SUY NIỆM CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN_C

09-02-2025 1,740 lượt xem

[Is 6,1-2a.3-8; 1 Cr 15,1-11; Lc 5,1-11]

Mục Lục

THÁNH! THÁNH! THÁNH! – + ĐTGM Giu-se Vũ Văn Thiên

CHÚA CỦA SỰ KINH NGẠC – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

THIÊN CHÚA KÊU GỌI MỖI NGƯỜI CHÚNG TA – Phêrô Phạm Văn Trung

CHÚA CẤT TIẾNG GỌI, CON NGƯỜI ĐÁP TRẢ – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

CÓ TẤT CẢ VÀ BỎ TẤT CẢ – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

ĐỂ CAN ĐẢM LÊN ĐƯỜNG – Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

CHÚA ƠI CON ĐÃ SẴN SÀNG – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

THÁNH! THÁNH! THÁNH!

Mỗi khi cử hành Thánh lễ, ở phần kết của Kinh Tiền tụng, cộng đoàn phụng vụ hát hoặc đọc lời tung hô: Thánh! Thánh! Thánh! Chúa là Thiên Chúa các đạo binh. Trời đất đầy vinh quang Chúa…”. Đây là lời tung hô mà ngôn sứ I-sa-i-a đã thấy trong thị kiến, được ghi lại trong cuốn sách mang tên của vị ngôn sứ này, được đọc trong Thánh lễ Chúa nhật hôm nay. Việc lặp lại ba lần một phẩm tính của Thiên Chúa, là lời khẳng định rằng: Chúa là Đấng thánh thiện ở mức cao cả nhất, và không một thần linh nào sánh bằng.

Thiên Chúa là Đấng chí Thánh, và Ngài muốn cho tất cả những ai tin vào Ngài đều nên thánh: “Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Đấng Thánh” (Lv 11,14). Mệnh lệnh này được Thiên Chúa tuyên bố 6 lần trong sách Lê-vi, và 1 lần trong sách Đệ Nhị Luật. Chúa Giê-su tiếp nối giáo huấn của Cựu ước, và Người kêu gọi: “Các ngươi hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Như vậy, “hoàn thiện” là một cách nói khác để diễn tả cùng một khái niệm là “thánh thiện”. Khẳng định của Thiên Chúa trong Cựu ước sau này, được thánh Phê-rô nhắc lại trong thư của ngài (x.1 Pr 1,16).

Ngôn sứ I-sa-i-a đã kinh hoàng khi nhìn thấy Thiên Chúa vì theo quan niệm bấy giờ, những ai nhìn thấy Thiên Chúa đều phải chết. Lời Thiên Chúa đã thay đổi hoàn toàn quan niệm này. Vị ngôn sứ không phải chết. Hơn nữa, Thiên Chúa đã trao cho ông sứ mạng loan báo sứ điệp của Ngài.

Giống như ngôn sứ I-sa-i-a, khi chứng kiến mẻ lưới lạ, Phê-rô cũng kinh hoàng kêu lên: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”. Ông cũng cảm nhận được thân phận tội lỗi của mình, nên ông xin Chúa Giê-su tránh xa ông ra. Phản ứng của Chúa Giê-su cho thấy điều kỳ diệu: từ nay Thiên Chúa không còn xa lạ với con người. Từ nay, ai thấy Thiên Chúa sẽ không phải chết. Bởi lẽ Đức Giê-su là Thiên Chúa đã nhập thể làm người và ở với con người để chung chia phận người, giữa những vui buồn của họ. Không dừng lại ở đó, Chúa Giê-su còn cho phép các ông trở thành những cộng sự viên, thậm chí như những bạn hữu của Người. Cuộc gặp gỡ với Chúa Giê-su, kèm theo mẻ cá lạ, đã hoàn toàn chinh phục những người dân chài, và những người này đã bỏ hết mọi sự mà đi theo Người và trở nên môn đệ.

Các ngôn sứ trong Cựu ước có vai trò “bênh vực” hay “bảo vệ” sự thánh thiện của Thiên Chúa. Các ông lên án lối thờ phượng hình thức, màu mè và lối sống giả hình, vì như thế là xúc phạm đến Thiên Chúa và hạ thấp Ngài cùng với các ngẫu thần khác. Các ông cũng kịch liệt phản đối các vua khi “đem thần lạ về nhà”, như trường hợp vua A-kháp có vợ ngoại giáo là I-de-ven, hay vua Sa-lô-môn. Những vua này đã nghe vợ và xây đền thờ ngẫu tượng trong hoàng cung, như một sự thách thức đối với Thiên Chúa, là Đấng duy nhất đáng tôn thờ.

Đâu là mối tương quan giữa sự thánh thiện của Thiên Chúa và cuộc sống của Ki-tô hữu? Như lời mời gọi của Thiên Chúa trong Cựu ước và của Chúa Giê-su trong Tân ước, những ai tin vào Chúa thì phải đặt sự thánh thiện làm tiêu chí của cuộc đời. Nói cách khác, người tín hữu mỗi khi làm việc, quyết định, đối xử với anh chị em, phải suy nghĩ xem điều mình sắp làm có ảnh hưởng đến sự thánh thiện của bản thân và ơn gọi của Ki-tô hữu hay không.

Trên con đường đạt tới sự thánh thiện, chúng ta không đi đơn lẻ một mình, nhưng họ đi với anh chị em trong tình hiệp thông và trách nhiệm liên đới. Khởi đi từ sự thánh thiện của bản thân, Ki-tô hữu sẽ làm tỏa lan ánh sáng của sự thánh thiện đến với môi trường xung quanh. Nhờ những việc thiện của người tin Chúa, nhiều người khác sẽ nhận ra sự hoàn hảo và tốt lành của Người. Chúa Giê-su đã dùng một hình ảnh sinh động cụ thể để so sánh với những việc làm sau này của các tông đồ: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Trong cùng một trình thuật tương tự, thánh Mát-thêu lại dùng lối nói tượng hình hơn: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4,19).

Thiên Chúa chí thánh đã đến gặp gỡ chúng ta. Người mời gọi chúng ta nên hoàn thiện và nhờ đó chúng ta có thể cộng tác với Người trong công trình cứu độ trần gian. Người Ki-tô hữu không còn mặc cảm thân phận tội lỗi nữa, nhưng vững bước tiến lên nhờ tín thác vào lòng thương xót của Chúa. Thánh Phao-lô đã diễn tả sự tự tin của một người cảm nhận tình thương Thiên Chúa dành cho mình. Bản thân ông không còn mặc cảm về quá khứ tội lỗi, dù trước đó ông đã bách hại các Ki-tô hữu. Dù khiêm tốn nhận mình như một đứa con “đẻ non”, Phao-lô vững mạnh lên đường loan báo Đức Giê-su, để muôn dân được đón nhận ơn cứu độ của Người.

Xin Chúa cho chúng ta luôn cố gắng nỗ lực đạt tới sự hoàn thiện trong mối tương quan với anh chị em, để chúng ta được nên hoàn thiện như Chúa, là Cha chúng ta. mục lục

+ ĐTGM Giu-se Vũ Văn Thiên

CHÚA CỦA SỰ KINH NGẠC

Từ ngàn xưa, Thiên Chúa vẫn cho thấy Ngài luôn là Chúa của sự kinh ngạc. Chính Ngài đã làm nên nhiều kinh ngạc.

Làm sao có thể hiểu nổi, kẻ bị bán làm nô lệ và thực sự là anh nô lệ như tổ phụ Giuse, lại trở nên thừa tướng và cứu sống cả gia đình mình? - Chỉ là một anh chăn cừu, một người nói ngọng, thủ lãnh Môsê trở thành nhà giải phóng dân tộc lừng danh - Dưới sự hướng dẫn mà Chúa ủy nhiệm, chỉ trong một đêm, thủ lãnh Môsê lại có thể đủ tài, đủ sức dẫn cả đoàn dân đông đảo nhưng lại bơ vơ vì vừa thoát cảnh lưu đày vượt Hồng Hải ráo chân, trong khi kẻ thù đuổi theo sau trong tư thế hung hăng, nườm nượp, mạnh bạo đã phải kéo nhau chết đuối giữa dòng - Làm sao dám tưởng tượng cô Maria, một thôn nữ quê mùa, nghèo hèn, chiềm khuất giữa làng quê Nazareth lại trở thành Mẹ của Con Thiên Chúa - Có giàu óc tưởng tượng đến mấy cũng không dám nghĩ, đoàn tông đồ vừa dốt nát, bất tài, yếu đuối, tội lỗi lại có thể trở thành rườn cột của Hội Thánh...

Đấng làm nên muôn điều kinh ngạc, hôm nay bước xuống thuyền của một trong những tông đồ, mà chỉ trong tương lai ngắn, sẽ phạm tội nặng. Thánh Phêrô, dù mang trọng trách là tông đồ trưởng, là giáo hoàng thứ nhất của Hội Thánh sẽ đổ gục, sẽ sa ngã, sẽ phạm tội, sẽ chối Chúa.

Nhưng thánh Phêrô đã được Chúa chọn. Chúa luôn làm kinh ngạc. Vì sao Chúa vẫn quyết chọn và không bao giờ loại trừ thánh Phêrô dù ông có ra sao. 

Chính vì sự quyết chọn này mà trong hai chiếc thuyền gần bờ, không phải vô tình, Chúa lại bước xuống thuyền của thánh Phêrô. Chúa biến con thuyền của thánh Phêrô - chỉ thuyền của thánh Phêrô chứ không phải của bất kỳ ai (trong trình thuật của mình, thánh Luca không quên nhấn mạnh: "Thuyền đó của ông Simon") - thành "tòa giảng".

Chúa không cần một tàu du lịch đẹp. Chúa không cần một chiếc du tuyền sang trọng. Chúa cũng không bước vào khoang thuyền đầy cá. Lạ lùng và gây kinh ngạc, Chúa bước vào một con thuyền đánh cá đơn giản, bình thường, có khi còn đầy mùi tanh của biển và cá. Chúa xuống khoang thuyền trống trơn sau một đêm vật lộn với biển thất bại. Chúa ngồi giảng dạy trong khoang chứa toàn những con người lam lũ, vất vả và thất vọng. 

Càng kinh ngạc, sau khi giảng dạy, đặc biệt, sau khi đã thu hút người thợ chài Simon bằng lời rao giảng, Chúa lệnh cho ông hãy thả lưới chỗ nước sâu. Với kinh nghiệm lành nghề của mình, anh thợ Simon có thể trả lời: "Làm sao đánh cá vào ban ngày, làm sao thuyền nhỏ, lưới nhỏ lại đánh bắt ở chỗ sâu?". Nhưng thật kinh ngạc: anh thợ chài lành nghề lại trả lời với Chúa, đúng hơn, trả lời với một người xuất thân thợ mộc, không chút kinh nghiệm nghề cá: "Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới".

Vô cùng kinh ngạc: Sau hành động vâng lời là một mẻ cá tưởng chỉ có trong mơ!

Nếu biển cả là biểu tượng của cuộc đời mênh mông, không phải lúc nào cũng yên bình, phẳng lặng, nhưng sẽ có những lúc giăng mắc đầy đau thương, cuồng loạn; 

Nếu kiếp sống của từng người chỉ là con thuyền nhỏ trôi dập dềnh trong sóng biển cuộc đời, sẽ có lúc phải chiến đấu, phải đối đầu với những bạo loạn dồn dập của biển đời ấy;

Thì sự trống trơn của khoang thuyền sau bao nhiêu nỗ lực, bao nhiêu công sức chính là biểu tượng của sự bất lực, sự giới hạn, sự nhỏ bé, sự hèn kém của phận người nơi mỗi chúng ta.

Hãy nhớ, giữa lúc chúng ta đang hết sức bất lực, giữa lúc chúng ta đang hết sức nghèo hèn, giữa lúc chúng ta chơi vơi nhất, giữa lúc hồn chúng ta thực sự "trống trơn", đừng quên, đó chính là lúc thuận tiện nhất để Chúa nói với chúng ta và để Chúa ở nơi chúng ta, biến chúng ta thành "hội đường", thành "giảng đài", thành "diễn đàn" của Chúa. Chính nơi chúng ta, Chúa công bố Lời hằng sống, Lời cứu độ, Lời vĩnh cửu, Lời của con tim chỉ biết có tình yêu.

Khi chúng ta chấp nhận để Chúa sử dụng bản thân giữa bối cảnh tưởng như chán chường nhất, khó chấp nhận nhất, thì lập tức, sự nghèo khó của ta thành cơ hội loan báo sự giàu có của Chúa; sự cùng khốn của ta thành cơ hội loan báo tình thương của Chúa; sự thất vọng của ta nói cho mọi người về một niềm hy vọng trong Chúa; sự mệt mỏi của ta nói cho mọi người về một điểm tựa chứa đầy uy lực đỡ nâng; và những giới hạn của ta nói cho mọi người về nguồn ơn thánh vô hạn bất cứ lúc nào ta cũng có thể tìm đến và kín múc...

Điều quan trọng, chúng ta có chấp nhận để Chúa bước vào con thuyền cuộc đời mình theo cách của Chúa? Rất thường xuyên, ta dùng suy luận và lý luận kiểu con người để nói rằng, một điều gì đó, một hoàn cảnh nào đó, một con đường nào đó... không phù hợp... Thế rồi ta tự mình đẩy Chúa ra ngoài con thuyền ấy. Chúa bất lực, đứng nhìn và rời chúng ta. Điều đáng buồn là, chính cách nghĩ của ta, sẽ càng lúc càng đẩy ta xa Chúa...

Hãy học thánh độ khiêm nhường của thánh Phêrô. Nhìn một con người, nhưng giờ đây, ông đã tin là "Chúa". Ông sụp lạy "Con Người - Chúa" ấy: "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi".

Hãy để Chúa ở lại trong "thuyền" đời chúng ta để Chúa giải phóng chúng ta, để Chúa có cơ hội đổ ơn vào hồn chúng ta, để Chúa ban bố sự tha thứ tội lỗi của chúng ta và để Chúa có cơ hội mở ra cho chúng ta sứ mệnh cộng tác với Chúa làm người công bố sứ điệp Tin mừng yêu thương và cứu độ của Chúa. 

Hy vọng từ đây thuyền đời chúng ta sẽ là "giảng đường" của Chúa. Một thứ tuyền đời tưởng như toàn bất lực, hèn kém, có khi còn đầy tội lỗi, lại gây nên những kinh ngạc lớn lao bởi những hiệu năng và hiệu quả trên chính "con thuyền" có Chúa ấy... mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

THIÊN CHÚA KÊU GỌI MỖI NGƯỜI CHÚNG TA 

Không có Thiên Chúa, mọi điều chúng ta làm chỉ là phù du mà thôi. Tác giả thánh vịnh nói: “Nếu Chúa không xây nhà, những người xây dựng cũng uổng công; Nếu Chúa không canh giữ thành, thì người canh gác thức canh cũng uổng công” (Tv 126:1). Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan và nhiều người khác đã kinh nghiệm điều này trong mẻ cá kỳ diệu trên bờ Hồ Ghennêxarét. 

Chỉ mình Chúa là đủ

Nếu Chúa Giêsu không hiện diện trên con thuyền cuộc đời chúng ta, con thuyền đó không chỉ không thể bắt được con cá nào mà còn không thể chống chọi được bất cứ cơn sóng nào trong giông bão. Nhưng nếu Chúa Giêsu hiện diện bên cạnh chúng ta, thì chắc chắn cuộc sống của chúng ta sẽ thay đổi, sẽ không còn yếu đuối, tăm tối, u sầu như trước nữa.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu luôn yêu cầu người ta đặt niềm tin nơi Ngài, ngay trong những điều tưởng chừng như vô lý. Chúng ta cần tin vào Ngài. Bằng chứng hôm nay là, khi “Ngài bảo ông Simon: Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá. Ông Simon đáp: Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả” (Lc 5: 4-5). Câu nói của Phêrô như muốn cho Chúa Giêsu thấy một sự vô lý nào đó trong lời yêu cầu của Ngài. Nghề nghiệp cha truyền con nối lâu đời của ngư dân vùng hồ Ghennêxarét là đánh cá ban đêm. Thế mà ở đây có một người như từ trên trời rơi xuống ngay giữa ban ngày và yêu cầu ông Phêrô, ngư phủ nhiều năm lăn lộn trong nghề: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”! Hơn nữa, theo tìm hiểu của Phêrô, vị Rabbi này xuất thân làm nghề thợ mộc, không phải ngư dân chính cống. Phêrô có lý do để thắc mắc chứ. Tuy nhiên, tuyên bố ngay sau đó của Phêrô đã thay đổi mọi thứ: “Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới” (Lc 5:5). Đó là biểu lộ của sự tin tưởng, của sự tín thác, của sự vâng theo. Chính điều này tạo ra một mẻ cá bội thu: “Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới” (Lc 5:6). Đó là một kết quả ngoài mong đợi, rõ ràng là một dấu lạ: “Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm” (Lc 5: 7). Việc này rất đơn giản đối với Chúa Giêsu. Nếu vài phút trước Phêrô còn tỏ ý không tin tưởng gì lắm và miễn cưỡng với yêu cầu của Chúa Giêsu, thì giờ đây ông quá ngạc nhiên đến nỗi sững sờ và hoảng sợ, không thể phản ứng cách nào khác, chỉ còn biết: “Sấp mặt dưới chân Chúa Giêsu và nói: Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5: 8). Không chỉ Phêrô thôi đâu, các ngư dân khác, vốn cứng tay nghề, cũng không thể có phản ứng nào khác: “Tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simon, cũng kinh ngạc như vậy” (Lc 5:9-10). Điều này sẽ thay đổi mãi mãi lối nghĩ phàm nhân của Phêrô và các bạn chài với ông. Do vậy, chỉ sau một lời khuyến khích của vị Thầy vừa thực hiện dấu lạ, họ từ bỏ mọi thứ để theo Ngài: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta. Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Ngài” (Lc 5: 10-11).

Tin tưởng và tuân theo Lời của Chúa Giêsu giúp chúng ta loại bỏ sự do dự và đảo ngược sự thất bại của chúng ta thành kết quả tràn đầy, vượt quá sự mong ước. Khi chúng ta thừa nhận sự bất xứng của mình trước mặt Thiên Chúa, Ngài liền nâng đỡ, thêm sức mạnh cho chúng ta và nói với mỗi người chúng ta rằng: “Đừng sợ”. Ngài còn kêu gọi chúng ta trở thành “những người thu phục người ta”. Thiên Chúa luôn là người đầu tiên đến với chúng ta. Ngài đồng hành với chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, cho chúng ta thấy những gì Ngài có thể làm trong chính trong cuộc sống cụ thể mỗi ngày của chúng ta. Ngài cũng mời gọi chúng ta buông bỏ hết mọi sự mà theo Ngài. Tuy nhiên Ngài vẫn để chúng ta tự do lựa chọn. Anrê, Phêrô, Giacôbê và Gioan đã chọn đi theo Chúa trong sứ mệnh của Ngài, để từ “những người đánh cá” họ trở thành “những người thu phục người ta”. 

Sống và theo Chúa Giêsu không phải là chuyện dễ dàng. Khi sống và theo Chúa Giêsu, chúng ta không bao giờ biết chúng ta đi được bao lâu và bao xa. Thực vậy, hiểu được ý nghĩa lời nói của Chúa Giêsu: “Từ nay anh em sẽ là người thu phục người ta” không phải là điều dễ dàng đối với Phêrô và các bạn đồng hành của ông, ngay cả khi các ông không còn nghi ngờ lời của Chúa Giêsu như trước đó. Tuy nhiên, quyền năng của Chúa Giêsu tỏ lộ qua mẻ cá lạ lùng đã thúc đẩy họ bỏ hết mọi sự để theo Ngài mà không tỏ ý e dè gì nữa. Vẫn có nhiều điều nhiệm mầu mà Thiên Chúa đang thực hiện trong thế giới này, như mẻ cá lạ lùng trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, giúp chúng ta vững tin vào Chúa Giêsu. Nếu chuyên cần cầu nguyện trong khiêm hạ, chúng ta không khó nhận ra rằng, Thiên Chúa đang biểu lộ, bằng nhiều cách khác nhau, quyền năng của Ngài, và thúc đẩy mỗi người bước đi theo Ngài.

Logic của Chúa Giêsu không phải là logic của chúng ta. Chúng ta không thể nhìn xa hơn mũi mình, nhưng Chúa Giêsu nhìn thấy tương lai của chúng ta. Nếu chúng ta muốn đi xa và vững chắc, hãy để Chúa Giêsu hướng dẫn và cùng Ngài thực hiện kế hoạch mà Ngài vạch ra cho chúng ta, cùng với chúng ta. Có lẽ chúng ta như ngôn sứ Isaia, trong bài đọc thứ nhất, muốn tránh né Thiên Chúa và thưa với Ngài: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Chúa các đạo binh! (Is 6: 5), và giống như Phêrô: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5: 8). Nhưng chính Thiên Chúa dùng quyền năng như than hồng từ bàn thờ chạm vào miệng chúng ta, thanh luyện và thánh hóa con người chúng ta và nói: “Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội...Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Liệu chúng ta có dám thưa: “Dạ, con đây, xin sai con đi” (Is 6:7-8), hoặc như Phêrô và các bạn chài của ông: “Bỏ hết mọi sự mà theo Ngài” (Lc 5:11) không? Sau này, khi thánh Tôma Aquinô nghe giọng nói từ cây Thánh giá trên bàn thờ hỏi: “Tôma, con đã viết rất hay về Ta; vậy con muốn nhận được phần thưởng gì?” ngài đã trả lời: “Lạy Chúa, con không cần gì cả, vì chính Ngài, là đủ cho con”. Chúng ta hãy tín thác vào Chúa và sẵn sàng thưa: “Chỉ mình Chúa là đủ cho con rồi.”

Tiếng gọi của Chúa dành cho mỗi người

Trước hết, để gặp Chúa Giêsu, chúng ta phải lắng nghe lời Ngài với một trái tim rộng mở, sẵn sàng thay đổi lối nghĩ, lời nói, hành vi và cách sống. Nhưng nếu lắng nghe là quan trọng, thì học cách nhận ra những dấu chỉ của Chúa trong cuộc sống của chúng ta cũng quan trọng không kém. Những dấu chỉ đó như những tín hiệu Chúa gửi đến, kêu gọi chúng ta phó thác sự bất tài vô dụng của chúng ta cho Ngài. Simon nhận ra ngón tay của Chúa trong mẻ cá lớn, ông không nói “Chà, thật là một thời cơ ta phải nắm lấy. Đây là lúc ta thể hiện bản lĩnh!” Trái lại, điều đầu tiên ông làm là thú nhận mình là kẻ tội lỗi, không có công trạng gì để nhận được ân sủng như vậy và chấp nhận ân ban đó với tất cả sự khiêm hạ. Và khi Chúa Giêsu mời gọi ông làm một nghề đánh bắt khác, ông không lý luận, không bàn cãi lắm lời nữa, mà chỉ đơn giản là đi theo Chúa.

Không ai thánh thiện và xứng đáng đủ để có thể lãnh nhận ân sủng của Chúa, để được Chúa gọi đi rao giảng Lời Ngài. Mọi người đều là tội nhân và không ai xứng đáng với sứ vụ loan báo Tin Mừng. Nhưng Chúa đến để tìm kiếm những người tội lỗi, những tâm hồn nghèo khó. Chính Chúa muốn dùng những người tội lỗi và yếu hèn này để chạm đến trái tim của từng con người và tất cả mọi người.

Chính Chúa muốn dùng chúng ta, những tâm hồn nghèo khó, những người tin vào tình yêu và lòng thương xót vô hạn của Chúa, để biểu lộ quyền năng và lòng thương xót của Ngài dành cho mọi người. Chúng ta có sẵn sàng lắng nghe Lời Ngài và chấp nhận lời kêu gọi mà Ngài đặt vào cõi lòng sâu thẳm chúng ta, vào trong cuộc sống của chúng ta, để hoàn thành sứ mệnh mà Ngài trao cho chúng ta không?

Được Chúa kêu gọi không nhất thiết là trở thành linh mục hay tu sĩ, nam hoặc nữ. Điều căn bản là chúng ta đáp lại tiếng gọi của Ngài trong cuộc đời riêng tư của từng người. Thiên Chúa có tiếng gọi riêng cho mỗi người con của Ngài. Tiếng gọi Chúa dành cho mỗi người chúng ta là gì? Chúng ta có thực sự muốn tìm hiểu tiếng gọi này không? Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nghiêm túc lắng nghe tiếng Chúa, tìm hiểu xem Ngài mong đợi điều gì nơi mỗi người chúng ta? Chúa Giêsu muốn chúng ta thay đổi lối nghĩ phàm trần của mình thành tầm nhìn siêu nhiên như tầm nhìn của Chúa. 

Thật không dễ chút nào, nhất là trong xã hội được gọi là hậu hiện đại của chúng ta, một xã hội con người không còn tin vào những chuẩn mực luân thường đạo lý vốn đã được thiết lập từ lâu đời, không còn dựa vào một nền tảng tuyệt đối nào nữa, không còn dựa vào ngay cả Thiên Chúa, dễ sa vào khuynh hướng duy tương đối và khuynh hướng hoài nghi tuyệt đối. [*]

Trong hiện trạng như thế, chắc chắn Kitô hữu chúng ta cần phải nghe và suy ngẫm lại Lời Chúa, trong bài đọc thứ hai, qua tiếng nói của Vị Tông đồ Dân ngoại: “Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích. Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Ngài đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh...Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Ngài ban cho tôi đã không vô hiệu; tôi đã làm việc nhiều... nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi” (1 Cr 15: 1-10). mục lục

Phêrô Phạm Văn Trung

[*] “Trong một thế giới như vậy, thay vì đề cao những điểm quy chiếu luân lý nền tảng và truyền thống siêu hình ổn định, lý trí triết học hậu hiện đại lại phủ nhận nó. Đức tin Kitô giáo là một sợi chỉ dệt nên địa lục châu âu, nhưng người ta đang thống nhất trong việc từ chối hơn là đón nhận đức tin đó. Trong đà tục hóa nói chung, con người đang muốn xóa bỏ những biểu hiện và ngay cả những dấu vết Kitô giáo trong sinh hoạt tri thức, văn hóa và xã hội. Mặt khác, con người quá đề cao lợi nhuận, tiêu dùng, những giá trị thực tại và khuynh hướng tự do cá nhân. Đó là những căn nguyên dẫn đến thái độ dửng dưng hay chống lại các chuẩn mực luân lý, niềm tin và xa rời Thiên Chúa. Chủ nghĩa Hậu hiện đại không hướng con người đến những giá trị siêu việt, thay vào đó lại đặt ra quá nhiều câu hỏi mà không có câu trả lời rõ ràng, chúng trở nên nghiêm trọng hóa bởi các ràng buộc mơ hồ về xã hội, cá nhân và trí tuệ, dẫn đến sự mơ hồ nơi con người về thái độ sống, lý tưởng và tương quan nhân vị. Văn hoá giờ đây hời hợt và trống rỗng về nhân bản, đạo đức, luân lý, đặc biệt ở các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam... làm cho tâm thức con người vừa trở nên vô cảm vừa vô vọng” (https://giaophanthanhhoa.net/triet-hoc/triet-hoc-hau-hien-dai-va-nhung-anh-huong-cua-no-26657.html).

CHÚA CẤT TIẾNG GỌI, CON NGƯỜI ĐÁP TRẢ

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay trình bày cho chúng ta thấy : Thiên Chúa cất tiếng gọi mời và con người đáp trả. Chúa gọi Isaia (x. Is 6, 1-2a. 3,8), Chúa gọi Phêrô (x. Lc 5,1-11) và Chúa gọi Phaolô (1Cr 15,1-11). Cả ba đều thú nhận mình bất xứng, nhưng họ đã tin tưởng vào quyền năng của ơn thánh Chúa và sự đáp trả cách quảng đại hào phóng.

Chúa gọi Isaia

Isai đã kể lại việc Chúa gọi ông. Trong một thị kiến uy nghi, Isaia cảm thấy mình hiện diện trước tôn nhan Thiên Chúa ba lần Thánh, khiến ông hoảng sợ và nhận ra sự vô phúc, bất xứng của chính mình. Thiên Chúa đã muốn chọn ông trở thành kẻ nói lời của Chúa. Chúa đã sai sứ thần lấy hòn than đỏ hồng đặt vào miệng ông và nói : "Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha" (Is 6,7).

Than hồng đã chạm vào môi ông, tội lỗi của ông đã được tha. Hành động này như một sự thanh tẩy cả con người và tâm hồn của Isai, biến đổi ông trở thành người của Chúa, dành để phục vụ Chúa. Thế rồi ông cảm thấy sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa gọi, và thưa: "Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con" (x. Is 6,8). Sự thứ tha và lòng quảng đại của Thiên Chúa đã biến đổi Isaia thành đại ngôn sứ của Thiên Chúa.

Chúa gọi Phêrô

Nếu như tiên tri Isai được nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa qua một thị kiến, thì Tin Mừng Luca cho thấy, các môn đệ đầu tiên đã hoàn toàn bị chinh phục bởi quyền năng Thiên Chúa nơi Đức Giêsu và khi Ngài mở lời mời gọi, các ông đã đáp lại một cách nhanh chóng và quảng đại.

Trong câu chuyện mẻ cá lạ lùng được Luca thuật lại. Chúa Giêsu bước xuống thuyền của Simon, rồi ngồi trên thuyền mà giảng dạy dân chúng, có Simon ở bên để giữ cho thuyền khỏi tròng trành, còn Chúa Giêsu thì cố gắng giảng dạy đám đông. Chi tiết này cho thấy chắc chắn việc Chúa Giêsu bước xuống thuyền của Simon không phải là chuyện tình cờ, nhưng qua việc bước xuống thuyền của ông, Chúa cũng muốn bước vào cuộc đời và tâm hồn ông. Chúa đã mở lời để xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút, cũng có nghĩa là từ đây, ông được tách ra khỏi đám đông một chút để ông được ở gần Chúa, bên Chúa và cùng Chúa phục vụ cho việc rao giảng Tin Mừng.

Chúa Giêsu bảo ông Simon : "Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu, và thả lưới bắt cá" (Lc 5,4). Phản ứng của Simon là : "Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới" (Lc 5,8). Lời Chúa Giêsu tác động mạnh lên Phêrô, đặt ông vào tình thế phải thả lưới bắt cá tiếp, dù kinh nghiệm ngư phủ là không thể. Phêrô tin vào lời Chúa Giêsu, đức tin được nuôi dưỡng bằng tình Thầy trò, đức tin tái tạo cái mới và tôn vinh khả năng của con người. Ông tin Chúa, nên bắt được một mẻ đầy cá.

Bảo Phêrô: "Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu", là Chúa muốn ông bước ra ngoài sự an toàn, thói quen, chắc chắn, "và thả lưới bắt cá". Ðứng trước sự lạ lùng ấy, Simon Phêrô đã không ôm choàng lấy Chúa Giêsu để bầy tỏ lòng biết ơn vì thu lượm được nhiều cá quá sức mong đợi. Nhưng, theo như thánh sử Luca ghi lại, ông đã quỳ xuống trước mặt Người và thưa: "Lạy Chúa, xin tránh xa con đi, bởi vì con là một kẻ tội lỗi"(Lc 5,8). Chúa trấn an : "Ðừng sợ :từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta" (Lc 5,10); ông đã từ bỏ tất cả để đi theo Người.

Chúa gọi Phaolô

Phaolô, khi nhớ lại rằng mình đã từng là một kẻ bách hại Giáo hội, ông thú nhận mình không xứng đáng được gọi làm tông đồ, nhưng ông nhìn nhận rằng, Chúa Giêsu Phục Sinh đã thương xót ông và đã thực hiện nơi ông những điều kỳ diệu, và bất chấp con người có giới hạn của ông, Chúa còn trao cho ông nhiệm vụ và vinh dự được loan truyền Tin Mừng (x. 1Cr 15,8-10). Há chẳng phải lòng thương xót Chúa biến đổi con người ông sao ?

Kinh nghiệm cuộc đời

Trong cả ba kinh nghiệm kể trên, chứng tỏ con người dù nghèo nàn và bất xứng, giới hạn và tội lỗi, kể cả mỏng dòn. Nhưng nếu gặp được Thiên Chúa là Cha nhân lành, Chúa sẽ biến đổi phận người chúng ta. Isaia, Phêrô và Phaolô đã làm gương cho tất cả những ai được Chúa gọi thì hãy nhìn vào lòng khoan nhân của Chúa, để đáp lại tiếng Chúa gọi mời.

Đây là lúc chúng ta kiên định và tin tưởng vào Lời hứa của Đấng đã không bao giờ nuốt lời : "Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết  ; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới"(Lc 5,5). Câu trả lời của Phêrô tương tự như lời của Đức Maria tại tiệc cưới Cana: "Người bào gì thì phải làm theo" (Ga 2,5). Phải tin tưởng tuyệt đối và thi hành thánh ý Chúa, nỗ lực của chúng ta mới hữu ích. Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Phêrô thật đơn giản nhưng sâu sắc, chúng ta có thể lấy làm của riêng của mình: giữa nơi sóng cả ba đào trong một thế giới tội lỗi, chúng ta đấu tranh và lội ngược dòng, tìm cách để loan báo Tin Mừng cách tốt nhất.

Mượn lời Phêrô chúng ta thưa Chúa : "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi" (Lc 5,8). Thánh Irênê nói : ai nhận thức được bản chất tội lỗi của mình, thì người ấy có khả năng nhận biết tình trạng tạo vật của mình nữa. Chỉ có những người như Phêrô, mới chấp nhận những giới hạn của chính mình và nhận những thành quả tông đồ của mình. Chúa đã kêu gọi các Tông Đồ để trở thành kẻ lưới người, nhưng ngư dân đích thực chính là Chúa : trò giỏi không chỉ giỏi chài, mà còn bắt cá người giỏi. Điều này chỉ có hậu nếu chúng ta liều bỏ tất cả để theo Chúa.

Lạy Mẹ Maria, chúng con phó thác đời chúng con cho Mẹ. Xin Mẹ gợi lên nơi mỗi người chúng con lòng ước muốn đáp lại "Xin Vâng" với Chúa trong niềm hân hoan vui sướng. Amen. mục lục

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

CÓ TẤT CẢ VÀ BỎ TẤT CẢ

“Vào lúc khởi đầu thiên niên kỷ mới và đóng lại cuộc Đại Toàn xá, trong đó chúng ta đã cử hành lễ tưởng niệm 2000 năm Đức Giê-su giáng sinh, để bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc hành trình của Giáo Hội, lòng chúng ta lại vang lên lời mời của Đức Giê-su mà ngày nọ, sau khi đã giảng dạy đám đông từ trên thuyền của Si-môn, Người đã ngỏ với vị Tông đồ: “Chèo ra chỗ nước sâu” mà thả lưới bắt cá: “Duc in altum” (Lc 5,4). Phê-rô và các bạn của ông đã tin và lời Đức Ki-tô mà “làm như vậy, và họ đã bắt được rất nhiều cá” (Lc 5,6)”. Đó là câu khai mở Tông thư “Khởi đầu thiên niên kỷ mới” mà Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô đã ban hành ngày Lễ Hiển Linh 6-1-2001. Trong Tông thư này, dài 31 trang, với 4 chương, 59 số và 32 đề mục, Đức Thánh Cha nêu ra những nhận định tổng kết về các hoạt động Năm Thánh và về tình hình Giáo Hội cũng như của thế giới hiện nay và tương lai. Người cũng vạch ra những đường hướng và chỉ ra những phương thế để Giáo Hội sống thiên niên kỷ mới cách tốt đẹp. Và ĐTC kết luận (số 58): “Chúng ta hãy tiến tới trong niềm hy vọng! Một thiên niên kỷ mới đang mở ra trước mắt Giáo Hội như một đại dương mênh mông mà dựa và sự trợ giúp của Chúa Ki-tô, chúng ta sẽ mạo hiểm đi vào.”

Một phần tư thiên niên kỷ mới, Năm thánh 2025 hiện thời, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cũng viết trong Sắc chỉ Spes non confundit (Hy vọng không làm thất vọng): “Trong những thế kỷ đầu tiên của Ki-tô giáo, nhiều công nghị được tiến hành cả ở phương Đông lẫn phương Tây, làm nổi bật tầm quan trọng của việc duy trì sự hiệp nhất của Dân Thiên Chúa và lòng trung thành với việc loan báo Tin Mừng. Năm Thánh có thể là một cơ hội quan trọng để cụ thể hóa hình thức hiệp hành này, vốn được cộng đồng Ki-tô hữu ngày nay coi là một biểu hiện ngày càng cần thiết để đáp ứng tốt hơn trước tính cấp bách của việc truyền giáo: tất cả những người đã được rửa tội, mỗi người với đặc sủng và nhiệm vụ của mình, đều có trách nhiệm trở nên những dấu chỉ hy vọng làm chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới.” (số 17).

Có Thầy Là Có Tất Cả

 “Với sự trợ giúp của Chúa Ki-tô, chúng ta sẽ mạo hiểm đi vào.” Đó chính là ý nghĩa thứ nhất của bài Tin Mừng hôm nay. Một cái hồ nhỏ, một hải cảng nhỏ, một nhà giảng thuyết trẻ, vài ngư phủ quê mùa, cuộc phiêu lưu của Giáo Hội đã khởi đầu như vậy theo Lu-ca thánh sử. Khi mô tả khởi điểm này, ông đã thấy những “mẻ người” đầu tiên, những bước đầu của Giáo Hội trong thế giới dân ngoại. Tin Mừng lúc ấy đã vượt Địa Trung Hải và tới Rô-ma. Phần lớn chúng ta, làm sao không nghĩ đến những đoàn tín hữu mênh mông?

Nhưng cũng phải nghĩ đến những kẻ đang chờ các ngư phủ. Đoạn Tin Mừng này là dành cho mỗi người chúng ta, như Tông thư và Sắc chỉ trên có nói rõ, thậm chí cả câu 10 thời danh, tiêu điểm của cả đoạn: “Từ nay anh sẽ là kẻ lưới người”, câu nói đã đi vào lòng nhiều bạn trẻ nay trở thành linh mục và thừa sai truyền giáo.

Và khi đọc lại hôm nay trang Tin Mừng của Lu-ca, có lẽ họ cũng cảm thấy dâng lên một nỗi thất vọng: thu phục ở đâu, như thế nào? Đó chính là đích nhắm trình thuật này: niềm tin tưởng vào Đức Giê-su chính là phương thuốc chống lại sự thất vọng. Khi khai mạc cuộc “lưới người” mênh mông, cuộc truyền giáo vĩ đại, Đức Giê-su tung ra một lời cảnh cáo mà ta chớ có bao giờ quên: không có Thầy, lưới của chúng con sẽ rỗng. Chân lý căn bản này, chúng ta không luôn thấy rõ lúc 20 tuổi. Một khi đã dấn thân vào sứ vụ tông đồ, chúng ta lao nhọc ngày đêm nhưng không làm việc đủ với Đức Giê-su. Chúng ta nới lỏng việc cầu nguyện, chúng ta xem thường đời sống bí tích, chúng ta máy động, chúng ta vùng vẫy, và một hôm nào đó, chúng ta cảm thấy nản lòng: mình đã nhọc công vô ích.

Để phòng ngừa nỗi thất vọng đó, hãy suy niệm trang Tin Mừng hôm nay, nơi Đức Giê-su cho thấy cái chúng ta có thể làm khi tin tưởng Người. Người chọn cái có thể đánh động Phê-rô và các tông đồ đầu tiên hơn cả: nghề của họ. Và Người đã làm cho họ phải bực tức. Một tay thợ mộc như Người mà dám đưa ra lời khuyên cho những tay đánh cá chuyên nghiệp, cho những kẻ đã quá mệt mỏi vì cả một đêm gắng sức vô ích.

Các tông đồ chuyên nghiệp sẽ thấy mình trong cảnh đó. Kiệt lực vì những cố gắng cũng vô ích như thế, họ sẽ bị cám dỗ đẩy lùi ý tưởng phó thác cho Đức Giê-su, nghĩa là nại đến việc cầu nguyện. Mà chắc rằng mọi Ki-tô hữu, trong công việc tông đồ hạn hẹp nhất và không chính thức nhất của mình, cũng có ước muốn buông xuôi hay tìm những kỹ thuật khác hơn là gieo mình vào lời cầu nguyện. Tuy nhiên, chỉ duy nhất việc này mới có thể đem lại cho chúng ta nhiệt tình của vị Tông đồ trưởng. Dù là thợ mộc hay không, Đức Giêsu đã chinh phục ông: “Vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.”

Chúng ta sẽ không đem về những lưới đầy cá và những chiếc thuyền nặng trĩu, chúng ta không còn ở vào cái thời mà Đức Giê-su dùng đến một phép lạ để củng cố niềm tin tưởng mới thành hình. Nhưng chúng ta biết, qua các mẻ lưới truyền giáo vĩ đại, cái mà người đã có thể làm với Đức Giê-su. Chúng ta có Công vụ Tông đồ, các trình thuật truyền giáo và mọi cuộc sống của các thánh để làm sống dậy niềm tin tưởng của chúng ta. Chỉ duy thái độ này mới có thể biến chúng ta thành những tông đồ chịu khó nhưng biết nhìn Đức Giê-su luôn mãi: Vâng lời Thầy, và vâng cho đến cùng, con sẽ thả lưới. Có Thầy là có tất cả.

Theo Thầy Phải Bỏ Tất Cả

Nhờ “vâng lời” Đức Giê-su đến độ liều lĩnh như thế, Phê-rô đã thu được một bất ngờ và kỳ diệu. Bấy giờ câu chuyện chuyển sang ý nghĩa thứ hai: trình bày một ơn gọi điển hình, vì tập chú vào những lời tiêu biểu của mọi ơn gọi: “từ bỏ và bước theo.”

Như I-sai-a trong bài đọc thứ nhất (Is 6,1-2a.3-8: “Tôi là một người môi miệng ô uế...”), Phê-rô cũng cần phải nhận ra sự nhơ bẩn của mình để được thanh tẩy: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”, trước khi, như I-sai-a, bước vào một viễn ảnh tông đồ lớn lao, được giao phó một sứ mạng cứu rỗi khó khăn, một công cuộc vô cùng vinh quang nhưng cũng vô cùng đòi hỏi. Chính vì thế, duy nhất trong các tác giả Tin Mừng, Lu-ca ghi chú ở đoạn cuối: “Họ bỏ hết mọi sự.” Sự từ bỏ chân thật, đức khó nghèo triệt để, việc chọn lựa hoàn toàn Nước Thiên Chúa là những đòi hỏi cần thiết trong ơn gọi Ki-tô hữu. Trong lúc hai tác giả Tin Mừng khác như Mt và Mc chỉ ghi chú: “Họ bỏ thuyền và cha mà theo Người”, thì Lc ngược lại, ông vạch một ranh giới rõ ràng và toàn diện hơn: “Họ bỏ hết mọi sự mà theo Người.” Từ “mọi sự” này sẽ được lặp lại trong chuyện ơn gọi của Mát-thêu, tay thu thuế: “Ông bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Người” (5,28), và sẽ được lặp lại cho mỗi môn đệ: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được” (14,33).

Đây là bước khó khăn phải hoàn thành, vì chúng ta bị ràng buộc bởi một mạng lưới chằng chịt gồm vô số mối lợi, sở hữu, lưu luyến, thậm chí sợ hãi đối với nhiều người và nhiều vật. Trong cái xã hội mà quyền lực thế gian đang dùng những mối lợi nhỏ nhoi như phương thế công cụ hóa tôn giáo này, sự từ bỏ đó càng thêm khó khăn. Tuy nhiên, như các môn đệ sẽ khám phá, ơn gọi theo Chúa là một sự “từ bỏ”, “mất mát” khá lạ lùng vì sau đó họ “sẽ được anh chị em gấp trăm” thật sự trong những con người mà họ sẽ “thu phục”.

Đối với mỗi người trong chúng ta cũng vang dội tiếng gọi đã ngỏ với I-sai-a và Phê-rô, dầu dưới những hình thức khác nhau. Thiên Chúa chờ đợi câu trả lời của chúng ta. Bất chấp các lần lữa, từ chối, ngập ngừng, trốn chạy, Người vẫn kiên nhẫn theo chúng ta, chờ đợi quyết định của chúng ta. Trong tiểu thuyết “Ai nấy có đêm của mình”, văn sĩ Julien Green từng viết đại ý: “Đúng thế, Thiên Chúa theo chúng ta từng bước. Dĩ nhiên bạn không dễ chấp nhận điều đó đâu. Có những lần bạn muốn xua Người đi, như thể đó là một kẻ ăn mày: “Chúa đi đi. Hãy để con vui chơi giải trí. Chúa làm con quá nản! Để con yên nào!” Người sẽ đi xa một chút, nhưng không bỏ hẳn. Sau đó Người sẽ trở lại. Người đã quen với những lăng nhục và khước từ rồi.” mục lục

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

ĐỂ CAN ĐẢM LÊN ĐƯỜNG

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật V TN C này giới thiệu chân dung ngôn sứ Isaia, tông đồ Phaolô và Simon Phêrô, người ngư phủ xứ Galilê. Cả ba đều được sai đi và có thể nói cách chung là được sai đi để “đánh lưới người”, tức là đưa con người về với Thiên Chúa, đúng hơn là giúp con người đón nhận tình yêu của Thiên Chúa.

Một trong những tiền đề để cho người được sai đi có tinh thần nhiệt thành chu toàn sứ mạng đồng thời gặt hái nhiều kết quả, đó là bản thân phải cảm nghiệm ân tình của Thiên Chúa dành cho mình, một ân tình vượt quá công trạng cũng như phận vị của mình.

Trước sự uy nghi chí thánh của Đấng Tối Cao, Isaia đã chân nhận mình “là một người môi miệng ô uế, ở giữa một dân môi miệng ô uế” (Is 6,5). Trời càng sáng thì các vết nhơ càng tỏ lộ. Diện kiến thánh nhan Đấng Chí Thánh, hẳn nhiên vị ngôn sứ thấy rõ thân phận ô uế, tội nhơ của mình. Thế mà dù chưa mở miệng kêu xin, Thiên Chúa vẫn sai các thần Sêraphim lấy than hồng thanh tẩy ngài: “Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, người đã được tha lỗi và xá tội” (Is 6,7).

Khi đi rao giảng Tin Mừng, thánh Tông đồ dân ngoại thường công khai thú nhận tội lỗi của mình trước đây là bách hại đạo thánh Chúa. “Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông đồ, tôi không đáng được gọi là Tông đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa” (1Cr 15,9). Thánh nhân cảm nhận việc Chúa Kitô chọn gọi ngài là một ơn nhưng không và đó cũng là một dấu chỉ để đem niềm hy vọng cho nhiều người (x.Tm 1,15-16).

Trước uy quyền và nhất là ân tình của Thầy Giêsu, Simon Phêrô đã sấp mặt dưới chân Người mà thưa: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Là phàm hèn yếu đuối, chỉ mới cho Thầy mượn chiếc thuyền một lát để Thầy giảng đạo, dĩ nhiên là ngoài giờ làm việc, thuyền rảnh, thế mà Thầy đáp lại bằng một mẻ cá lạ lùng, chất đầy hai thuyền nặng gần chìm. Người không chỉ đầy quyền năng mà còn rất đỗi hào phóng. Để nhiệt thành ra chỗ nước sâu mà thả lưới, thì người được sai đi không thể không cảm nghiệm:

-Tình Chúa thật bao la trước sự yếu đưối, tội lỗi đầy bất xứng của mình. Chúa đã thương yêu chúng ta không phải vì chúng ta đáng yêu hay thánh thiện, công cao, đức dày. Thánh Phaolô đã khẳng định rằng Chúa Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là kẻ phản nghịch cùng Người. Chính nhờ được Chúa yêu thương nên chúng ta mới thành đáng yêu, mới có thể tích đức, lập công. Thanh Gioan Tông đồ xác quyết: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10).

- Quyền năng Chúa thật vô biên trước sự giới hạn, bất tài, kém lực của chúng ta. Trước uy quyền của Thiên Chúa, hẳn nhiên chúng ta dễ nhận ra sự bé nhỏ, giới hạn của mình. Trái với thái độ “ếch ngồi đáy giếng”, khi trí khôn càng phát triển, tầm nhìn càng mở rộng thì con người càng dễ nhận ra ngay mình chỉ là hạt bụi mong manh trước sự mênh mông, bao la của vũ trụ và nhất là trước Đấng làm cho mọi vật mọi loài, hữu hình và vô hình từ chốn hư không thành hiện hữu.

-Với người tông đồ thì một trong những tiền đề giúp gặt hái thành công đó là biết đặt niềm tin cậy vào quyền năng của Thiên Chúa. Mọi sự là do bởi ơn Thiên Chúa ban. “Kho tàng ấy, chúng tôi chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (2Cr 4,7).

Điểm đến của người ngôn sứ, người tông đồ hay người đánh cá người thường là “chỗ nước sâu”. “Này Thầy sai anh em đi như chiên con giữa bầy sói” (Lc 10,3). Để có thể mạnh dạn thưa như Isaia: “Dạ, con đây, xin sai con đi” hay như Phaolô quên hết mọi sự đằng sau mà lao mình về phía trước hay như Phêrô “bỏ hết mọi sự” để đi đánh cá người, thì tiên vàn người được sai đi phải cảm nhận quyền năng và ân tình của Thiên Chúa trên con người yếu đuối và đầy bất toàn của mình. Chính nhờ thế, chúng ta sẽ mạnh dạn ra đi đánh cá người, không phải bằng sức riêng mình, nhưng bằng chính tình yêu và quyền năng của Đấng Cứu độ, Đấng luôn động viên chúng ta: “Đừng sợ!”. Đừng sợ, vì Thầy sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế (x.Mt 28;20). Đừng sợ, vì ơn Thầy luôn đủ cho con và sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối của con (x.2Cr 12,9). Đừng sợ, “hãy can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33).

Bước vào năm thánh 2025 này chúng ta không chỉ cùng nhau làm người hành hương của niềm hy vọng mà còn làm người gieo rắc niềm hy vọng cho tha nhân đang trong kiếp lữ thứ hành hương. mục lục

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

CHÚA ƠI CON ĐÃ SẴN SÀNG

Anh chị em thân mến,

Các bài đọc trong phần Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đều mang chung một chủ đề là ơn gọi. Chúa là người gọi còn đáp trả hay không là quyền của mỗi người. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng thì việc đáp trả cũng là hồng ân được ban tặng. Bởi vì nếu không có tiếng gọi thì tai chúng ta nghe được những gì. Cho dù mỗi người có một quá khứ riêng, một con đường riêng, nhưng khi đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa thì chúng ta đều có chung một điểm, đó là ý thức thân phận yếu hèn tội lỗi của mình và khiêm tốn đáp trả bằng tất cả tấm lòng.

Cuối cùng tất cả đều tùy thuộc vào Thiên Chúa. Thật vậy, ơn gọi là một hồng ân nhưng cũng là một trách nhiệm. Thiên Chúa không chọn những người hoàn hảo, nhưng Ngài thanh luyện và biến đổi những ai sẵn sàng đáp lại lời mời gọi. Trong tinh thần đó, giờ đây, chúng ta hãy chiêm ngưỡng ơn gọi của ngôn sứ I-sa-ia, 2 Thánh Tông đồ Phê-rô và Phao-lô, rồi rút ra bài học ơn gọi cho chính mình.

Trong bài đọc I, chúng ta thấy việc Chúa chọn và gọi I-sa-ia tham dự vào công việc của Ngài trong vai trò ngôn sứ. Việc trước tiên là trong thị kiến, I-sa-ia đã nhìn thấy Thiên Chúa uy linh thánh thiện. Vẻ uy linh và thánh thiện của Thiên Chúa không làm ông khiếp sợ. Trái lại, ánh sáng đó lại soi chiếu tâm can khiến ông nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa là Đấng toàn năng Thánh Thiện, và cũng chính nguồn sáng đó đã giúp ông nhận ra thân phận tội lỗi, bất toàn và cần đuợc thanh tẩy của mình. Vì thế, sau khi miệng luỡi ông được thanh tẩy, ông đã nhận ra việc Chúa muốn dùng miệng lưỡi của ông để loan báo Lời của Ngài; và ông đã mau mắn đáp lại trong sự tin tưởng và đầy quyết tâm: “Này con đây, xin hãy sai con”. (Is 6,8)

Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phao-lô nhấn mạnh đến vai trò tông đồ của ông hoàn toàn phát sinh từ Chúa. Đó là điều ông đã nhận lãnh và giờ đây trao lại cho các tín hữu. Khi thi hành sứ mạng, Phao-lô đã gặp nhiều trở ngại, bị khước từ, bị bắt bớ, bị bỏ rơi và giam cầm. Nhưng không vì thế mà ông bỏ cuộc; bởi vì ông nhận ra rằng tất cả đều tuỳ thuộc vào ơn của Chúa như lời ông nói: “Nhưng nay tôi là người thế nào, là nhờ ơn của Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các Đấng: song không phải tôi, nhưng là ơn của Thiên Chúa ở với tôi”.

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giê-su gọi và chọn các môn đệ đầu tiên trong bối cảnh mẻ cá kỳ diệu nơi bờ biển. Bắt đầu là sáng kiến của Đức Giê-su. Người đang giảng dậy trên bờ bỗng nhiên lại muốn ra khơi; có lẽ vì thấy dân chúng tuôn đến quá đông nên Người đã chọn một không gian rộng lớn hơn để mọi người đều có thể nghe được lời giảng dậy của Người. Nhưng việc ở trên thuyền cũng là một sự sắp xếp thật lý thú của Thánh Sử Lu-ca. Không ở trên thuyền làm sao bắt được cá. Phải chăng thuyền là hình ảnh của Hội Thánh!

Sau khi giảng cho dân chúng nghe xong, Người lập tức yêu cầu Si-mon chèo thuyền ra xa để thả luới bắt cá và kết quả là một mẻ luới lạ lùng!

Có một chi tiết khá lý thú mà chúng ta nên lưu tâm. Si-mon là người đánh cá chuyên nghiệp, tràn trề kinh nghiệm cho nên Si-mon biết là muốn bắt được cá thì cần phải thả luới ban đêm nên đã thưa với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết” Qua lời phân trần này, Si-mon có ý ám chỉ là cả đêm đã vất vả mà không bắt được con nào, thì trời sáng rồi thì làm sao bắt được cá đây!

Nhưng với kết quả của mẻ cá hôm nay đã khiến Si-mon và những ai hay dựa vào kinh nghiệm và tài năng của bản thân phải xấu hổ. Một cách thật nhẹ nhàng, Đức Giê-su đã khiến các ông nhận ra lối suy nghĩ và kinh nghiệm của Phê-rô hôm nay chỉ làm trò cuời cho ông mà thôi. Tuy nhiên, một điều đáng quí nơi Phê-rô, đó chính là thái độ vâng lời của ông, nên ông đã thưa với Chúa “nhưng vì Lời Thầy phán, con sẽ thả lưới”; kết quả là một mẻ lưới kỳ diệu.

Đứng trước việc kỳ diệu vừa xẩy ra trước mắt các ông. Si-mon, nhanh nhẩu và mau mắn nhận ra thân phận của mình. Ông biết rằng dựa vào kinh nghiệm và sức riêng khiến ông thấy mình tội lỗi, nên ông đã sụp lạy dưới chân Đức Giê-su và thưa: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”.

Lại một lần nữa, Đức Giê-su làm cho Si-mon thấy điều ông đang nghĩ lại sai nữa. Mẻ luới lạ lùng đã xẩy ra ngay lúc Simon Phê-rô nghĩ mình là người có tội. Tội không cản trở ơn phúc. Đức Giê-su đã thực hiện việc kỳ diệu ngay trong thân phận bất toàn của ông và các môn đệ. Tin Mừng là thế đó!

Thật vậy, giống như các kinh sư và các người thuộc nhóm Biệt phái khi xưa, chúng ta luống cuống khi tiếp xúc và cư xử với những ai có tội. Trong khi chúng ta xếp tội nhân vào loại người không xứng đáng thì Chúa lại có thái độ khác. Người luôn tạo cơ hội cho họ bắt đầu lại.

Thái độ của Đức Giê-su dành cho Si-mon Phê-rô trong bài Tin Mừng hôm nay cũng thế. Trong lúc Phê-sô đang bị mặc cảm tội lỗi dầy vò và dằn vặt khiến ông bất an và nhận ra mình thật bất xứng thì Chúa lại tìm cách lôi Phê-rô thoát khỏi những ý nghĩ tiêu cực đó. Người nói: “Đừng sợ! từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta”.

Đây là một điểm rất quan trọng: ơn gọi có thể đến ngay giữa cuộc sống thường ngày. Chúa không chỉ gọi các linh mục, tu sĩ, mà còn mời gọi mỗi người chúng ta theo Chúa ngay trong hoàn cảnh của mình – trong gia đình, công việc và xã hội.

Như các môn đệ và để đáp trả lời mời của Chúa, chúng ta cần đưa thuyền vào bờ, từ bỏ mọi sự, nhất là những suy tính dựa trên ý mình, quên đi quá khứ tội lỗi, mà đi theo Người.

Làm sao có thể từ bỏ tất cả để đi theo Người? Đây là việc làm đòi hỏi nhiều quyết tâm và cần thời gian. Không dễ dàng gì để từ bỏ. Điều khó nhất là có thể chúng ta từ bỏ đuợc nhiều điều lệ thuộc của cuộc sống mà lại không từ bỏ được chính mình, từ bỏ cách suy nghĩ cho mình là trung tâm và ngoài mình ra thì chẳng có ai làm đuợc gì hết!

Ta vẫn là ta, dù có hăng say hay thành công đến đâu đi chăng nữa thì muôn đời chúng ta vẫn chỉ là các môn đệ. Môn đệ không thể hơn chủ. Muốn sống, người môn đệ phải biết sống và nương tựa vào Chủ. Muốn đuợc như thế, cần tập sống từ bỏ và trở thành những kẻ nghèo nhất. Và với nếp sống nghèo thì việc tựa nương vào Chúa sẽ dễ dàng hơn. Thiên Chúa là nguồn năng lực duy nhất của người môn đệ. Hãy trông cậy, tin tưởng và phó thác hoàn toàn vào Đấng đã kêu mời ta.

Thưa anh chị em,

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay loan báo một sứ điệp, đó là: Chúa gọi và chọn những người Chúa muốn. Mọi ơn gọi đều phát xuất từ tình thương của Người. Điều quan trọng, con người phải ý thức rằng: mình chẳng là gì trước mặt Chúa, nhưng lại được Chúa yêu thương và tuyển chọn. Phần còn lại, đó là sự đáp trả bằng cách đón nhận và làm giầu có tình thương của Thiên Chúa qua cuộc sống mình.

Thiết nghĩ, với ơn Chúa, chúng ta sẽ làm được tất cả. Và những ai biết nương tựa vào Chúa thì chẳng bị bỏ rơi bao giờ. Vì thế, hãy sống nhờ Người, làm việc với Người và ở trong Người thì cuộc đời của chúng ta sẽ là mẻ cá lạ lùng của Thiên Chúa. Bởi vì, Chúa có thể không ban cho chúng ta điều mà chúng ta nguyện xin. Nhưng Người luôn có mặt khi chúng ta cần đến Người.

Lạy Chúa, xin hãy sai vì nay con đã sẵn sàng. Amen! mục lục

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan