SUY NIỆM CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN_A

18-01-2026 239 lượt xem

Lời Chúa: Is 49,3.5-6;  1 Cr 1,1-3;  Ga 1,29-34

Mục Lục

ÁNH SÁNG MUÔN DÂN – + ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên

CHIÊN VÀ ÁNH SÁNG, ƠN GỌI CỦA CHÚNG TA – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

NHẬN RA ĐẤNG CỨU ĐỘ GIỮA DÒNG ĐỜI TỘI LỖI – Phêrô Phạm Văn Trung

GIOAN TẨY GIẢ – NHÂN CHỨNG SỐNG CỦA CHÚA KITÔ – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

DÂN THÁNH CỦA THIÊN CHÚA – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

GIỮA DÒNG SÔNG THIÊN CHÚA ĐỨNG VỀ PHÍA CON NGƯỜI – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

ÁNH SÁNG MUÔN DÂN

“Ánh Sáng muôn dân” là tựa đề của Hiến Chế tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium). Đây là một trong những văn kiện quan trọng nhất của Công đồng Va-ti-ca-nô II, vì qua Hiến Chế này, Giáo hội Công giáo khẳng định bản chất và sứ mạng của mình trong xã hội hiện tại. Tiếp nối sứ mạng Thiên sai của Đức Ki-tô, Giáo Hội “tha thiết mong muốn soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Người, đang chiếu tỏa trên khuôn mặt của Giáo Hội, để Tin Mừng được loan báo cho mọi loài thụ tạo” (số 1).

Bài đọc I được gọi là Bài ca thứ hai về Người Tôi Tớ, trong số bốn bài ca của ngôn sứ I-sai-a. Vị ngôn sứ được ơn “thần hứng” để nói nhân danh những người miền Giu-đê-a (sau này được gọi là người Do Thái) đang sống cảnh lưu đày tại Ba-bi-lon. Đó là tâm tình tạ ơn Chúa là Đấng đã thương chọn gọi dân tộc làm dân riêng. Nhóm dân nhỏ còn sót lại sau lưu đày sẽ được Thiên Chúa trao cho sứ mạng đem ánh sáng của Người đến cho muôn dân nước. Vào lúc cuộc lưu đày kết thúc, đoàn dân nhỏ bé ấy sẽ lên đường hồi hương và trở thành những nhà truyền giáo. Họ sẽ là những chứng nhân về quyền năng Thiên Chúa, Đấng luôn gìn giữ Dân Người trong cảnh lưu đày và đưa họ về quê cha đất tổ sau những năm tháng lưu đày tủi nhục.

Qua lăng kính Ki-tô giáo, chúng ta nhận ra lời tiên báo trên đây hướng về Đấng Thiên sai, là Đức Ki-tô. Người là Ánh Sáng cho muôn dân. Đức Giê-su đã khẳng định: “Tôi là Ánh Sáng thế gian. Ai theo Tôi sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12). Hôm nay, ánh sáng của Chúa Ki-tô đang phản chiếu nơi Giáo Hội, và Giáo Hội có bổn phận làm cho ánh sáng thần thiêng ấy chiếu soi mọi dân nước, hầu dẫn đưa con người ra khỏi tối tăm, được ánh sáng ấy chiếu soi, và đến lượt mình sẽ trở nên ánh sáng trong cuộc sống hằng ngày.

Nếu Giáo Hội là ánh sáng muôn dân, hiểu theo nghĩa phản chiếu ánh sáng huy hoàng từ Đức Ki-tô, thì mỗi Ki-tô hữu cũng có bổn phận chiếu sáng thế gian. Trong thư gửi giáo dân Cô-rin-tô (Bài đọc II), thánh Phao-lô đã suy tư theo chiều hướng này. Ông ý thức việc mình được gọi làm tông đồ của Đức Ki-tô là do bởi ý Thiên Chúa. Làm tông đồ, tức là người mang ánh sáng đức tin cho người khác, giúp họ nhận ra Đức Ki-tô là ánh sáng chân thật. Thánh nhân cũng gọi các tín hữu Cô-rin-tô là “những người được hiến thánh trong Đức Ki-tô Giê-su, được kêu gọi làm dân thánh”. Quả vậy, phép Thánh tẩy làm cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Đức Giê-su, và như thế, mỗi tín hữu phải trở nên ánh sáng, khơi nguồn từ chính Đức Ki-tô là Ánh Sáng tinh tuyền trọn vẹn.

Nội dung bài Tin Mừng là lời chứng của ông Gio-an Tẩy Giả. Đây là lời chứng mẫu mực cho tất cả các Ki-tô hữu. Ông Gio-an Tẩy Giả đã gặp Chúa Giê-su, đã biết Chúa Giê-su và đã xác tín Người là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian. Ông làm chứng về những điều này một cách chắc chắn. Lời chứng của ông, rất mạnh mẽ và cương quyết, nhưng lại được thể hiện với lòng khiêm tốn. Ông nhận mình chỉ là người loan báo, chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, và Đấng đến sau ông lại có trước ông và trổi vượt hơn ông về mọi phương diện.

Để có thể làm chứng về Đức Giê-su, chúng ta phải biết Người, phải gặp Người và phải cảm nhận sự thánh thiện của Người. Làm sao mỗi tín hữu chúng ta có thể đoan chắc với con người thời nay như ông Gio-an: “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người (Đức Giê-su) là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”? Đó là sứ mạng mà Phụng vụ hôm nay đặt ra cho chúng ta là tín hữu. Giữa một cuộc sống còn nhiều chia rẽ, dối trá và bạo lực, chúng ta có khuynh hướng bình phẩm chê trách, nhưng chúng ta thường không làm gì để giảm thiểu chia rẽ, dối trá và bạo lực ngay trong môi trường cụ thể chúng ta đang sống. Chúng ta thường quên rằng mình cũng là ánh sáng thế gian. Đó không chỉ là một danh dự, mà còn là một bổn phận, để góp phần soi sáng những góc khuất của cuộc đời. Chúa Giê-su nói với chúng ta: “Chính ánh em là ánh sáng cho trần gian… Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (x. Mt 5,14-16). Thánh Gio-an tông đồ khẳng định: “Nếu chúng ta đi trong ánh sáng, cũng như Thiên Chúa hằng ngự trong ánh sáng, thì chúng ta được hiệp thông với nhau, và máu Đức Giê-su, Con của Người, thanh tẩy chúng ta sạch hết mọi tội lỗi” (1 Ga1,7). Người tin Chúa vừa được mời gọi trở nên ánh sáng giữa đời, đồng thời phải làm chứng nhân cho Ánh Sáng là Đức Ki-tô.

Đức Giê-su là Ánh Sáng muôn dân. Giáo Hội của Chúa, và mỗi Ki-tô hữu đều đón nhận ánh sáng từ Đức Giê-su để cộng tác phần mình làm cho ánh sáng ấy lan tỏa trong cuộc đời.

Đường người công chính tựa ánh bình minh

Rực rỡ thêm cho đến hồi chính ngọ (Cn 4,18)

Chúng ta hãy cầu chúc cho nhau bằng lời của thánh Phao-lô: “Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và bình an”. Amen. MỤC LỤC

+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên

CHIÊN VÀ ÁNH SÁNG, ƠN GỌI CỦA CHÚNG TA

Sau niềm vui mừng lễ Giáng Sinh và lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa, Hôm nay chúng ta bước vào Mùa Thường Niên, nhưng không hề “tầm thường”. Trái lại, Phụng vụ Lời Chúa mời gọi chúng ta chiêm ngắm căn tính và sứ mạng của Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa đồng thời ý thức rõ hơn căn tính và sứ mạng của chính mỗi người Ki-tô hữu chúng ta.

“Đây Chiên Thiên Chúa” (Ga 1,29)

Tin Mừng theo thánh Gio-an thuật lại lời chứng của Gio-an Tẩy Giả: “Đây Chiên Thiên Chúa, dây Đấng xóa tội trần gian”. Lần đầu tiên trong Tin Mừng Gio-an, Chúa Giê-su được giới thiệu công khai bằng một danh xưng: Chiên Thiên Chúa.

Hình ảnh “Chiên” gợi lên cho chúng ta nhớ về con chiên trong Lễ Vượt Qua thời Cựu Ước, nhờ vết máu chiên rảy lên tường nhà mà dân Ít-ra-en khỏi ách nô lệ Ai Cập. Giờ đây, Chúa Giê-su chính là Chiên đích thực, hiến dâng mạng sống để giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi. Theo thánh Au-gút-ti-nô thì: “Chúa Giê-su là Chiên, vì Người hiền lành; Người là Chiên, vì Người chịu sát tế; nhưng Người cũng là Thiên Chúa, vì chính Người là Đấng xoá tội trần gian”.

Thánh Gio-an Tẩy Giả khiêm tốn thú nhận: “Tôi đã không biết Ngài”, nhưng nhờ Thánh Thần, thánh Gio-an nhận ra Chúa Giê-su là Đấng Thiên Sai. Điều đó cho thấy: không ai có thể nhận biết Đấng Ki-tô chỉ bằng tri thức hay cảm tính, nếu không được Thánh Thần soi sáng.

Chúa Giê-su là Đấng được sai đến cho muôn dân

Bài đọc I, trích sách ngôn sứ I-sai-a, cho thấy sứ mạng của Người Tôi Trung: không chỉ quy tụ Ít-ra-en, mà còn trở thành “ánh sáng các dân tộc”, để ơn cứu độ của Chúa tràn lan khắp địa cầu (Is 49,6). Lời sấm trên được ứng nghiệm trọn vẹn nơi Chúa Giê-su Ki-tô.

Quả thật, Chúa Giê-su không đến chỉ cho một nhóm người đạo đức hay một dân tộc riêng biệt, nhưng cho mọi người, đặc biệt cho tội nhân, người bé mọn, người bị gạt ra bên lề. Đức cố Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI khẳng định: “Ki-tô giáo không phải là một đặc quyền khép kín, nhưng là ánh sáng phải được trao ban”.

Điều này cũng được thánh Phao-lô nhắc lại trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô: tất cả chúng ta được “kêu gọi nên thánh” trong Đức Ki-tô Giê-su (1 Cr 1,2). Ơn gọi nên thánh không dành riêng cho một số người ưu tuyển, nhưng cho mọi tín hữu, trong mọi hoàn cảnh sống.

Người Ki-tô hữu thực thi sứ mạng và làm chứng

Thánh Gio-an Tẩy Giả không giữ Chúa Giê-su cho riêng mình. Ông chỉ cho người khác thấy: “Đây Chiên Thiên Chúa”. Ông không tìm vinh quang cho bản thân, nhưng chấp nhận lu mờ đi để Đức Ki-tô được tỏ hiện. Thánh Gio-an Kim Khẩu nhận xét: “Gio-an là tiếng nói, còn Đức Ki-tô là Lời; tiếng nói phải nhỏ đi để Lời được vang lên”.

Ngày nay, người Ki-tô hữu cũng được mời gọi trở thành chứng nhân như Gio-an Tẩy Giả. Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô lúc sinh thời nhiều lần đã nhấn mạnh: “Giáo Hội không lớn lên nhờ chiêu dụ, nhưng nhờ chứng tá”. Chứng tá ấy trước hết không phải là những lời giảng hùng hồn, mà là một đời sống yêu thương, khiêm nhường, tha thứ, dấn thân phục vụ.

Trong một thế giới đầy bạo lực, ích kỷ và dửng dưng, hình ảnh “Chiên Thiên Chúa” mời gọi chúng ta sống hiền lành, không đáp trả sự dữ bằng sự dữ, nhưng bằng tình yêu. Trong gia đình, nơi công sở, ngoài xã hội, người Kitô hữu được mời gọi trở thành “ánh sáng nhỏ bé”, phản chiếu ánh sáng của Đức Ki-tô.

Khi chiêm ngắm Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa, mỗi người chúng ta được mời gọi tự hỏi: tôi có thực sự để cho Chúa xóa bỏ tội lỗi mình chưa, hay vẫn bám víu vào những thói quen cũ? Tôi có nhận ra Chúa Giê-su đang hiện diện trong những người nghèo khổ, đau yếu, bị bỏ rơi quanh tôi không?

Mùa Thường Niên không phải là thời gian “bình thường” theo nghĩa tầm thường, nhưng là thời gian để sống đức tin cách trung thành trong những việc nhỏ bé hằng ngày. Như Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô nói: “Sự thánh thiện được dệt nên từ những cử chỉ yêu thương rất bình thường”.

Hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng dõi theo hành trình đời sống công khai của Chúa Giê-su và nghe lại lời công bố: “Đây Chiên Thiên Chúa”. Xin cho mỗi người chúng ta biết nhận ra Người, yêu mến Người, và can đảm làm chứng cho Người giữa lòng thế giới, để qua đời sống chúng ta, người khác cũng có thể nhận ra và gặp gỡ Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.

Khởi đầu tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất. Chúng ta hãy cầu xin Chúa nhìn đến đức tin của Hội Thánh và ban cho Giáo Hội được hiệp nhất và bình an theo ý Chúa muốn. Amen. MỤC LỤC

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

NHẬN RA ĐẤNG CỨU ĐỘ GIỮA DÒNG ĐỜI TỘI LỖI

Giữa bao ồn ào mệt nhọc của cuộc sống, lời giới thiệu đơn sơ của Gioan Tẩy Giả vang lên như một niềm hy vọng: “Đây là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1: 29). Một lời chứng mở ra cả mầu nhiệm cứu độ cho nhân loại. Mỗi người chúng ta được mời gọi dừng lại, chiêm ngắm và nhận ra Đấng đang lặng lẽ “tiến về phía mình” (Ga 1: 29), để đón nhận và học cách trở nên người “chứng thực rằng Ngài là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1: 34). 

1. Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa, chuyển hướng lịch sử của con người

Dù được dòng người đến sông Giođan vây bọc, Gioan Tẩy Giả không thu hút mọi người nhìn vào mình. Ông không rao giảng dài dòng, không giải thích phức tạp. Ông chỉ đưa tay chỉ vào Chúa Giêsu và nói một câu ngắn gọn, nhưng cho thấy toàn bộ lịch sử con người chuyển hướng: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian” (Ga 1: 29). Gioan không nói “đây là một ngôn sứ”, cũng không nói “đây là người đạo đức”, nhưng Gioan nói “Đây Chiên Thiên Chúa.” Hình ảnh này gợi lại bữa tiệc Chiên Vượt Qua trong Cựu Ước, nhất là những gì đã được ngôn sứ Isaia tiên báo. 

Đó là hình ảnh con chiên Vượt Qua: “Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con…Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi…Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Istael đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên…Các ngươi phải ăn vội vã : đó là lễ Vượt Qua mừng Chúa. Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Ai cập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Ai cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai cập: vì Ta là Chúa. Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Ai cập” (Xh 12: 3-14). 

Đó là hình ảnh của Người Tôi Trung đau khổ bị dẫn đi như chiên bị làm thịt: “Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta. Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng” (Is 53: 6-7).

Đó là hy lễ đền tội thay cho dân: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ…Người công chính đó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, người tôi trung đó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53: 11-12).

Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, theo hình ảnh Người Tôi Trung đau khổ của ngôn sứ Isaia. Chúa Giêsu sẽ không dùng quyền năng để phản kháng, Ngài sẽ cam chịu nhục hình, thinh lặng như chiên bị đem đi sát tế. Qua việc tự nguyện gánh lấy mọi tội khiên và hiến dâng mạng sống làm hy lễ đền tội, Chúa Giêsu sẽ biến nỗi thống khổ thành nguồn ơn cứu độ, làm cho muôn người nên công chính và giao hòa nhân loại với Chúa Cha. Từ lời chứng của Gioan, niềm hy vọng của nhân loại được mở ra: kiếp phàm nhân tội lỗi, đau khổ, nay được Chiên Thiên Chúa “gánh lấy tội lỗi…mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi…nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện” (Is 53: 11-12). 

2. Chiên Thiên Chúa không xoá tội bằng quyền lực, mà bằng hiến dâng

Thánh Gioan không nói: Đây là Đấng trừng phạt tội lỗi, nhưng ngài nói đây là “Đấng xoá tội trần gian”. Động từ “xoá” ở đây, tiếng Hy Lạp là αἴρω - airō, không chỉ là xóa bỏ trên giấy tờ, mà là mang lấy, gánh lấy, vác đi, loại bỏ. Αἴρων τὴν ἁμαρτίαν – airon tin amartian - mang lấy, gánh lấy, xóa bỏ tội lỗi. [1]  Điều này hoàn toàn hoà hợp với lời Tiên tri Isaia: “Chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” (Is 53: 4).

Đức Phanxicô nói: “Chúa Giêsu được gọi là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian: Ngài là Chiên Con gánh lấy tội lỗi của thế gian. Có thể có người nghĩ: nhưng làm sao một con chiên yếu đuối như vậy, một con chiên nhỏ bé yếu ớt, lại có thể gánh lấy biết bao tội lỗi, biết bao điều ác? Bằng Tình Yêu. Bằng sự hiền lành của Ngài. Chúa Giêsu không bao giờ ngừng là một con chiên: hiền lành, tốt lành, tràn đầy tình yêu thương, gần gũi với những người bé nhỏ, gần gũi với người nghèo. Ngài ở đó, giữa mọi người, chữa lành cho mọi người, dạy dỗ, cầu nguyện. Chúa Giêsu, yếu đuối như một con chiên. Tuy nhiên, Ngài có sức mạnh để gánh lấy tất cả tội lỗi của chúng ta, tất cả” (Bài giảng tại giáo xứ Thánh Tâm Chúa Giêsu ở Castro Pretorio, giáo phận Rôma, Chúa nhật, ngày 19 tháng 1 năm 2014).

Chiên Thiên Chúa không chiến thắng bằng sức mạnh, nhưng bằng tình yêu hiến tế. Làm sao để cảm nhận sức mạnh của Chiên Thiên Chúa gánh lấy tất cả tội lỗi của chúng ta? Chúng ta cần phải như Gioan Tẩy Giả khiêm tốn thú nhận: “Tôi đã không biết Ngài” (Ga 1:31). Đây không phải là thiếu hiểu biết, mà là một bài học thiêng liêng sâu sắc: không ai tự mình nhận ra Chúa Kitô, nếu không được Thiên Chúa mạc khải. Dấu chỉ giúp Gioan nhận ra Đấng Cứu Thế là: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Ngài” (Ga 1:32). Chúa Thánh Thần là Đấng chỉ cho ta thấy Chúa Kitô, và cũng là Đấng làm cho lời chứng của ta trở nên sống động.

Gioan đã gặp, đã thấy, và vì thế đã làm chứng: “Tôi đã không biết Ngài. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Ngài là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1:33-34).

Người môn đệ của Chúa Kitô cũng cần học sự khiêm tốn của Gioan Tẩy Giả, thừa nhận sự hữu hạn của lý trí để mở lòng đón nhận mạc khải từ Chúa Thánh Thần. Thay vì tìm Chúa qua những tư tưởng duy lý khô khan, chúng ta cần gặp gỡ cá vị với Ngài qua cầu nguyện, lãnh nhận bí tích Giao hòa, nhất là bí tích Thánh Thể. Khi đã “cảm nhận” Chúa hiện diện trong đời mình, chúng ta cần can đảm làm chứng cho Ngài bằng cách sống yêu thương hy sinh, biến đức tin thành hành động cụ thể chứ không chỉ là lời nói suông.

3. Ánh sáng không chỉ cho Israel, mà cho muôn dân

Ngôn sứ Isaia mở rộng tầm vóc cứu độ của Chiên Thiên Chúa: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Giacóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49: 6). Ơn cứu độ không bị giới hạn trong một dân tộc hay một nhóm đạo đức. Chúa Giêsu là Ánh Sáng cho toàn thế giới, cho cả những vùng tối của con người: tội lỗi cá nhân, đổ vỡ gia đình, bạo lực, bất công, chiến tranh.

Khi Chiên Thiên Chúa bước vào thế giới, Thiên Chúa không còn là Đấng xa vời, mà là Đấng cho con người được sống gần gũi với Ngài, như ĐGH Phanxicô viết: “Chúa Giêsu cho thấy sự thánh thiện của Ngài không loại trừ những cảm xúc sâu xa. Trong nhiều dịp khác nhau, Ngài đã cho thấy một tình yêu vừa nồng nhiệt vừa trắc ẩn. Ngài có thể vô cùng xúc động và đau buồn, ngay cả đến rơi nước mắt. Rõ ràng là Chúa Giêsu không thờ ơ với những lo toan bận bịu hằng ngày của mọi người, chẳng hạn như sự mệt mỏi hay đói khát của họ: “Thầy chạnh lòng thương đám đông này… họ không có gì ăn… họ sẽ ngất xỉu dọc đường, và một số trong họ đến từ nơi rất xa (Mc 8: 2-3)” (Thông điệp Dilexit Nos, số 44).  

Chính vì thế, lời “Đây Chiên Thiên Chúa” không phải là lời kết thúc, mà là khởi đầu của một đời sống mới. Mỗi Thánh Lễ, linh mục lặp lại lời thánh Gioan Tẩy giả: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian.” Chúng ta có thực sự nhìn vào Chiên Thiên Chúa không? Hay chỉ cúi đầu cho xong nghi thức? Rồi vẫn sống trong tội lỗi, oán giận, ích kỷ như thể Chiên Thiên Chúa chưa từng đến trong trần thế, lại càng chưa từng đến trong đời chúng ta?

Trong một bài giảng, Đức Phanxicô đã suy ngẫm: “Hình ảnh con chiên này có thể gây ngạc nhiên; một con vật không nổi tiếng về sức mạnh và sự dẻo dai lại gánh trên vai một gánh nặng đè nén. Khối lượng lớn của sự ác được loại bỏ và mang đi bởi một sinh vật yếu đuối và mỏng manh, là biểu tượng của sự vâng phục, ngoan ngoãn và tình yêu dẫn đến sự hy sinh bản thân. Con chiên không phải là kẻ thống trị, mà ngoan ngoãn, không hung hăng, mà hiền hòa; không giơ móng vuốt lên hay nhe răng ra khi bị tấn công mà chịu đựng và phục tùng.”

Và Đức Giáo hoàng hỏi: “Đối với Giáo hội, đối với chúng ta ngày nay, việc làm môn đệ của Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa, có nghĩa là gì?” Ngài trả lời: “Điều đó có nghĩa là thay thế sự độc ác bằng sự trong trắng, thay thế sức mạnh bằng tình yêu thương, kiêu ngạo bằng khiêm nhường, danh vọng bằng phục vụ. Làm môn đệ của Chiên Thiên Chúa có nghĩa là không sống như thể chúng ta là một “pháo đài bị vây hãm”, mà như một thành phố nằm trên núi, rộng mở, chào đón và hỗ trợ. Điều đó có nghĩa là không giữ thái độ khép kín, mà mang Tin Mừng đến cho mọi người, làm chứng bằng chính cuộc sống của mình rằng việc theo Chúa Giêsu khiến chúng ta tự do và vui vẻ hơn.” [2] 

Nhận ra Chiên Thiên Chúa luôn kéo theo một hoán cải cụ thể: biết tha thứ, biết chia sẻ, biết sống cho những người khác, như Gioan Tẩy Giả không giữ lại các môn đệ cho riêng mình. Khi các môn đệ của Gioan Tẩy Giả theo Chúa Giêsu, ông vui mừng. Ông nói: “Ngài phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3: 30). Đó là linh đạo của mọi Kitô hữu: không thu hút sự chú ý của người khác về mình, mà dẫn người khác đến với Chúa Kitô. Chúng ta không cần nói hay, chỉ cần sống sao cho người khác hỏi: tại sao bạn lại có sự bình an như thế? Và khi ấy, ta chỉ tay về phía Chúa Kitô.

Lạy Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa hiền lành và khiêm nhường, Chúa đã không xoá tội trần gian bằng án phạt, mà bằng thập giá. Xin cho con biết nhận ra Chúa mỗi ngày: trong Lời Chúa, trong Thánh Thể, và nơi những người bé nhỏ con gặp mỗi ngày trong đời con. Xin cho con đừng giữ Chúa cho riêng mình, nhưng trở nên một Gioan Tẩy Giả nhỏ bé, dám giơ tay về Chúa và nói bằng cả đời sống: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”. Amen. MỤC LỤC

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://onlinechapel.goarch.org

[2] https://www.asianews.it 

GIOAN TẨY GIẢ – NHÂN CHỨNG SỐNG CỦA CHÚA KITÔ

Làm chứng cho Chúa bằng chính cuộc sống mình

Ngày nay, song song với các phát minh trong các lãnh vực khoa học thì môn công nghệ thông tin có những tiến bộ vượt bậc. Mọi tin tức được phát sóng và truyền đi mau hơn, khiến chúng ta có cảm tưởng là thế giới bị thu gọn lại. Việc xảy ra ở tận phương trời nào cũng được tường trình như là các sự kiện xảy ra trước mắt mình. Đó là công việc của các phóng viên và ký giả mà chúng ta gọi họ là những "nhân chứng sống – eyewitnesses." Tuy nhiên, cũng bởi tài năng mà các nhà chuyên môn có thể "chỉnh sửa" và cho chúng ta nhìn và nghe những gì họ muốn. Nói chung, con người vẫn dành phần kiểm soát thông tin được truyền đi vì lợi ích của mình.

Trong sinh hoạt nhà đạo, môn công nghệ thông tin này cũng được tận dụng. Các nhà giảng thuyết nổi tiếng có tài hùng biện, lập luận vững chắc để thuyết phục người nghe, thêm vào đó là sự hiện diện của các nhân chứng để củng cố cho nội dung các lời giảng dạy của họ. Tuy nhiên, cách sử dụng nhân chứng của một số người cũng gây ra nhiều tranh luận. Có những người được dùng làm nhân chứng cò mồi!

Trong khi đó, chúng ta biết rằng cuộc sống của một nhân chứng phải phù hợp với bài giảng thì chứng từ của họ mới có tính thuyết phục và có hiệu quả lâu dài.

Chúng ta đừng bao giờ dùng Lời Chúa hay giải thích giáo huấn của Giáo Hội để hỗ trợ cho lập luận và ý tưởng của cá nhân mình.

Gioan Tẩy Giả – Nhân chứng của Chúa Kitô

Anh chị em thân mến,

Tuần trước chúng ta đã khai mạc sứ vụ công khai của Chúa bằng việc cử hành lễ Chúa chịu phép rửa của Gioan bên bờ sông Giođan. Trong cùng một ý hướng nói trên, hôm nay phụng vụ Giáo Hội không còn tập trung vào các biến cố thời thơ ấu của Chúa nữa, nhưng lại giới thiệu và đặt trước mắt chúng ta một nhân chứng: đó là Gioan Tẩy Giả. Thánh nhân đã không chỉ giới thiệu và làm chứng cho Chúa bằng lời rao giảng, mà còn bằng chứng tá sống động của Ngài nữa, cho dù phải chết.

Dựa trên các bản văn đã ghi lại trong các sách Tin Mừng, chúng ta được biết Gioan xuất thân từ một gia đình vọng tộc và danh giá. Ông Dacaria, cha của Gioan, thuộc dòng tộc tư tế Aaron. Nhưng Gioan có được dạy dỗ và lớn lên trong khung cảnh của đền thờ hay không thì không ai hay biết. Chúng ta chỉ biết rằng Gioan càng lớn càng thêm mạnh mẽ. Và, ngay từ thủa ấu thơ, Gioan đã sống trong hoang địa cho đến ngày ông ra mắt toàn dân Israel.

Kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa trong hoang địa

Tại hoang địa, Gioan đã có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa. Và chính trong hoang địa mà Gioan đã khám phá ra ơn gọi, sứ mạng mà Thiên Chúa muốn ông thi hành. Qua Gioan, chúng ta nhận thấy bài học của Chúa, có nghĩa là chỉ có những lúc chúng ta đối diện với sự thật của đời mình, trút bỏ hoàn toàn các mặt nạ, trút bỏ kiêu ngạo, lo lắng, phân tán, đi vào cõi sa mạc của chính mình để lắng nghe Lời Chúa, thì chúng ta mới có thể gặp gỡ Thiên Chúa, có cơ hội khám phá ra Thánh Ý của Ngài, như trường hợp của Gioan Tẩy Giả.

Trước khi kêu gọi dân chúng dọn sẵn con đường cho Chúa đến, sửa lối cho thẳng để Người đi, thì bản thân Gioan cần có cảm nghiệm về việc chuẩn bị, thống hối và dọn đường cho Chúa nơi chính mình trước. Như thế, chúng ta nhận ra rằng: thời gian sống trong hoang địa thật quan trọng đối với sứ vụ và sứ điệp của ông. Đây là một hành trình cần phải có để ông chuẩn bị hoàn thành tốt sứ vụ làm người tiền hô, đi trước để dọn đường cho sự xuất hiện của Đức Kitô, Đấng sẽ đến để cứu chuộc dân Người.

Lời chứng về Đức Giêsu

Ngay tại bờ sông Giođan, Thánh nhân đã được nhiều người biết đến. Lối sống và lời rao giảng của Gioan đã thu hút họ, và người ta đã lầm tưởng và coi ông như Đấng Thiên Sai, nhưng Gioan chỉ nghĩ đến sứ mạng mà Thiên Chúa đã trao ban là giới thiệu về Đức Giêsu cho nhân loại.

Ông đã không tự làm chứng về mình. Chứng từ của ông quy về Đức Giêsu. Lời chứng này nói lên điều Gioan đã thấy. Cái thấy của ông hôm nay là hồng ân được ban tặng từ Chúa Cha, và soi sáng bởi Chúa Thánh Thần, nên Gioan đã nói: "Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: 'Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.' Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn." (Gioan 1:33-34)

Trước đó, Gioan đã làm chứng và giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian. Khi nghe đến các tước hiệu hay danh xưng này, chúng ta nghĩ và hiểu ngay căn tính của con người mà Gioan muốn giới thiệu. Đó chính là Đức Giêsu, Con Chiên vẹn toàn đã hy sinh cuộc sống của Người để cứu độ và ban cho chúng ta ơn tha tội. Nhưng những người cùng thời với Đức Giêsu, ngay cả Gioan vẫn còn mù mờ về chân tướng của Đức Giêsu.

Gioan trong tù và lời đáp của Chúa Giêsu

Thật vậy, khi ở trong tù, các môn đệ của Gioan đã báo cho ông biết về những việc mà Đức Giêsu đã làm, khiến ông phải sai họ đến hỏi Chúa rằng: "Thầy có phải là Đấng mà chúng tôi đang mong đợi hay chúng tôi còn phải chờ Đấng khác?" Có lẽ trong hoàn cảnh đang bị tù đầy như thế, Gioan đã nghĩ rằng nếu Đức Giêsu là Đấng Mêssia, người được Thiên Chúa tuyển chọn, thì Chúa phải vào để cứu ông ra khỏi tù và kết tội vua Hêrôđê về tội lỗi mà nhà vua đã phạm. Trái lại, Đức Giêsu dường như không chỉ im lặng trước bạo quyền, không bênh vực những người công chính như ông mà còn làm bạn với những người tội lỗi nữa.

Đức Giêsu đã không trả lời trực tiếp câu hỏi của Gioan, Người gián tiếp nói cho Gioan về các điều mà các môn đệ của ông đã thấy và đã nghe, đó chính là người mù được sáng mắt và nhìn thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết được sống lại và những người nghèo được nghe Tin Mừng.

Sau đó, Đức Giêsu còn gửi cho Gioan một sứ điệp: "Gioan thật có phúc, nếu không bị vấp ngã vì các công việc mà Đức Giêsu đã làm." Ở đây, Đức Giêsu muốn nói với Gioan rằng: qua lời tường trình về các công việc Đức Giêsu đã làm mà các ngôn sứ đã loan báo thì ông có tin Người là Đấng Thiên Sai hay không?

Gioan – Người dọn đường cho Chúa

Chúng ta không hề hay biết Gioan có đón nhận lời chúc phúc của Đức Giêsu hay không? Qua cách nói gián tiếp để ca tụng lối sống chứng nhân của Gioan, chúng ta thấy được Đức Chúa đã coi trọng Gioan đến dường nào! Ông được ví như cây sậy tuy phất phơ và ngả nghiêng trước gió, nhưng đã không bị lôi cuốn và gục ngã trước quyền lực. Gioan tôn trọng sự thật nên đã không vì hư danh mà đánh lừa dân chúng. Ngài can đảm làm chứng về sự thật. Và vì sự thật mà Ngài phải giữ đúng vị trí của mình, là tiền hô, người dọn đường cho Đức Chúa. Và đã là người dọn đường thì Gioan phải biết đứng bên lề đường, nhường lối đi cho người được Thiên Chúa tuyển chọn bước vào. Đó là sự thật mà không mấy ai trong chúng ta đủ can đảm đón nhận.

Lời mời gọi dành cho chúng ta

Thật vậy, lối cư xử của Gioan hoàn toàn ngược lại với lối sống của một số người trong chúng ta hôm nay. Chúng ta muốn thể hiện chính mình, muốn được tuyên dương công trạng, thích phô trương thành tích, muốn được triệu người "like". Vì thế, chúng ta có khuynh hướng sống ảo. Thật và giả lẫn lộn cho đến một ngày mình cũng không còn biết mình là ai nữa! Sự thật dần dần biến mất để nhường chỗ cho giả dối. "Sống giả mà được nhiều người 'like' thì vẫn thích hơn là sống thật mà bị ghét" là quan niệm sống và giao tiếp của nhiều người hôm nay. Đứng trước các hiện tượng xem ra có vẻ bi quan như thế, chúng ta nên ngồi lại mà chỉnh sửa sao cho đúng với căn tính của người tín hữu.

Gương chứng nhân và chứng từ của Gioan trong bài Tin Mừng hôm nay là lời mời gọi mà Chúa muốn nhắc nhở chúng ta. Chúng ta xác tín rằng tín hữu không chỉ là một tước hiệu, nhưng đó là đặc ân của Thiên Chúa dành cho những người được tuyển chọn. Tín hữu là những người bước theo chân Đức Kitô để thực hiện và chia sẻ nhiệm vụ của "Chiên Thiên Chúa", sẵn sàng gánh và hứng chịu những khổ đau của tha nhân.

Noi theo gương sáng của Gioan, chúng ta sẽ không nói về mình, mà giới thiệu Chúa cho người khác bằng chính cuộc sống mình. Thật vậy, làm chứng cho Chúa không phải là nói hay, mà là sống đúng những điều Chúa dạy.

Như Gioan, chúng ta tôn trọng sự thật, không sống vì hư danh, không làm để khoe khoang mà sẽ làm mọi sự để nói về tình yêu và gương hy sinh của Đức Giêsu trong bổn phận của một nhân chứng. Vì thế, khi Chúa Giêsu xuất hiện, Gioan sẵn sàng lùi lại, để Chúa được lớn lên.

Người làm chứng thật không tìm tiếng khen cho mình, mà để người khác nhận ra Chúa.

Kết luận

Sau cùng, xin Chúa giúp chúng ta trở thành những chứng nhân âm thầm nhưng chân thành, để qua đời sống của chúng ta, người khác nhận ra Chúa đang sống giữa trần gian. Amen. MỤC LỤC

Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT

DÂN THÁNH CỦA THIÊN CHÚA

Ba lời khuyên để sống xứng đáng với ơn gọi

Bạn có biết tại sao những vật dụng dùng trong việc phụng tự như chén, dĩa, bánh, bàn thờ, khăn lau chén lễ, khăn trải bàn thờ lại được gọi là chén thánh, dĩa thánh, bánh thánh, bàn thánh và khăn thánh như vậy không? Là bởi vì những vật dụng đó đã được thánh hóa và được dành riêng để chỉ dùng trong Thánh Lễ, cho việc phụng tự, cho nên mới có chữ "thánh" đi kèm theo.

Còn nữa, bạn có biết tại sao dân Israel được gọi là dân thánh không? Là bởi vì sách Sử Biên Niên, cuốn số 2, chương 16, câu 3 cho biết dân Do Thái là dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn. Thiên Chúa chọn họ, dành riêng cho Người, nên họ được gọi là dân thánh.

Mà chẳng phải chỉ có dân Do Thái mới là dân thánh nhé. Cả bạn và tôi cùng tất cả các Kitô hữu cũng đều được gọi là dân thánh đấy. Bạn biết tại sao tôi lại dám nói như vậy không? Là bởi vì trong bài đọc hai của Chúa Nhật hôm nay, Thánh Phaolô khẳng định rằng tất cả những ai đã được hiến thánh trong Đức Giêsu Kitô, tức là đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, đều là dân thánh của Người.

Bạn thân mến, nếu bạn đồng ý với tôi rằng bạn và tôi cùng tất cả mọi Kitô hữu đều được gọi là dân thánh, thì chúng mình nhất định phải sống sao cho xứng đáng với danh hiệu là dân thánh của Thiên Chúa.

Chúng mình cần phải sống thế nào?

Chúng mình cần phải làm gì? Cần phải sống làm sao để xứng đáng là dân thánh của Thiên Chúa? Xin thưa, hãy nghe và thực hành ba lời khuyên của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô.

Ba lời khuyên đó là:

Thứ nhất: Tẩy rửa hồn xác và đạt tới sự thánh thiện hoàn toàn

Thánh Phaolô trong thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô, chương 7, câu 1 dạy phải cố gắng thường xuyên tẩy rửa hồn xác cho sạch mọi vết nhơ và đem lòng kính sợ Thiên Chúa mà lo đạt tới mức thánh thiện hoàn toàn.

Thường xuyên tẩy rửa hồn xác cho sạch mọi vết nhơ qua việc đi xưng tội thường xuyên. Bí tích Giải Tội là một thứ thuốc tẩy rửa mạnh lắm. Dù linh hồn mình có bị dơ bẩn cách mấy đi chăng nữa, chỉ cần ta ăn năn thống hối, quyết tâm hối cải, thì bí tích Giải Tội cũng tẩy sạch ngay lập tức.

Đem lòng kính sợ Thiên Chúa mà lo đạt tới mức thánh thiện hoàn toàn bằng cách thờ phượng Chúa trên hết mọi sự, trung thành tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật, không coi tiền tài, danh vọng, địa vị và những thú vui xác thịt trọng hơn phần rỗi linh hồn.

Thứ hai: Cư xử với tha nhân bằng sự thánh thiện và chân thành

Phải lấy sự thánh thiện và chân thành để cư xử với tha nhân.

Cư xử với tha nhân qua những lời nói thật thà. Đừng thêm mắm, thêm muối, đừng sống giả hình, giả bộ hay khoác lác ba hoa. Có nói có, không nói không. Đừng kiêu căng, cũng đừng khoe khoang hách dịch.

Cư xử với tha nhân một cách tế nhị, khiêm tốn, lịch sự, không ức hiếp người cô thế cô thân, không bắt nạt, không khinh bỉ, không nhạo báng người khác vì họ nghèo, vì họ bị khuyết tật.

Cư xử với tha nhân qua việc tha thứ cho những ai xúc phạm đến mình, tha thứ ngay cho họ hôm nay. Bởi vì chẳng biết tôi có còn sống tới ngày mai hay không nữa. Thù hận ghen ghét để làm gì? Thôi thì hãy tha thứ, để lỡ chết thì sẽ được thanh thản hơn.

Thứ ba: Sống thánh thiện trong cách ăn nết ở

Thánh Phêrô trong thư thứ nhất, chương 1, câu 15 dạy rằng: "Để không hổ danh là dân thánh của Chúa thì bạn và tôi phải sống thánh thiện trong cách ăn nết ở để nên giống Đấng Thánh."

Sống thánh thiện trong cách ăn nết ở qua đời sống hiền lành, khiêm nhường. Vì Chúa Giêsu đã phán trong Tin Mừng Thánh Matthêu, chương 11, câu 29 rằng: "Anh em hãy học cùng Thầy, vì Thầy hiền lành và khiêm nhường trong lòng."

Sống hiền lành và khiêm nhường trong lời ăn tiếng nói. Không ăn nói tục tĩu, không nguyền rủa kẻ khác. Không lấy oán báo oán, không khoe khoang bằng cấp, sắc đẹp, tài năng, của cải vật chất.

Sống thánh thiện trong cách ăn nết ở bằng cách có lòng thương xót đối với những người kém may mắn hơn chúng mình, quảng đại trong những việc bác ái, bố thí và chia sẻ của cải vật chất, giúp đỡ cho tha nhân.

Kết luận

Nếu bạn và tôi và tất cả mọi Kitô hữu biết cậy dựa vào ơn Chúa, cố gắng thực hành thật nghiêm chỉnh ba lời khuyên của hai thánh Phêrô và Phaolô mà tôi vừa đề cập ở trên, thì tôi tin chắc rằng chúng mình đang sống xứng đáng với danh hiệu là dân thánh của Thiên Chúa.

Và xin bạn đừng quên điều quan trọng này: Là dân thánh là dân riêng của Thiên Chúa. Chúng mình được Ngài chúc lành, ban ơn, chở che, gìn giữ, bảo vệ trong mọi nơi và mọi lúc. Và nhất là Ngài sẽ cho bạn và tôi vào định cư vĩnh viễn ở Thiên Quốc, nơi Ngài đang ngự trị.

Cầu chúc bạn và gia đình một cuối tuần vui vẻ, bình an và luôn sống trong tình yêu thương của Chúa. MỤC LỤC

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

GIỮA DÒNG SÔNG THIÊN CHÚA ĐỨNG VỀ PHÍA CON NGƯỜI

Bên bờ sông Giođan, có một khung cảnh tưởng chừng rất bình thường, nhưng lại chứa đựng một mầu nhiệm lớn lao vô cùng:

Trên bờ cao, là Thiên Chúa, Đấng Thánh, Đấng Tuyệt Đối, Đấng không vương chút bóng tối nào.

Dưới dòng nước, là con người một đám đông ô hợp, mang theo tội lỗi, đổ nát, ăn năn và tuyệt vọng.

Giữa hai thực tại tưởng như không thể chạm vào nhau ấy, Chúa Giêsu đứng đó. Chúa Không đứng trên bờ cao, không đứng tách biệt, mà đứng giữa dòng sông, giữa Thiên Chúa và con người, giữa thánh thiện và tội lỗi, giữa trời cao và thân phận thấp kém.

1. CHÚA GIÊSU VÀ THÁNH GIOAN: AI LÀ TRUNG TÂM?

Thánh Gioan Tẩy Giả là một con người phi thường: một ngôn sứ, một tiếng kêu trong hoang địa, một con người khắc khổ, thẳng thắn, không nhân nhượng với tội lỗi. Ông làm phép rửa. Ông kêu gọi ăn năn. Ông có uy tín. Ông là trung tâm của đám đông.

Còn Chúa Giêsu? Chỉ là đến sau. Chúa Không tiếng giới thiệu; Không lời tự xưng; Chỉ lặng lẽ bước vào dòng người đang xếp hàng.

Giữa Chúa Giêsu và thánh Gioan, đáng lẽ người phải đứng cao hơn là Chúa. Nhưng Chúa lại chọn đứng thấp hơn. Đáng lẽ Gioan phải cúi đầu, nhưng chính Chúa Giêsu lại cúi mình.

Thiên Chúa không tranh giành vị trí trung tâm. Thiên Chúa để con người được đứng trước, còn mình thì đứng sau, để con người không sợ hãi khi gặp gỡ chính Thiên Chúa.

2. THIÊN CHÚA - CON NGƯỜI: KHOẢNG CÁCH NÀO ĐƯỢC XÓA?

Thiên Chúa là Đấng Thánh. Con người là kẻ tội lỗi. Khoảng cách ấy không phải do Thiên Chúa dựng nên, mà do tội lỗi con người đào sâu.

Thế nhưng, lạ lùng thay, Thiên Chúa không đợi con người vượt lên, mà chính Ngài bước xuống. Chúa không đứng ngoài để dạy dỗ. Chúa không đứng trên để xét đoán. Chúa đi xuống tận dòng nước, đi vào chính nơi con người đang xấu hổ, đang sám hối, đang thú nhận tội lỗi.

Thiên Chúa không sợ bị "vấy bẩn" bởi con người. Chỉ con người mới sợ Thiên Chúa. Còn Thiên Chúa, Ngài chỉ sợ con người không dám quay về.

3. ĐẤNG LÀM NÊN PHÉP RỬA LẠI XIN ĐƯỢC RỬA.

Chúa Giêsu là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Thế nhưng, Ngài lại xin được rửa bằng nước.

Đấng không có tội, lại xin đứng chung hàng với những kẻ có tội.

Đấng không cần sám hối, lại bước vào dòng sám hối của nhân loại.

Không hề có sự giả hình. Giữa dòng sông mầu nhiệm ấy chỉ có tình yêu triệt để.

Chúa Giêsu không "đóng vai" người tội lỗi. Chúa thực sự mang lấy thân phận tội lỗi của con người. Chúa bước vào cuộc đời cùng con người không để giải thích, hay "làm lố" vai trò của mình. Chúa chỉ đến để cứu. Và giờ đây, Chúa thực sự thực hiện sự cứu ấy.

4. XIN NHƯ BAN LỆNH VÀ NGƯỜI RỬA RUN RẨY THI HÀNH.

Thánh Gioan run rẩy. Ông biết mình đang đứng trước ai. Ông không dám. Ông sợ.

Nhưng Chúa Giêsu nói: "Cứ làm đi".  Lời xin ấy lại vang lên như một mệnh lệnh, bởi đó là mệnh lệnh của tình yêu.

Thiên Chúa không ép con người bằng quyền lực, mà chạm vào con người bằng sự tự hạ.

5. ĐẤNG THÁNH - MỘT ĐÁM NGƯỜI TỘI LỖI.

Một bên là Đấng Thánh. Một bên là đám người cần ăn năn. Nhưng Thiên Chúa không đứng một bên, để con người đứng bên kia. Ngài đứng cùng bên với con người. Không phải để thỏa hiệp với tội lỗi, mà để cứu con người khỏi tội lỗi từ bên trong.

6. ƠN THÁNH - DÒNG NƯỚC.

Nước thì đơn sơ. Nước thì âm thầm. Nước thì chảy xuống chỗ thấp.

Nhưng chính dòng nước ấy trở thành phương tiện của ơn thánh.

Thiên Chúa không cần những điều cao siêu để yêu thương. Ngài dùng những gì bình thường nhất: dòng sông, con nước, một con người như Gioan, và chính thân mình của Chúa Giêsu.

Tất cả trở thành ngôn ngữ của lòng xót thương.

7. THÁNH THẦN TỪ TRỜI - CON NGƯỜI DƯỚI NƯỚC.

Trên cao, Thánh Thần ngự xuống. Dưới thấp, con người chìm trong nước. Giữa hai thực tại ấy, Chúa Giêsu nối liền trời và đất. Chúa không chỉ đứng giữa, mà nên một với con người, trong con người, và cho con người.

8. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA.

Nếu Thiên Chúa đã không ngại đi xuống như thế, chúng ta còn ngại gì mà không quay về?

Nếu Thiên Chúa đã thấu hiểu đến mức đứng chung hàng với kẻ tội lỗi, chúng ta còn sợ gì mà không tin vào lòng thương xót?

Nếu Chúa Giêsu đã không từ nan điều gì để yêu thương, chúng ta còn lý do gì để trì hoãn hoán cải?

Hãy tin. Hãy quay về. Hãy nghe lời Chúa Giêsu. Bởi Thiên Chúa không yêu chúng ta từ xa, mà yêu bằng cách ở cùng, đi cùng, và nên một với chúng ta.

Giữa dòng sông đời, Chúa Giêsu vẫn đang đứng đó, chờ ta bước xuống,

để được chạm vào tình yêu vừa thánh thiện, vừa đầy thấu cảm của Thiên Chúa. MỤC LỤC

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan