SUY NIỆM CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN_C
Lời Chúa: Đnl.30,10-14; Cl.1,15-20; Lc 10,25-37
ĐỨC ÁI ĐÍCH THỨC – + ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên
THỰC THI LÒNG THƯƠNG XÓT – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
LỀ LUẬT và LÒNG THƯƠNG XÓT – Phêrô Phạm Văn Trung
THẾ GIỚI ĐANG RẤT CẦN TÌNH ANH EM – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ TÌNH YÊU THA NHÂN – Lm. Fx. Nguyễn Văn Tuyết
LỜI MỜI GỌI ĐỘNG LÒNG TRẮC ẨN – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
SỐNG LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG NĂM THÁNH HY VỌNG – Lm. Vinhsơn Nguyễn Minh Huấn
THẾ NÀO LÀ BÁC ÁI KITÔ GIÁO? – Lm. Phêrô Phan Văn Lợi.
Khi nói đến lời của một ai, chúng ta nói đến chính con người đó. Khi tôn trọng và quý mến một người, chúng ta cũng tôn trọng và quý mến lời dạy cùng gương sáng của người ấy. Một nhân vật càng uy tín bao nhiêu thì lời nói của người ấy càng được lắng nghe và đón nhận bấy nhiêu. Cũng vậy, khi nói đến Lời Chúa hoặc Luật Chúa, chúng ta nói đến chính Thiên Chúa, Đấng quyền năng và yêu thương mỗi người cũng như tất cả chúng ta.
Hai chữ “lề luật” dễ gợi lên trong chúng ta sự liên tưởng tới những ràng buộc, hạn chế và gây phiền toái cho con người. Tuy nhiên, những điều được quy định trong dân luật cũng như trong Giáo Luật đều nhằm ổn định trật tự cuộc sống, bảo vệ công ích và giúp thăng tiến con người. Một công dân tuân giữ luật pháp sẽ góp phần làm cho quốc gia phồn thịnh. Một tín hữu tuân giữ luật Giáo Hội sẽ góp phần làm cho đức tin thăng tiến nơi bản thân và cộng đoàn.
Lề Luật của Chúa không giống như những bộ luật dân sự, vốn chỉ nhằm quy định những gì bên ngoài con người và duy trì trật tự xã hội. Ông Môsê nói với dân: “Lời Chúa ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (x. Đnl 30,14). Theo giáo huấn của ông Môsê, Lời Chúa và Lề Luật phải thấm nhập vào chính con người của những ai tin Chúa, đồng thời trở thành động lực cho mọi hoạt động và gợi ý cho tư tưởng. Trong tinh thần này, người Do Thái đạo đức thường khởi đầu ngày mới bằng kinh “Shema Israel”: “Nghe đây, hỡi Israel! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết dạ, hết sức ngươi” (Đnl 6,4-5). Lời kinh này giúp người tín hữu luôn ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời và cố gắng sống đẹp lòng Ngài.
Nếu dân tộc Do Thái trong Cựu Ước sống theo Luật Môsê, tức luật bằng văn tự, thì Đức Giêsu Kitô chính là hiện thân của Lề Luật, là sự sống động của Lề Luật, và là con đường để con người đến gần Thiên Chúa thông qua việc yêu thương và vâng phục. Điều này không có nghĩa là Đức Giêsu đến để hủy bỏ Luật cũ, như chính Người đã khẳng định: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng để kiện toàn” (Mt 5,17).
Qua dụ ngôn Người Samaria nhân hậu, Đức Giêsu khẳng định tính mới mẻ trong giáo huấn của Người. Những người đi qua nạn nhân trước tiên là một thầy tư tế, rồi đến một thầy Lêvi. Cả hai đều là những người Do Thái đạo đức và uyên thâm, nhưng họ đã làm ngơ trước người bị nạn. Trong khi đó, người Samaria, một người ngoại thuộc dân tộc bị người Do Thái coi là kẻ thù truyền kiếp qua nhiều thế hệ, lại chẳng học hành uyên thâm và không mang chức vụ danh nghĩa nào. Ấy vậy mà ông đã cứu giúp người gặp nạn. Mối quan tâm của thầy tư tế và thầy Lêvi là giữ sự thanh sạch và tuân thủ tỉ mỉ Luật Môsê. Mối quan tâm của người Samaria là con người trong cơn hoạn nạn, bất kể đó là ai. Trong dụ ngôn, Đức Giêsu khéo léo dùng những hình ảnh tương phản giữa các nhân vật: người thông luật thì thiếu bác ái; người chẳng hiểu gì về luật lại có lòng trắc ẩn. Qua câu chuyện này, Đức Giêsu muốn nêu bật ý nghĩa mới mẻ của đức yêu thương mà Người giảng dạy, đó là đức bác ái đích thực. Bởi lẽ con người chỉ thực sự hạnh phúc khi làm cho người khác hạnh phúc. Sự chu đáo của người Samaria, hứa sẽ trả Zika trả tiền thêm khi quay về, làm nổi bật lòng nhân hậu của ông. Dụ ngôn này là lời mời gọi những người Do Thái có mặt hãy nhìn đức ái với một khía cạnh khác.
Người thông luật đặt câu hỏi với Đức Giêsu để thử Người. Những gì ông chờ đợi chỉ là những nguyên tắc ghi sẵn trong sách vở hoặc những điều các luật sĩ rao giảng hằng ngày. Việc ông trả lời làu làu những nguyên tắc này cho thấy ông muốn tỏ ra mình là người thông thạo và khôn ngoan. Đức Giêsu không bằng lòng với những khuôn sáo lý thuyết, mà mời gọi con người thực hành đức yêu thương. C roi trả lời cuối cùng của Người, “Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy” (x. Lc 10,37), vừa gợi mở một bài học sâu sắc, vừa giúp chúng ta nhìn lại cách ứng xử của mình. Tác giả Luca không cho biết người thông luật phản ứng thế nào sau câu nói này. Có lẽ Luca muốn mỗi chúng ta tự nhận ra mình trong nhân vật người thông luật ấy.
Đức Giêsu không chỉ là người dạy về Lề Luật mà còn là tấm gương để mọi người noi theo. Bằng cách sống theo lời dạy của Người, người tín hữu có thể thể hiện tình yêu thương và sự vâng phục đối với Thiên Chúa, từ đó sống một cuộc đời ý nghĩa và đẹp lòng Ngài. Những gì thánh Phaolô viết trong bài thánh thi ca ngợi đã nêu rõ vai trò của Đức Giêsu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Người là đích điểm của cuộc đời chúng ta. Nhờ máu Người, chúng ta được thanh tẩy mọi tội lỗi. Nhờ sự chết và phục sinh của Người, chúng ta được trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương với tình yêu khôn tả dành cho Con Một yêu dấu của Ngài (x. Cl 1,15-20).
Lề Luật của Đức Giêsu tóm gọn trong hai chữ “yêu thương”. Thánh Phaolô khẳng định: “Yêu thương thì không làm hại người đồng loại; như vậy, yêu thương là sự chu toàn Lề Luật” (Rm 13,10). Thánh Gioan tông đồ nói: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương bằng lời nói và miệng lưỡi, nhưng bằng hành động và sự thật” (1 Ga 3,18). Người Samaria đã làm như thế.
Xin Chúa đánh động con tim chúng ta, để biết trắc ẩn và yêu thương những anh chị em thiệt thòi, nghèo khó. mục lục
+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên
Hãy đi và thực thi lòng thương xót. Thực thi lòng thương xót giống như người Samari trong dụ ngôn của Chúa Nhật hôm nay có dễ không? Tôi nói thật, sống trong một xã hội mà hở ra một chút là bị xúi, động một tí là bị đưa ra tòa thì việc thực thi lòng thương xót giống như người Samari không phải là chuyện đơn giản. Nếu không muốn nói là khó khăn.
1/ Những Rào Cản Trong Việc Thực Thi Lòng Thương Xót
- Thấy một người già cả, và ngay cả người trẻ đi nữa, bị té ngã bên đường, bạn có dám chạy đến nâng người ấy đứng dậy không? Tôi thì chắc là không dám rồi. Lỡ mình đỡ không đúng kiểu, nâng không đúng cách, nạn nhân bị gãy xương hay bị té thêm một lần nữa thì coi chừng tai họa sẽ đổ xuống trên đầu ngay.
- Bạn làm công cho một nhà hàng, hay ngay cả khi bạn là chủ nhà hàng ấy đi chăng nữa, khi thức ăn bán không hết, còn dư thừa, bạn có dám đưa cho những người vô gia cư, cho những người đang đói khát ở ngoài đường ăn không? Bố bảo cũng không dám. Lỡ họ ăn rồi sau đó bị ngộ độc, bị đau bụng thì chết ngay.
- Thấy một người đứng bên vệ đường đưa tay ra xin đi quá giang, bạn dám ngừng xe cho người ấy lên xe không? Tôi thì chắc không dám đâu. Lỡ gặp phải ăn cướp thì sao? Lúc đó là tiêu đời.
2/ Vẫn Có Thể Thực Thi Lòng Thương Xót
Bạn có thấy khó không? Khó lắm đấy chứ. Nhưng khó không có nghĩa là chúng ta không thể thực thi lòng thương xót được. Bạn và tôi vẫn còn có nhiều cách để có thể thực hành lời giáo huấn của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay.
Nói một cách khác, với ơn Chúa nâng đỡ, cộng với sự khôn ngoan của Ngài ban cho, bạn và tôi vẫn có thể thực thi giới răn yêu thương tha nhân được, chứ không phải là không. Dĩ nhiên, chúng ta không thể thực thi lòng thương xót theo cái kiểu của người Samari thời xa xưa. Nhưng chúng ta có thể thực thi lòng thương xót đối với tha nhân, bắt đầu từ những người trong gia đình mình.
Hành Động Trong Gia Đình
Ví dụ, những ngày cuối tuần, những dịp lễ, bạn đưa con cái tới thăm viếng cha mẹ đôi bên, giúp các ngài dọn dẹp nhà cửa, cắt cỏ, giặt giũ, nấu nướng, hay đến thăm những người đau yếu, bệnh tật, hoặc đang sống cô đơn hiu quạnh trên giường bệnh trong các nhà dưỡng lão.
Hỗ Trợ Các Tổ Chức Thiện Nguyện
Khi nhận được thư của các cơ quan thiện nguyện như Caritas, Catholic Charities, Catholic Relief Services, hoặc ngay trong giáo xứ có những cuộc lạc quyên giúp cho những người vô gia cư, cho các nước nghèo bên châu Phi, bên Nam Mỹ, hoặc cho nạn nhân của chiến tranh, bạo lực, bạn vui vẻ và mau mắn cộng tác, gửi quần áo, thực phẩm, phiếu quà tặng, tiền bạc, ngân phiếu để giúp đỡ cho họ.
Hành Động Nhỏ Trong Cuộc Sống Hằng Ngày
Khi đi chợ Sway, Fred Meyer, hoặc Walmart, trong những dịp Thanksgiving hay Christmas, bạn và tôi mua thêm một túi đồ ăn, để sẵn khoảng 10 đến 15$, dành để tặng cho những người đang đói khổ, những người vô gia cư. Trong những dịp mùa Chay, Lễ Giáng Sinh, Năm Mới, chúng ta quảng đại đóng góp tài chính giúp cho quỹ bác ái, cho các em thiếu nhi Thánh Thể... để họ chuẩn bị thức ăn tặng cho người nghèo.
3/ Vượt Qua Bản Tính Tự Nhiên
Bạn thân mến, thực thi lòng thương xót đối với tha nhân là một việc không dễ. Bởi vì theo bản tính tự nhiên, con người chúng ta thường hay sợ, hay lo ngại, và nhất là hay so đo tính toán đủ mọi thứ. Thế nhưng, nếu chúng ta cố gắng và với niềm tin vào sự trợ giúp của Chúa, tôi tin chắc bạn và tôi sẽ thoát ra khỏi cái vỏ của ích kỷ, của sợ hãi, và sẽ có thể thực thi lòng thương xót đối với tha nhân.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau. Xin Chúa ban cho bạn và tôi một trái tim nhân ái, một tấm lòng quảng đại và biết thương xót tha nhân. Nhờ đó, chúng ta mới có thể thực thi được lời giáo huấn của Chúa Giêsu: “Hãy đi và cũng làm như vậy” (Lc 10,37).
Chúa Giêsu đã hứa: “Phúc cho ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương” (Mt 5,7). Nếu chúng ta thực thi lòng thương xót đối với những anh chị em túng cực, nghèo khổ, những người đang trong cơn hoạn nạn, đang gặp bất hạnh, buồn phiền, thì chắc chắn bạn và tôi, khi gặp gian nan khốn khó, khi lâm cảnh túng cực, sẽ được người ta xót thương.
4/ Hành Động Với Lòng Thương Xót
Nhất là ở đời sau, khi ra trước tòa Chúa phán xét, chúng ta sẽ được Thiên Chúa rủ lòng thương xót. Thực thi lòng thương xót không chỉ là một lời mời gọi, mà còn là con đường dẫn chúng ta đến với ơn cứu độ. Chúc bạn một tuần lễ an bình, mạnh khỏe và tràn đầy ơn Chúa. mục lục
Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
Các trang Kinh Thánh hôm nay giúp chúng ta khám phá hai chủ đề chính: sự vâng phục Thiên Chúa qua việc thực hành các mệnh lệnh của Ngài và lòng thương xót được thể hiện qua tình yêu thương dành cho người lân cận.
I. Vâng Phục Thiên Chúa Dẫn Đến Hạnh Phúc
Thiên Chúa hứa ban phúc lành cho những ai vâng phục Ngài: “Chúa, Thiên Chúa của anh em, sẽ cho anh em thành công trong mọi công việc tay anh em làm, cho anh em sinh nhiều con cái, gia súc anh em sinh sôi nảy nở, đất đai anh em sinh nhiều hoa trái, để anh em được hạnh phúc… miễn là anh em nghe tiếng Chúa, Thiên Chúa của anh em, mà giữ những mệnh lệnh và thánh chỉ Ngài, ghi trong sách Luật này, miễn là anh em trở về với Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ” (Đnl 30: 9-10).
Những lời này cho thấy rằng sự vâng phục không chỉ là một nghĩa vụ, mà là một lời mời gọi để sống trong mối tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Các mệnh lệnh của Ngài không phải là gánh nặng hay điều gì xa vời: “Lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30:14). Lời Chúa không ở trên trời hay bên kia biển, mà ở trong lòng chúng ta, để chúng ta sẵn sàng đem ra thực thi trong đời sống.
Thánh Augustinô đã nhấn mạnh rằng sự vâng phục Thiên Chúa là con đường dẫn đến tự do thực sự: “Lòng con thao thức cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa” (Tự thú, I, 1). Thánh nhân giải thích rằng con người chỉ tìm thấy niềm vui và sự viên mãn khi sống theo ý muốn của Thiên Chúa, bởi vì ý muốn ấy được khắc ghi trong tâm hồn mỗi người. Sự vâng phục không phải là sự áp đặt, mà là sự trở về với cội nguồn của chính mình.
Đức Phanxicô, trong thông điệp Laudato Si’ (Vatican, 2015), nhấn mạnh rằng việc vâng phục Thiên Chúa không chỉ là tuân giữ các điều răn, mà còn là sống một đời sống hài hòa với Thiên Chúa, với tha nhân, và với thụ tạo. Ngài viết: “Sự vâng phục Thiên Chúa dẫn chúng ta đến việc chăm sóc ngôi nhà chung và yêu thương những người xung quanh, bởi vì tất cả đều được liên kết trong kế hoạch của Thiên Chúa” (Laudato Si’, số 66). Điều này nhắc nhở chúng ta rằng sự vâng phục không chỉ là một hành động cá nhân, mà còn là một cam kết với cộng đồng và môi trường.
Một gia đình người Ba Lan mới được phong chân phước. Józef và Wiktoria Ulma cùng bảy đứa con của họ đã bị Đức Quốc xã giết hại vào năm 1944 vì che chở cho tám người Do Thái.
Sau quyết định tàn bạo của Hitler thực hiện “giải pháp cuối cùng”, gia đình Ulma, dù biết rõ rủi ro đối với bản thân nhưng bất chấp tình hình tài chính khó khăn, và được thúc đẩy bởi lệnh truyền của tình yêu và tấm gương của Người Samaritanô tốt lành, đã che giấu một gia đình Do Thái trong một năm rưỡi trước khi họ bị tố giác với mật vụ Gestapo. Sau khi giết những người Do Thái mà họ tìm thấy, các mật vụ của chế độ Đức Quốc xã hành quyết cả gia đình Ulma vì đã che chở những người Do Thái đó như một lời cảnh cáo cho những người khác. Bảy đứa con của hai vợ chồng Józef và Wiktoria Ulma cũng chia sẻ đức tin và cái chết của cha mẹ chúng, kể cả đứa bé còn trong bụng mẹ Wiktoria cũng đã nhận được phép rửa tội bằng máu (https://www.vaticannews.va/en/pope/news/2022-12)
II. Đức Kitô, Nguồn Viên Mãn và Hòa Giải
Thánh Phaolô tôn vinh Chúa Kitô là trung tâm của mọi thụ tạo và là nguồn mạch của sự hòa giải: “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo… Nhờ máu Ngài đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1:15, 20).
Chúa Kitô không chỉ là Đấng Tạo Hóa mà còn là Đấng Cứu Chuộc, mang lại sự hòa giải giữa Thiên Chúa và nhân loại, giữa con người với nhau, và giữa con người với các thụ tạo khác. Sự viên mãn của Thiên Chúa hiện diện trong Ngài, và qua Ngài, chúng ta được mời gọi tham dự vào kế hoạch cứu độ.
Thánh Irênê thành Lyon khẳng định rằng Chúa Kitô là “sự tóm lược” của toàn thể vũ trụ (Chống lạc giáo, III, 16, 6). Ngài giải thích rằng mọi sự được tạo dựng trong Chúa Kitô và hướng về Ngài, và qua thập giá, Chúa Kitô đã tái lập sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại. Sự vâng phục của Chuá Kitô đối với ý muốn của Chúa Cha trở thành mẫu mực cho chúng ta.
Đức Bênêđictô XVI nhấn mạnh rằng Chúa Kitô là nguồn hy vọng của chúng ta: “Nhờ Chúa Kitô, chúng ta biết rằng chúng ta không bước đi trong bóng tối, mà được hướng dẫn bởi ánh sáng của sự sống đời đời” (Spe Salvi, số 4, 2007). ĐGH mời gọi các Kitô hữu sống trong sự kết hiệp với Chúa Kitô, để qua đó, họ có thể mang lại bình an và hy vọng cho thế giới.
Micae Hồ Đình Hy (1808–1857) là một vị quan tam phẩm trong triều đình nhà Nguyễn, thời vua Tự đức, nhưng dù ở trong cảnh quyền lực và danh vọng, ngài không chạy theo “bóng tối” của thế gian. Ngài được biết đến không chỉ là một vị quan thanh liêm, mà còn sống trong ánh sáng của đức tin, trở thành chứng nhân rạng ngời cho Chúa Kitô giữa thời kỳ bách hại Công giáo.
Khi nhà vua cấm đạo, ngài không hề giấu giếm đức tin: “Tâu bệ hạ, đã ba mươi năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Chúa Kitô”. Vào năm 1857, ngài đã chấp nhận bị xử trảm vì đức tin Công giáo của mình. Trong khổ hình, ngài đã nói với lính canh: “Thà linh hồn tôi được sống lại đời đời bên Chúa, còn hơn sống trên đời trong bóng tối tội lỗi.” Đây chính là lời minh chứng cho việc nhờ Chúa Kitô, ngài bước đi trong ánh sáng khác hẳn đời sống thế tục. Quan thái bộc Micae Hồ Ðình Hy được nâng lên bậc Chân phước ngày 02-5-1909 và được tuyên Hiển Thánh ngày 19-6-1988 (hdgmvietnam.com/chi-tiet/thanh-micae-ho-dinh-hy-tu-dao-ngay-22-thang-5-nam-1857-48926).
III. Yêu thương người thân cận là thể hiện lòng thương xót của Thiên Chúa
Dụ ngôn người Samaritanô tốt lành trong là một lời dạy mạnh mẽ về lòng thương xót và tình yêu dành cho người thân cận. Khi được hỏi: “Ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10:29), Chúa Giêsu kể câu chuyện về người Samaritanô, người đã dừng lại, chăm sóc, và giúp đỡ một người bị cướp đánh nhừ tử, trong khi thầy tư tế và thầy Lêvi đã bỏ qua. Chúa Giêsu kết luận: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10:37).
Dụ ngôn này không chỉ định nghĩa “người thân cận” vốn là bất cứ ai cần sự giúp đỡ, mà còn kêu gọi chúng ta hành động với lòng thương xót, vượt qua mọi rào cản về tôn giáo, văn hóa, hay định kiến.
Thánh Gioan Kim Khẩu, trong bài giảng về lòng thương xót, nhấn mạnh: “Nếu bạn không thấy Chúa trong người nghèo khổ, bạn sẽ không tìm thấy Ngài ở bất cứ đâu khác” (Bài giảng về Tin Mừng theo Thánh Mátthêu, 50, 3). Ngài dạy rằng lòng thương xót là dấu chỉ của một Kitô hữu đích thực, bởi vì nó phản ánh tình yêu của Thiên Chúa.
Đức Phanxicô, trong Tông sắc Misericordiae Vultus - Dung mạo Lòng thương xót (2015), tuyên bố rằng lòng thương xót là “là trái tim sống động của Tin Mừng” (số 12). Ngài kêu gọi các Kitô hữu sống lòng thương xót qua những hành động cụ thể: “Cơ man nào là những vết thương mang trên thân xác của những người không có tiếng nói bởi vì tiếng kêu của họ bị bóp nghẹt và bị át đi bởi sự thờ ơ của kẻ giàu có!..Chúng ta được được mời gọi để chữa lành những vết thương này, xoa dịu chúng với dầu an ủi, băng bó chúng với lòng thương xót và chữa lành chúng với tình liên đới và sự chăm sóc chu đáo…Chúng ta hãy mở to mắt và nhìn thấy sự đau khổ của thế giới, và những vết thương của những anh chị em chúng ta đang bị từ chối phẩm giá, và chú ý đến tiếng kêu muốn được giúp đỡ của họ!” (Misericordiae Vultus, số 15).
Lời Chúa hôm nay đều nhấn mạnh một chân lý cốt lõi: vâng phục Thiên Chúa và thương xót người khác là hai mặt của cùng một đời sống Kitô hữu. Sự vâng phục dẫn chúng ta đến việc sống theo Lời Chúa, và lòng thương xót là cách chúng ta thể hiện tình yêu ấy trong cuộc sống hằng ngày. Như Chúa Giêsu đã dạy: “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình” (Lc 10:27). Hai điều răn này không thể tách rời:
Sống Lời Chúa mỗi ngày: Hãy dành thời gian đọc và suy niệm Kinh Thánh, để Lời Chúa thấm sâu vào lòng.
Thực thi lòng thương xót: Hãy bắt đầu bằng những hành động nhỏ, như một nụ cười, một lời an ủi, hay một hành động cụ thể có thể thay đổi cuộc sống của người khác.
Gắn bó với cộng đoàn: Tham gia vào các hoạt động của giáo xứ hoặc các tổ chức từ thiện để chia sẻ tình yêu của Thiên Chúa với cộng đoàn.
Lòng thương xót, được thể hiện qua dụ ngôn người Samaritanô tốt lành, là cách chúng ta sống Lời Chúa và phản chiếu tình yêu của Chúa Kitô, Đấng đã hòa giải muôn vật qua thập giá của Ngài, như lời Đức Giáo Hoàng Phanxicô: “chúng ta tìm thấy cốt lõi của Tin Mừng và đức tin của chúng ta, vì lòng thương xót được trình bày như là một lực vượt qua tất cả mọi thứ, làm đầy trái tim với tình yêu và mang lại ủi an qua sự tha thứ…thiếu vắng chứng tá cho lòng thương xót, cuộc sống trở thành vô ích và vô sinh, như thể bị cô lập trong một sa mạc cằn cỗi” (Misericordiae Vultus, số 9 và 10). Chúng ta được mời gọi “đi và làm như vậy” (Lc 10:37), mang tình yêu và bình an của Thiên Chúa đến với thế giới. mục lục
Phêrô Phạm Văn Trung
THẾ GIỚI ĐANG RẤT CẦN TÌNH ANH EM
Trong bối cảnh thế giới hiện nay đầy những chia rẽ, hận thù, tên lửa tiếp tục bay, bom chưa ngừng rơi, khủng hoảng môi sinh và nhất là tình anh em, sự thờ ơ gia tăng trước nỗi đau của đồng loại. Dụ ngôn người Samaria nhân hậu trong Tin Mừng Lu-ca (10,25–37) vang lên như một tiếng chuông thức tỉnh xã hội cũng như Giáo hội. Lời Đức cố Giáo hoàng Phan-xi-cô trong Thông điệp Fratelli Tutti khẳng định: “Tất cả là anh em“, mời gọi chúng ta gẫm suy về vai trò của mỗi chính mình trong việc kiến tạo tình anh em trong thế giới hôm nay.
Người Samaria nhân hậu, hình ảnh sống động của tình liên đới
Chúa Giê-su kể cho người thông luật dụ ngôn (x. Lc 10, 25-37). Vị tư tế và thầy Lê-vi, cả hai đều liên quan đến việc phụng tự nơi đền thờ, gặp một người từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô bị hại. Từ Giê-ru-sa-lem tức là đồng hương, nhưng họ không cần biết; không giúp đỡ, bỏ qua. Trong khi đó, người Samaria, bị coi là ô uế và bị khinh miệt, trông thấy người bị hại, ông “động lòng thương” (Lc 10, 33), ông không bỏ qua như hai người kia, ông đến gần người ấy, “băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc” (Lc 10, 34). Chúa Giê-su kể: “Ông động lòng thương“, nghĩa là tâm can ông cảm động. Khác với hai người kia “trông thấy”, nhưng con tim của họ đóng kín, lạnh lùng. Trái lại, con tim của người Samaria rung động. “Động lòng thương” là đặc tính cốt lõi của lòng thương xót Chúa. Trái tim người Samaria đồng điệu với trái tim Thiên Chúa.
Đức Thánh Cha Phan-xi-cô viết : “Chúa Giê-su chọn một nhân vật bị coi thường để minh họa cho tình yêu thương không ranh giới. Người Samari dừng lại, cúi xuống, và chăm sóc. Đó là tình huynh đệ biết hành động.” (Fratelli Tutti, số 63–75). Chúa Giê-su không hỏi: “Ai là anh em của tôi? “. Chúa đảo ngược vấn đề: “Tôi là anh em của ai?”
Người Samaria ấy không hỏi nạn nhân là ai, thuộc dân nào, đạo nào, ông chỉ thấy một con người gặp nạn đang cần giúp đỡ. Ông đúng là hình ảnh sống động của tình anh em mà Chúa muốn gửi đến chúng ta hôm nay.
Người hành hương hy vọng, chứng nhân của tình anh em
Chúng ta đã sống nửa chặng đường của Năm Thánh 2025 mang chủ đề: “Những Người Hành Hương Hy Vọng“, không chỉ để nói về niềm vui mai sau trong hy vọng, nhưng thắp sáng hy vọng trong hiện tại. Trên bước đường hành hương thiêng liêng ấy, qua Dụ Ngôn người Samaria, Chúa Giê-su muốn chúng ta là những “người Samaria” cho thời đại mà nền văn hóa dửng dưng và thờ ơ gia tăng: Dám dừng lại, dám chăm sóc, rồi hãy lên đường.
Người hành hương hy vọng là người không dửng dưng trước nỗi đau của tha nhân, không bị che mắt bởi định kiến, chủ nghĩa cá nhân, hay ích kỷ, không bó tay trước bất công, nhưng góp phần chữa lành các vết thương xã hội. Trên hết là người sống tình anh em và gieo mầm hy vọng Tứ Hải Giai Huynh Đệ. Sống yêu thương, đùm bọc người với người, đề cao tình tương thân tương ái, trọng nghĩa anh em. Dù ở đâu, làm gì cũng gắn bó, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Có thế, mới tạo nên một thế giời hòa bình và hạnh phúc được.
Tình anh em là con đường dẫn đến hòa bình
Hòa bình không đến từ những thỏa thuận chính trị hay lợi ích kinh tế, mà từ trái tim được hoán cải, biết đón nhận nhau như anh em. “Chỉ bằng cách sống tình anh em, thế giới mới có thể chữa lành. ” (Fratelli Tutti, số 228).
Lúc sinh thời, Đức cố Giáo hoàng Phan-xi-cô thấy “Thế giới đang rơi vào một loại ‘chiến tranh từng mảnh’. Chúng ta dựng lên những bức tường, thay vì xây cầu.” (Fratelli Tutti, số 27). Ngài tha thiết kêu gọi các nhà lãnh đạo các quốc gia: “Hãy xây dựng xã hội dựa trên tình huynh đệ, trong đó con người có thể gặp gỡ nhau như anh chị em, không phải như kẻ thù hay người xa lạ.” (Fratelli Tutti, số 128). Không có tình anh em, hòa bình chỉ là ảo tưởng.
Thế giới đang bị tổn thương vì chiến tranh, chia rẽ, ích kỷ và vô cảm, dụ ngôn người Samaria là một tiếng kêu mời gọi Giáo hội và từng người chúng ta trở thành khí cụ của tình anh em và hòa giải. “Chúng ta yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước.” (1 Ga 4,19). Và, “Anh em hết thảy đều là anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Đấng ngự trên trời.” (Mt 23,8-9). Công đồng Vatican II đã khẳng định: “Mọi người đều được mời gọi như nhau để nên thánh và hoàn thiện trong đức ái, bởi vì họ được thông phần cùng một bản tính Thiên Chúa” (Lumen Gentium, số 40).
Đức cố Giáo hoàng Phan-xi-cô muốn Giáo hội trở thành “Nhà thương dã chiến“, nơi mọi người, nhất là những ai bị tổn thương, được chăm sóc và yêu thương. Ngài viết: “Tôi mơ một Giáo hội là mẹ của tất cả, một ngôi nhà mở ra với mọi người, không loại trừ ai.” (Fratelli Tutti, số 276).
Xin Chúa biến chúng ta thành những chứng nhân của tình anh em không biên giới. Amen. mục lục
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ TÌNH YÊU THA NHÂN
Câu Chuyện Bi Kịch tại Montreal
Vào năm 2001, một câu chuyện có thật đã xảy ra tại Montreal, Canada, kể về một cô bé 16 tuổi. Đêm trước đó, cô bị bắt cóc, bị đánh đập và bị hãm hiếp, sau đó bị bỏ lại nằm bất động bên lề đường tại một khu phố đông người, trên người chỉ mặc một chiếc áo mỏng. Sáng hôm sau là ngày làm việc, nên có rất nhiều người qua lại và nhìn thấy cô bé bất hạnh, nhưng không ai đến giúp. Họ nghĩ rằng cô là một người nghiện ngập hoặc một gái mại dâm bị bỏ lại bên đường sau một đêm ăn chơi trác táng. Nhiều nhân viên làm việc tại các văn phòng gần đó nhìn thấy cô, đã xin phép chủ của họ để gọi cảnh sát, nhưng những người chủ này không cho phép vì không muốn nhân viên lãng phí thời gian trong giờ làm việc. Cô bé vẫn nằm bất động ngoài trời giữa cái lạnh của Canada. Cuối cùng, một phụ nữ làm việc tại một văn phòng gần đó, bất chấp lệnh cấm, đã gọi điện cho cảnh sát. Người ta đưa cô bé vào bệnh viện, nhưng cô đã qua đời. Sau sự kiện này, báo chí Canada xôn xao bàn tán về lương tâm con người trong xã hội hiện đại và đặt câu hỏi: Nếu là tôi, tôi sẽ làm gì trong buổi sáng hôm đó? Hay tôi sẽ làm gì để sự việc như vậy không tái diễn?
Ai Là Người Láng Giềng?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm người láng giềng và tình yêu dành cho người láng giềng là gì. Qua Tin Mừng, chúng ta thấy một người thông luật đưa ra hai câu hỏi để thử Chúa. Câu hỏi thứ nhất là: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?” (Lc 10,25). Chúa Giêsu đáp lại bằng một câu hỏi: “Trong Lề Luật đã viết thế nào? Ông đọc thấy gì trong đó?” (Lc 10,26). Là một người am hiểu Lề Luật, ông trả lời rất đúng: “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn, và yêu mến người láng giềng như chính mình” (Lc 10,27). Nhưng ông tiếp tục hỏi: “Ai là người láng giềng của tôi?” (Lc 10,29).
Dụ Ngôn Người Samaritanô
Để trả lời, Chúa Giêsu kể một dụ ngôn với bốn hình ảnh khác nhau. Hình ảnh thứ nhất là thầy tư tế, đại diện cho những người có niềm tin tôn giáo sâu sắc; thứ hai là thầy trợ tế, đại diện cho những người am hiểu Lề Luật. Thứ ba là một người Samaritanô, chúng ta không biết ông thuộc tôn giáo nào. Thứ tư là nạn nhân bị thương nằm bên lề đường. Chúng ta cũng không biết nạn nhân là ai, người Do Thái hay Samaritanô. Nhưng dù nạn nhân là ai, đó không phải là vấn đề. Điều Tin Mừng muốn nhấn mạnh là khi đứng trước một người cần giúp đỡ, thái độ của chúng ta sẽ ra sao? Chúa Giêsu hỏi: “Theo ông nghĩ, ai trong ba người đó là người láng giềng của người bị rơi vào tay bọn cướp?” (Lc 10,36).
Thầy tư tế và thầy trợ tế đi ngang qua nhưng không đụng đến nạn nhân, vì sợ rằng nếu chạm vào, theo Lề Luật, họ sẽ không được phép phục vụ trong đền thờ. Nhãn quan thờ phượng của họ không xuất phát từ tình yêu tha nhân mà từ bổn phận tôn giáo. Họ chỉ dựa vào văn bản Lề Luật, nhưng không dựa vào luật Chúa khắc ghi trong tâm hồn, nên đã bỏ mặc nạn nhân nằm bên lề đường. Ngược lại, người Samaritanô mở rộng tâm hồn, nhận ra người láng giềng và đưa nạn nhân đi chữa trị.
Người Samaritanô không dựa vào văn bản Lề Luật mà dựa vào luật tình yêu được ghi khắc trong tâm hồn để hành động. Dù là người Samaritanô, ông hiểu Lề Luật rõ ràng hơn thầy tư tế và thầy trợ tế. Ông làm những gì một người yêu mến Chúa phải làm: chăm sóc người đang cần được chăm sóc. Lòng thương xót của ông xuất phát từ tâm hồn. Lòng thương xót này không phải là sự thương hại, mà là tình cảm sâu xa của tình anh em, giúp chúng ta bước vào nỗi đau của người khác và chia sẻ với họ. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II diễn tả lòng thương xót này như sau: “Tình yêu không phải là để thỏa mãn chính mình qua việc sử dụng người khác, mà là trao chính mình cho người khác, vì lợi ích của họ và đón nhận họ như quà tặng từ Thiên Chúa.” Theo nghĩa này, người láng giềng không chỉ là người được giúp đỡ, mà còn là người thể hiện lòng thương xót với một người hoàn toàn xa lạ đang cần giúp đỡ.
Từ Luật Cũ đến Luật Mới
Chúa Giêsu dùng dụ ngôn này để hướng từ luật cũ đến luật mới của Tin Mừng. Thầy tư tế và thầy trợ tế, vì lý do tôn giáo, cho rằng trung thành với Lề Luật là điều nên làm. Nhưng luật mới của Tin Mừng dạy rằng mở rộng tâm hồn với người đang cần giúp đỡ quan trọng hơn là chỉ tuân thủ những điều cấm đoán của Lề Luật. Điều tối quan trọng không phải là biết người láng giềng đó là ai hay họ có xứng đáng được giúp đỡ hay không, mà là nhận ra ai là người láng giềng để giúp đỡ. Chúng ta không cần những lề luật viết trên giấy trắng mực đen buộc chúng ta phải giúp một nạn nhân nằm bên lề đường. Trong tâm hồn, chúng ta biết điều gì cần làm và điều gì cần tránh, bởi vì giới răn đã được đặt “nơi miệng và trong lòng để chúng ta thực thi” (Đnl 30,14), như chúng ta nghe trong bài đọc thứ nhất. Tình yêu đích thực đòi hỏi chúng ta nhạy bén nhận ra những nhu cầu tế nhị của người khác và sẵn lòng giúp đỡ theo cách mà chúng ta có thể.
Lời Mời Gọi của Tin Mừng
Trên hành trình cuộc sống, có rất nhiều người mang thương tích đang nằm rải rác khắp nơi. Nếu cảnh giác và nhạy bén, chúng ta có thể nhận ra họ trong những người cô đơn, những người đói khát tình thương, thiếu sự chăm sóc, bị nghiền nát bởi thất vọng và thất bại, hoặc bị thương tích bởi tội lỗi. Chúa mời gọi chúng ta cư xử với nhau bằng tình người, không để những tham vọng cá nhân hay suy nghĩ của người khác ngăn cản chúng ta làm điều thiện. Ơn gọi Kitô hữu không đặt chúng ta trên cao hay tách biệt khỏi người khác, mà giúp chúng ta nhận ra rằng con đường của Chúa là con đường liên kết mọi người, không phân biệt nguồn gốc. Nếu tất cả chúng ta sống theo cách nhìn này, thế giới sẽ không còn ai là người xa lạ.
Kết Luận
Yêu mến Chúa và yêu thương tha nhân là hai mặt của cùng một đồng tiền. Yêu mến Chúa phải được thể hiện qua tình yêu dành cho tha nhân. Chúng ta đến với người khác vì qua họ, chúng ta đến gần hơn với Chúa. Dụ ngôn người Samaritanô nhắc nhở chúng ta rằng lòng thương xót và tình yêu tha nhân là trọng tâm của đời sống Kitô hữu, thúc đẩy chúng ta hành động vì lợi ích của người khác, bất kể họ là ai. mục lục
Lm. Fx. Nguyễn Văn Tuyết
Câu hỏi của người thông luật: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” mở đầu bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay.
“Sự sống đời đời” là một thực tại mà hầu hết mỗi tín hữu đều hướng tới. “Tôi phải làm gì?” nhắc nhở về bổn phận và trách nhiệm mà chúng ta cần thực hiện ngay bây giờ. Nếu không có niềm tin vào sự sống đời đời, quả thực chúng ta sẽ sống buông thả và thiếu trách nhiệm với Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế, dù sự sống đời đời thuộc về Thiên Chúa và chúng ta chưa nắm bắt trọn vẹn, ngay bây giờ, chúng ta cần thực hiện các việc làm để thể hiện lòng mến Chúa và yêu người, để được sống.
Giả như người thông luật không tranh luận thêm và cố gắng thực thi những điều luật mà ông đã được dạy bảo, thì chúng ta không còn gì để tìm hiểu thêm. Nhưng ngay từ đầu bài tường thuật, người thông luật đã không có lòng thành để tìm kiếm; ông đặt câu hỏi nhằm thử Đức Giêsu. Vì thế, ông tiếp tục muốn bắt bí Người bằng một vấn nạn khác: “Ai là người thân cận của tôi?”
Có người cho rằng người thân cận là những người cùng huyết thống trong gia tộc: ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, cháu chắt, v.v. Đúng vậy, nếu không yêu thương và sống tử tế với người nhà, làm sao chúng ta có thể yêu thương người khác? Tuy nhiên, trong thân phận người tín hữu, chúng ta được mời gọi sống vượt lên trên tiêu chuẩn ấy. Câu trả lời cho câu hỏi “Ai là người thân cận của tôi?” đã được Đức Giêsu diễn tả sống động qua dụ ngôn “Người Samaria nhân hậu” mà chúng ta vừa nghe trong phần Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay.
Câu chuyện xảy ra trên con đường từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, một đoạn đường đầy nguy hiểm, thường xuyên xảy ra các vụ cướp của và giết người. Có một người vô danh, không rõ gốc tích, gia thế hay địa vị, đi ngang qua đó và rơi vào tay bọn cướp. Chúng cướp hết tiền bạc, đánh ông trọng thương, để ông nằm thoi thóp bên vệ đường, trong tình trạng cần được cứu cấp khẩn cấp.
Cùng thời điểm đó, một thầy tư tế đi trên con đường ấy. Thấy cảnh tượng người bị nạn, thầy quay mặt làm ngơ, đi sang lối bên kia để tiếp tục hành trình. Tiếp theo, một thầy kinh sư, người thông thạo và giảng dạy đạo lý cho dân chúng, cũng đi qua, nhìn thấy nạn nhân nhưng cũng ngoảnh mặt, rẽ sang lối khác mà đi. Bản văn không nêu lý do tại sao họ hành động như vậy. Có thể họ vội vã, sợ bị ô uế khi chạm vào nạn nhân, hoặc có những lý do khác. Dù vậy, thái độ của họ khó có thể chấp nhận được và có thể coi là biểu hiện của sự vô cảm.
Tình cờ, một người Samaria, thuộc dân tộc bị người Do Thái coi là kẻ thù vì đã từ bỏ truyền thống cha ông, tiếp nhận các thói tục ngoại giáo và bị xem là ô uế, cũng đi trên con đường ấy. Khi thấy nạn nhân nửa sống nửa chết nằm bên vệ đường, ông cảm thấy như có lưỡi dao đâm vào tim. Ông dừng lại, bỏ qua mọi kế hoạch cá nhân, tiến đến gần, dùng mọi khả năng và dụng cụ cứu thương sẵn có để cứu giúp. Chưa dừng lại, ông đưa nạn nhân đến quán trọ, nhờ chủ quán chăm sóc cẩn thận và hứa sẽ bồi hoàn mọi chi phí khi trở lại.
Thưa anh chị em,
Sau đó, thay vì tiếp tục tranh luận, Đức Giêsu hỏi người thông luật: “Vậy theo ông, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” Đức Giêsu bảo: “Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy” (x. Lc 10,30-37, theo bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ).
Người thông luật trả lời rất chí lý. Kẻ thực thi lòng thương xót, thực hiện việc bác ái, chính là người thân cận của người đang trong cơn hoạn nạn. Nhưng vấn đề không chỉ nằm ở lý lẽ. Lời xác định của Đức Giêsu mời gọi chúng ta suy nghĩ: “Hãy đi và làm như vậy.” Đức Giêsu nhấn mạnh rằng hiểu biết giáo lý thôi chưa đủ, điều quan trọng là đem ra thực hành. Việc xác định “ai là người thân cận” không quan trọng về mặt lý thuyết, mà chính thái độ và cách sống của chúng ta mới là tiêu chuẩn xác định liệu chúng ta có thực sự là người thân cận của người khác hay không.
Người thân cận là người có lòng thương xót, biết động lòng trước nhu cầu của tha nhân. Nếu hành trang cuộc sống của chúng ta thiếu tình yêu, lòng thương xót, sự thông cảm và tha thứ, chúng ta vẫn còn xa lạ với chính mình và chưa thể là người thân cận của bất kỳ ai.
Quay lại dụ ngôn, người thân cận không phải là nạn nhân nằm bên vệ đường, đang cần được chăm sóc, mà là người Samaria biết “động lòng” trước cảnh khốn cùng của kẻ bị cuộc đời cướp đi gần như tất cả. Không chỉ người Samaria, mà cả chúng ta cũng vậy. Nếu ai cũng có tấm lòng như thế, thì dù người khác coi chúng ta là kẻ thù, với chúng ta, không ai là kẻ thù. Tất cả đều là người thân cận của nhau. Mọi người chúng ta gặp trên hành trình cuộc sống đều là đối tượng để chúng ta ban phát lòng thương xót.
Vì vậy, hãy ra đi và “động lòng thương”, bởi tất cả chúng ta, không phân biệt giới tính, chủng tộc, địa vị, màu da hay tín ngưỡng, đều là hình ảnh và thành viên của gia đình có người Cha chung là Thiên Chúa. Tất cả đều xứng đáng nhận được sự kính trọng và yêu thương. Giữa chúng ta không nên có định kiến hay thù hận, chỉ có sự thông cảm và yêu thương.
Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta vẫn chưa thực hiện trọn vẹn những yêu cầu của Chúa. Vì thế, chúng ta cần ơn Chúa. Với Người và trong Người, chúng ta có thể tiến lại gần các nạn nhân với niềm kính trọng, như người Samaria đã làm.
Dụ ngôn Người Samaria nhân hậu là lời mời gọi chúng ta sống với lòng thương xót, vượt qua mọi rào cản để trở thành người thân cận của tha nhân. Hãy ra đi và làm như Chúa dạy, để qua đó, chúng ta đạt được sự sống đời đời làm gia nghiệp. mục lục
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
SỐNG LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG NĂM THÁNH HY VỌNG
Câu Chuyện Về Lòng Thương Xót
Vào một buổi tối mùa đông lạnh giá, người ta phát hiện một cụ già ngồi gục trước cửa trung tâm thương mại. Nơi đó có rất đông người đi vào trung tâm thương mại để mua sắm, và cụ ông co ro trong chiếc áo rách vai. Bên cạnh đó là tấm biển viết vội vã như thế này: “Tôi đói và lạnh, xin một chút hơi ấm tình người.” Một cái bảng nhỏ đặt bên cạnh cụ.
Rồi hàng trăm, hàng trăm người đi qua, có người nhìn thấy nhưng rồi quay mặt làm ngơ. Có người ái ngại nhưng vẫn bước tiếp vì sợ phiền. Chỉ có một cậu bé đi cùng mẹ dừng lại trước cụ già co ro trước trung tâm thương mại đó. Cậu bé lặng lẽ tháo chiếc khăn len đang quấn trên cổ, quấn lên cổ ông, rồi lấy hộp cơm mà mẹ vừa mới mua đặt vào tay ông cụ. Thế rồi hai mẹ con bước đi.
Ngày hôm sau, người ta biết rằng ông cụ đã qua đời vì lạnh. Thế nhưng, trên môi cụ vẫn nở một nụ cười và trong tay vẫn nắm chặt chiếc khăn len mà cậu bé tối hôm qua quấn lên cổ cụ.
Bài Học Từ Câu Chuyện
Vâng, câu chuyện ấy tuy giản dị nhưng lại nhắc nhở chúng ta về một sự thật hết sức chua xót: con người ngày hôm nay đang sống trong một thế giới rất đông nhưng lại rất cô đơn. Người ta nghĩ rằng đông là không cô đơn, thưa anh chị em? Một thế giới rất đông nhưng lại rất cô đơn giữa bao người qua lại. Tiếng kêu cứu của một người nghèo lạnh có thể bị bỏ qua, một ánh mắt cầu cứu có thể bị lãng quên. Một nỗi đau, một sự bất hạnh có thể nằm giữa phố xá ồn ào mà không ai buồn cúi xuống để nâng đỡ.
Dụ Ngôn Người Samaria Nhân Hậu
Nói như thế để chúng ta đi vào bài Tin Mừng hôm nay. Chúa đã nói cách đây hơn 2000 năm rồi, và Ngài cũng kể một câu chuyện tương tự như thế giới ngày hôm nay mà chúng ta đang sống.
Thưa anh chị em, đó là một người bị nạn nằm bên vệ đường. Có người đến rất gần, đó là các vị tư tế và Lê-vi, những người đại diện cho tôn giáo và có lòng đạo đức. Thế nhưng, anh chị em thấy họ chỉ nhìn thấy rồi tránh qua bên kia mà đi. Họ có thể bận bịu việc của đền thờ, hoặc sợ bị ô uế, hoặc đang vội vàng đi đâu đó. Điều đáng buồn là họ bước qua một con người đang cần sự giúp đỡ của họ một cách hết sức vô tâm, thưa anh chị em.
Trái lại, chúng ta thấy một người Samaria, một người không đội trời chung với người Do Thái. Thế nhưng, người Samaria này dừng lại. Ông không chỉ nhìn mà còn động lòng thương, tiến lại gần, băng bó vết thương và đưa người bị nạn về quán trọ, rồi tiếp tục lo liệu cho người ấy. Chỉ trong một đoạn ngắn như vậy, thưa anh chị em, Tin Mừng cho chúng ta thấy một loạt những hành động cụ thể của tình yêu mà người Samaria này đã thể hiện nơi người bị cướp trên đường.
Tình yêu thương không chỉ là cảm xúc, mà phải là hành động cụ thể. Nói yêu mà vô ích, thưa anh chị em, nhưng phải thể hiện cụ thể từ lời nói tới hành động của mình.
Ý Nghĩa Trong Năm Thánh Hy Vọng
Thưa anh chị em, chúng ta đang sống trong Năm Thánh 2025, được gọi là Năm Thánh của Hy Vọng, những người lữ hành trên con đường hy vọng. Nhưng hy vọng không chỉ là chờ đợi một điều gì tốt đẹp đến với mình. Hy vọng đích thực phải khởi đi từ việc chúng ta biết dừng lại, biết lắng nghe, biết chia sẻ và kiến tạo điều tốt đẹp cho người khác, chứ không phải chỉ chờ đợi. Chúng ta phải là người đi bước trước để đem lại niềm hy vọng cho người khác, thì chúng ta sẽ đón nhận lại niềm hy vọng cho chính bản thân mình.
Hy vọng không mọc lên từ những con tim khép kín, thưa anh chị em, mà đến từ những con tim biết mở ra. Không đến từ những bàn tay chỉ giữ chặt cho bản thân, mà đến từ những bàn tay sẵn sàng mở ra để trao đi cho người khác.
Thưa anh chị em, thật vậy, có biết bao người ngày hôm nay đang sống hạnh phúc, nhưng họ không biết rằng hạnh phúc đó là kết quả của những hy sinh âm thầm từ bao nhiêu con người. Hạnh phúc bây giờ là sự hy sinh của cha mẹ vất vả ngày đêm, sự hy sinh của những người thân nhường nhịn, và biết bao con người đã đổ mồ hôi nơi công trường, đồng ruộng để làm ra của cải phục vụ tha nhân, mà ngày hôm nay chúng ta được hưởng. Chúng ta đang hưởng hạnh phúc đó, nhưng lại không biết chia sẻ cho người khác. Vì thế, chúng ta thấy rằng có không ít người chỉ biết nhận mà không biết cho đi.
Những con người đó tưởng rằng thành công là do sức mình. Họ sống khép kín, ích kỷ và vô tâm. Anh chị em thấy đó, nghĩ rằng mình thành công, mình hạnh phúc như vậy là đủ. Nhưng thưa anh chị em, nếu không có cha mẹ, không có những người vất vả vì mình, thì làm sao mình có được như ngày hôm nay?
Ai Là Người Thân Cận?
Thưa anh chị em, Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay không hỏi vị tư tế và thầy Lê-vi rằng: “Tại sao các ngươi không dừng lại?” Ngài không hỏi điều đó. Nhưng Ngài đặt một câu hỏi: “Vậy, ai trong ba người ấy đã tỏ ra là người thân cận của người bị cướp?” Và Ngài kết thúc bài Tin Mừng bằng một lời nhắn nhủ: “Hãy đi và làm như vậy, thì anh sẽ được sự sống đời đời.”
Người Samaria: Biểu Tượng Của Lòng Trắc Ẩn
Vâng, thưa anh chị em, người Samaria nhân hậu đã trở thành biểu tượng của một con tim biết cảm thông, một đôi tay biết đụng chạm, một đôi chân biết dừng lại và bước tới những mảnh đời đang đau khổ như người bị nạn đó. Ông không sống đức tin bằng lý thuyết, mà bằng hành động cụ thể của lòng trắc ẩn. Chính điều đó đã biến ông từ một người xa lạ thành người thân cận thực sự với người bị nạn.
Áp Dụng Vào Đời Sống Trong Gia Đình
Vâng, thưa anh chị em, nếu hôm nay Chúa kể lại dụ ngôn ấy cho mỗi người chúng ta, thì Ngài có thể hỏi như thế này: “Trong gia đình, con có bước qua nỗi buồn của vợ, chồng, con cái một cách vô tâm hay không?” Nói tới đây, tôi nghĩ tới đôi bạn trẻ hôm nay phải không? Chúa hỏi: “Trong gia đình, con có bước qua nỗi buồn của vợ, chồng, con cái một cách vô tâm hay không?” Đây là chìa khóa để xây dựng hạnh phúc gia đình. Nếu vợ chồng không cảm thông với nhau, thì thua rồi.
Quan Tâm Lẫn Nhau
Anh chị em phải biết quan tâm tới nhau, vui với người vui, buồn với người buồn, chia sẻ những gánh nặng của vợ, của chồng với nhau, thì mới xây dựng được hạnh phúc gia đình. Anh chị em phải biết quan tâm tới nhau. Vợ quan tâm tới chồng, chồng quan tâm tới vợ, mới xây dựng được hạnh phúc gia đình.
Tôi thấy rất nhiều người vợ vất vả nấu cơm cho chồng, con ăn, mà khi chồng về tới nhà, không một lời hỏi han, khen ngợi vợ mình. Chỉ lấy cơm ra ăn, mà không ngon lắm thì lại chê bai, vô cảm. Từ những điều nhỏ nhặt như vậy, nó sẽ gây ra sự lạnh nhạt dần dần, rồi gia đình không trước thì sau cũng sẽ vỡ mà thôi.
Trong Cộng Đoàn và Xã Hội
Nói tới những niềm vui, đau khổ của người bạn đời, của chồng, của vợ, thưa anh chị em. Đây là điều mà tôi muốn nhắc nhở anh chị em: Nếu hôm nay Chúa kể lại dụ ngôn ấy, Ngài sẽ hỏi: “Ông bà có bước qua những nỗi đau khổ của vợ, của chồng một cách vô cảm hay không?” Đây là điều mà chúng ta cầu nguyện cho nhau, cũng như cầu nguyện cho đôi bạn trẻ, phải biết yêu thương, quan tâm, nâng đỡ nhau trong niềm vui cũng như nỗi buồn, để vượt qua những thử thách trong đời sống hôn nhân.
Điều tiếp theo, nếu trong cộng đoàn, Chúa hỏi: “Con có thờ ơ trước những người nghèo, những người đau khổ, những người bị đẩy ra bên lề xã hội hay không?” Trong xã hội, Chúa hỏi chúng ta: “Con có sống mà tránh né những người lạ, những người khổ, những người rách rưới hay không?”
Sống Đạo Bằng Hành Động
Thưa anh chị em, Năm Thánh Hy Vọng mời gọi mỗi người chúng ta không chỉ cầu nguyện, không chỉ đến nhà thờ để lãnh các bí tích, không chỉ có thế, thưa anh chị em, mà còn nhắc nhở chúng ta hãy trở thành những con người đi theo con đường hy vọng bằng lòng yêu thương cụ thể, bằng sự dừng lại bên nỗi đau của anh chị em mình.
Xin cho chúng ta luôn nhớ rằng sống đạo không chỉ là giữ luật cho đúng, mà là để con tim mình luôn mở ra. Thưa anh chị em, đạo không dừng lại ở bàn thờ, nhưng bắt đầu từ bên vệ đường. Hy vọng không ở đâu xa, thưa anh chị em, mà khởi đi từ những hành động yêu thương bé nhỏ hằng ngày.
Chúng ta nguyện xin Chúa, Đấng đã cúi xuống để phục vụ nhân loại đau khổ, dạy chúng ta biết dừng lại, biết cúi xuống, biết yêu thương như Ngài đã yêu thương chúng ta. Xin Chúa chúc lành và ban ơn cho tất cả anh chị em. Amen. mục lục
Trong bài Tin Mừng hôm nay, khi trả lời câu hỏi của một tay thông luật: “Ai là người thân cận của tôi?” Đức Ki-tô đã kể dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân lành. Đọc thì thấy đơn giản, câu chuyện này thực ra có một tầm mức rất quan trọng để hiểu về cuộc sống Ki-tô giáo. Quả vậy, trong đó ta thấy các thành tố cốt tủy của đức bác ái đã được thu ngắn một cách chính xác, gãy gọn và cụ thể.
Vì tình yêu chính là Sự Sống của Thiên Chúa được thông ban nhưng không, nên sống bác ái là bắt chước Người: “Anh em hãy noi gương Thiên Chúa”, thánh Phao-lô từng dạy (Ep 5,1). Đức Ki-tô đã yêu ta bằng chính tình yêu mà Ba Ngôi đời đời yêu nhau. Nhờ ơn Người, ta được thật sự tham dự, dẫu cách bất toàn, vào Tình yêu hoàn toàn là chính Hữu thể Thiên Chúa. Thế mà dụ ngôn người Sa-ma-ri cho ta thấy khi diễn ra trong hành vi con người, tình yêu hoàn toàn ấy sẽ ra sao. Nó phải có 4 đặc tính: phổ quát, tự do, hiệu lực và rộng rãi.
Phổ Quát
Kẻ mà lữ khách Sa-ma-ri gặp bị thương trên đường đi Giê-ri-khô là một kẻ xa lạ. Y đã không là gì đối với ông ta hết: không phải họ hàng, đồng hương, cũng chẳng phải là bạn hữu. Nhưng y là một người và như vậy đủ để ông ta yêu thương. Trước đây ông đã không là thân cận của y chút nào cả, ngoại trừ chuyện ông cũng là một con người; nhưng bây giờ vì ông đến gần y nên đã biến mình nên thân cận của y.
Thiên Chúa chẳng tư vị người nào. Hữu thể mà bản tính là Tình Yêu không bị giới hạn trong tình yêu. Giới hạn là do ta từ chối hay cưỡng lại mà có. Và chắc chắn không phải vô cớ mà khi trả lời tay thông luật, Đức Giê-su đã chẳng bảo ông phải bắt chước một thầy Lê-vi hay một thầy tư tế nhưng bắt chước một con người thuộc một chủng tộc mà dân Thiên Chúa vẫn gớm ghét và khinh bỉ. Thiên Chúa đã yêu người Sa-ma-ri ấy đến độ đã cho ông ta biết yêu theo kiểu của Người, đang khi con cái Ít-ra-en, vì đã chẳng đón nhận một tình yêu cũng được hiến ban như thế, nên đã không yêu mà “tránh qua một bên” rồi “bỏ đi thẳng.”
Thành thử muốn yêu như Thiên Chúa, thì không phải chỉ cần yêu người thân cận với ta theo bản tính. Tình yêu nào chỉ là bản năng hoặc tình cảm thì chưa phải là đức bác ái thần linh: “Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?” (Mt 5,47).
Dĩ nhiên tình yêu đối với một kẻ xa lạ thường xuất phát từ ý chí và dễ với con tim lạnh lùng. Nhưng Tin Mừng lại nói rõ: khi nhìn thấy kẻ nằm sóng soải nửa sống nửa chết trên đường, người Sa-ma-ri đã “chạnh lòng thương” (nguyên tự: xôn xao gan ruột), mặc dầu kẻ này từng không là gì đối với ông ta. Giữa con người vẫn luôn có một sợi dây liên lạc chặt chẽ, một cái gì sâu xa hơn việc thuộc về cùng một chủng tộc hay một gia đình, dấu chỉ cho thấy có một cái gì tuyệt đối làm nền tảng cho sự công bình và khiến người ta phải thương nhau với lòng kính trọng nội tại. Ngày nay Ki-tô hữu biết mọi người đều là hình ảnh Thiên Chúa và Đức Ki-tô đã chết để, nhờ trở nên con cùng một Cha, chúng ta thật sự là anh em với nhau. Điểm cốt yếu đó của Tin Mừng, người Sa-ma-ri đã không biết, như hàng triệu người quanh ta ngày nay còn chưa biết. Nhưng ông ta đã cảm thấy, như hàng triệu người quanh ta đang cảm thấy, rằng khát vọng của loài người về sự hợp nhất huynh đệ của thế giới bắt rễ trong một thực tại mầu nhiệm sâu xa nằm bên kia những cái thuộc về nhân loại.
Dĩ nhiên đức ái chẳng loại trừ trật tự, và phải thi hành bác ái trước tiên đối với người thân cận hơn cả. Có điều là việc sẵn sàng yêu thương những kẻ tự nhiên không liên hệ gì với ta chứng tỏ tình yêu đặc biệt chính đáng của ta đối với thân nhân hay bạn hữu, dầu là bản năng, cũng đã được đức ái thấm nhuần rồi. Tình yêu nào chỉ muốn giới hạn trong nhóm đóng kín của gia đình, giai cấp, quốc gia, chủng tộc, tình yêu đó rất có thể chỉ là bản năng hay tình cảm tự nhiên; nhưng tình cảm nào muốn sẵn sàng yêu thương mọi người, kể cả những kẻ xa lạ, thì chứng tỏ nó không phải là bản năng thuần túy, nhưng là bác ái thật sự (bác=rộng rãi, ái=yêu thương).
Tự Do
Người Do-thái bị thương của dụ ngôn không phải chỉ là một kẻ xa lạ đối với người Sa-ma-ri; y còn thuộc một dòng giống thù địch nữa. “Người Do-thái”, thánh Gio-an nói, “không giao thiệp với người Sa-ma-ri” (Ga 4,9). Nhưng chính trong tình yêu kẻ thù mà sự tự do của tình yêu mới tươi nở. Một tình yêu còn lấy việc được yêu lại làm điều kiện thì chưa tự do. Theo bản chất, tình yêu phải vô điều kiện. Tình yêu thù địch bắt chước tình yêu của Thiên Chúa. Khi phạm tội, chúng ta đã trở nên thù địch với Người; nhưng Người đã yêu thương chúng ta “đến nỗi đã ban Con Một, để chúng ta có sự sống đời đời” (Ga 3,16).
Điều đó không muốn nói: sự trao đổi là một cản trở đối với tính hoàn hảo của tình yêu. Ba Ngôi yêu thương nhau hoàn hảo trong một sự trao đổi hoàn hảo. Vì vô cùng đáng yêu, cả Ba Ngôi vừa yêu thương một cách vô cùng vừa được yêu thương một cách vô cùng. Thành thử chẳng lạ chi khi nơi bình diện sự bất toàn của loài người, tình yêu cũng vừa là trao ban cho kẻ khác, vừa là mời gọi, ao ước kẻ khác đáp trả và yêu thương lại. Cộng đoàn tình yêu bao gồm thân mật và đối thoại chỉ có thể phát sinh từ sự gặp gỡ của hai luồng tình yêu, hai đà dâng hiến, hai cuộc tâm sự: vì nó chính là sự trao đổi. Và kết quả đẹp nhất của tình yêu chắc chắn là đánh thức được tình yêu nơi người mình yêu, thúc giục được kẻ đó trao ban bằng như đã đón nhận. Đối với nhiều kẻ từng sống như đã chết, niềm vui được yêu cho họ cảm tưởng được sinh ra lại.
Nhưng tình yêu phải tỏ ra mạnh hơn oán thù. Chính khi thắng được oán thù và bản năng báo thù mà nó biểu lộ được đặc tính của nó là tự do. Và bấy giờ tính cách nhưng không của nó được thấy rõ. Ai chưa bao giờ tha thứ, không thể biết mình đã bao giờ yêu chưa. Và làm sao biết được mình đã tha thứ, khi chưa thực thi bác ái tích cực đối với kẻ thù? Tha thứ tự bản tính là phủ nhận mình, là chết cho mình, thành thử là tham dự vào tình yêu của Đức Ki-tô, Đấng đã chết để chúng ta được tha thứ. Thật ý nghĩa khi một trong những lời cuối cùng của Người là để giúp cho các kẻ thù: “Lạy Cha, xin tha cho họ...”.
Hữu Hiệu
Người Sa-ma-ri không bằng lòng thí cho nạn nhân Do-thái một cái nhìn âu yếm và đôi câu nói tốt lành; ông ta đã hành động. Đức bác ái của ông được diễn ra bằng nhiều cử chỉ cụ thể; nó thể hiện trong sự giúp đỡ hiệu lực.
Yêu mà không giúp không phải là yêu. Tất cả cuộc đời Đức Ki-tô chỉ là phục vụ. Đi vào thế giới các thân xác, Người đã tuân theo định luật của thế giới này là liên lạc giữa các ngôi vị thiêng liêng phải đi qua trung gian của thân xác. Người đã thương xót các thân xác và đã truyền cho ta phải làm như vậy một cách rất khẩn khoản. Vẫn biết các bệnh tật Người chữa lành tượng trưng tội lỗi mà Người muốn cứu ta thoát khỏi, và tượng trưng sự yếu đuối mà sức mạnh của Người chiến thắng trong ta. Nhưng chúng vẫn không kém là các chuyện của cơ thể mà Người lưu tâm thật sự. Những kẻ đã hưởng phép lạ của Người đều cảm thấy được thật sự yêu thương, yêu thương riêng, mỗi người theo nhu cầu và nỗi khổ. Các phép lạ trong Tin Mừng không phải là một thứ kỹ thuật giúp ích cho hiệu lực tinh thần. Chúng là dấu chỉ chứ không là phương tiện. Lòng bác ái đối với thể xác cũng có mục đích riêng của nó, và nếu quả thực nó là một khí cụ tông đồ mạnh mẽ, ta vẫn không được quan niệm nó như thế và phải để cho nó giữ được tính cách trong sạch vô vị lợi mà tất cả những gì cao thượng đều mang.
Rộng Rãi
Tin Mừng nhấn mạnh là người Sa-ma-ri đã chẳng tính toán phí tổn: ông đã bỏ tiền và bỏ giờ một cách rất quảng đại. Thánh Tô-ma Tiến sĩ bảo: con người bủn xỉn thì tính toán: ưu tư số một của y là phải ít tốn hết sức. Vì y tìm cách chi phí ít hết sức nên y chỉ dám làm những việc rất nhỏ; và ngay cả trong những việc nhỏ mọn này, y vẫn còn tính toán vì sợ chi nhiều quá. Đối lập với con người bủn xỉn, thánh Tô-ma đưa ra con người “rộng rãi”. Đang khi kẻ kia chỉ dán mắt vào mình để khỏi phải quá chi tiêu hay quá phí sức, thì kẻ này lại đưa mắt nhìn vào sự lớn lao của công việc phải làm, và bằng lòng tiêu pha để công việc được thành tựu. Kẻ bủn xỉn bảo: Trên hết, phải liệu ít tốn kém nhất. Người rộng rãi nói: Trên hết, phải liệu làm được việc lớn hơn cả. Kẻ bủn xỉn bảo: việc muốn ra sao thì ra; người rộng rãi nói: phí tổn bao nhiêu cũng được.
Người Sa-ma-ri đã rộng rãi như Thiên Chúa. Thánh Kinh vẫn hằng ca tụng lòng rộng rãi của Đức Gia-vê, việc Người ban ơn dư dật, sự quảng đại vô biên biểu lộ qua các công việc Người làm. Thánh nhân, kẻ được Thiên Chúa dạy cho biết ban phát không tính toán, cũng y như vậy.
Cuối cùng, đức bác ái đưa con người thi hành bác ái đến chỗ chết. Cũng như tính cách phổ quát của tình yêu đạt được cao điểm trong việc yêu thương kẻ thù, thì tính cách rộng rãi của tình yêu cũng kết thúc trong sự chết: “Không ai có tình yêu cao cả hơn người hy sinh mạng sống vì kẻ mình yêu” (Ga 15,12).
Chính vì vậy mà Thánh Thể, sự hiện diện tích cực của Thân thể Đức Ki-tô và là việc tưởng nhớ cái chết cho tất cả của Người, là dấu chỉ hữu hiệu của việc mọi người phải phục vụ nhau cách cụ thể cho đến chết thể xác, để cộng đoàn phổ quát của các ngôi vị được thiết lập trong tình yêu rộng rãi.
Kết
Trong số mọi hiền nhân lớn của nhân loại, trong số mọi tư tưởng gia lớn từng tung ra một đại phong trào trong lịch sử, Đức Giê-su là nhân vật hiếm hoi đã minh nhiên đề ra cho loài người một tình yêu không biên giới, như ta nói hôm nay... bằng cách nhìn ai nấy, dẫu đương sự thế nào, như thân cận mình, như anh em mình, con cùng một Thiên Phụ.
Đặc điểm của Tin Mừng không hẳn là tình yêu đơn giản. Điều này, mọi nền luân lý đều nói cả (nhân ái của Khổng giáo, từ bi của Phật giáo...). Đặc điểm của Tin Mừng chính là tình yêu tuyệt đối, tình yêu phổ quát, tình yêu không chút loại trừ và là tình yêu hiến mạng.
Một lần nữa, hãy nhấn mạnh tầm quan trọng của sứ điệp Đức Giê-su đối với sự sống còn cùa nhân loại. Hoặc người ta sẽ tiếp tục dấn sâu vào óc bè phái đủ loại, và thành thử vào trong bạo lực chẳng ngừng... hoặc qua việc tha thứ, thương yêu kẻ thù, loài người sẽ đạt đến một thời đại hòa bình đích thực. mục lục
Lm. Phêrô Phan Văn Lợi.
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.