SUY NIỆM CHÚA NHẬT II PHỤC SINH_C
Lời Chúa: Cv 5,12-16; Kh 1,9-11a.12-13.17-19; Ga 20,19-31
TÌM LẠI NIỀM TIN ĐÃ MẤT – + ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
PHÉP LẠ CHỮA LÀNH và NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT – Lm. Đa Minh Phạm Tĩnh, SDD
DẤU ẤN TÌNH YÊU VÀ NGUỒN MẠCH LÒNG THƯƠNG XÓT – Jos. Vinc. Ngọc Biển
THA THỨ: MỘT TẶNG PHẨM TUYỆT VỜI – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
TIN VÀO CHÚA KITÔ PHỤC SINH – Phêrô Phạm Văn Trung
CHÚA PHỤC SINH VẪN CÒN MANG ĐẦY THƯƠNG TÍCH! – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
NHÂN LOẠI HÔM NAY CẦN LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA – Trần Mỹ Duyệt
PHỤC SINH và THÁNH THỂ – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi.
Cả ba năm A,B,C của Chúa nhật thứ hai Phục sinh đều có chung một bài Phúc âm. Đó là trình thuật của tác giả Gio-an về việc Chúa Giê-su phục sinh hiện đến với các tông đồ, lần thứ nhất không có Tô-ma, và lần thứ hai, có Tô-ma ở đó (x. Ga 20,19-31). Biến cố thập giá đã gây cho ông Tô-ma một cú sốc quá lớn. Trước đó, khi Chúa Giê-su quyết định đến Bê-ta-ni-a để làm cho ông La-gia-rô đã chết được sống lại, bất chấp những nguy hiểm đe dọa, ông Tô-ma đã khẳng khái nói với các tông đồ khác rằng: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy” (Ga 11,16). Điều này chứng tỏ ông là một người bạo dạn cương quyết trong việc theo Thầy mình.
Trước biến cố thập giá, Tô-ma là người đã mất niềm tin. Khi gặp Đấng Phục sinh bằng xương bằng thịt, ông tìm lại được niềm tin đã mất. Trước cuộc thương khó của Thầy mình, Tô-ma cũng như các tông đồ khác đã cùng ăn uống với Người, nhưng bây giờ để tin, ông cần bằng chứng. Cũng như biết bao người khác của mọi thời đại, Tô-ma cần có chứng cớ xác thực, làm nền tảng cho niềm tin của mình. Ông đã thách thức: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”. Điều kiện của Tô-ma đưa ra cũng hợp lý. Bởi lẽ để gửi gắm niềm tin nơi một người nào đó, người ta cần có chứng cớ cụ thể. Ba động từ được ông dùng trong câu trích dẫn trên là thấy, xỏ ngón tay, đặt bàn tay. Ông muốn khẳng định: để tin thì phải mắt thấy tai nghe và thân xác phải chạm tới. Tuy vậy, tám ngày sau đó, khi Chúa Giê-su phục sinh hiện ra và chấp nhận những điều kiện của Tô-ma, thì ông lại “đứng hình” khiếp vía. Ông không còn dám xỏ ngón tay và đặt bàn tay vào các vết thương của Người nữa. Cuộc gặp gỡ Chúa Giê-su Phục sinh bằng xương bằng thịt đã làm cho Tô-ma hoàn toàn bị thuyết phục. Điều đặc biệt ở đây là Tô-ma tuyên xưng đức tin bằng một công thức chưa hề có trước đó trong Tin Mừng thánh Gio-an: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”. Qua lời tuyên xưng này, ông Tô-ma đã diễn tả định nghĩa tín lý cốt lõi sau này của Ki-tô giáo. Đối với Tô-ma và các tông đồ, từ nay Đức Giê-su không còn phải là Chúa, mà là Thiên Chúa, tức là Đấng quyền năng đã tỏ mình ra trong lịch sử của dân tộc Ít-ra-en. Quyền năng ấy thể hiện ở việc cửa nhà đóng kín mà Người vẫn vào được. Cũng vậy, dù các ông nhìn thấy Chúa bằng con mắt thể lý, nhưng vẫn chưa nhận ra Người vì chưa được Người soi sáng. Đấng Phục sinh không còn bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Người là Thiên Chúa thật. Niềm tin đã mất không chỉ được thấy lại, mà còn hoàn hảo và trọn vẹn sâu sắc hơn nhiều.
“Phúc thay những người không thấy mà tin!”. Đây không phải chỉ là lời dành cho Tô-ma, mà còn là thông điệp cho mọi thế hệ. Cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi lúc đó đâu có nhìn thấy Đức Giê-su bằng xương bằng thịt, vậy mà số tín hữu càng ngày càng đông. Niềm xác tín vào sự hiện diện của Đấng Phục sinh đã giúp ông Phê-rô có thể chữa bệnh, thậm chí cái bóng của ông phủ lên bệnh nhân, cũng làm cho họ được chữa lành khỏi những bệnh hiểm nghèo. Cũng chính từ niềm tin Chúa Giê-su là Thiên Chúa mà các Ki-tô hữu hội họp tại hành lang Sa-lô-môn, tức là một phần của Đền thờ Giê-ru-sa-lem, là nơi thờ phượng Thiên Chúa của người Do Thái để ôn lại giáo huấn của Người. Từ nay, Thiên Chúa của các Tổ phục cũng là Thiên Chúa của các Ki-tô hữu (Bài đọc II).
Hai mươi thế kỷ sau sự kiện Phục sinh, hôm nay Giáo Hội vẫn tiếp tục rao giảng Đấng Phục sinh và khẳng định: Người đang hiện diện giữa chúng ta! Chúa Ki-tô đang sống! Các tín hữu hôm nay và chúng ta đang được Đấng Phục sinh chúc phúc, vì chúng ta là những người “tuy không nhìn thấy mà vẫn vững niềm tin”.
Trong Bài đọc II, tông đồ Gio-an chia sẻ với chúng ta hạnh phúc thiên đàng, là tương lai và lý tưởng của Ki-tô hữu. Đó là hình ảnh Con Người trong vinh quang thiên quốc. Phúc cho những ai vững niềm xác tín vào sự hiện diện của Đấng Hằng Sống, người đã chiến thắng tử thần và âm phủ. Người đang được tôn vinh nơi thiên quốc và đồng thời cũng đang hiện diện giữa chúng ta.
Hôm nay cũng là Chúa nhật của lòng Chúa Thương Xót, do sáng kiến của Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô từ năm 2000. Mục đích của ngày này giúp chúng ta cảm nhận lòng thương xót của Chúa Cha thể hiện qua cuộc đời Chúa Giê-su mà đỉnh cao là biến cố thập giá, từ đó chúng ta sẽ thực thi lòng thương xót đối với tha nhân. Nếu Chúa Giê-su chúc phúc cho những người tin vào Chúa, thì Người cũng chúc phúc cho những ai có lòng thương xót, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa, Đấng Tối cao (x.Mt 5,7). Thế giới hôm nay rất cần đến lòng thương xót, không chỉ là từ nhu cầu vật chất, mà còn thiếu tình thương, tình liên đới cảm thông và giúp nhau hướng về sự thiện. Mỗi chúng ta cũng cần đến lòng thương xót của Chúa, như lá chắn che chở chúng ta giữa những xô đẩy của dòng đời. Lạy Chúa Giê-su, con tín thác vào Chúa! mục lục
+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
PHÉP LẠ CHỮA LÀNH VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT
Kinh Thánh thuật lại rằng Chúa Giêsu đã làm rất nhiều phép lạ cho dân chúng. Ngài đã chữa lành cho nhiều người: người mù được thấy, kẻ què được đi, người phong cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết được sống lại (x. Mt 11,5; Lc 7,22).
Tuy nhiên, để nhận được ơn chữa lành, để các phép lạ được thực hiện, Kinh Thánh cho biết con người cần hội đủ ít nhất ba điều kiện sau:
1. Nhận ra tình trạng bệnh tật của bản thân
Điều kiện đầu tiên là ý thức mình là bệnh nhân, là người đang cần được Chúa chữa lành.
Chẳng hạn như anh mù Bác-ti-mê (Bartimê) đã nhận ra mình đang sống trong bóng tối tăm đặc, vì thế anh đã lớn tiếng van xin Chúa Giêsu:
“Lạy Thầy, xin cho tôi được nhìn thấy!” (Mc 10,51).
2. Có lòng tin mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa
Điều kiện thứ hai là phải có lòng tin vững vàng vào quyền năng của Chúa Giêsu.
Người phụ nữ xứ Ca-na-an đã tha thiết xin Chúa chữa lành cho con gái mình và được toại nguyện, chính là vì bà đã tin. Chúa Giêsu đã nói với bà:
“Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.” (Mt 15,28).
Từ giờ đó, con gái bà được lành bệnh.
3. Khiêm tốn van xin lòng thương xót của Chúa
Điều kiện thứ ba là van nài lòng thương xót của Thiên Chúa.
Trường hợp của mười người phong hủi là một minh chứng sống động. Khi Chúa Giêsu vào một làng kia, mười người phong đã đứng đằng xa và lớn tiếng kêu xin: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!” (Lc 17,13). Và họ đã được chữa lành.
SUY NIỆM VÀ ÁP DỤNG
Trong ngày lễ kính Lòng Chúa Thương Xót (Chúa nhật II Phục sinh), bạn được mời gọi hồi tâm suy nghĩ:
Bạn đang là người khỏe mạnh, lành lặn, sáng suốt?
Hay bạn đang mang trong mình những tật bệnh phần linh, phần xác?
Bạn có nhận ra tình yêu, sự hy sinh và những vất vả mà ông bà, cha mẹ đã và đang dành cho bạn không?
Bạn có thấy những đau khổ và bất hạnh mà con cái hoặc người phối ngẫu đang gánh chịu vì những thói hư tật xấu của bạn như nghiện ngập, ma túy, cờ bạc, rượu chè không?
Bạn có nhìn thấy sự nguy hại và phá hoại của các hình ảnh dâm ô, các bộ phim, tiểu thuyết vô luân gây ra cho chính bạn và gia đình mình không?
Bạn có đưa tay ra ký trách nhiệm, góp phần phụ giúp cha mẹ trong chi tiêu gia đình, trả tiền nhà, điện nước, hoặc giúp đỡ người nghèo khó hơn mình không?
Bạn có mở miệng nói những lời biết ơn, xin lỗi, nhỏ nhẹ, lịch sự và tử tế với những người chung quanh – bắt đầu từ chính những người trong gia đình: vợ, chồng, cha mẹ, con cái?
Nếu câu trả lời của bạn là “có”, thì tạ ơn Chúa, bạn không bị mù, không bị què quặt, không bị câm.
Còn nếu câu trả lời là “không”, thì hãy xin Chúa ban ơn chữa lành cho bạn.
ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC CHỮA LÀNH
Như đã nói, để được Chúa chữa lành, trước tiên bạn phải nhận ra mình đang đau yếu, bệnh tật, mù lòa. Nếu bạn không thấy mình cần được chữa lành thì bạn đâu cần đến “bác sĩ Giêsu”. Chính Chúa đã phán:
“Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.” (Mt 9,12).
Tiếp đến, bạn cần tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của Thiên Chúa trên mọi tật bệnh – kể cả phần xác lẫn phần linh hồn.
Sau cùng, bạn phải khiêm tốn van xin lòng thương xót của Ngài. Khi đó, Chúa Giêsu sẽ chữa lành bạn.
LINH DƯỢC THIÊNG LIÊNG: BÍ TÍCH GIẢI TỘI VÀ THÁNH THỂ
Hãy đến với bác sĩ Giêsu qua Bí tích Giải tội, vì đây chính là phương thuốc thần diệu mà Ngài để lại để chữa lành mọi căn bệnh của chúng ta.
Bí tích Giải tội là linh dược vô cùng hiệu nghiệm.
Hãy siêng năng tham dự Thánh lễ mỗi ngày, vì nơi đó bạn có cơ hội mở miệng van xin lòng thương xót của Chúa, và nhất là được lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu, là linh dược tối cao.
Khi có Chúa ở trong lòng, không một loại virus thiêng liêng nào có thể phá hoại linh hồn và thân xác bạn được.
LỜI MỜI GỌI
Bạn có muốn được chữa lành không?
Nếu muốn, đừng chần chừ. Hãy nhận ra bệnh tật của mình, hãy tin tưởng vào quyền năng của bác sĩ Giêsu, và hãy mở miệng kêu cầu:
“Lạy Thầy, xin chữa lành con!” mục lục
Lm. Đa Minh Phạm Tĩnh, SDD
Kính thưa cộng đoàn,
Trong ánh sáng huy hoàng của Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh, tâm hồn chúng ta một lần nữa được mời gọi chiêm ngưỡng mầu nhiệm tình yêu vô biên của Thiên Chúa, mầu nhiệm mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng thiết lập thành Chúa Nhật Lòng Thương Xót. Dù việc cử hành trang trọng Chúa Nhật Lòng Thương Xót là một hồng ân mới cho thời đại chúng ta, nhưng tâm điểm của ngày lễ này lại bắt nguồn từ dòng chảy bất tận của lòng thương xót Chúa, vốn đã hiện diện xuyên suốt lịch sử cứu độ và được khắc ghi sâu đậm trong Kinh Thánh. Cụ thể là bài Tin Mừng được Giáo Hội dùng cho phụng vụ Chúa Nhật II Phục sinh mà chúng ta vừa nghe.
Cộng đoàn thân mến,
Bài Tin Mừng hôm nay (Ga 20, 19-31) mở ra cho chúng ta khung cảnh căn phòng đóng kín, nơi các môn đệ đang chìm trong nỗi sợ hãi và thất vọng sau những biến cố đau thương của Thứ Sáu Tuần Thánh. Bất ngờ, Đấng Phục Sinh hiện đến, mang theo hơi thở bình an: “Bình an cho anh em!” (Ga 20, 21). Lời chào này không chỉ xoa dịu nỗi hoang mang, mà còn là sự trao ban chính Thần Khí của Thiên Chúa – nguồn mạch sự tha thứ và hòa giải. Tiếp nối lời chào bình an ấy, Chúa Giêsu khẳng định quyền năng tha thứ tội lỗi, Ngài phán: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20, 22-23). Trong giây phút Phục Sinh vinh hiển, Chúa Giêsu không chỉ ban bình an mà còn trao quyền năng Thánh Thần để tha thứ tội lỗi – một dấu ấn sâu sắc của lòng thương xót vô bờ bến. Quyền năng này, được trao cho các Tông đồ, tiếp tục được thực hiện trong Giáo hội qua Bí tích Hòa Giải, nơi mỗi chúng ta được gặp gỡ và cảm nghiệm lòng thương xót chữa lành của Chúa.
Để khắc sâu hơn nữa chân lý về lòng thương xót vô hạn này, lời tiên tri Isaia đã từ ngàn xưa loan báo rằng: "Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông." (Ê-sai 1, 18). Lời hứa này là nền tảng vững chắc cho niềm tin của chúng ta: không có tội lỗi nào quá lớn mà lòng thương xót của Thiên Chúa không thể xóa bỏ và tái tạo.
Tiếp theo, chúng ta cùng suy ngẫm về câu chuyện Thánh Tôma, vị Tông đồ hoài nghi. Sự vắng mặt của ông trong lần hiện ra đầu tiên và thái độ đầy nghi ngờ khi nghe các bạn kể lại là một hình ảnh rất đỗi nhân loại. Dù vậy, Chúa Giêsu đã không bỏ rơi Tôma. Ngài đã trở lại, đặc biệt vì ông, để đáp ứng nhu cầu sâu thẳm trong trái tim ông – nhu cầu được chạm vào vết thương, được xác tín bằng chính giác quan. Lời mời gọi của Chúa: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra và đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (Ga 20, 27) không chỉ dành riêng cho Tôma, mà là lời mời gọi cho tất cả chúng ta – hãy đến gần trái tim bị đâm thâu của Chúa, nguồn mạch tuôn trào lòng thương xót. Và lời tuyên xưng đức tin của Tôma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20, 28) đã trở thành tiếng vọng của sự tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu và quyền năng của Đấng Phục Sinh. Qua hành trình đức tin của Tôma, chúng ta nhận ra rằng, ngay cả trong những nghi ngờ và yếu đuối nhất, lòng thương xót của Chúa vẫn luôn kiên nhẫn chờ đợi, tìm kiếm và chữa lành, khơi dậy một niềm tin mạnh mẽ và sự quy phục trọn vẹn.
Để hiểu sâu hơn nữa về trái tim nhân hậu của Chúa Giêsu, chúng ta hãy lắng nghe những lời hứa mà Ngài đã trao ban qua Thánh Faustina Kowalska trong Nhật Ký Lòng Thương Xót Chúa. Ngài khẳng định một cách mạnh mẽ: “Ta ban cho nhân loại một phương tiện cuối cùng để được cứu rỗi; đó là Lòng Thương Xót của Ta.” (Nhật Ký, 965). Trong những trang nhật ký thiêng liêng ấy, Chúa Giêsu đã tỏ lộ một cách đặc biệt lòng thương xót vô biên của Ngài, không chỉ dành cho những người đạo đức mà còn cho cả những người tội lỗi, những người bị xã hội xa lánh. Một trong những biểu hiện tuyệt vời nhất của lòng thương xót ấy là lời hứa: "Vào ngày Lễ Lòng Thương Xót này, những ai đến xưng tội và rước lễ sẽ được ơn tha thứ hoàn toàn mọi tội lỗi và khỏi mọi hình phạt do tội gây ra." (Nhật Ký, 1109). Đây là một hồng ân lớn lao, một cơ hội thiêng liêng để những ai trót lầm lỡ được gặp gỡ tình yêu tha thứ vô điều kiện của Thiên Chúa và được chữa lành tận căn. Thêm vào đó, Chúa còn ban lời hứa diệu kỳ dành cho những ai chạy đến với Lòng Thương Xót của Ngài: “Linh hồn nào chạy đến với Lòng Thương Xót của Ta và tín thác vào Ta thì sẽ không thất vọng.” (Nhật Ký, 1520). Và, khi nói về việc tôn sùng bức ảnh Lòng Chúa Thương Xót, Ngài nói: "Ta hứa rằng linh hồn nào tôn kính ảnh này sẽ không hư mất. Ta cũng hứa, ngay ở đời này, sẽ chiến thắng mọi kẻ thù, nhất là vào giờ lâm tử. Chính Ta sẽ bảo vệ linh hồn ấy như vinh quang của Ta." (Nhật Ký, 48). Những lời này là nguồn an ủi và khẳng định về ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, một tình yêu không loại trừ ai.
Vậy, trong bối cảnh cuộc sống thực tế với bao nhiêu khó khăn, thử thách, những vấp ngã và tổn thương, lòng thương xót của Chúa không chỉ là một giáo lý để suy ngẫm, mà còn là một sức mạnh hiện hữu, một nguồn mạch cứu chữa và nâng đỡ. Chúng ta được mời gọi không chỉ đón nhận lòng thương xót ấy cho riêng mình, mà còn trở thành những khí cụ để lan tỏa nó đến với những người xung quanh. Cụ thể, chúng ta có thể thực hành lòng thương xót qua:
-
Lời nói: Bằng cách nói những lời tử tế, khích lệ, tha thứ và xây dựng, đặc biệt với những người bị coi thường hay xa lánh.
-
Hành động: Bằng cách giúp đỡ những người gặp khó khăn, lắng nghe và cảm thông với những người đau khổ, không phân biệt họ là ai hay quá khứ của họ như thế nào.
-
Cầu nguyện: Bằng cách cầu nguyện cho tất cả mọi người, kể cả những người lầm lạc và gây ra đau khổ cho ta, xin Chúa ban cho chúng ta một trái tim biết yêu thương và tha thứ.
-
Lãnh các bí tích: Bằng cách siêng năng lãnh nhận Bí tích Hòa Giải và Thánh Thể, nơi chúng ta được gặp gỡ lòng thương xót của Chúa một cách trực tiếp và sâu xa.
Như thế, Chúa Nhật Lòng Thương Xót nhắc nhở chúng ta rằng, dù cuộc sống có bao nhiêu gian nan, dù tội lỗi có nặng nề đến đâu, thì lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn luôn lớn hơn tất cả. Đó là một tình yêu không bao giờ cạn, một sự tha thứ không giới hạn, một vòng tay luôn rộng mở đón chờ những đứa con lầm đường lạc lối trở về.
Kính thưa cộng đoàn,
Ước mong rằng, trong ngày thánh này, mỗi người chúng ta sẽ cảm nhận sâu sắc hơn nữa tình yêu thương xót của Chúa, một tình yêu không loại trừ ai, một tình yêu đặc biệt dành cho những người yếu đuối và tội lỗi nhất. Xin cho chúng ta tin tưởng mạnh mẽ vào lòng thương xót ấy, để rồi từ đó, chúng ta cũng trở thành những người mang trong mình trái tim thương xót, lan tỏa tình yêu và hy vọng đến cho thế giới và con người xung quanh, đặc biệt là những người đang bị bỏ rơi và xa lánh. Bởi vì, chỉ có lòng thương xót mới có thể chữa lành những vết thương của nhân loại và xây dựng một thế giới hòa bình và yêu thương hơn, nơi mà mọi người đều cảm nhận được giá trị và được đón nhận. Amen. mục lục
Jos. Vinc. Ngọc Biển
THA THỨ: MỘT TẶNG PHẨM TUYỆT VỜI
Tin Mừng theo Thánh Gioan (20, 19-31 ) thuật lại sự kiện Đức Giêsu phục sinh hiện ra gặp gỡ các tông đồ thật là cảm động. Việc đầu tiên Chúa làm là cho các ông thấy những vết thương ở hai tay, hai chân và cạnh sườn. Người nói với các ông: "Bình an cho các con!" Sau khi trao ban bình an cho các môn đệ, Chúa đã biến các ông từ những người đang lo sợ và kinh ngạc, trở nên những tác viên của lòng Chúa thương xót, khi đưa đôi tay và cạnh sườn còn in những dấu tích của cuộc thương khó cho các ông xem. Tiếp đến Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại" ( Ga 20, 21- 23).
Phản ứng của các môn đệ không phải là sợ hãi, thương cảm hay xấu hổ vì đã bỏ rơi hay chối Thầy, nhưng là sự vui mừng và bình an. "Các môn đệ lòng đầy mừng rỡ khi nhìn thấy Chúa" (Ga 20,20). Mừng vì thấy dấu ấn của tình yêu Chúa trong những dấu vết đinh.
Những vết thương trên bàn chân của Chúa Giêsu, cùng với những vết thương trên ta, chân và cạnh sườn Người tạo thành "Năm Dấu Thánh" mà Chúa Giêsu đã cho các môn đệ xem sau khi sống lại đều do đinh đóng xuyên lòng bàn tay vào thập giá. Năm vết thương bao gồm 1) lỗ đinh ở tay phải, 2) lỗ đinh ở tay trái, 3) lỗ đinh ở chân phải, 4) lỗ đinh ở chân trái, 5) vết thương ở thân mình do bị đâm bởi ngọn giáo .
Vết thương nơi bàn chân Chúa
Chúa Giêsu Cứu Thế đã in dấu chân trên những nẻo đường truyền giáo. Đôi chân ấy mỏi mòn vì đi dạy dỗ chúng sinh. Nay cả hai bàn chân được đóng đinh dính vào nhau, buộc Chúa phải chống đỡ mình trên chiếc đinh xuyên qua hai bàn chân và Thánh Giá. Vì đau đớn hai chân ấy không thể chống đỡ được, Chúa phải luân phiên uốn cong lưng và dùng hai chân để tiếp tục thở.
Bàn tay từ ái
Khin nhìn ngắm đôi bàn tay Chúa Kitô bị đonhs đinh, làm chúng ta nhớ lại mọi điều lành tay Chúa đã làm trước khi bị đóng vào thập giá một cách bất công. Tay của Đức Kitô, trước hết đó là bàn tay chúc lành và ưu tiên cho trẻ em (x.Mt 19,13) ; chữa lành các bệnh nhân (x. Lc 4,40)
Bàn tay đã mang lại ánh sáng cho người mù (x.Mc 8,25); Làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng (x.Mc 8,6). Cũng bàn tay đó đem lại sự sống cho tràng trai khi “đến gần sờ vào cáng” và làm cho anh sống lại. “Giao anh ta lại cho mẹ” để mẹ con được đoàn (x. Lc 7,15).
Đôi bàn tay đã làm bao điều kỳ diệu, đã đem lại biết bao điều lành, bây giờ lại bị đục thủng. Hai lỗ nơi hai bàn tay mà Chúa Giêsu Phục Sinh bảo Tôma sỏ ngón tay vào đã tuôn trào nguồn suối tình yêu.
Máu cùng nước từ cạnh sườn chảy ra
Cạnh sườn ấy có trái tim rung động cảm thương người mù kêu xin, sờ vào mắt họ để họ được sáng (x.Lc18,35-43; Mt 20,29-34). Cạnh sườn ấy có trái tim thấu cảm trước nỗi đau của người khác (Dt 4,15). Khi chữa lành một phụ nữ bị rong huyết 12 năm, thật là khổ sở. Trái tim ấy buồn rầu ứa lệ thương khóc Lagiarô (x.Ga 11,33,35). Trái tim ấy chủ động giúp người khác khi chứng kiến cảnh người góa phụ đi chôn cất con. Không ai phải xin Chúa giúp, lòng trắc ẩn đã thúc đẩy Chúa hành động. Cạnh sườn ấy có trái tim : “Khi thấy đoàn dân, Người động lòng thương cảm vì họ bị hà hiếp và bỏ rơi như chiên không có người chăn” (Mt 9,35, 36). Nay cạnh sườn ấy bị đâm thâu, máu cùng nước chảy ra tuôn trào hồng ân thương xót và tha thứ.
Tha thứ: tặng phẩm tuyệt vời từ lòng thương xót Chúa
Chúa Giêsu trao phó cho các ông hồng ân "tha thứ các tội lỗi" diễn tả lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa đối với nhân loại, hồng ân này phát sinh từ những vết thương của đôi tay, đôi chân và nhất là của cạnh sườn Chúa bị đâm thâu qua. Đó là những vết thương hằn in trên cơ thể của Người lúc còn sống, ngay cả sau khi Phục Sinh. Những vết thương vinh quang, mà Tôma đã tận mắt chứng kiến tám ngày sau, thật không thể nào hiểu nổi và tin được lòng thương xót của Thiên Chúa. Từ đó, một làn sóng tình thương nhân từ đổ xuống trên toàn thế giới.
Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho nhân loại hồng ân tha thứ, những con người lầm lạc đang bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, của ích kỷ và sợ hãi, tình yêu của Thiên Chúa tha thứ tất cả, hòa giải tất cả và tái tạo tâm hồn, mang lại cho chúng nhân niềm hy vọng . Đó là tình yêu có sức biến đổi con tim và ban tặng bình an. Thế giới hôm nay cần thiết biết bao sự tha thứ của Thiên Chúa!
Những chiếc đinh đâm thủng thân xác Chúa đã trở thành những chìa khóa chìa khóa để định lượng lòng thương xót vô bờ của Chúa và mở ra kho báu các bí ẩn của Người và cho thấy ý định của Chúa. Những vết thương của Người là biểu hiện rõ ràng rằng Thiên Chúa ở trong Đức Giêsu Kitô, và đã hòa giải tội nhân với Chúa.
Lạy Chúa Giêsu rất dụi hiền, nhờ những vết thương thánh trên thân thể Chúa, xin tha thứ tội lỗi chúng con. Amen. mục lục
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
1. Sự hoang mang ban đầu của các tông đồ về việc Thầy Giêsu phục sinh
Theo lịch Do Thái, đó là ngày đầu tiên trong tuần: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần” (Ga 20: 1), các tông đồ đã được bà Maria Mađalêna báo rằng: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20: 2). Phêrô và Gioan chạy đến ngôi mộ. Hai ông thấy đúng những gì bà Maria Mađalêna kể lại: thi thể Chúa Giêsu không còn trong đó nữa. Nhưng điều lạ lùng là những tấm khăn liệm thi thể Ngài vẫn còn ở đó. Chi tiết này được kể hai lần: “Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó” (Ga 20: 4-5) và: “Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó.” Phêrô phát hiện thêm một điều quan trọng, đó là “khăn che đầu Chúa Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi” (Ga 20: 6-7). Những chi tiết này ngay lập tức đập vào mắt của Phêrô và Gioan. Xác chết dĩ nhiên không thể tự cởi bỏ khăn liệm của mình. Còn nếu có những kẻ muốn cắp xác người chết, hẳn chúng không phí thì giờ ngồi gỡ bỏ những tấm khăn liệm đó, lại càng không tốn công vô ích cuộn chúng lại, sắp xếp tấm nào ra tấm đó, có lớp lang trật tự như thế. Đã xẩy ra chuyện lớn rồi. Có lẽ hai ông nhớ lại chỉ mấy ngày trước đây khi Chúa Giêsu làm phép lạ vĩ đại cho anh Ladarô sống lại, Ngài nói với cô Mátta, chị anh ấy rằng: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11: 25). Họ bắt đầu suy nghĩ, và bàn luận với nhau rằng điều hẳn đã xảy ra là Thầy Giêsu đã sống lại. Chính thánh sử Gioan này, ngay chương hai của sách Tin Mừng của ngài, đã xác nhận điều này: “Vậy, khi Ngài từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Ngài đã nói điều đó, Họ tin vào Kinh Thánh và lời Chúa Giêsu đã nói” (Ga 2: 22).
2. Niềm vui được tận mắt thấy Chúa Giêsu sống lại
Tuy nhiên, các ông vẫn rất hoang mang và ngay cả hoảng sợ vì những sự kiện của vài ngày trước. Các ông đã chứng kiến, mắt thấy tai nghe, Chúa Giêsu chịu khổ hình dữ dội và chết thảm thương trên thập tự giá như thế nào. Hẳn các ông thất vọng với chính mình vì đã từng mạnh miệng nói sẽ trung thành với Thầy nhưng sau đó lại chối bỏ (Ga 18: 17, 25-26) và thậm chí trốn chạy khi Ngài bị bắt trong Vườn Giệtsimani. Hẳn các ông vô cùng hối hận về việc Chúa Giêsu đã phải chịu nhiều đau khổ và họ cảm thấy bất lực như thế nào khi không bảo vệ được Thầy mình. Các ông sợ chính quyền. Chắc chắn các ông sợ những nhà lãnh đạo Do Thái đứng sau âm mưu giết Chúa Giêsu. Các ông sợ cho mạng sống của chính mình, sợ cho tương lai bất định của mình. Và cũng không phải là vô lý khi có người nghĩ rằng các ông cũng sợ chính Thầy Giêsu của mình, đơn giản bởi vì các ông sẽ ăn nói sao đây với Vị Thầy mà các ông đã khiến Ngài thất vọng rất nhiều. Phêrô đã chối Ngài ba lần, và những người còn lại đã bỏ rơi Ngài, ngoại trừ “người môn đồ mà Chúa Giêsu yêu thương”, người đã ở dưới cây thập tự và đã đưa rước mẹ của Chúa Giêsu về nhà mình (Ga 19: 27). Dù sao đi nữa, cuối cùng thì có lẽ người mà các môn đệ muốn gặp nhất vào buổi tối hôm đó chính là Chúa Giêsu, đã sống lại từ cõi chết, để họ được đối mặt và trả lời Ngài về những nhát đảm và thất tín của họ. Cửa nhà thì đóng kín nhưng tâm hồn của họ đã mở sẵn rồi. Tâm hồn chúng ta có mở sẵn để đón nhận Đấng Phục Sinh chưa?
Tất nhiên, Chúa Giêsu sẽ không bị ngăn cản bởi những cánh cửa đóng kín. Chính Ngài là “cửa cho chiên ra vào” (Ga 10:7) đã đi thẳng qua những cánh cửa đóng kín đó và xuất hiện giữa bầy chiên đang sợ hãi của Ngài. Ngài đến không phải để đối chất với các môn đệ của Ngài về những thất bại của họ. Ngài không nói bất cứ lời nào trách cứ các ông nhưng Lời đầu tiên của Ngài lại là: “Bình an cho anh em” (Ga 20: 19). Đó là một lời vừa chào vừa chúc, xóa sạch không chỉ tất cả những bất trung của các môn đệ mà còn đem lại một sức mạnh mới, không còn nhuốm một chút nào mầu sắc buồn bã, lo âu, sợ hãi, áy náy, băn khoăn, hoang mang, bất định, cảnh giác, đề phòng, thủ thế…mà là một cảm giác vui tươi, bình an sâu sắc và trọn vẹn - loại bình an mà Ngài đã để lại cho các ông: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga14:27). Xin Đấng Phục Sinh ban cho chúng ta sự bình an trọn vẹn và sâu thẳm mà Ngài đã ban cho các môn đệ đầu tiên.
Rồi thì, Chúa Giêsu “cho các ông xem tay và cạnh sườn” (Ga 20: 20) để các ông có thể thấy rằng chính Ngài, thực sự bằng xương bằng thịt, đã bị đóng đinh, chết, chôn trong huyệt mộ, nhưng bây giờ đang ở trước mặt các ông tỏ tường. Giờ thì không còn hoang mang, nghi ngờ, sợ hãi gì nữa, nên “các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20: 20). đúng như Chúa Giêsu đã nói với họ trước kia: “Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được” (Ga 16:22). Chúng ta hãy thường xuyên cất lên tiếng ca Alleluia – Ngợi khen Chúa - trong vui mừng hoan hỉ không ai lấy mất được, vì Đấng Phục Sinh đã chiến thắng tử thần và chúng ta có thể gặp Ngài mọi nơi mọi lúc trong cuộc sống của mình.
3. Đón nhận Thánh Thần của Chúa Kitô Phục Sinh và được sai đi
“Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con” (Ga 20: 21). Các tông đồ được sai đi để tiếp tục sứ mệnh của Chúa Giêsu là mặc khải Thiên Chúa cho thế giới. Các ông sẽ không bị bỏ lại một mình trong nhiệm vụ khó khăn này. Chúa Giêsu đã hứa sẽ sai một Đấng Bảo Trợ khác (παρακλητός trong Tin Mừng Gioan là Thần khí sự thật, Thánh Thần, Đấng hiện diện với, Thầy dạy, Chứng Nhân, Đấng mặc khải, Đấng dẫn đường, Ngôn sứ và Đấng tôn vinh Chúa Giêsu: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Ngài. Còn anh em biết Ngài, vì Ngài luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (Ga 14:16-17). Bây giờ, Ngài thực hiện lời hứa đó. Như hành động sáng tạo xưa kia: “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (Sáng thế 2:7), thì nay “Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (20:22) như hành động sáng tạo mới. “Thần Khí sự thật” này “sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14: 26) và “Ngài sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Ngài sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Ngài nghe, Ngài sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. Ngài sẽ tôn vinh Thầy, vì Ngài sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (14:26; 16:12-14).
Sau đó, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:23). Như nhiều nhà chú giải đã chứng minh, “tội lỗi” trong Tin Mừng của Thánh Gioan không phải là một phạm trù đạo đức; mà về cơ bản, đó là sự không có lòng tin, là sự từ chối tiếp nhận sự mặc khải của Thiên Chúa qua con người của Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu không trao cho các môn đệ của Ngài một quyền năng đặc biệt nào đó để quyết định tội lỗi của ai sẽ được tha thứ và tội lỗi của ai sẽ không được tha thứ. Thay vào đó, Ngài cho thấy rõ hơn ý nghĩa của việc được sai đi, để làm cho mọi người biết đến tình yêu của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu. Khi mọi người biết đến và ở lại trong Chúa Giêsu, họ sẽ được “giải thoát” khỏi tội lỗi của họ. Tuy nhiên, nếu những người được Chúa Giêsu sai đi không làm chứng, thì mọi người sẽ vẫn mắc kẹt trong sự không tin của họ; tội lỗi của họ sẽ bị “cầm giữ.” Sứ mệnh này thực sự rất cao cả. Xin Chúa Kitô Phục Sinh ban cho chúng ta Thánh Thần của Ngài để chúng ta làm chứng cho Lòng Thương Xót Cứu Độ của Thiên Chúa, bằng nghĩ suy, lời nói, hành vi, cách sống hằng ngày của chúng ta.
4. Đức tin của Tôma
Vì một lý do nào đó mà chúng ta không biết rõ, Tôma đã vắng mặt và bỏ lỡ cuộc gặp gỡ đầu tiên vào tối Chủ Nhật này với Chúa Giêsu phục sinh. Mặc dù ông bị coi là “kẻ cứng lòng tin”, nhưng điều ông mong cầu không khác gì điều những người khác đã nhận được: được nhìn thấy Chúa Giêsu, với những vết thương: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài, tôi chẳng có tin” (Ga 20: 25). Điều kỳ diệu của câu chuyện này là Chúa Giêsu lại xuất hiện một lần nữa một tuần sau đó để đáp ứng đúng những gì Tôma cần: “Tám ngày sau, các môn đệ Chúa Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. chúa Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em. Rồi Ngài bảo ông Tôma: Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20: 26-27). Và Tôma đáp lại bằng lời tuyên xưng đậm tính Kitô học nhất. Đó không chỉ đơn thuần là lời tuyên xưng về giáo lý, mà là lời tuyên xưng về lòng tin và mối tương giao cá vị của ông với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20:28). Chúa Giêsu biết những mong muốn của mỗi người chúng ta nơi Ngài, và Ngài có cách giải quyết đúng nơi đúng thời.
Câu trả lời của Chúa Giêsu cho Tôma: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20:29) không phải là một lời khiển trách, mà đúng hơn là một chúc lành cho tất cả những ai sẽ tin dù không có một cuộc gặp gỡ bằng xương bằng thịt với Chúa Giêsu. Thật vậy, thánh sử Gioan tuyên bố rằng đây chính là mục đích của sách Tin Mừng này: “Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Ngài” (Ga 20: 31).
Trong mùa Phục sinh với những tiếng hát Alleluia -Hãy ngợi khen Chúa, chúng ta dường như không một chút lo buồn, sợ hãi, hoang mang hay nghi ngờ. Chúng ta dễ quên rằng các môn đệ đầu tiên đã cảm thấy lo buồn, sợ hãi, nghi ngờ, và bối rối trước khi hiểu ra và vui mừng về những gì đã diễn ra vào ngày hôm đó. “Tám ngày sau, các môn đệ Chúa Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín” (Ga 20: 26). Việc “các cửa vẫn đóng kín” như tám ngày trước (Ga 20: 19) cho thấy Tôma không phải là người duy nhất cần sự trấn an của Chúa Giêsu rằng Ngài thực sự đã chiến thắng cái chết.
Khi Tôma muốn chắc chắn rằng người trước mặt mình là Chúa Giêsu, ông được Ngài mời đặt tay vào những vết thương của Ngài. Chúa Giêsu dùng những vết thương đó để giúp Tôma nhận ra Ngài. Chúa Kitô có những vết thương của Ngài. Chúng ta có những vết thương của mình. Chúa Kitô Phục Sinh vẫn đồng cảm và đồng hành với chúng ta trong những đau đớn thân xác và những đau khổ tâm hồn của chúng ta. Những vết thương của Đấng Phục Sinh là dấu hiệu cho thấy “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19: 30). Những đau đớn thân xác và những đau khổ tâm hồn của chúng ta cũng sẽ hoàn tất, chỉ trong Chúa Kitô chịu khổ hình, chết trên Thập tự giá và nhất là đã sống lại, như bài đọc thứ hai khẳng định: “Tôi là Gioan, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Chúa Giêsu… Tôi đã xuất thần vào ngày của Chúa… Lúc thấy Ngài, tôi ngã vật xuống dưới chân Ngài, như chết vậy. Ngài đặt tay hữu lên tôi và nói: Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1:9-10, 17-18).
Trong Thánh Thần của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh, chúng ta hân hoan ca mừng và tuyên xưng: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118: 22-24). mục lục
Phêrô Phạm Văn Trung
CHÚA PHỤC SINH VẪN CÒN MANG ĐẦY THƯƠNG TÍCH!
Việc đầu tiên mà Chúa Phục Sinh đã làm trong hai lần hiện ra là chúc bình an cho các môn đệ. Người không chỉ chúc một lần, nhưng đã lập lại lời chúc bình an đến ba lần. Đó chính là ân huệ đầu mùa của Chúa Phục Sinh ban cho các môn đệ.
Tại sao Chúa lại làm như thế?
Thưa anh chị em, không ai hiểu trò bằng thầy. Đức Giê-su thấu hiểu lòng trí hoang mang và các nỗi sợ hãi của các môn đệ, cùng nhau co rúm và trốn trên lầu vì sợ người Do Thái. Vì thế họ cần được bình an để thoát khỏi nỗi âu lo này.
Sau đó Chúa cho họ thấy tay và cạnh sườn của Người. Đây là một điều thật đặc biệt, Chúa muốn cho các ông nhận ra rằng thân xác của Chúa Phục Sinh và con người đã trải qua khổ nạn, chết trên Thập Giá là một người. Vinh quang chỉ tỏ hiện qua hành trình của đau khổ. Hy sinh bao gồm những bi kịch cuả cuộc sống; nhưng qua hy sinh Chúa đã hoàn tất mầu nhiệm Tình Yêu để chiến thắng bằng cuộc chỗi dậy và hiện diện một cách vĩnh cửu.
Khi thấy những chứng tích đó, các môn đệ đã vui mừng và tin rằng người đang ở trước mặt họ là Đức Giê-su, vị Thầy đáng kính của họ. Sau đó, Chúa Giêsu lại ban bình an và Thánh Thần cho các ông ra đi và hoàn thành sứ mạng mà chính Người vừa hoàn tất.
Tô- ma không có mặt trong lần hiện ra thứ nhất này. Các môn đệ khác đã nói cho ông biết rằng: “Chúng tôi đã được thấy Chúa”. Các ông đã thấy Chúa, nhưng việc các ông làm cũng chẳng làm chứng được điều gì. Các ông vẫn co rúm và trốn trên lầu. Các Tông Đồ vẫn chưa ra khỏi vùng an toàn, vẫn dựa vào các cánh cửa đã đuợc đóng kín để bảo vệ. Cho dù đã được Chúa thổi hơi và trao ban Thần Khí, thế mà các ông vẫn chưa sẵn sàng ra đi! Việc làm của các ông không đi đôi với lời tuyên xưng của các ông như thế thì làm sao khởi động niềm tin của Tô-Ma đây!
Còn Tôma, ông muốn niềm tin của ông phải dựa trên trải nghiệm của cá nhân; ông muốn giác quan (xúc giác) của ông có thể chạm vào thân thể của Chúa, nên đáp rằng: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.”
Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra với các ông, lần này có mặt Tôma. Trước tiên, Người cũng ban bình an cho các môn đệ rồi quay sang Tôma và nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Nghe Chúa phán đến đây, Tôma không dám chạm vào vết thương, không dám sờ vào các lỗ đinh trên thân xác của Chúa nữa, ông đã vội vàng thưa với Chúa: “Lậy CHÚA của con, Lậy THIÊN CHÚA của con.” Cao điểm của niềm tin là thế.
Sau đó qua Tôma, Chúa đã thể hiện tình thương bằng cách trao ban cho chúng ta thêm một mối phúc nữa là “Phúc thay những người không thấy mà tin.”
Trước khi tìm hiểu về cách thức biểu lộ niềm tin của Tôma, chúng ta cũng nên nhớ rằng ông không phải là trung tâm của bài Tin Mừng hôm nay. Trình thuật diễn tả cách thức Chúa hiện ra thì Chúa phải là trọng tâm. Khi nhìn như thế, chúng ta mới khám phá ra lòng đại lượng phát sinh từ tình yêu của Chúa.
Chúng ta vẫn thường đuợc dậy bảo niềm tin vào Chúa phải là một niềm tin vô điều kiện, phó thác hoàn toàn theo Chúa. Nhưng hôm nay, Chúa hành xử với Tôma quả thật khác hẳn với lối suy nghĩ cầu toàn của chúng ta. Chúa chấp nhận điều kiện mà Tôma đưa ra. Cho dù đã đuợc tôn vinh, nhưng Chúa vẫn không che dấu các thương tích. Đó chính là chứng tích của Tình yêu thì làm sao phải che dấu! Các vết thương đó cần đuợc bộc lộ hơn là che dấu.
Tôma cũng có nỗi đau của riêng mình. Ông cũng là nguời đang mang thương tích. Chúa Giê-su, Thầy đáng kính của ông đã chết. Cái chết của Người để lại trong ông một tâm trạng buồn rầu và mất mát; ông và dân tộc ông còn biết trông cậy và nương tựa vào ai nữa đây. Ông đi trốn, cần có một không gian và nơi ẩn nấp để đối diện với niềm đau này. Vì thế ông đã hụt mất một cơ hội khi Chúa hiện ra lần trước.
Các bạn của ông cũng thế, họ cũng có niềm đau rồi sinh ra chán nản và thất vọng. Nhưng họ đã chọn cách đối diện với bi kịch mà họ đang đón nhận bằng cách liên đới, chia sẻ, an ủi và hỗ trợ nhau. Trước đây họ nương tựa vào Thầy. Sau những hoạn nạn và cái chết đã xẩy đến cho Thầy, họ nghĩ mọi sự dường như đã chấm dứt. Thầy của mình quyền năng đến dường nào mà còn bị xử tử phương chi là họ, những cậu học trò nhút nhát và sợ sệt. Trong tình thế đó, họ chọn giải pháp đi trốn để dấu đi nỗi sơ hãi và tìm ra chốn an toàn.
Nói chung là chỉ có ai đã kinh qua đau khổ mới thông cảm cho những người đồng cảnh ngộ. Chúa đã bị thương tích và Người cũng nhìn thấy các nỗi đau khổ mà Tôma đang đối diện; vì thế Người cũng muốn cho ông biết là Người rất thông cảm với yêu cầu của ông.
Qua sự tiếp xúc, Thầy trò gặp và nhận ra nhau. Chúa chữa lành thuơng tích cho ông. Còn ông nhận ra Thầy mình là Chúa và là Thiên Chúa của ông. Ông đầu phục hoàn toàn trước quyền năng của Thầy mình, Đấng mới bị án tử mấy ngày qua.
Qua cách đón nhận niềm tin của Tô-Ma, chúng ta khám phá ra một điều, đó là Chúa sống lại mang theo những vết thương mà Người đã chịu trong khi thi hành sứ vụ, đặc biệt trên hành trình khổ nạn và sự chết của Người. Vết thương vẫn là vết thương.
Thế giới của chúng ta đầy những vết thương. Ai nhắm mắt làm ngơ không màng đến những vết thương của tha nhân thì lời tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa của họ vẫn chưa trọn vẹn. Chạm vào những vết thương của nhân loại là điều kiện cần thiết cho một đức tin đúng nghĩa.
Chúng ta hãy chạm vào vết thương của người nghèo, hãy đặt bàn tay vào cạnh sườn bị đâm thâu của họ. Đó chính là phần tuyên xưng đức tin của chúng ta. Chối từ những vết thương của anh chị em mình là cắt đứt những cầu nối của tình hiệp thông.
Nhưng trên thực tế, chúng ta thường sợ chạm vào những vết thương của người khác. Tại sao vậy? Một phần sợ bị lây nhiễm, phần khác vì chúng ta sợ khi chạm vào vết thương của tha nhân sẽ làm cho chúng ta nhớ lại chính những vết thương của chúng ta. Trạng thái lo sợ này làm cho chúng ta xa cách anh chị em mình.
Thật ra, giữa chúng ta và những người bị tổn thương có một mối hiệp thông sâu xa. Đó là hiệp thông trong những vết thương chung, nỗi đau chung, cái nghèo chung. Chính Chúa Giê-su đã ôm lấy tất cả mọi vết thương của nhân loại trên thân xác của Người. Phục Sinh đã được tỏ hiện dưới chân Thập Giá, đích điểm của mọi đau khổ mà Đức Giê-su đã đón nhận là như thế. Vì thế, trong Đức Ki-tô chúng ta hiệp thông với nhau; trong Chúa Cứu Thế chúng ta liên đới với nỗi đau và mang lấy vết thương của anh chị em mình.
Hãy gặp và chạm vào chính Chúa Phục Sinh, Đấng mang đầy thương tích nơi những anh chị em nghèo, trong cuộc sống bị tổn thương, bị bỏ rơi của anh em mình. Cùng nhau đến với họ bằng sự dịu dàng của lòng thương xót của Thiên Chúa. Hãy để tình liên đới với người nghèo trở thành nền tảng, trở nên bản chất đích thật cấu tạo nên người môn đệ của Chúa Cứu Thế, Đấng đã sống lại và hiện diện nơi những con người tất bạt về mọi phương diện, thể xác cũng như tâm hồn.
Chúa Phục Sinh vẫn còn mang đầy thương tích về tinh thần cũng như thể xác. Người đang chờ chúng ta nơi những con người bị tổn thương đó!
Hãy đi và làm như Chúa đã làm, vì nay Người đã Phục Sinh, Alleluia. Alleluia! mục lục
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
NHÂN LOẠI HÔM NAY CẦN LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
“Con hãy nói cho toàn thế giới biết về Lòng Thương Xót lớn lao của Cha...
Hãy làm cho cả nhân loại nhận biết Lòng Thương Xót vô biên của Cha” (x. NK 570; 580)
Chúa Nhật II Phục Sinh được Giáo Hội cử hành đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thiết lập lễ này nhân dịp phong thánh cho Nữ tu Maria Faustyna (thường được đánh vần là Faustina) Kowalska ngày 30 tháng Tư 2000. Vậy tại sao thế giới hôm nay cần đến Lòng Thương Xót Chúa? và Tại sao Giáo Hội lại phổ biến Lòng Thương Xót này?
Lòng Thương Xót Chúa? Để hiểu được điều này, chúng ta hãy đọc lại những gì mà Thánh sử Gioan ghi lại qua câu nói diễn tả sự hoài nghi của Tôma khi nghe các Tông Đồ khác kể cho ông biết về việc Chúa Giêsu đã hiện ra sau khi từ cõi chết sống lại: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” (20:25)
Chúa Giêsu đã thỏa mãn đòi hỏi của người môn đệ đa nghi, cứng lòng, và cho cả chúng ta hôm nay nữa. Thánh Gioan viết tiếp:
“Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (20:26-27)
Chúng ta tự hỏi: Tôma đã thấy gì mà Chúa Giêsu đã bảo ông: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin.” Có phải vì ông đã thấy Chúa Giêsu với cạnh sườn bị đâm thâu và tay chân bị đinh đâm thủng không? Hay vì ông đã cảm nhận được tình thương mà Ngài đã để lại trong những vết thương ấy? Những gì mà sau này Chúa Giêsu đã truyền cho Thánh nữ Faustina diễn tả qua tấm ảnh Lòng Thương Xót của Ngài. Trong tấm ảnh này, Chúa mặc áo trắng. Cánh tay phải giơ lên để chúc lành. Bàn tay trái đặt trên ngực. Từ trái tim Chúa phát ra 2 luồng ánh sáng:
- Luồng sáng màu trắng tượng trưng cho Nước, làm cho linh hồn trở nên công chính, đạo đức.
- Luồng sáng màu đỏ tượng trưng cho Máu, là sự sống của linh hồn.
Hai luồng ánh sáng này xuất phát từ lòng xót thương dịu dàng và êm ái nhất của Chúa dành cho con người.
Và cũng để hiểu thêm tại sao nhân loại, cách riêng thế giới hôm nay cần đến Lòng Thương Xót Chúa, thì chúng ta phải nhớ lại lời mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trình bày về con người và thế giới trong Thông Điệp “Evangelium Vitae” năm 1995. Ngài viết: “Nhân loại ngày nay đang sống trong nền văn minh sự chết!” Chết về thể xác và chết về tâm hồn.
Hãy thử nhìn xem đã có bao nhiêu người phải chết trong đại dịch Covid-Vũ Hán vừa qua, cũng như những hậu quả của nó còn kéo dài đến hôm nay? Hàng chục triệu người đã chết vì nhân danh khoa học, và vì những tham vọng của con người.
Hãy thử đoán xem đã có bao nhiêu người phải chết, phải thương tích, phải tù đày trong những trận chiến vô nghĩa tại Ukraine và Nga, tại Trung Đông giữa Israel, Hamas, Hezbollah, và Houthi? Tất cả họ đã chết do những khí giới tối tân, và do lòng hận thù, tàn ác của con người. Trong khói lửa chiến tranh, cơn ác mộng về một cuộc đại chiến nguyên tử đang làm kinh hãi nhân loại hôm nay.
Hãy thử tính xem hàng năm đã có bao nhiêu triệu thai nhi phải chết oan uổng, chết mà không nhìn thấy ánh sáng mặt trời do tệ nạn phá thai? Bao nhiêu gia đình tan nát, chia ly vì vợ chồng ly dị? Bao nhiêu triệu trẻ em, thanh thiếu niên bị lôi cuốn vào trào lưu đồng tính, hôn nhân đồng tính và chuyển giới.
Bầu khí của văn minh “sự chết” như bao trùm trái đất, và ảnh hưởng trên toàn thể vũ trụ. Thế giới đang rên xiết, đang bị ngộp thở bởi những tư tưởng, ước muốn ích kỷ, hận thù, tham lam, dâm ô, lừa đảo, bê tha, vô tâm, vô tình, và vô trách nhiệm… Nguyên nhân chính cũng chỉ vì nhân loại đã không nhận ra Lòng Thương Xót Chúa, không học được lòng thương xót từ Đấng đã hy sinh chính mình vì con người, và vì thế, nên con người đã đối xử với nhau bằng những trái tim và khối óc vô cảm!
Tóm lại, nhân loại ngày nay thật sự phải cần đến là Lòng Thương Xót Chúa. Chúng ta cần Chúa thứ tha. Chúng ta cần Chúa để băng bó những vết thương tâm hồn và thể xác. Và chúng ta cần phải học hỏi để biết xót thương nhau, như Chúa đã xót thương chúng ta.
Lòng Thương Xót Chúa được ban cho nhân loại hôm nay đến từ Trái Tim rất yêu thương của Chúa Cứu Thế. Trái Tim đã bị đâm thâu sau khi chết. Những giọt máu và nước cuối cùng còn đọng lại Chúa cũng cho hết, trao ban tất cả vì yêu thương nhân loại. Đây là điều mà Chúa đã mặc khải cho Thánh Nữ Faustina, nữ tu dòng Đức Mẹ Thương Xót người Balan. Ngày 22 tháng Hai 1931, Chúa Giêsu đã hiện ra với nữ tu và dạy chị thực hiện một tấm ảnh diễn tả về Lòng Thương Xót Chúa, với dòng chữ “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa” phía dưới tấm ảnh. Ngài còn hiện ra nhiều lần với chị, và trong cuốn nhật ký của mình, chị Faustina đã ghi lại 14 lần khác nhau mà qua đó Chúa Giêsu đã bày tỏ ước muốn thiết lập Lễ Lòng Thương Xót.
Thánh Faustina, qua đời ngày 5 tháng Mười 1938, hưởng dương 33 tuổi, và được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong thánh ngày 30 tháng Tư 2000. Cũng chính ngày này ngài đã thiết lập Lễ Lòng Thương Xót như lòng Chúa ước mong để phổ biến thông điệp tình yêu nhân hậu của Ngài, và để nhân loại biết cách tìm đến Lòng Thương Xót Chúa như liều thuốc hồi sinh nếu như hít phải bầu khí văn minh sự chết.
Lòng Thương Xót Chúa không chỉ là con đường nên thánh của thánh nữ Faustina, mà cũng là con đường dẫn đưa vị Giáo Hoàng người Balan được tôn vinh trên bàn thờ. Thánh Gioan Phaolô II được phong hiển thánh năm 2014 chỉ ít năm sau khi qua đời vào năm 2005. Ngài không chỉ là người đã thiết lập Lễ Lòng Thương Xót Chúa, mà còn là một nhân chứng của tình thương này. Ngài là Giáo Hoàng của Lòng Thương Xót. Tiểu sử ngài đã kể lại, ngài được cứu thoát trong gang tấc sau cuộc ám sát gây chấn động thế giới ngày 13 tháng Năm 1981 tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Đức Mẹ can thiệp và Chúa đã lưu lại ngài cho sứ mạng truyền bá Lòng Thương Xót của Ngài.
Qua hai tấm gương thời danh, Thánh Faustina và Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, những tông đồ phổ biến và truyền rao Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta cũng có thể kể đến vị giáo hoàng không mệt mỏi để nói và bênh vực cho những người nghèo, những người bị bỏ rơi, quên lãng, những người bị xã hội xa tránh. Đó là Đức Giáo Hoàng Phanxicô vừa được Chúa gọi về nhà cha ngày 21 tháng Tư 2025 sau 12 năm trên ngôi Giáo Hoàng. Tình thương xót của ngài phản ảnh của Lòng Thương Xót Chúa. Ngoài ra, chúng ta còn cùng với Giáo Hội đề cao tấm gương của một tông đồ trẻ, Chân Phước Carlo Acutis, tông đồ Thánh Thể qua đời vì bệnh ung thư máu năm 2006 lúc mới 15 tuổi. Chân Phước Carlo Acutis đã được dự trù phong Hiển Thánh vào Chúa Nhật Lòng Thương Xót, 27 tháng Tư 2025, nhưng do biến cố Đức Giáo Hoàng Phanxicô qua đời nên chương trình đã bị đình hoãn.
Lòng Thương Xót Chúa rất gần gũi, rất liên kết với Mầu Nhiệm Thánh Thể. Chúa Giêsu đã chẳng nói rằng Ngài ước ao ở cùng nhân loại cho đến tận thế sao? Chúa đã chẳng sung sướng, và vui mừng để ngự vào lòng chúng ta, và để trở thành nguồn sức sống cho chúng ta đó sao? Ngài chính là thần lương, là thuốc trường sinh cho chúng ta nếu như không khí sự chết của thế giới này khiến chúng ta phải yếu đau phần hồn, cũng như phần xác.
“Lạy Chúa Giêsu! Con Tín Thác nơi Chúa.” Lời nguyện này cũng chính là những lời mà Chúa muốn chúng ta thưa lên với Ngài mỗi khi thấy lòng mình bị chao đảo, bị thử thách. Để tránh phải hít thở không khí văn minh sự chết giữa thế giới hôm nay, chúng ta hãy đến ẩn mình trong những vết thương của tình yêu Chúa. Và hãy siêng năng lãnh nhận sức sống của tình yêu Ngài qua Bí tích Thánh Thể. mục lục
Chúa Nhật Lòng Thương Xót 2025
Trần Mỹ Duyệt
Mỗi lần chúng ta lên rước lễ đều được nghe linh mục nói “Mình Thánh Chúa Ki-tô” khi trao chiếc bánh nhỏ mà Đức Giê-su từng dạy lúc sắp bước vào cuộc Vượt qua của Người: “Tất cả hãy nhận lấy mà ăn vì này là Mình Thầy, Máu Thầy...” Có lẽ ta đã không nhận thấy đủ mối liên hệ tuyệt đối giữa phép Thánh thể và cuộc Phục sinh. Ta nghĩ gì khi thưa “Amen-Đúng thế” trước Mình Chúa Ki-tô? Nghĩ tới Đức Giê-su trong máng cỏ Giáng sinh? Đức Giê-su làng Na-da-rét từng rao giảng một Tin mừng tình huynh đệ? Nghĩ tới Đức Ki-tô chịu đóng đinh thập giá để cứu chúng ta hết thảy? Dĩ nhiên tất cả đều đúng. Nhưng cuối cùng, Thánh Thể chính là bí tích -dấu chỉ khả giác- của sự hiện diện đích thực: thế mà Đức Ki-tô duy nhất hiện hữu trên thực tế chính là Đức Ki-tô đã phục sinh, hôm nay đang sống, hôm nay có mặt, ở đây, dưới những vẻ bề ngoài khả giác của bánh và rượu trong Thánh lễ ; chính là Đức Ki-tô Chủ tể vũ trụ, đang ôm lấy mọi sự trên trời dưới đất vào mình để làm nên một Thân thể vĩ đại, Thân thể mầu nhiệm mà Người là Đầu. Và chính trong tư cách ấy mà khi đưa bánh và rượu vào Thân thể vĩ đại này trong bữa Tiệc ly để làm của ăn cho nó (như về sau sẽ nhờ bàn tay các linh mục lúc truyền phép trong Thánh lễ), Người đã có thể gọi đó là Mình và Máu Người (y như khi thức ăn nước uống đã vào dạ dày tôi thì chỉ còn có thể gọi là máu và thịt tôi). Thành ra hãy cố gắng thoát khỏi một quan niệm chật hẹp về phép Thánh thể và cuộc Phục sinh.
Dự Tính Của Thiên Chúa: Phục Sinh, “Sự Sống Bất Tử”
Nhìn quanh, ta càng ngày càng thấy nhiều người bị thuyết luân hồi cám dỗ. Tư tưởng về sự hư vô của cái chết xem ra phi lý đến độ thiên hạ muốn chấp nhận học thuyết Đông phương này về một loại sự sống mới, tái sinh... trong một thể xác khác với thể xác mình. Đây là một giải đáp dở cho một vấn nạn thực. Vì đúng là con người thuộc mọi nền văn minh và mọi tôn giáo đều không đi đến chỗ cam chịu biến mất hẳn. Ngay cả kẻ vô tín ngưỡng của xã hội hôm nay, khi được hỏi: “Bạn đi về đâu?” vẫn thường trả lời: “Tôi không biết!” Người ta có thể thật sự sống mà chẳng rõ mình đi về đâu à?
Tất cả mạc khải Kinh thánh, trái lại, đều dẫn đến trang sáng ngời ta đang đọc, nói về cuộc Phục sinh. Mười hai Tông đồ của Đức Giê-su đều đã sống bi kịch cái chết của Người... ba ngày trước đó. Và họ đã chẳng cả tin đến độ vài kẻ đôi khi thường nói, cho rằng họ như con nít, quá ngây thơ khờ khạo. Tô-ma, tay cứng lòng, là sự bảo đảm cho chúng ta: “Nếu tôi không thấy [Người, Đức Giê-su phục sinh ấy]... nếu tôi không chạm đến [Người], không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người [đã bị lưỡi đòng đâm thâu] tôi chẳng có tin.”
Đôi khi thiên hạ kết án Thiên Chúa đã làm nên một thế giới trong đó sự chết hiện hữu. Thế nhưng đức tin trình bày cho chúng ta một câu trả lời hoàn toàn chặt chẽ và đầy đủ khi mạc khải cho ta rằng Thiên Chúa đã chẳng bao giờ tạo dựng thế giới phải chết này, nếu ngay từ giây phút đầu tiên, Người đã chẳng có ý định cho nó sống lại. Chương trình của Thiên Chúa liên tục cách hoàn hảo. Cuộc Sáng tạo được làm ra cho cuộc Nhập thể. Và cuộc Nhập thể được làm ra cho cuộc Phục sinh. Nếu dừng chương trình của Thiên Chúa ở nửa đường, ta làm cho nó nên khó hiểu. Thánh Phao-lô từng viết: “Như nơi A-đam mọi người đều phải chết, thì trong Đức Ki-tô, mọi người cũng sẽ được sống lại. Vì Người phải nắm vương quyền bằng cách đặt mọi thù địch dưới chân Người, và thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết” (1Cr 15,22.25-26)
Bản Chất Của Phục Sinh: Chiến Thắng Sự Chết
Hãy nhận rõ rằng sự phục sinh, theo một nghĩa nào đó, không loại trừ sự tử vong... nhưng “vượt qua nó”. Đức Giê-su thực đã đi qua cái chết. Và Người đã hiện ra cho bạn hữu mình mà chẳng ngụy trang cái chết này: Người từng có thể bày tỏ cho họ một thân thể “sạch sẽ hơn”, không vết sẹo... nhưng trên thực tế đã để họ thấy hai bàn tay bị đinh “đâm thủng”, một lồng ngực há hốc trên một trái tim mở rộng! Không, Đức Giê-su đã chẳng gian lận với cái chết của mình. Người đã trung thực mang lấy gánh nặng của thân phận con người chúng ta... thân phận khả tử, phi lý, bi đát!
Và đối với các Tông đồ cũng vậy, cuộc phục sinh đã “nắm bắt” họ ngay giữa lòng một hoàn cảnh bi thảm. Chiều ngày ấy, họ “đã đóng kín các cửa vì sợ...” Hoàn cảnh của riêng họ cũng “chết người” theo một nghĩa nào đó: vị Thầy mà họ từng hiến trao toàn bộ cuộc sống, lẽ sống của mình, đã biến mất 3 ngày trước. Họ còn đang bị “sốc” nặng. Và họ sợ rằng giới chức Giê-ru-sa-lem sẽ bắt họ chịu chung số phận như Thầy mình, Chính giữa lòng hoàn cảnh “không lối thoát” ấy, Đức Giê-su đã hiện ra cùng họ và nói với họ: “Bình an cho anh em!”
Ý Nghĩa Của Thánh Thể: Mầm Sống Muôn Đời
Chúng ta cũng hãy tự hỏi, khi thưa “Amen” trước Mình Thánh Chúa Ki-tô phục sinh, là Đức Giê-su muốn giải cứu chúng ta khỏi hoàn cảnh bí bách, chết người nào? Chúng ta cũng chẳng từng “đóng kín” một cái gì đó khi nói: “Chấm dứt”, chả còn gì phải làm nữa? Một hoàn cảnh hôn nhân xem ra bế tắc... một khó khăn lớn lao với con cái... một ưu tư nghề nghiệp đầy ám ảnh, vô vọng... một cơn khủng hoảng trong ơn gọi linh mục hay tu sĩ... Mỗi người chúng ta từng sống nhiều hoàn cảnh “chết người” như thế.
Niềm vui của mỗi Chúa nhật, niềm vui Phục sinh, alleluia của mỗi một thánh lễ... thành ra không phải là niềm vui dễ dãi đến với chúng ta khi sức khỏe hoạt động tốt, khi công chuyện chẳng đáng lo, khi hạnh phúc vẫn còn dài, khi thành công mục vụ đang phơi phới... Không! Đó là niềm vui đến làm bật tung các “then cài của nỗi sợ”, đó là niềm vui nâng dậy khỏi những hoàn cảnh chết người ta đang lâm phải. Niềm vui ấy triệt để đến độ chẳng cái gì có thể giật mất nó, vì gốc rễ của nó không ở trong con người, mà ở trong Thiên Chúa, chẳng gì hơn!
Bấy giờ ta sẽ kêu lên như Tô-ma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Nếu Thiên Chúa không hiện hữu, rõ ràng là cái chết luôn toàn thắng! Nhưng chúng tôi “trông đợi kẻ chết sống lại.” Ước gì kinh Tin kính của chúng ta là một bài ca Phục sinh thực sự! Đừng tìm giữa kẻ chết Đấng hằng sống. Chính Đấng hằng sống được chúng ta ăn lấy, để Người cho chúng ta sống lại, y như câu chuyện thật dưới đây:
Trong Giáo hội, có một vị thánh được gọi là “Bổn mạng những người rước lễ lần đầu.” Đó là nữ chân phước tí hon Imelda Lambertini (1322-1333), quê thành Bologna, miền Bắc nước Ý. Ngay từ thơ ấu, Imelda đã tỏ lộ những đức tính gương mẫu, gây ngạc nhiên cho mọi người. Lên 10 tuổi, cô bé xin cha mẹ cho phép vào dòng nữ Đaminh thánh Maria Madalena ở Valdipietra. Sống thánh thiện lạ thường, cô sốt sắng, đơn sơ, tuân phục và đứng đắn, trong khi chờ đợi đến tuổi được tuyên khấn trong dòng. Chỉ có một nỗi buồn lớn lao trong lòng cô bé là: vì nhỏ tuổi nên Imelda không được hồng ân lãnh nhận Mình Thánh Chúa, lúc đó chỉ dành riêng cho người lớn tuổi. Cô thành khẩn lập đi lập lại lời van xin: “Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể. Con ước ao được rước Chúa biết chừng nào.” Lời cầu xin tha thiết được chấp thuận. Ngày 12-05-1333, vọng lễ Thăng Thiên, cô đệ tử Imelda tham dự thánh lễ cùng với cộng đoàn. Lúc hiệp lễ, các nữ tu tiến về bàn thánh, chỉ Imelda còn lại một mình ở bàn quỳ, tuôn trào dòng lệ, mắt dán vào Thánh Thể mà vị linh mục đang phân phát cho các chị lớn. Thình lình phép lạ xảy ra. Mình Chúa thoát ra khỏi các ngón tay của cha chủ tế và đến dừng lại trên đầu Imelda. Ai nấy sửng sốt. Vị linh mục nhanh chóng tiến đến đưa đĩa thánh ra và Thánh Thể nhẹ nhàng hạ xuống. Hiểu được ý muốn của Chúa, cha cho cô bé rước lễ lần đầu. Đôi tay Imelda chắp lại, môi điểm nụ cười thiên thần và gương mặt ngời sáng. Một nữ tu kinh ngạc hỏi nhỏ: “Phải chăng cô bé đã được mang lên trời cao?” Câu thắc mắc thành sự thật. Imelda từ từ quỵ xuống và trút hơi thở cuối cùng. Cô chết vì được tình yêu mang đi. Thánh Thể đã đem cô vào cõi hằng sống. mục lục
Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.