời mời gọi thay đổi. Sự thay đổi đến từ cuộc gặp gỡ đích thực và sâu xa với Ngôi Lời. Các vị đạo sĩ sau khi gặp Hài Nhi được mời gọi đừng trở lại gặp Hê-rô-đi nữa nhưng đi lối khác mà về nhà mình. Sự gặp gỡ Hài Nhi đích thực cũng mời gọi tôi không quay lại con đường, con người và thế giới cũ nữa nhưng mời gọi tôi bước đi trên con đường mới. “Người mù Giê-ri-khô sau khi gặp Chúa thì bước đi với tâm hồn mới, con đường mới.”[5] Kết quả của cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa đích thực luôn mở ra cho sự mới mẻ của cái nhìn, con tim và thế giới. Hiệu quả tất yếu của biến cố nhập thể và biến cố gặp gỡ Ngôi Lời là sự biến đổi giống như men trong bột, muối cho đời và ánh sáng cho trần gian.

Hiển linh là việc Thiên Chúa tỏ lộ chính mình cho dân ngoại. Ngài có nhiều cách thức tỏ lộ khác nhau. Vấn đề là tôi có khả năng nhận ra sự tỏ lộ của Thiên Chúa. Hành trình đi theo ánh sao là hành trình lần theo dấu vết của Thiên Chúa. Tiến trình để nhận biết việc Thiên Chúa mặc khải mời gọi tôi cần dừng lại, chiêm ngắm và bước đi. Thực ra cuộc đời của tôi cũng là một bí tích mà qua đó Thiên Chúa đang mặc khải tình thương và kế hoạch cứu độ của Ngài cho tha nhân. Qua dấu chỉ cuộc đời của tôi, tôi dẫn người khác bước vào một cuộc chiêm ngắm đích thực, chiêm ngắm sự hiện diện của Ngôi Lời đang nhập thể trong vô vàn những dáng vẻ khác nhau của cuộc sống.

Lm. Gioan Phạm Duy Anh, S.J.

[1] Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, Số 1
[2] Mt 2, 1-2
[3] Eph 3, 6
[4] Vatican II, Ad Gentes, Số 3
[5] Mc 10, 46-52

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan