SUY NIÊM CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH_C
Lời Chúa: Cv 13,14.43-52; Kh 7,9.14b-17; Ga 10,27-30
MẸ LÀ NGUỒN SUỐI TÌNH YÊU – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
LẮNG NGHE VÀ BƯỚC THEO VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH – Phêrô Phạm Văn Trung
LỜI MỜI GỌI TRUNG THÀNH VỚI CHÚA GIÊSU – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
ƠN GỌI: QUÀ TẶNG SỰ SỐNG – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
CHIÊN TÔI THÌ NGHE, BIẾT VÀ THEO TÔI – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
Anh chị em thân mến,
Bài Tin Mừng hôm nay là phần kết luận của diễn từ ‘Chúa Chiên Lành’ trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Trong phần này, Chúa Giê-su mô tả mối quan hệ của Chúa với chúng ta bằng chính kinh nghiệm Người hằng có với Chúa Cha. Người đã dùng một cách nói thật bình dân mô tả mối quan hệ giữa người chăn chiên và chiên của mình.
Đức Giê-su đã làm chứng điều Người nói hôm nay. Người chính là người chăn chiên tốt lành và thiện hảo. Người biết rõ nhu cầu, sở thích, ưu điểm, khuyết điểm và các thương tích của từng con chiên. Người đã hy sinh chính mạng sống mình để bảo vệ và ban cho các con chiên trong ràn sự sống. Đối với Đức Giê-su thì tất cả mọi người không cần phân biệt chủng tộc hay mầu da, tự do hay nô lệ, tín ngưỡng hay lối sống, nam hay nữ, giầu sang hay nghèo hèn…
Tất cả đều thuộc về ràn chiên mà Chúa Cha đã trao cho Người để chăm nom. Trong Chúa không có sự tách biệt. Tất cả đều bình đẳng, không ai hơn ai kém. Mọi người đều có giá trị thật quan trọng trong con tim của Người chăn chiên tốt lành là Đức Giê-su Kitô.
“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo Tôi” là một xác định thật quan trọng nói lên mối tương quan giữa Đức Giê-su và các con chiên. Người đã phán như một Đấng có uy quyền. Trong mối dây tương quan giữa Chúa Cha và mình, Đức Giê-su đã xác định một cách thật mạnh mẽ: Tôi là Người Chăn Chiên Tốt, Tôi biết chiên tôi, chúng biết và nghe tiếng Người. Đây không là vấn đề để tranh luận hay bàn cãi. Ai tiếp nhận thì điều mà Chúa phán hôm nay nghiễm nhiên trở thành sự thật và của mình.
Nghe tiếng Chúa, hôm nay, có nghĩa là nhận ra tiếng Chúa trong mối dây thân mật dưạ trên tương quan của Tình Yêu, của gắn bó và hiệp thông. Thậm chí đến mức độ, trong mối tương quan này họ không cần nói, cũng chẳng cần nghe… mọi âm thanh dường như dừng lại để cho cảm xúc của Tình Yêu và Lòng Mến dâng trào và ngâp tràn trong giây phút hai người biết nhau, như “Tôi biết chúng và chúng biết tôi.”
Và sau đây là mẩu truyện ngắn. Mới đây, trong trận động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ, giữa đống đổ nát, người ta tìm thấy một bé gái khoảng 5 tuổi. Khi vừa nghe tiếng kêu của mẹ gọi tên mình từ xa, bé lập tức òa khóc và lặp đi lặp lại câu nói: “Con biết mẹ sẽ đến!” Chưa cần nhìn thấy mẹ, chỉ cần nghe tiếng gọi của mẹ, là bé đã yên tâm.
Thật vậy, Chúa biết tên từng người chúng ta. Người không chỉ thấy ta trong đám đông, mà còn lắng nghe cả những lời thở than thầm kín, những tâm tư được chôn dấu tận đáy lòng. Người biết rõ mọi sự. Và mẹ chúng ta cũng vậy, dù bận rộn đến đâu, mẹ vẫn nhận ra tiếng khóc của con mình giữa muôn ngàn tiếng ồn ào.
Mối tương quan mật thiết này nhắc nhở tôi nhớ lại ý mà Hội Thánh mời gọi chúng ta cầu nguyện và cổ võ cho ơn gọi trong Chúa Nhật hôm nay. Và theo tôi, một trong những ơn gọi cao quí nhất đó là ơn gọi làm mẹ. Mẹ ở đây không phải là nhiệm vụ dành riêng cho các phụ nữ mà thôi. Nhưng trong vai trò lãnh đạo, hình ảnh của Đấng Chăn Chiên được thể hiện qua cách cư xử của các bà mẹ. Vì thế tinh thần, phẩm chất và bản năng của người mẹ cần thiết vô cùng cho những ai được gọi trong vai trò lãnh đạo để phục vụ.
Giờ đây chúng ta dành vài phút chia sẻ vài cảm nghĩ, đôi dòng suy tư về ơn gọi của những người mẹ Việt Nam cũng như tất cả các bà mẹ trên toàn thế giới.
Người ta thường nói mẹ là hình ảnh của tình yêu. Nhưng theo thiển ý của tôi thì mẹ chính là tình yêu, là sức sống, là hạnh phúc và là nơi nương tựa của đoàn con. Mẹ đã không vì mẹ mà sống, nhưng cuộc sống của các Người là vì chồng và cho con cái. Mẹ hy sinh và chấp nhận mọi khó khăn để bầy tỏ tình yêu của mẹ.
Tình yêu của những người mẹ như dòng suối chảy một chiều: cho đi mà không đòi lấy lại. Chúng ta thường được nghe rằng: “nước mắt chảy xuôi.” Thật vậy, cho dù con cái đã khôn lớn và vì vô tình hay cố ý mà một số người con đã không cư xử tốt với mẹ, thì mẹ vẫn yêu thương các con; vì tình yêu là lẽ sống của mẹ.
Khi nói mẹ là sự sống thì tôi nhớ lại sự kiện đã xẩy ra bên Nhật. Câu chuyện đó như sau. Vào năm 1995, sau vụ động đất tại Thành Phố Kô-bê, người ta đào bới và khám phá dưới đống gạch vụn của một tòa nhà đã đổ nát là hai mẹ con. Người mẹ, tuy còn sống nhưng đã bất tỉnh; còn đứa cháu gái đang cố gắng ngậm chặt ngón tay của người mẹ và cố hút nguồn sống bằng máu phát xuất từ thân thể của mẹ cháu.
Sau khi phục hồi sức khỏe cho hai mẹ con. Người ta nghe bà mẹ kể lại rằng. Tuy bị chôn vùi ở dưới đống gạch đổ nát của tòa cao ốc. Nhưng hai mẹ con chúng tôi quả thật đã gặp vận may. Có một cái đà thay vì đổ xuống đập vào chúng tôi thì lại bị ngăn lại bởi bức tường và trở thành vật chắn giúp hai mẹ con chúng tôi không bị đè chết. Sau đó, đứa con vài tháng tuổi của chị đói quá khóc thét lên. Bà mẹ không biết phải làm gì! Dòng sữa thì khô quặn vì đã mất mấy ngày họ đâu có gì để ăn và để uống. Bà mẹ mò mẫm trong bóng tối và tay bà đã chạm vào một vật sắc và nhọn. Với bản năng yêu thương của một người mẹ, bà không kịp suy nghĩ, lập tức dùng ngay vật nhọn đó cắt vào ngón tay của mình và đặt vào miệng cháu. Cứ thế mỗi lần con của bà khóc thét lên là một vết cắt của yêu thương được xuất phát từ thân thể của bà. Cứ thế cho đến khi bà ngất đi vì bât tỉnh và không hề biết những chuyện xảy ra sau này.
Người ta hỏi bà là khi cắt da thịt mình để lấy máu thay sữa cho con, bà không sợ chết sao? Bà trả lời rằng với bản năng của người mẹ, tôi không có thời gian để suy nghĩ. Sự sống của con tôi là tất cả những gì mà tôi có thể làm được; cho dù giờ này biết làm thế rồi chết, tôi vẫn làm.
Và mới đây, trong một vụ cháy rừng ở California, đội cứu hỏa phát hiện một người mẹ đã chết khi che chở con trong lòng. Điều khiến họ ngỡ ngàng là đứa bé còn sống nhờ chính thân thể của người mẹ đã che chở cho đứa con không bị đốt cháy. Chị chết, nhưng con chị được sống.
Còn lời gì để giải thích cho việc làm của người mẹ đáng kính phục nữa đây! Đó chính là tình yêu hy sinh, là hình ảnh sống động của Chúa Giêsu, đấng đã chịu chết để cứu đoàn chiên.
Giống như lòng của mẹ, sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho con được sống, Chúa Giêsu - người Mục Tử Nhân Lành và Từ Bi- luôn để mắt đến chúng ta. Người đã hy sinh mạng sống để cho chúng ta được sống, một cuộc sống sung mãn và tràn đầy. Người đã không bị thần chết tiêu diệt. Trái lại, Người đã vượt qua sự chết để được Phục sinh và luôn ở bên cạnh chúng ta. Người không bao giờ rời mắt khỏi chúng ta. Niềm tin thâm sâu của chúng ta là, nhờ vào sự hiện diện âu yếm của Người, chúng ta sẽ bình an đạt tới đích trong sự bao bọc của Thiên Chúa.
Như vậy, bản năng và ơn gọi mà Thiên Chúa đã mời mẹ chúng ta lãnh nhận thật cao quí. Vì thế, để hoàn thành sứ mạng này, mẹ chúng ta có một cuộc sống tuy giản dị và âm thầm nhưng lại vô cùng kiên trung. Mẹ đặt trọn niềm tin và sự cậy trông nơi Đấng đã mời gọi mẹ. Mẹ đáp nhận bằng cả con tim yêu thương của mẹ để làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa. Mẹ thật đáng tôn vinh như những vị anh hùng vô danh mà chúng ta thường tưởng nhớ, hoặc như những vị thánh âm thầm mà không cần tuyên phong. Cuộc sống của các Người như những lời mời gọi, như những động lực giúp chúng ta tiếp tục sứ mạng làm chứng nhân tình yêu của Thiên Chúa.
Vậy, giờ đây chúng ta hãy cùng nhau tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một người mẹ, đã ban cho nhân loại ‘ơn gọi làm mẹ’. Ước gì những ai được mời gọi thừa kế quyền lãnh đạo của Chúa Giê-su, hãy có con tim của người mẹ, luôn yêu thương và sống trọn vẹn cho những ai mà Chúa ban cho mẹ chăm sóc. Mẹ không cần những bài diễn thuyết chất chứa những tư tưởng cao siêu và trừu tượng. Mẹ dậy chúng con về niềm tin, niềm hy vọng và luôn trông cậy nơi Chúa tình yêu.
Và, để tạm kết thúc bài suy niệm, tạm kết thúc vì không có ngôn từ nào có thể diễn tả hết tấm lòng của mẹ, xin mượn tâm tình của một anh bạn đã chia sẻ như sau: “Tôi không nhớ bài giảng nào của cha xứ thời thơ ấu, nhưng tôi không bao giờ quên hình ảnh của mẹ chúng tôi khi người quỳ cầu nguyện mỗi đêm, nhất là chuỗi Mân Côi luôn nằm gọn trong bàn tay gầy còm, đầy xương sẩu của mẹ, để cùng với Đức Mẹ, dâng lên Chúa đàn con, các đứa cháu, khi mẹ đã về già. Mẹ chính là người mục tử đầu tiên dắt tôi đến với Chúa. Mẹ luôn là chốn bình an, chỗ dung thân để tôi quay về!”
Happy Mother’s Day! mục lục
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
LẮNG NGHE VÀ BƯỚC THEO VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH
Chúa Nhật thứ tư Mùa Phục Sinh được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Hôm nay, Phụng vụ Lời Chúa mời gọi chúng ta chiêm ngắm hình ảnh thật đẹp và đầy ý nghĩa của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Chăn Chiên Nhân Lành. Ngài biết rõ, yêu thương, dẫn dắt và bảo vệ chúng ta là đoàn chiên của Ngài.
Tiếng gọi của Vị Mục Tử
Người ta kể rằng, có một người chăn cừu bẻ gãy chân của một con cừu hay đi lang thang của anh ta và vác nó đi cho tới khi chân nó lành lại. Anh ta nói mình làm như vậy là để con cừu khi được vác trên vai và chăm sóc như thế nó sẽ gắn kết với anh và không bao giờ đi lang thang nữa. Ở một số nền văn hóa, sự nghiêm khắc hoặc kỷ luật hà khắc đôi khi được xem là cách thể hiện tình yêu thương, nhằm hướng dẫn cá nhân đi đúng đường. Hành động bẻ chân cừu được coi là một hình thức yêu thương cứng rắn, “mục đích biện minh cho phương tiện”, biện minh cho cung cách dạy dỗ độc đoán của nhiều bậc cha mẹ, của nhiều cơ sở giáo dục, những phương sách quản lý chuyên chế của nhiều thiết chế xã hội, chính trị, ý thức hệ…
Liệu Chúa Giêsu, Đấng “không đành bẻ gãy cây lau bị giập, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi” (Mt 12:20) có làm chúng ta bị tổn thương như vậy để giữ chúng ta gần gũi với Ngài không? Không có chỗ nào trong các tài liệu về chăn nuôi, lại càng không có chỗ nào trong Kinh thánh, nói về những người chăn chiên bẻ chân cừu theo cách này. Câu chuyện này không có gì chung với với Lời của Chúa Giêsu, Đấng Chăn Chiên Lành luôn tìm kiếm và dẫn dắt con người bằng tình yêu, kiên nhẫn và sự hy sinh, chứ không sử dụng bạo lực để ép buộc: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10:10). Chính Chúa Giêsu đã khẳng định mối liên kết thân mật giữa Ngài và những ai thuộc về Ngài: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (Ga 10,27-28). Đây không chỉ là một lời tuyên bố, mà còn là một lời mời gọi và một lời hứa.
-
“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi” không chỉ là nghe bằng đôi tai thể lý, mà là lắng nghe bằng cõi lòng, nhận ra chân lý trong lời Ngài, và đáp lại bằng sự vâng phục và tin tưởng.
-
“Tôi biết chúng” không phải là biết hời hợt bên ngoài, mà là sự thấu hiểu sâu sắc, sự quan tâm riêng biệt đến từng con chiên.
-
“Chúng theo tôi” là hành động đi theo đường lối của Ngài, sống theo giáo huấn của Ngài.
-
Và phần thưởng cho sự gắn bó này là “sự sống đời đời” vô giá, và sự an toàn trọn vẹn trong vòng tay yêu thương của Chúa Giêsu và của Chúa Cha: “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10, 29-30).
Sự kết hiệp giữa Chúa Con và Chúa Cha bảo đảm cho sự an toàn mãi mãi của chúng ta. Thánh Augustinô đã suy ngẫm: “Vậy chúng ta là chiên của Ngài … Ngài đã cứu chuộc chúng ta… Chính Ngài là Mục Tử của chúng ta, và chúng ta là đoàn chiên của Ngài. Ngài dẫn chúng ta đến đồng cỏ xanh tươi…” (Chú giải Thánh vịnh 22).
Đoàn chiên được quy tụ từ muôn dân nước
Tiếng gọi của Vị Mục Tử không chỉ giới hạn trong dân riêng Israel. Khi Lời Chúa bị một số người Do Thái chối từ, Thánh Phaolô và Banaba đã mạnh dạn lên tiếng: “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại” (Cv 13,46-47).
Đoàn chiên của Chúa được quy tụ từ mọi dân tộc, mọi ngôn ngữ. Bài thánh vịnh đáp ca hôm nay nhắc rằng: “Toàn thể địa cầu, hãy tung hô Chúa! Hãy phụng thờ Chúa với niềm vui, vào trước thánh nhan Ngài giữa tiếng hò reo” (Tv 99,1-2). Thiên Chúa là Đấng tạo thành và là Mục Tử của tất cả mọi người: “Hãy nhìn nhận Chúa là Thượng Đế, chính Ngài dựng nên ta, ta thuộc về Ngài, ta là dân Ngài, là đoàn chiên Ngài dẫn dắt” (Tv 100,3). Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là dành cho mọi dân tộc, muôn dân nước, mọi ngôn ngữ. Niềm vui của những người đón nhận Tin Mừng là bằng chứng cho quyền năng của Chúa Thánh Thần: “Còn các môn đệ được tràn đầy hoan lạc và Thánh Thần” (Cv 13,52).
Đức Thánh Cha Phanxicô thường dùng hình ảnh “những người chăn chiên với mùi của chiên” (Cuộc gặp một nhóm linh mục người Pháp, tại Rôma, thứ Hai, 07 tháng 6 năm 2021). Người mục tử không chỉ ở trong chuồng trại mà còn đi ra vùng ngoại biên để tìm kiếm và quy tụ những con chiên lạc. Sách Công vụ Tông đồ mô tả sống động sứ vụ đó: “Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất” (Cv 13: 47-49).
Sự sống vĩnh cửu của đoàn chiên
Bài đọc thứ hai từ Sách Khải Huyền cho thấy một viễn cảnh huy hoàng về đích điểm của đoàn chiên trung thành. Đó là hình ảnh “một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên” (Kh 7,9).
Họ là những người biết sử dụng ý chí tự do được ban cho, không bị bạo lực ép buộc, để chọn yêu mến và vâng lời Chúa Chiên Lành. Họ là những người tin tưởng bước theo Chúa Kitô bằng tình yêu tự nguyện và làm nên đoàn chiên của Ngài. Họ là những người đã trải qua thử thách trần gian, đã trung thành đi theo Vị Mục Tử, và giờ đây được hưởng sự sống đời đời bên Ngài. Họ “là những người đến từ cơn gian nan lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7, 14). Chính Con Chiên, Chúa Giêsu Kitô, tiếp tục chăm sóc đoàn chiên của Ngài trong vinh quang: “Con Chiên đang ngự ở giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ đến nguồn nước trường sinh” (Kh 7,17). Lời hứa của Chúa Kitô: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời” (Ga 10:28) được bắt đầu ngay nơi trần gian và trở nên viên mãn trong Nước Trời mai sau.
Đức Bênêđictô XVI từng nói: “Chỉ trong Đức Kitô, Mục Tử Nhân Lành, sự sống của chúng ta mới tìm được ý nghĩa đích thực và sự thành toàn” (Bài giảng, Chúa Nhật IV Phục Sinh, 2008). Sự thành toàn ấy được bài đọc thứ hai mô tả trong một cảnh khải hoàn rực rỡ: “Kìa một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô: Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta” (Kh 7:9-10).
Bước theo Vị Mục Tử mỗi ngày
Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta tự vấn: chúng ta có thực sự đang lắng nghe tiếng Chúa Giêsu, Vị Mục Tử của chúng ta không? Chúng ta có nhận ra tiếng Ngài giữa muôn vàn tiếng ồn ào của thế gian? Chúng ta có can đảm bước theo đường lối Ngài, ngay cả khi gặp gian nan thử thách?
Mỗi chúng ta được mời gọi liên kết với Chúa Kitô qua việc cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa, và lãnh nhận các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, nơi đó chính Vị Mục Tử nuôi dưỡng chúng ta bằng Mình và Máu Ngài. Chúng ta cũng được mời gọi trở nên những chứng nhân vui tươi về tình yêu của Vị Mục Tử, góp phần vào sứ mạng quy tụ đoàn chiên từ muôn phương, để tất cả nhận biết “Chúa là Đấng nhân hậu, muôn ngàn đời Ngài vẫn trọn tình thương, qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín” (Tv 99,5).
Chúa Giêsu không bao giờ đối xử với chiên của Ngài bằng cách bẻ chân bầy chiên. Những “người làm thuê xấu bụng” có thể lạm dụng và làm tổn thương chiên của họ hoặc bỏ mặc chúng cho bầy sói: “Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên” (Ga 10:12-13). Nhưng Chúa Giêsu, Đấng Chăn Chiên Nhân Lành, sẵn lòng lao vào đối mặt với lũ sói.
Chúa Giêsu không chặn đứng sự lang thang của chúng ta trong thói hư tật xấu bằng cách hủy bỏ tự do của chúng ta. Ngài chữa lành thói hư tật xấu của chúng ta bằng những vết thương của Ngài. Thân thể Ngài bị bẻ gẫy vì chiên của Ngài: “Vì Ngài phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành. Quả thật, trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với Vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em” (1 Pr 2:24-25).
Chúng ta có thể bị thương bởi một vài người chăn chiên “chỉ biết lo cho mình… Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt” (Ed 34:2). Nhưng chúng ta vẫn có thể được chữa lành bởi Chúa Giêsu, Đấng Chăn Chiên Nhân Lành.
Xin Chúa Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lành, luôn gìn giữ, hướng dẫn và quy tụ chúng ta trong tình yêu của Ngài, để một ngày kia, tất cả chúng ta được cùng đoàn chiên đông đảo hát khúc ca chiến thắng trước Ngai Thiên Chúa và Con Chiên muôn đời: “Amen! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời! Amen! Amen” (Kh 7:12). mục lục
Phêrô Phạm Văn Trung
LỜI MỜI GỌI TRUNG THÀNH VỚI CHÚA GIÊSU
I. “Tam bất” của hàng giáo phẩm và giáo sĩ
Trong Giáo hội Công giáo, hàng giáo phẩm và giáo sĩ – từ giáo hoàng, giám mục đến linh mục – mang sứ mạng cao cả nhưng vẫn là những con người giới hạn, được đặc trưng bởi “tam bất”: bất xứng, bất toàn, và bất lực [*].
1. Bất xứng: Được Chúa chọn vì lòng thương xót
Hàng giáo phẩm không được chọn vì tài năng, thánh thiện, hay đạo đức vượt trội, nhưng vì lòng thương xót của Thiên Chúa. Như Chúa Giêsu phán: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15:16). Họ được kêu gọi không dựa trên công trạng, mà bởi ân sủng của Thiên Chúa.
2. Bất toàn: Những yếu đuối con người
Dù là giáo hoàng, giám mục, hay linh mục, họ vẫn mang bản tính con người với những yếu đuối và tội lỗi. Họ phải xưng tội như mọi tín hữu, thậm chí đôi khi thường xuyên hơn, để tìm ơn tha thứ và sức mạnh từ Thiên Chúa. Sự bất toàn này nhắc nhở rằng họ không phải là Chúa, mà chỉ là những tôi tớ của Ngài.
3. Bất lực: Giới hạn trước những thách đố
Các mục tử thường bất lực khi đối diện với những “con chiên cứng đầu” có quyền lực, danh vọng, hoặc ảnh hưởng xã hội, những người công khai chống lại giáo huấn Giáo hội về các vấn đề như phá thai, hôn nhân đồng tính, trợ tử, tử hình, hay chuyển giới. Dù mang sứ mạng thánh thiêng, họ vẫn bị giới hạn bởi yếu đuối nhân bản, như sách Công vụ Tông đồ ghi nhận: “Hãy coi chừng chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Chúa Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc” (Cv 20:28).
II. Ba lời khuyên cho tín hữu
Nhận thức về “tam bất” của hàng giáo phẩm, anh chị em tín hữu được mời gọi thực hiện ba điều sau để giữ vững đức tin.
1. Đừng thần thánh hóa các mục tử
Dù gặp một giáo hoàng, giám mục, hay linh mục thánh thiện đến đâu, hãy nhớ rằng họ vẫn là con người với những yếu đuối và tội lỗi. Thần thánh hóa họ có thể dẫn đến thất vọng, thậm chí làm lung lay niềm tin vào Thiên Chúa. Chỉ Chúa Giêsu mới là Đấng Toàn Thánh, là “Mục Tử nhân lành” hy sinh mạng sống cho đoàn chiên (Ga 10:11).
2. Bình tĩnh trước gương mù, gương xấu
Các phương tiện truyền thông và thế lực chống đối Giáo hội thường khai thác, thổi phồng những sai lầm của các mục tử để gây chia rẽ. Như Ngôn sứ đã cảnh báo: “Hãy đánh người chăn chiên, và chiên sẽ tan tác” (Dcr 13:7). Anh chị em hãy tỉnh thức, đừng để những gương mù làm lung lay đức tin, nhưng hãy hướng mắt về Chúa Giêsu.
3. Đừng bỏ đạo vì gương xấu
Dù một số ít giám mục hay linh mục gây gương mù, anh chị em đừng rời bỏ Giáo hội, đừng bỏ lễ hay nhà thờ. Chỉ Chúa Giêsu là Mục Tử nhân lành duy nhất, Đấng đáng để chúng ta tin cậy và bước theo. Trung thành với Giáo hội là trung thành với Chúa, bất chấp những yếu đuối của các mục tử.
III. Kết luận: Trung thành với Mục Tử nhân lành
Chúa Nhật Chiên Lành nhắc nhở rằng chỉ Chúa Giêsu là “Mục Tử nhân lành” duy nhất, Đấng hy sinh mạng sống cho đoàn chiên (Ga 10:11). Các mục tử trần gian – giáo hoàng, giám mục, linh mục – dù mang sứ mạng cao cả, vẫn là những con người bất xứng, bất toàn, và bất lực. Nhận thức “tam bất” của họ và “tam toàn” (toàn thánh, toàn mỹ, toàn năng) của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ vững tin vào Thiên Chúa và trung thành với Giáo hội.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho hàng giáo phẩm và giáo sĩ, cách riêng cho vị tân giáo hoàng, xin Chúa ban cho các ngài lòng yêu mến, sự can đảm, và ơn khôn ngoan, để họ bảo vệ đoàn chiên khỏi “sói dữ” và cạm bẫy của Satan. Nhân ngày Hiền Mẫu, xin chúc các bà mẹ tràn đầy niềm vui, bình an, và hạnh phúc. Nguyện Đức Maria, Hiền Mẫu Giáo hội, chuyển cầu cho tất cả chúng ta. mục lục
Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
[*]: “Tam bất” (bất xứng, bất toàn, bất lực): Khái niệm nhấn mạnh giới hạn nhân bản của hàng giáo phẩm và giáo sĩ, trái ngược với sự hoàn hảo của Chúa Giêsu.
Bước vào Chúa nhật thứ IV Phục sinh, Chúa nhật Chúa Chiên Lành. Giáo hội mời gọi chúng ta cầu nguyện cho các mục tử và cho ơn gọi Linh mục và Tu sĩ. Xin Chúa Ki-tô, Vị Mục Tử tối cao ban cho Giáo hội có thêm nhiều mục tử tốt lành như lòng Chúa mong ước; đồng thời xin Chúa cho mọi thành viên trong gia đình, các đoàn thể, các giáo họ, giáo xứ biết ý thức bổn phận nâng đỡ và cầu nguyện cho ơn gọi, nhất là xin Chúa soi sáng để có nhiều bạn trẻ nhận ra lý tưởng cao quý của đời tu, sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa gọi, để trở thành những thợ gặt trong cánh đồng truyền giáo.
Nghe tiếng Chúa gọi mời
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay gợi lên cho chúng ta ơn gọi và sứ mạng cuộc đời của Phê-rô, của Ba-na-ba và Phao-lô cũng như các tông đồ khác.
Phê-rô có tên gọi là Si-môn, con trai của Giô-na và là em ruột với An-rê. Ông là một trong số mười hai Tông đồ đáp lại tiếng Chúa Giê-su gọi và được Chúa đặt làm tông đồ trưởng khi trực tiếp trao quyền cai quản Hội Thánh cho ông. Ông cũng lãnh sứ mạng để đi loan báo Tin Mừng chủ yếu cho người Ít-ra-en.
Ba-na-ba là người Do Thái thuộc giáo tỉnh Cypern, gốc Lê-vi và tên gọi là Giu-se. “Là một người tốt lành, đầy Thánh Thần và lòng tin’’ (Cv11,23). Dù không thuộc nhóm Mười Hai (x.Cv 14,4). Nhưng Ba-na-ba có lòng độ lượng: “Giu-se, người đã được các Tông Đồ đặt tên là Ba-na-ba nghĩa là con của sự an ủi một người Lê-vi, người gốc Kyprô, có một thửa ruộng, ông đã bán đi và đem bạc đặt dưới chân các Tông Đồ” (Cv 4,36-37). Ông mau mắn nhận lãnh sứ mạng Chúa trao làm người hướng dẫn Sao-lô sau khi Sao-lô trở lại đến gặp các vị Tông Đồ ở Giê-ru-sa-lem (x.Cv 9,26-27).
Phao-lô là người Do Thái thuộc chi tộc Ben-gia-min, có tên gọi là Sao-lô, sinh tại Tác-xô xứ Ki-li-ki-a. Chúa Giê-su Phục Sinh chọn gọi ông trên đường đến thành Đa-mát, lúc ông khí thế hung hăng, đằng đằng sát khí, muốn tiêu diệt Hội Thánh của Chúa. Chúa biến đổi ông trở thành người rao giảng Tin Mừng cách nhiệt thánh cho dân ngoại (x. Cv 13, 13-28).
Chúa là Mục Tử
Chúa Giê-su khẳng định Người là vị Mục Tử Thiên Chúa, liên đới với đoàn chiên. Chính Chúa cho họ được sống và sống dồi dào trong sự hiệp nhất mật thiết với Chúa Cha (x.Ga 10,17-30). Thị kiến mà sách Khải Huyền mô tả chính xác về đoàn người được tuyển chọn đông đảo khôn kể xiết đứng chầu quanh ngai Thiên Chúa. Con Chiên đang ngự ở giữa họ “sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh” (x.Kh 7, 9, 14-17).
Ơn cứu độ phổ quát do các ngôn sứ loan báo, được Con Chiên hiến dâng mạng sống mình “cho muôn người”, được đám đông “thuộc mọi nước, mọi dân, mọi chi tộc và mọi ngôn ngữ” chứng thực. “Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế”: “Họ đứng”: dấu chỉ của sự sống và sự sống lại, “mình mặc áo trắng”: dấu chỉ của sự vô tội, và “tay cầm nhành lá thiên tuế”: dấu chỉ của sự khải hoàn.
Chúa Giê-su chính là Lời Thiên Chúa hiện thân. Chúa biết chiên và đoàn chiên biết Chúa: “Tôi biết chúng và chúng theo tôi”. “Biết” ở đây hàm chứa chuyển động của cả trí tuệ lẫn con tim; sự hiểu biết này dẫn đến niềm tin tưởng phó thác. Người môn đệ “theo” và gắn bó với Chúa Giê-su. Qua cái chết và sự sống lại, Chúa thông truyền cho con người sự sống đời đời.
Sứ điệp ngày cầu cho ơn Thiên Triệu
Ngày thế giới cầu nguyện cho ơn Thiên triệu trong Năm Thánh 2025 thật đặc biệt và cảm động; chính Đức cố Giáo hoàng Phan-xi-cô đã viết sứ điệp lần thứ 62 này khi đang được điều trị tại bệnh viên Đa khoa Gê-men-li (Gemelli) ở Roma; được ký vào ngày 19 tháng 3 có tựa đề “Những Người Hành hương hy vọng: quà tặng sự sống”. Ngài viết rằng, mọi ơn gọi đều là dấu chỉ hy vọng mà Thiên Chúa dành cho thế giới và cho con cái của Người. Ngài mời gọi các bạn trẻ lắng nghe tiếng Chúa trong tâm hồn, trở thành những chứng nhân của hy vọng, những người tuyên bố bằng cuộc sống của họ rằng việc theo Chúa Ki-tô là nguồn mạch của niềm vui. Ngài khích lệ dân Chúa: “Nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi lần thứ 62 này, tôi muốn gửi đến anh chị em lời mời gọi vui tươi và khích lệ trở thành những người hành hương hy vọng, bằng cách quảng đại trao tặng cuộc sống của anh chị em (trích Sứ điệp ơn gọi năm 2025).
“Ơn gọi là món quà quý giá mà Thiên Chúa gieo vào tâm hồn chúng ta, là lời kêu gọi bước ra khỏi chính mình để bước đi trên hành trình yêu thương và phục vụ. Và mỗi ơn gọi trong Giáo hội, dù là ơn gọi giáo dân hay thừa tác viên thánh chức hay đời sống thánh hiến, đều là dấu chỉ hy vọng mà Thiên Chúa dành cho thế giới và cho mỗi người con của Người….“.
Ngài nói riêng với người trẻ: “Các bạn trẻ thân mến, Cha phó thác sự nỗ lực đi theo Chúa của các con cho sự chuyển cầu của Đức Ma-ri-a, Mẹ của Giáo hội và của ơn gọi. Hãy luôn bước đi như Những người Hành hương Hy vọng trên con đường Tin Mừng! Cha đồng hành cùng các con bằng phép lành của cha và cha xin các con hãy cầu nguyện cho cha.“
Ngài cho rằng: “Gia đình là mái trường đầu tiên và cũng là một chủng viện tiên khởi vun trồng ơn gọi; trong bổn phận là người cha người mẹ trong gia đình; là người giáo lý viên là người phục vụ các đoàn thể trong giáo xứ, tất cả chúng ta đều có bổn phận tìm kiếm và chăm sóc cho ơn gọi được phát triển và lớn lên trong Giáo hội. Những cản trở luôn giăng đầy, ta cố gắng hiệp hành bên nhau và cầu nguyện cùng Thiên Chúa, Vị Mục tử Nhân lành, Ngài đã hứa: “Ta đến để chúng được sống và sống dồi dào”.
Giờ đây trên Nước Trời chắc chắn ngài đang cầu nguyện và mong chờ lời đáp trả của chúng ta. Xin Chúa ban cho Giáo hội ngày càng có nhiều tâm hồn, nhất là các bạn trẻ biết quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa để hiến dâng đời mình phục vụ Chúa và tha nhân. mục lục
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
CHIÊN TÔI THÌ NGHE, BIẾT VÀ THEO TÔI
Chúa nhật Thứ tư Phục sinh mỗi năm trở lại như là ngày của Mục tử và của ơn gọi, đặc biệt là ơn gọi Linh mục và tu sĩ. Trong cả ba năm, sách bài đọc Tin Mừng luôn công bố một đoạn lấy từ chương 10 thánh Gio-an. Trong đoạn ngắn được phụng vụ hôm nay cắt từ chương đó, tương quan giữa Mục tử Giê-su và đoàn chiên Giáo Hội được xác định dựa trên loạt động từ và kiểu nói đặc trưng : nghe, biết, theo, ban sự sống đời đời, không diệt vong, không cướp được.
1. Lắng nghe Mục tử và Cha Người.
Qua chùm từ ngữ này, được liên kết với nhau bởi một sợi chỉ thiêng liêng sáng ngời, có thể xây dựng câu chuyện toàn bộ về ơn gọi Ki-tô hữu. Ơn gọi này xuất phát từ một tiếng nói vang lên bên ngoài chúng ta : “Những kẻ không tìm Ta, Ta đã cho chúng gặp ; những kẻ không hỏi Ta, Ta đã xuất hiện cho chúng thấy” (Rm 10,20). Ơn Thiên Chúa đi trước mọi tính toán cá nhân và phá vỡ sự im lặng của tâm thức, y như lời sáng tạo của Người đã phá vỡ sự im lặng của hư vô vậy. Do đó con người phải “lắng nghe” ; và chúng ta biết rằng trong ngôn ngữ Kinh Thánh, động từ này chất chứa nhiều âm vang cũng như bao hàm việc gắn bó, vâng phục, chọn lựa sự sống.
Nhưng trước khi lắng nghe Đức Ki-tô, cần phải nhắm mắt một chút. Như vừa thấy, một giọng nói muốn thấu đến chúng ta. Không những từ bên trên những tiếng động của cuộc đời mà cả từ bên trên những xì xào phù phiếm hay xấu xa của con tim chúng ta.
Ngay trước lời khẳng định đầy âu yếm của mình, “chiên của tôi thì nghe tiếng tôi”, Đức Giê-su đã có với người Do-thái một cuộc trao đổi gay gắt : “Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói thẳng cho chúng tôi biết – Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin.” Người đã chẳng nói với những từ mà trong bầu khí đầy xúc cảm của một cuộc tranh luận, rất có thể bị giải thích sai lạc, song đã nói qua mọi hành vi của mình : “Những việc tôi làm làm chứng cho tôi” (x. Ga 10,24-25)
Giờ đây Đức Giê-su nói với chúng ta qua các chữ của Tin Mừng nhưng cũng tiếp tục nói qua các hành vi và qua chính bản chất Con Thiên Chúa của Người nữa. Chỉ cần mở một cuốn Tin Mừng ra, ai nấy đều có thể thấy và nghe Người, tuy nhiên lắm kẻ vẫn mù quáng và điếc đặc.
Vì có một khó khăn trong vấn đề nghe. Thánh Gio-an bảo ta rằng chẳng phải những “dấu chỉ” (các phép lạ) hay các từ ngữ làm chúng ta gắn bó sâu xa với Đức Giê-su. Phải có một kiểu trong sáng của con mắt và lỗ tai, tự do của trí óc, sẵn sàng của quả tim. Đến cùng Người với nhiều ý tưởng làm sẵn, với lắm tâm tình tiêu cực, sẽ có nguy cơ biến độc giả Tin Mừng thành những một kẻ nhìn mù quáng và kẻ nghe điếc lác. Chỉ duy những ai rất sẵn sàng mới nhận được tác động của con người ấy, mới thật sự nghe được tiếng nói ấy.
Vậy là phải tin để tin ? Phải được chinh phục trước ? Chúng ta đã suy ngắm mầu nhiệm này bao lần rồi. Chúng ta biết phải chú ý đến độ nào tới ơn lôi kéo đến cùng Đức Ki-tô và phải tích cực đến độ nào để khai thác ơn ấy. Công việc nội tâm kép này biến ta thành “một con chiên nghe tiếng Người.” Lúc ấy, các dấu chỉ trở nên rõ ràng, và lời Người mở lòng ta đón nhận đức tin. Chúng ta biết nghe Người vì chúng ta “theo Người.”
Khi nghe tiếng Người, chúng ta nghe một tiếng khác, tiếng của Chúa Cha : “Chúa Cha và tôi là một.” Vốn sắp làm cho người Do-thái giận dữ (“Họ lấy đá để ném Đức Giê-su”, c.31), khẳng định này đẩy chúng ta vào trong một thái độ lắng nghe đầy kinh ngạc thán phục : khi Đức Giê-su nói, thì chính tiếng nói của Chúa Cha thấu đến chúng ta ! Có lẽ chính trong Thánh lễ Giáng sinh mà ta đọc được bản văn đẹp nhất về vấn đề này : “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán với cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào những ngày sau hết này, Thiên Chúa đã phán với chúng ta qua một Người Con… mà nhờ Người Con ấy, Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ” (mở đầu thư Hip-ri).
Chớ bao giờ quên điều rất chắc chắn này : trong các lời của Đức Giê-su rung lên sự thật của Thiên Chúa và lòng âu yếm của Thiên Chúa. Nhưng Người cũng có nhiều đòi hỏi đấy chứ ? Đúng ! song chúng ta có tin Thiên Chúa là tình yêu chăng ? Nếu tin thì, vì Đức Giê-su là tiếng nói của tình yêu ấy, ta có thể đón nhận các đòi hỏi ấy như thành phần của cùng sứ điệp tình yêu.
2. Hiểu biết và bước theo Mục tử.
Bấy giờ mới thiết lập một mối hiệp thông thân mật và sâu xa giữa Đức Ki-tô và môn đệ ; mối hiệp thông này được xác định bởi một từ Kinh Thánh quan trọng : “biết”. Sự hiểu biết này bao gồm trí tuệ, trái tim, hành động và ở sâu bên trong con người đến độ trở thành trên miệng Đức Giê-su của Gio-an chính định nghĩa về sự sống đời đời : “Sự sống đời đời là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa thật duy nhất, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô” (17,3). Con người đã nghe, làm cho mình được Thiên Chúa nhận biết và đã nhận biết Thiên Chúa thì “theo” Đức Ki-tô như Mục tử độc nhất của mình. Việc bước theo này phải là thường nhật và liên tục, kể cả khi ở chân trời thấp thoáng bóng chó sói sẵn sàng cấu xé xác ta và dày vò hồn ta. Giây phút đó xuất hiện trong tâm trí chúng ta hai động từ khác của đoạn về Mục tử : chúng ta sẽ không bao giờ “diệt vong” và chẳng ai có thể “cướp” chúng ta khỏi bàn tay chắc chắn và toàn năng của Đức Ki-tô được.
Sự an toàn này dựa trên thần tính của Đức Ki-tô, Đấng vốn “làm một với Chúa Cha” : thật thế, ngay từ trong Cựu Ước đã có tuyên bố về Thiên Chúa rằng “không ai có thể giật cái gì khỏi bàn tay của Người được” (x. Is 43,13). Sự an toàn này được diễn tả rõ ràng bởi Phao-lô trong một thánh thi đặt vào cuối thư Rô-ma chương 8 : “Tôi tin chắc rằng : cho dù là sự chết hay sự sống, thiên sứ hay quản thần, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hoặc bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta” (8,38-39). Niềm thanh thản này từng được xác nhận bởi một con người mới thoạt nhìn xem ra như bị nuốt chửng trong miệng sự dữ. Đó là Rosanna Benzi (1948-1991), một phụ nữ Ý bị giam mình ngay từ tuổi trẻ trong buồng phổi thép (hay “lá phổi sắt”). Được phát minh từ những năm 1920, "lá phổi sắt" là máy thở áp lực hỗ trợ các bệnh nhân bại liệt không thể tự hô hấp do virus làm tê liệt khối cơ ở ngực. Với chiều dài hơn 2m và cân nặng khoảng 320kg, nó hoạt động như một thiết bị thông gió, làm giãn nở và mở rộng các lá phổi. Khi đóng máy, bệnh nhân chỉ để lộ đầu ra ngoài. Từ nơi đó Rosanna Benzi đã làm báo, viết sách an ủi nhiều người và đã nói lên câu này : “Tôi bằng lòng, tôi hãnh diện vì đã không để mình bị đánh bại. Tôi chẳng có gì tiếc nuối. Tôi lập lại rằng tôi hạnh phúc vì đã sống 20 năm nay và sẵn sàng sống những năm tháng còn lại cách bình thản theo thánh ý Thiên Chúa. Bình thản và vui tươi !” Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII từng viết thư cảm ơn, khen ngợi và ban phép lành cho cô.
Mục tiêu ơn gọi Ki-tô hữu, thật thế, không tối tăm hay bất định nhưng nằm trong câu cuối cùng được Mục tử Giê-su thốt lên : “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời.” Trong ngôn ngữ Gio-an, “sự sống đời đời” không ám chỉ một khoảng thời gian vô tận, một sự bất tử của linh hồn như lời dạy của các triết gia Hy-lạp, nhưng trái lại là chính sự sống thần linh, sự sống của Đấng Đời Đời, là mối hiệp thông cuộc sống, bình an, hữu thể với chính Thiên Chúa. Lắng nghe Thiên Chúa nơi Đức Giê-su chắc chắn là dấn thân trên những con đường khó khăn nhưng dẫn đến sự sống : “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; chúng theo tôi và tôi ban cho chúng sự sống đời đời.”
Việc mô tả cách biểu tượng kinh nghiệm này được thấy trong bài đọc 2 hôm nay (Kh 7,9.14-17), bài đọc làm sáng lên trong trí chúng ta một bức tranh hoành tráng. Trong bức tranh đó, đoàn lũ đông đảo các môn đệ thuộc mọi miền, mọi thời và mọi nền văn hóa của hành tinh chúng ta không còn đói khát, không còn bị tổn thương bởi các biến động của thiên nhiên và lịch sử, không còn nếm biết vị đắng của nước mắt, không còn phải uống thuốc độc của thần chết, vì Thiên Chúa đã ban cho mọi tín hữu của Người “nguồn nước trường sinh.”
Đó là lúc hiệp thông trọn hảo với Thiên Chúa, bỏ lại sau mình thời gian trong đó đã họ đã phải đắm mình trong máu của thử thách, của đau khổ và của gian truân vì tham dự vào cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô. Giờ đây họ khoác lên y phục sáng chói như của thiên thần trong ngày Chúa sống lại (x. Lc 24,4). Từ đây họ ở trong niềm vui và trên họ căng ra chiếc lều đầy sao của bầu trời, hình ảnh Đền thờ thiên quốc hoàn hảo trong đó Thiên Chúa sẽ hiện diện, hiện diện không như một phản ảnh cần chiêm ngắm trong một tấm gương, nhưng tỏ tường, diện đối diện (x. 1 Cr 13,12). mục lục
Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.