SUY NIỆM CHÚA NHẬT II MÙA CHAY NĂM A
[St 12,1-4a; 2 Tm 1,8b-10; Mt 17,1-9]
HY VỌNG NGƯỢC MỌI HY VỌNG BÍ QUYẾT CỦA TỔ PHỤ ABRAHAM – + ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
THAY ĐỔI BẢN THÂN – + ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
BA ĐỪNG – Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
LÊN và XUỐNG NÚI VỚI CHÚA KITÔ VỚI NIỀM HY VỌNG – Phêrô Phạm Văn Trung
VINH QUANG CHÚA ĐỠ NÂNG TÔI! – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
LẮNG NGHE, ĂN CHAY, CÙNG BIẾN ĐỔI – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
HIỂN DUNG: ĐỂ BIẾT MÌNH LÀ DÂN CỦA CHÚA – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
KIÊN TRÌ TRONG CẦU NGUYỆN VÀ SA MẠC MÙA CHAY – Lm. Fx. Nguyễn Văn Tuyết
+ ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Sống trong cuộc đời, chúng ta bị ràng buộc bởi nhiều thứ: phong tục làng xóm; não trạng cổ xưa; môi trường xung quanh; sự ích kỷ của bản thân và những thói quen từ nhỏ. Những điều kể trên, có những điểm tốt lành đáng trân trọng, nhưng cũng có những bất cập cần thay đổi. Trong tất cả những điều cần thay đổi, điều khó nhất – mà lại là quan trọng nhất – là thay đổi bản thân. Để chấp nhận thay đổi bản thân, cần có sự can đảm và kiên trì, vì sự thay đổi không bao giờ là dễ dàng.
Đấng Đáng kính Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã viết: "Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì bạn chưa bỏ gì cả, vì chính bạn sẽ dần dần gom góp lại những gì bạn đã bỏ trước đó" (Đường Hy vọng 3). Đức Hồng y cũng viết ở một nơi khác: "Dù có ra khỏi nhà, đi phương xa vạn dặm mà cứ mang theo tất cả tật xấu, thì có khác gì ở nhà đâu?" (DHV 5).
Quả vậy, thay đổi con người là điều kiện tiên quyết để thay đổi xã hội. Không thể có một môi trường xanh và sạch nếu không có những con người ý thức bảo vệ môi trường. Không thể có một cộng đoàn thánh thiện, nếu mỗi tín hữu không cố gắng để hoàn thiện bản thân. Nhiều khi chúng ta cứ kêu gào đòi thế giới phải thay đổi, nhưng cái gọi là "thế giới" lại là một khái niệm rất tổng quát mơ hồ. Thế giới là tất cả mọi người; tất cả mọi người cũng có nghĩa không một ai. Thế giới bao gồm những cá nhân, và thế giới sẽ thay đổi, khi cá nhân thay đổi.
MỜI GỌI "LÊN NÚI" ĐỂ THAY ĐỔI
Khởi đi từ sự kiện Chúa Giê-su biến hình, Phụng vụ Chúa Nhật II Mùa Chay mời gọi chúng ta "lên núi" để thay đổi bản thân. Đây là một điều kiện thiết yếu để sống Mùa Chay có ý nghĩa.
Trước hết, chúng ta cần thay đổi quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ. Các môn đệ là những người đã theo Chúa một thời gian dài ba năm. Tuy vậy, cái nhìn của các ông về Thầy mình vẫn còn sơ sài, phiến diện và mang tính trần tục. Khi Đức Giê-su nói đến thập giá, các ông bối rối đến mức hoảng loạn. Tại Xê-da-rê Phi-líp-phê, khi nghe Thầy nói về Cuộc Khổ nạn và sự chết, Phê-rô vội can ngăn và bị Chúa mắng là Sa-tan. Trong khi Chúa nói về Cuộc Thương khó, thì các môn đệ lại tranh giành xem ai là người lớn nhất, và đòi phải có một vị trí trong tương lai (x. Mt 20,17-28).
Cuộc biến hình giúp các môn đệ thanh lọc hình ảnh về Đấng Mê-si-a mà các ông đang có trong đầu. Qua sự kiện biến hình, Chúa Giê-su muốn nói với các ông: Người là Thiên Chúa quyền năng và vinh quang. Người sẽ chịu đau khổ, nhưng sẽ được tôn vinh. Lời Chúa Cha phán từ đám mây, vừa như một lời giới thiệu, vừa như một khẳng định về sứ mạng của Chúa Giê-su trên trần gian. Khi lên núi, tâm trạng ba môn đệ nặng nề chán nản; khi xuống núi, các ông cảm thấy lạc quan vui mừng.
Tiếp đến, chúng ta cần xem xét lại lòng trung tín của chúng ta đối với Chúa. Một ngày nọ, Áp-ra-ham nghe tiếng Chúa truyền bỏ mọi sự để lên đường đến nơi Ngài sẽ chỉ cho. Chúa không nói ông sẽ đi đâu. Áp-ra-ham cũng không vặn hỏi xem mình sẽ làm gì để sống. Ông tin vào Thiên Chúa, và ông chắc một điều là Chúa chỉ muốn cho ông những điều tốt lành.
Xã hội hôm nay tự nhận là vô thần, nhưng trong thực tế, càng ngày càng có nhiều thứ thần tượng. Những ngẫu thần hôm nay là tiền bạc, người nổi tiếng, minh tinh màn bạc hay ngôi sao bóng đá. Trong xã hội tự nhận là văn minh, lại nhan nhản trên mạng những hình thức bói toán mê tín dị đoan. Giữa một rừng những ngẫu tượng đó, Kitô hữu làm thế nào để trung tín với Thiên Chúa của giao ước, Thiên Chúa mà Đức Giê-su giới thiệu với chúng ta? Giữa một mớ âm thanh hỗn tạp của những tín ngưỡng khác nhau, làm thế nào để chúng ta chọn lọc ra tiếng Chúa và phân định được thánh ý Ngài?
Sự can đảm dám thay đổi bản thân sẽ giúp chúng ta đạt được những điều đó. Như Áp-ra-ham dứt khoát lên đường, mỗi chúng ta cũng cần can đảm lên đường khởi đầu một lộ trình mới. Đó là lộ trình theo Đức Giê-su và luôn phấn đấu để trở nên giống như Người.
TIN VÀO THIÊN CHÚA
Tin vào Thiên Chúa là tin vào Đấng làm cho cái không thể trở thành điều có thể. Thánh Phao-lô mời gọi người môn sinh của mình là Ti-mô-thê đồng lao cộng khổ trong sứ vụ rao giảng Chúa Giê-su. Nhìn theo nhãn giới trần gian, khẳng định Chúa Giê-su đã chết và đã sống lại là điều không tưởng, vì đi ngược lại với thực tại của thế giới con người. Ấy vậy mà lịch sử đã chứng minh, khởi đi từ một nhóm nhỏ các môn đệ có kiến thức khiêm tốn và địa vị bình dân ở xứ Ga-li-lê-a, Danh Đức Giê-su đã được loan báo cho cả thế giới.
Trong xã hội hiện đại hôm nay, nhiều người coi đức tin vào Đức Giê-su như một ảo tưởng không còn hợp thời. Kitô hữu là người tin vào sức mạnh của Thiên Chúa và hoạt động của Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa có đường lối riêng của Ngài, chúng ta không thể hiểu nổi. Đường lối ấy, Thánh Phao-lô gọi là "kế hoạch và ân sủng" của Thiên Chúa. Mặc dù hèn kém và hữu hạn, Kitô hữu chúng ta được mời gọi tham gia kế hoạch diệu kỳ ấy.
Cuộc lên núi của ba môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê cần phải cố gắng và chấp nhận mệt mỏi. Tuy vậy, chính trên núi mà các ông đã được chiêm ngưỡng Thầy mình trong một bộ dạng hoàn toàn khác với ngày thường. Cũng chính trên núi này, các ông thay đổi quan niệm về Thầy mình. Mùa Chay thực sự là một cuộc "leo núi", giúp ta hướng thượng, để nhìn lại mình và can đảm chấp nhận thay đổi bản thân. mục lục
+ ĐTGM. Giu-se Vũ Văn Thiên
Đọc qua bốn sách Phúc Âm, tôi thấy ba ông Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê, từ các nhân đức cho đến các tài năng khiếu, chả có tí gì gọi là đặc biệt hay xuất sắc cả. Thật đấy, họ là những con người rất tầm thường, đầy những tham sân si trong người.
Các ông là những người ham chức, tham quyền, thích an nhàn thư thái, thích ngồi mát ăn bát vàng. Khi Chúa Giê-su được người ta khen ngợi, ca tụng thì các ông đều gắn bó mật thiết với Ngài. Còn lúc Ngài bị bắt, bị tra tấn, bị nhục mạ thì họ bỏ chạy và trốn chui trốn lủi. Vậy mà không hiểu tại sao Chúa Giê-su lại ưu đãi ba ông này một cách khá đặc biệt.
Ví dụ khi lên núi Tha-bor, Chúa Giê-su không cho ai đi với Ngài cả. Ngoại trừ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, chỉ mình các ông thôi. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Rồi khi làm phép lạ cho con gái ông trưởng hội đường Giai-rô sống lại từ cõi chết, Chúa Giê-su cũng chỉ cho ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và ông Gio-an chứng kiến mà thôi.
Bạn có biết tại sao Chúa Giê-su lại ưu đãi ba ông này một cách quá ư là đặc biệt như vậy không? Không ai biết cả. Nhưng dựa vào lời Chúa phán trong Tin Mừng Thánh Gio-an: "Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con", thì chúng ta có thể đoán đó là vì Chúa yêu thương họ mà thôi.
Chứ tự bản thân ba ông này chả có gì gọi là xứng đáng được Chúa ưu đãi một cách đặc biệt như vậy cả. Đức Giê-su Ki-tô vẫn là một hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời. Xưa sao thì nay vậy, Ngài vẫn yêu thương, cứ gọi và cứ chọn những người điên dại, yếu kém, hèn mạt, không đáng kể, không có tài cán gì làm môn đệ, làm linh mục, làm giám mục, làm hồng y, làm giáo hoàng.
Bạn thân mến, nếu hôm nay bạn nhận ra rằng các phó tế, linh mục, Đức Giám mục và Đức Giáo Hoàng được Chúa gọi và chọn, không phải vì họ là những người tài giỏi, thông minh, xuất sắc, thánh thiện, tốt lành, nhưng chỉ là vì Chúa yêu thương, gọi và chọn họ bằng sự tự do của Ngài, thì xin bạn hãy cố gắng chú ý đến ba cái đừng sau đây:
ĐỪNG THỨ NHẤT: ĐỪNG THẦN THÁNH HÓA
Đừng bao giờ thần thánh hóa các phó tế, linh mục, giám mục và kể cả Đức Giáo hoàng.
Họ chỉ là những con người đang trên con đường nên thánh. Họ còn nhiều lỗi lầm lắm. Mà cho dù thánh thiện hay đạo đức mấy đi chăng nữa thì họ cũng chỉ là những con người tầm thường với tất cả những hỷ nộ, ái ố ở trong họ. Nghĩa là họ cũng có những cảm xúc y như bạn. Họ vui khi thành công. Họ buồn chán khi thất bại. Họ cảm thấy hạnh phúc khi được quan tâm. Họ cảm thấy cô đơn buồn chán khi bị người khác bỏ rơi. Họ nóng nảy và họ cũng biết chửi tục khi bị người ta phê bình, lên án hay chỉ trích. Đấy!
ĐỪNG THỨ HAI: ĐỪNG BẮT THEO Ý MÌNH
Đừng bắt các phó tế hay linh mục phải làm theo ý của bạn. Ví dụ như bạn muốn cha phải giảng thế này, cha phải ăn mặc như thế kia, cha phải nói năng như thế nọ.
Chúa ban cho mỗi người mỗi nén bạc khác nhau. Người thì năm nén, kẻ thì hai nén, kẻ khác nữa một nén. Mỗi người mỗi tính, mỗi người mỗi ý, trăm người trăm vẻ khác nhau, chả ai giống ai cả. Tại sao bạn lại bắt họ phải sống như ý của bạn vậy?
ĐỪNG THỨ BA: ĐỪNG THẤT VỌNG VÀ MẤT NIỀM TIN
Đừng thất vọng, chán nản hay tệ hơn nữa, đừng mất niềm tin khi thấy có những tu sĩ, phó tế, linh mục hay giám mục tội lỗi, nóng nảy, thiếu tế nhị, thiếu kiên nhẫn, thiếu lòng nhân từ, thiếu đức khiêm nhường, hách dịch, cố quyền, độc tài.
Chúa cố ý chọn những người yếu đuối đầy khiếm khuyết như vậy để bạn và tôi cũng như thế gian thấy được quyền năng và sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới và trong Giáo hội của Ngài. "Những gì thế gian cho là điên dại thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người."
Người ta thường hay nói: "Tin đạo chứ đừng tin người có đạo." Hôm nay tôi cũng xin bạn nhớ giúp: đặt niềm tin vào Chúa chứ đừng đặt niềm tin vào những môn đệ của Chúa. Xin hãy đặt trọn niềm tin tưởng vào Chúa và tin chắc rằng cho dù có những giáo hoàng, giám mục và linh mục yếu đuối và tội lỗi mấy đi chăng nữa thì Giáo hội sẽ vẫn kiên vững cho đến ngày tận thế.
Vì Chúa Giê-su đã phán: "Anh là Phê-rô, nghĩa là tảng đá. Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi."
Mà đặt niềm tin vào hàng giáo sĩ, vào những con người yếu đuối, bất toàn và đầy những khiếm khuyết, đầy những hỷ nộ, ái ố và còn những tham sân si, thì sớm muộn gì đức tin của bạn sẽ bị chao đảo và tệ hơn nữa sẽ bị mất luôn, chứ không phải chuyện đùa đâu.
Cầu chúc bạn một Mùa Chay thánh thiện. Và hy vọng bạn sẽ gặt hái được nhiều hoa trái tốt đẹp qua việc ăn chay, cầu nguyện và làm việc bố thí. mục lục
Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD
MÙA CHAY – LÊN NÚI VỚI CHÚA KITÔ VÀ XUỐNG NÚI VỚI NIỀM HY VỌNG
Mùa Chay là hành trình của sa mạc, của từ bỏ, của hoán cải; nhưng đồng thời cũng là hành trình của ánh sáng và hy vọng. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mở ra một linh đạo Mùa Chay: ra đi, lên núi, lắng nghe – xuống núi, vác Thập giá, tiến về vinh quang phục sinh.
1. Khởi đầu hành trình đức tin
Trong sách Sáng Thế, Thiên Chúa phán với Ápram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12:1). Kinh thánh mô tả sự vâng phục của Ápram thật đơn sơ nhưng đầy cương quyết: “Ông Ápram ra đi, như Chúa đã phán với ông” (St 12:4a).
Mùa Chay bắt đầu bằng một tiếng gọi như thế: rời bỏ. Rời bỏ tội lỗi, thói quen xấu, những an toàn giả tạo, những “xứ sở” của ích kỷ và tự mãn. Rời bỏ để bước vào một tương quan mới với Thiên Chúa. Thánh Augustinô đã cầu nguyện: “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa nên lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa” (Tự Thú 1,I,1). Sự khắc khoải ấy chính là động lực của Mùa Chay. Chúng ta không được dựng nên cho những điều tạm bợ, vốn dĩ không sớm thì muộn chúng ta cũng phải từ bỏ, nhưng chúng ta được dựng nên cho chính Thiên Chúa.
Lệnh truyền “Hãy rời bỏ xứ sở” không chỉ là một hành vi đổi hướng địa lý, nhưng là một cuộc xuất hành nội tâm trong đức tin. Thánh Phaolô khẳng định: “Nhờ đức tin, ông Abraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, ông đã tới cư ngụ tại Đất Hứa như tại một nơi đất khách, ông sống trong lều cũng như ông Ixaác và ông Giacóp là những người đồng thừa kế cũng một lời hứa, vì ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng” (Hípri 11:8-10). Điều vĩ đại của tổ phụ Abraham không phải là quãng đường ông đi, nhưng là sự vâng phục tức khắc và trọn vẹn của ông. Đức tin là bước đi trong bóng tối chỉ dựa vào lời hứa của Thiên Chúa.
Thiên Chúa hứa: “Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12:3). Lời hứa ấy đạt đến viên mãn nơi Chúa Kitô. Thánh Phaolô xác quyết rằng mọi dân tộc được chúc phúc trong Chúa Kitô, hậu duệ của Abraham: “Những lời hứa đã được ban cho ông Abraham và dòng dõi ông, Kinh Thánh không nói: cho những dòng dõi, như thể nói về nhiều dòng dõi, mà chỉ nói về một dòng dõi: cho dòng dõi người là Chúa Kitô” (Gl 3:16). Như thế, hành trình của Abraham là hình bóng của hành trình Mùa Chay: từ lời hứa đến hoàn tất, từ đức tin đến chiêm ngắm tỏ tường.
2. Ánh sáng giữa hành trình
Tin Mừng kể: “Chúa Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17: 1-2).
Biến cố Hiển Dung là một mặc khải về căn tính thật của Chúa Giêsu, nhưng cũng là một chuẩn bị cho các môn đệ trước cuộc Thương Khó. Thánh Tôma Aquinô nói: “Chúa Giêsu đi trước để chỉ đường cho chúng ta, cả lên núi lẫn vào Thiên đàng.” Thánh Lêô Cả nói: “Ngài đã biến hình để chúng ta cũng được biến hình.” [1]
Từ đám mây sáng ngời có tiếng phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Ngài. Các ngươi hãy vâng nghe lời Ngài!” (Mt 17:5). Mệnh lệnh này là trọng tâm của toàn bộ đời sống Kitô hữu. Mùa Chay không chỉ là ăn chay, bố thí, cầu nguyện một cách hình thức; nhưng chính là lắng nghe và tuân theo Lời Chúa.
Sự kiện này được Đức Bênêđictô XVI diễn giải: “Biến Hình là một sự kiện cầu nguyện: trong khi cầu nguyện, Chúa Giêsu được hòa mình vào Thiên Chúa, kết hợp mật thiết với Ngài, tuân theo ý muốn yêu thương của Cha bằng ý chí con người của chính Ngài, và do đó ánh sáng xâm chiếm Ngài và hiện ra hữu hình như chân lý về bản thể của Ngài: Ngài là Thiên Chúa, Ánh sáng của Ánh sáng…Điểm mấu chốt của sự Biến Hình là sự báo trước về sự Phục Sinh, nhưng điều này lại giả định sự chết. Chúa Giêsu bày tỏ vinh quang của Ngài cho các Tông đồ để họ có sức mạnh đối mặt với thử thách của Thập tự giá và hiểu rằng cần phải trải qua nhiều gian truân để đạt đến Nước Thiên Chúa. Để bước vào sự sống đời đời, chúng ta cần lắng nghe Chúa Giêsu, theo Ngài trên con đường Thập tự giá, giống như Ngài, mang trong lòng mình niềm hy vọng về sự Phục sinh.” [2]
Đức Bênêđictô XVI giúp chúng ta hiểu rằng vinh quang trên núi không tách khỏi con đường Thập giá, nhưng chính là ánh sáng soi dẫn các môn đệ bước qua thử thách trong niềm hy vọng Phục Sinh. Tuy nhiên, khi ánh sáng thần linh ấy bừng lên và tiếng Chúa Cha vang dội, phản ứng tự nhiên của con người vẫn là run sợ trước mầu nhiệm vượt quá sức mình: “Các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất” (Mt 17:6). Chính khi ấy, Chúa Giêsu “lại gần, chạm vào các ông và bảo: Trỗi dậy đi, đừng sợ!” (Mt 17:7). Cử chỉ và lời nói đầy dịu dàng của Chúa Giêsu đưa các môn đệ từ nỗi kinh hoàng đến lòng can đảm, từ ngã sấp xuống đất đến đứng lên tiếp tục hành trình đức tin.
Trước đó, Đức Gioan Phaolô II đã mở đầu triều giáo hoàng của mình bằng lời kêu gọi: “Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!” (Bài giảng khai mạc sứ vụ mục tử Hội Thánh, 22/10/1978). Như thế, Mùa Chay mời gọi chúng ta mạnh dạn lên “núi” cầu nguyện để được biến đổi mà không do dự, chần chừ, e dè, sợ sệt. Mùa Chay cũng là thời gian để nghe lại lời “đừng sợ” ấy: đừng sợ ánh sáng vạch trần tội lỗi; đừng sợ Thập giá; đừng sợ thay đổi [3].
Trên núi, các môn đệ được nếm trước vinh quang ấy, được nhìn thấy Thiên Chúa trong dung nhan vinh quang của Chúa Kitô tỏ tường đến độ Phêrô thốt lên: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay!” (Mt 17:4). Đó là kinh nghiệm thiêng liêng của những giờ cầu nguyện sốt sắng, những khoảnh khắc tĩnh lặng sâu xa. Vì thế, Phêrô muốn dựng ba lều, muốn giữ lại giây phút ấy bình an hạnh phúc đó. Tuy nhiên, Mùa Chay dạy ta rằng không thể dừng lại trên núi; phải xuống núi, đi vào đời, chấp nhận Thập giá.
3. Xuống núi không sợ hãi
Biến hình không dừng ở đỉnh núi. Con đường tiếp theo là Giêrusalem, là Thương Khó, là Thập Giá, cần phải xuống núi bước vào con đường thập giá đó: “Thầy trò từ trên núi xuống…” (Mt 17:9). Ánh sáng rạng ngời trên núi Tabor cần phải chiếu rọi vào bóng tối của đồi Canvê đời thường. Tabor đem lại sức mạnh cho Canvê, như Thánh Phaolô viết cho Timôthê: “Dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng” (2 Tm 1:8). Kitô hữu không chỉ chiêm ngắm vinh quang cùa Chúa Giêsu, nhưng còn chia sẻ vinh quang ấy cho những người khác, ngay cả vì thế mà phải chịu đau khổ, như Thánh Phaolô khẳng định: “Chính vì lý do ấy mà tôi phải chịu những đau khổ này; nhưng tôi không hổ thẹn, vì tôi biết tôi tin vào ai” (2 Tm 1:12). Đau khổ vì Chúa Kitô không phải là để “kể công” với Thiên Chúa, nhưng là để ý thức rằng mọi sự là ân sủng, vì: “Ngài đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Ngài, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Ngài” (2 Tm 1:9).
Ánh sáng Tabor không phải là ánh sáng thoáng qua; đó là ánh sáng của sự sống lại, ánh sáng chiến thắng sự chết: “Chính Chúa Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử” (2 Tm 1:10). Việc Biến Hình cho thấy trước rằng con người sẽ được tham dự vào vinh quang Thiên Chúa: “Con Một Thiên Chúa, bởi muốn cho chúng ta được tham dự vào thần tính của Ngài, nên đã mang lấy bản tính của chúng ta, để Đấng đã làm người, làm cho người ta trở thành những vị thần” (GLHTCG, số 460). Mùa Chay là hành trình bước vào tiến trình ấy: từ con người cũ đến con người mới.
Nhưng sự biến đổi ấy không xảy ra tức khắc. Muốn biến hình như Chúa Giêsu, chúng ta cần phải cầu nguyện, chay tịnh, bác ái. Ba thực hành truyền thống của Mùa Chay không phải là mục đích tự thân, nhưng là phương thế để tâm hồn trở nên nhạy bén với ánh sáng. Cầu nguyện là lên núi với Chúa. Chay tịnh là rời bỏ “xứ sở” cũ của bản năng và dục vọng. Bác ái là xuống núi, mang ánh sáng đến cho anh chị em.
Kinh nghiệm thiêng liêng thật là đẹp, là hay, nhưng chưa phải là tất cả. Chúa Giêsu không cho các môn đệ ở lại trên núi. Vinh quang chỉ được hiểu trọn vẹn dưới ánh sáng Phục Sinh. Chỉ sau Phục Sinh, các môn đệ mới hiểu rằng thập giá không phủ nhận vinh quang, nhưng là con đường dẫn tới đó. Chính vì thế mà Chúa Giêsu truyền: “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17:9). Mùa Chay đặt chúng ta trong sự căng kéo ấy: giữa ánh sáng và bóng tối, giữa hy vọng và thử thách. Nhưng chính trong sự căng kéo ấy mà đức tin lớn lên.
4. Chỉ còn một mình Chúa Giêsu
“Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Chúa Giêsu mà thôi” (Mt 17:8). Có thể nói đây là lời tóm kết cho linh đạo Mùa Chay. Sau khi đã rời bỏ “con người cũ”, đã lên núi, đã nghe tiếng Chúa Cha, đã xuống núi, đã chấp nhận đau khổ, điều còn lại là Chúa Giêsu. Sau mọi thị kiến, sau mọi cảm xúc, điều còn lại là chính Chúa Giêsu. Đức tin trưởng thành không dựa trên cảm giác lạ thường nhất thời, nhưng trên sự gắn bó bền bỉ với một mình Chúa Giêsu.
Mùa Chay mời gọi chúng ta tự hỏi: trong đời tôi, sau tất cả, còn lại điều gì? Câu trả lời là: còn Chúa Giêsu. Và khi còn Chúa Giêsu, một mình Chúa Giêsu. chúng ta sẽ còn tất cả.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, trong Mùa Chay này, xin cho chúng con can đảm bước đi như Abraham, chăm chú lắng nghe như các môn đệ trên núi, và quảng đại chịu đựng vì Tin Mừng như thánh Phaolô. Để rồi, sau hành trình vác Thập giá, chịu chết cùng Chúa Giêsu, chúng con cũng được tham dự vào “sự sống đời đời” trong ánh sáng vinh quang của Chúa Kitô Phục Sinh. mục lục
Phêrô Phạm Văn Trung
[2] Vatican.va
[3] “Đừng sợ – Hãy yêu thương – Hãy hy vọng”
Vào Chúa Nhật thứ II Mùa Chay, chúng ta cùng với Đức Giê-su lên một ngọn núi. Lần này, Người không lên núi một mình mà dẫn theo ba môn đệ thân tín trong đó có Phê-rô là người lãnh đạo và vừa mới tuyên xưng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa. Đến khi Đức Giê-su tỏ cho các ông biết con đường phải đi để chu toàn bổn phận làm Con Thiên Chúa của Người thì Phê-rô, với bản tính cương trực đã thẳng thắn can ngăn Người. Còn các ông khác đều kinh hoàng khi nghe Đức Giê-su cảnh báo họ rằng con đường theo Người là con đường Thập Giá.
Các ông tưởng rằng Thầy lên Giê-ru-sa-lem để khôi phục vương quyền và xua đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi để dành lại độc lập và sức mạnh uy hùng của dân Thiên Chúa. Ai ngờ, Người lại loan báo về những ngày khổ nạn sắp bắt đầu tại Thánh đô Giê-ru-sa-lem!
Ý NGHĨA BIẾN CỐ HIỂN DUNG
Như vậy, biến cố hiển dung của Đức Giê-su không chỉ nâng đỡ và hỗ trợ cho các môn đệ đủ can đảm để đối diện với các thử thách và đau khổ trong khi thi hành sứ vụ; nó còn chất chứa một lời mời gọi dành cho tất cả những ai tin vào Chúa là hãy sẵn sàng tham dự vào những gì mà Đức Giê-su đã thực hiện trong cuộc sống. Chúng ta không được phép ngồi đó mà thụ hưởng, cho dù đó là những giây phút tuyệt diệu nói lên mối dây thân tình giữa ta và Chúa. Nhưng chúng ta phải ra đi, phải xuống núi mà san sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Chúa cho mọi người.
Thật vậy, kinh nghiệm hiển dung hôm nay cho các môn đệ và chúng ta sức mạnh để xuống núi và tiếp tục thi hành bổn phận tuy cao quý nhưng thật gian nan. Đó là việc làm của Đức Tin. Đức tin không ngừng thách thức, lôi kéo và mời gọi chúng ta đi về phía trước. Muốn đi về phía trước chúng ta cần định hướng. Vì thế, chúng ta không thể quên giây phút hiện tại và biết mình đang ở đâu.
LỜI MỜI GỌI CỦA CHÚA KI-TÔ
Hẳn anh chị em vẫn còn nhớ điều mà Chúa Ki-tô mời gọi chúng ta là hãy vác thập giá của mình và đi theo Người khi Đức Giê-su cũng đang đi đến thập giá của chính Người. Chúng ta còn được mời gọi yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ chúng ta. Chúng ta được lệnh phải hoạt động cho công lý và mưu cầu an bình. Chúng ta buộc phải nuôi ăn những kẻ đói khát và chăm lo cho những ai đang bị tổn thương.
Các điều nói trên, không có điều gì là điều dễ dàng đối với người tín hữu. Con đường của chúng ta đi là con đường hẹp dẫn đến đau khổ và sự chết. Làm thế nào chúng ta có thể làm được các điều đó nếu không có sự phù hộ của Thiên Chúa. Và sự trợ giúp của Thiên Chúa phải được chúng ta cảm nghiệm bằng chính kinh nghiệm gặp gỡ Người trong cuộc sống. Nhưng trên thực tế, những kinh nghiệm gặp gỡ đó lại rất hiếm xảy ra và nếu có xảy ra thì cũng rất ngắn ngủi. Vì thế, chúng ta nên trân trọng chúng. Chúng ta nên cố gắng ôn đi ôn lại càng nhiều càng tốt. Chúng ta không nên ồn ào, phô trương thanh thế; trái lại cần bầu khí linh thánh để lắng nghe tiếng nói của Chúa. Những khoảnh khắc đó rất cần thiết để cho chúng ta có thêm sức mạnh cho cuộc hành trình.
VAI TRÒ CỦA BIẾN CỐ HIỂN DUNG
Sau này, biến cố hiển dung của Đức Giê-su còn đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình đức tin và đời sống của các tín hữu thuộc các cộng đoàn tiên khởi và chúng ta ngày hôm nay. Quả thật, chúng ta không nên quên thực trạng đời sống của các tín hữu thời sơ khai. Họ đã để lại cho chúng ta một mẫu gương gắn bó với Đức Giê-su và với nhau. Cho dù họ bị chối từ, bị coi thường, bị theo dõi, bị săn lùng và thậm chí bị giết chết; nhưng vẫn quyết tâm và thành tín trao đổi cho nhau những câu chuyện của Đức Giê-su.
Trong số những san sẻ đó có chuyện tích hiển dung hôm nay.
Khi nói về biến cố này, họ đã cảm nghiệm có một sự thay đổi nơi con người của họ. Ánh vinh quang của Thiên Chúa đã chiếu tỏa để cho hình ảnh của Thiên Chúa nơi các tín hữu được rõ ràng hơn. Một con người có Chúa là như thế, dung mạo của họ sẽ toát lên một sức mạnh mà chỉ có những ai ở trong Chúa mới có được. Sự hiện diện của Thiên Chúa là thế!
KINH NGHIỆM HIỂN DUNG TRONG ĐỜI SỐNG
Sau đây là một vài kinh nghiệm, có thể gọi đó là 'kinh nghiệm hiển dung,' kinh nghiệm mà người bạn tôi đã chia sẻ. Anh là một tín hữu nhiệt thành và ngoan đạo. Trong suốt 30 năm qua, anh đã tham gia các đoàn thể và phong trào trong Giáo xứ như: Hội Đạo Binh Đức Mẹ, phong trào Cursillo, Thánh Linh, Thăng Tiến Hôn Nhân và Hội Đồng Giáo Xứ.
Với lòng nhiệt thành và hy sinh, anh đã được đề cử vào các chức vụ như hội trưởng hội Legio của Giáo xứ, thư ký cấp Giáo Phận; ủy viên các phong trào và sau cùng là thành viên của Ban Chấp Hành của Giáo xứ. Mọi công tác anh đều chu toàn. Anh là người thành công và được nhiều người kính trọng trong Giáo xứ. Thế mà, tự trong thâm tâm, anh vẫn khắc khoải và cảm thấy như vẫn còn thiếu vắng một điều gì cho cuộc sống.
Câu chuyện của Gia-kêu
Anh đã ví hành trình tìm Chúa của anh giống như của Gia-kêu. Anh tưởng rằng việc tham gia các đoàn thể, từ hội này đến phong trào khác là con đường gặp Chúa của anh. Giống như Gia-kêu, anh nghĩ rằng các vị trí mà anh đạt được là những điểm thuận lợi cho anh nhìn thấy Chúa! Nhưng anh đã lầm!
Gia-kêu đã nhìn thấy Chúa khi ở trên cây, nhưng Gia-kêu chỉ gặp Chúa khi ông ta xuống đất. Và trường hợp của anh bạn tôi cũng thế, anh không nhận ra sự hiện diện của Chúa trong các chức vụ anh đã đạt được. Thế mà, khi trở về cuộc sống bình thường của người tín hữu, không còn bị vướng bận bởi các công tác, không còn bị trói buộc bởi các nhiệm vụ và cũng không còn bị áp lực phải làm gương sáng cho ai nữa. Anh tham gia nhóm gia đình cầu nguyện, khoảng chừng năm đến bảy gia đình. Hàng tuần họ họp và cầu nguyện chung với nhau. Họ dùng các lời Thánh Vịnh, lập đi lập lại các điệp ca để cho tâm hồn thư thái và chìm đắm trong bầu khí thật linh thánh đó. Và anh đã gặp Chúa.
Cuộc gặp gỡ Chúa của anh và những người bạn trong nhóm cầu nguyện đã thay đổi cuộc đời anh một cách sâu sắc. Nhờ sự gặp gỡ này, anh đã khám ra con đường dẫn anh đi vào mối tương quan mới với Thiên Chúa và những người khác. Anh tôn trọng, hiểu và yêu họ nhiều hơn. Chúa đã tỏ mình cho anh, Chúa đã hiển dung với anh.
Câu chuyện người mẹ
Lại có một bà mẹ kia vô cùng hạnh phúc và mãn nguyện khi nhìn cảnh chồng con vui vẻ, đầm ấm bên bàn cơm mà bà đã dành cả ngày để chuẩn bị. Lúc đó những mệt nhọc của mẹ hầu như tan biến, còn lại trong phần sâu thẳm của tâm hồn bà là niềm vui, một niềm vui không sao diễn tả được. Rõ ràng đó là một việc làm bình thường như mọi ngày của cuộc sống, thế mà trong giây phút đó bà mới nhận ra sự diệu kỳ và phi thường của nó. Một kinh nghiệm 'hiển dung' đã được tỏ bày qua công việc rất bình thường của các người mẹ.
LỜI MỜI GỌI THAY ĐỔI
Suy niệm về biến cố hiển dung giúp cho chúng ta nhận ra một điều là chúng ta hạnh phúc với những gì đang xảy ra nhưng vẫn mong chờ việc sắp xảy đến. Hiển dung là như thế. Giây phút chiêm ngưỡng dung nhan vinh hiển mà Đức Giê-su ban cho tuy ngắn ngủi nhưng lại tác động và đòi buộc chúng ta phải thay đổi.
Là người tín hữu, chúng ta liên tục được mời gọi bước vào những cuộc phiêu lưu mới mà chưa thấy kết quả. Chúng ta được mời gọi trở thành các môn đệ chân chính và hoàn hảo hơn. Chúng ta được mời gọi cho đi nhiều hơn, yêu thương và quảng đại hơn. Chúng ta luôn được thúc đẩy trở thành môn đệ mà Chúa yêu thương.
Tuy nhiên, với bản tính tự nhiên, chúng ta chỉ muốn giữ lấy những gì thật quen thuộc, không dám hay không muốn thay đổi. Nhưng, cuộc sống của người tín hữu không được phép dừng lại như thế, chúng ta được mời gọi tham dự vào khoảnh khắc biến hình đổi dạng để thay đổi mà trở nên tinh tuyền và thánh thiện hơn.
Vì vậy, khám phá rồi ôn đi ôn lại các kinh nghiệm được nhìn thấy dung nhan vinh hiển của Đức Chúa sẽ tăng cường niềm tin và là sức mạnh biến đổi chúng ta thành con người mới, con người biết buông bỏ rồi sẵn sàng ra đi, sẵn sàng quay đầu xuống núi để chu toàn bổn phận của người con yêu dấu được Thiên Chúa yêu thương.
Cầu xin cho nhau biết chu toàn bổn phận trong cuộc sống rất đời thường để tiếp tục 'bước theo' và 'bước vào' dấu chân của Đức Ki-tô. Amen! mục lục
Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
LẮNG NGHE, ĂN CHAY, CÙNG BIẾN ĐỔI
Bước vào Chúa Nhật II Mùa Chay, Phụng vụ Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm biến cố Chúa Giê-su biến hình một mầu nhiệm vĩ đại và mời gọi con cái mình lắng nghe tiếng Chúa trong Lời, ăn chay thanh luyện ước muốn, tự chủ bản thân, cùng nhau xin ơn biển đổi nhờ Thánh Thần Chúa, để xây dựng những tương quan hiền hòa và trở nên dấu chỉ hy vọng giữa thế giới. (x. ĐTC LÊÔ XIV, Sứ Điệp Mùa Chay 2026)
Lời Chúa dẫn chúng ta đi qua ba chặng: cuộc lên đường của tổ phụ trong Sách Sáng Thế (x. St 12,1-4a), sống thánh thiện (x. 2 Tm 1,8b-10), và đỉnh cao là cuộc Chúa Giê-su biến hình (x.Mt 17,1-9). Tất cả hòa quyện thành một sứ điệp sống động Mùa Chay 2026 với chủ đề: “Lắng nghe – Ăn chay – và cùng nhau”. Đây chính là con đường biến đổi mà Thiên Chúa vạch ra cho mỗi người chúng ta.
Trước hết là lắng nghe
Thiên Chúa phán cùng Áp-ra-ham: “Hãy từ bỏ quê hương… mà đi đến xứ Ta chỉ cho” (St 12,1-4a). Lời mời gọi trên đòi Áp-ra-ham phải chú ý lắng nghe. Không có đối thoại, không có bảo đảm, chỉ có một lời hứa. Áp-ra-ham nghe rõ và ra đi. Cuộc ra đi ấy khởi đầu cho hành trình lịch sử cứu độ nhân loại.
Mùa Chay cũng bắt đầu bằng việc lắng nghe: lắng nghe tiếng Chúa trong Kinh Thánh, trong lương tâm, trong những biến cố đời thường. Giữa bao tiếng ồn của xã hội hiện đại, việc lắng nghe trở thành một hành vi đức tin.
Trên núi cao, khi Chúa Giê-su biến hình trước mặt các môn đệ, tiếng Chúa Cha phán: “Đây là Con Ta yêu dấu… hãy nghe lời Người” (Mt 17,7). Lời trên là trung tâm của Mùa Chay. Phê-rô muốn dựng ba lều để giữ lại khoảnh khắc huy hoàng, nhưng Chúa Giê-su không đáp lại câu nào, chỉ có tiếng Chúa Cha phán bảo: “Hãy nghe”. Lắng nghe trước khi hành động. Lắng nghe để được biến đổi. Lắng nghe để hiểu rằng vinh quang phải đi qua thập giá.
Thứ đến là ăn chay
Ăn chay không chỉ là kiêng thịt hay giảm bữa, nhưng là giúp chúng ta làm chủ bản thân, thoát khỏi lối sống hưởng thụ và lệ thuộc. Ăn chay đích thực là từ bỏ con người cũ, như Áp-ra-ham từ bỏ quê hương, như các môn đệ phải từ bỏ nỗi sợ hãi. Thánh Phao-lô nhắc nhở rằng, chúng ta được kêu gọi không phải do công trạng riêng, nhưng nhờ ân sủng Thiên Chúa. Ăn chay vì thế là hành vi khiêm tốn nhìn nhận mình không tự cứu được mình. Khi bớt đi sự kiêu căng, ích kỷ, nóng giận, chúng ta tạo khoảng trống cho ân sủng Chúa hoạt động.
Ánh sáng từ dung mạo rạng ngời của Đức Ki-tô không chỉ để chiêm ngắm, nhưng để thanh luyện. Ăn chay giúp chúng ta bước vào tiến trình thanh luyện ấy, là từ bỏ những thói quen làm tâm hồn nặng nề; từ bỏ lối sống hưởng thụ khiến ta quên mất Thiên Chúa và tha nhân. Ăn chay là ra khỏi những điều làm chúng ta xa Chúa, chúng ta được tự do hơn để sống cho điều bền vững, và dễ mở lòng mình ra với sự sống không hư nát ấy.
Sau cùng là cùng nhau
Lời hứa với Áp-ra-ham không chỉ dành cho riêng ông: “Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ nhờ ngươi mà được diễm phúc” (St 12,1-3). Ơn gọi Ki-tô hữu không bao giờ là hành trình cá nhân khép kín. Thánh Phao-lô mời gọi Ti-mô-thê “đồng lao cộng tác vì Tin Mừng” (2 Tm 1, 8b). Mùa Chay không phải là cuộc chiến đơn độc, nhưng là hành trình của cộng đoàn, của Hội Thánh cùng tiến bước với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần.
Lên núi biến hình, Chúa Giê-su không đi một mình. Người đưa ba môn đệ lên cùng, và khi xuống núi, Người cùng họ bước tiếp con đường dẫn tới Giê-ru-sa-lem. Hình ảnh ấy gợi cho chúng ta rằng biến đổi không chỉ là kinh nghiệm nội tâm, nhưng phải được nâng đỡ trong tương quan huynh đệ. Cùng nhau cầu nguyện, ăn chay, chia sẻ với người nghèo là cách cộng đoàn Ki-tô hữu làm chứng cho thế giới.
ĐTC LÊÔ XIV trong Sứ Điệp Mùa Chay 2026), mời gọi chúng ta nối kết ba chiều kích ấy thành một hành trình trọn vẹn. Lắng nghe để biết mình phải từ bỏ điều gì. Ăn chay để có sức mạnh thực hiện sự từ bỏ ấy. Và cùng nhau để không ai bị bỏ lại phía sau trên đường nên thánh.
Khi các môn đệ sợ hãi ngã sấp mặt xuống đất, Chúa Giê-su đã đến gần, chạm vào các ông và nói: “Các con hãy đứng dậy, đừng sợ” (Mt 17,7). Mùa Chay cũng có thể làm chúng ta sợ: sợ thay đổi, sợ mất mát, sợ phải bước ra khỏi vùng an toàn. Nhưng ánh sáng trên núi nhắc chúng ta rằng, đích điểm của hành trình là vinh quang Phục Sinh. Biến đổi không làm ta mất đi chính mình, nhưng giúp ta trở thành con người thật mà Thiên Chúa mong muốn.
Ước gì trong Mùa Chay này, mỗi gia đình, mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn biết tạo ra những “khoảng lặng” để lắng nghe Lời Chúa; biết thực hành ăn chay bằng những hy sinh cụ thể và bác ái thiết thực; biết cùng nhau nâng đỡ những ai yếu đuối. Khi đó, hành trình Mùa Chay sẽ không chỉ là bốn mươi ngày phụng vụ, nhưng là một cuộc xuất hành nội tâm.
Và như Áp-ra-ham xưa đã ra đi trong niềm tin, các Tông đồ đã xuống núi với ánh sáng trong tim, chúng ta cũng được sai đi giữa đời để trở thành dấu chỉ của hy vọng. Mùa Chay, mùa của biến đổi sẽ trở thành mùa của ân sủng, nếu chúng ta biết lắng nghe, ăn chay, và biết cùng nhau bước đi trong ánh sáng của Đức Ki-tô. mục lục
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
RA ĐI - ĐỂ KHÔNG MẤT CHÚA
BƯỚC QUA - ĐỂ KHÔNG MẤT MÌNH
HIỂN DUNG - ĐỂ BIẾT MÌNH LÀ DÂN CỦA CHÚA
Khi người nông dân tung hạt xuống đất là chấp nhận "mất": Hạt lúa không còn trong tay, không còn nguyên vẹn. Nó bị chôn vùi. Ai không tin mùa gặt, sẽ không dám gieo. Không tin đất sẽ sinh hoa trái, sẽ không dám để hạt mục đi.
Đức tin cũng vậy. Thiên Chúa đặt vào tay ta một chọn lựa. Chọn lựa ấy giống như gieo hạt xuống đất tối. Không thấy gì. Không biết tương lai. Chỉ biết một điều: Nếu không dám trao đi, sẽ không bao giờ có mùa.
Chúa Nhật II Mùa Chay nói với chúng ta về điều đó. Đó là một con người dám gieo cả tương lai mình vào tay Thiên Chúa. Một nhóm môn đệ được cho thấy ánh sáng để không gục ngã khi trời tối. Một Thiên Chúa không giữ lại gì cho riêng mình, nhưng hiến mình cho Dân.
Để rồi mỗi người chúng ta phải tự hỏi: Tôi có thực sự là Dân của Chúa không? Hay tôi chỉ đứng bên lề giao ước?
Chúa Nhật II Mùa Chay không phải là câu chuyện đẹp để chiêm ngắm. Đây là một lời gọi phải trả lời. Thiên Chúa không tìm những người giữ đạo cho xong. Chúa tìm một Dân. Dân thì phải thuộc về Chúa - và Chúa thuộc về Dân. Không nửa vời. Không hời hợt.
I. ÁPRAM - KHI MẤT TẤT CẢ MÀ KHÔNG MẤT CHÚA.
"Hãy rời bỏ xứ sở…". Lời ấy không nhẹ. Đó là nhổ gốc. Rời quê hương là rời chỗ bám víu. Rời họ hàng là rời điểm tựa. Rời nhà cha là rời căn tính. Ápram ra đi. Không bản đồ. Không tương lai bảo đảm. Chỉ có một điều: Chúa đã nói.
Cao điểm của đức tin Ápram không phải lúc ra đi. Mà là lúc ông cầm dao. Một người cha. Một đứa con duy nhất. Một lệnh truyền khó hiểu. Có lẽ đêm trước hôm ấy, ông không ngủ. Có lẽ nước mắt không dám chảy thành tiếng. Có lẽ mỗi bước lên núi là một bước rách tim.
Nhưng ông không buông Chúa. Vì không buông Chúa, ông không mất con. Không buông Chúa, ông không mất lời hứa. Không buông Chúa, ông trở thành cha của muôn dân.
Ở đây, tương quan DÂN - CHÚA lộ diện: Dân dám trao điều quý nhất.
Và Chúa không bao giờ phản bội điều Chúa đã hứa.
Sống giữa đời, chúng ta sợ mất nhiều thứ. Nhưng điều đáng sợ nhất là mất Chúa. Mất mùa chưa phải tận cùng. Mất tiền chưa phải tận cùng. Mất danh chưa phải tận cùng. Mất Chúa mới là mất tất cả.
II. HIỂN DUNG - KHI CHÚA KHÔNG MUỐN DÂN TUYỆT VỌNG.
Chúa Giêsu vừa loan báo thập giá. Các môn đệ hoang mang. Và Chúa đưa họ lên núi. Ngay sau đó, lạ lùng: Ánh sáng bừng lên. Dung nhan rực rỡ. Tiếng Cha xác nhận: "Đây là Con yêu dấu". Sao lại cho thấy vinh quang lúc này? Vì Chúa biết họ sắp bước vào bóng tối. Hiển dung không xóa thập giá. Hiển dung để họ đủ sức đi qua thập giá.
Giống như giữa mùa giông, bầu trời chợt lóe sáng. Ánh sáng ấy không ngăn mưa. Nhưng cho ta biết: mặt trời chưa chết.
Thiên Chúa không bao giờ thử thách Dân mà không ban trước một tia hy vọng.
Nhưng có một điều đáng sợ: Phêrô muốn dựng lều. Muốn ở lại.
Muốn giữ khoảnh khắc đẹp mà không xuống núi. Chúng ta cũng vậy: thích đạo khi nhà bình an; thích cầu nguyện khi lòng nhẹ; thích Chúa khi đời dễ chịu. Nhưng khi xuống núi: bệnh tật, con cái hư hỏng, gia đình rạn nứt, ta hoang mang. Ta muốn hiển dung mà không muốn thập giá. Không có con đường ấy!
III. THẬP GIÁ - HIỂN DUNG DỮ DỘI NHẤT.
Nếu Tabor là hiển dung sáng láng, thì Canvê là hiển dung dữ dội. Canvê không có ánh sáng trắng tinh. Chỉ có thân thể rách nát. Chỉ có máu và gai. Nhưng chính ở đó, Thiên Chúa tỏ mình trọn vẹn nhất. Vì ở đó, không chỉ là một con người chịu đau. Mà là Thiên Chúa hiến mình cho Dân.
Đây là điều làm ta phải run: Chúng ta không theo một Thiên Chúa xa lạ. Chúng ta thuộc về một Thiên Chúa đã chết vì mình. Tương quan ấy không êm đềm. Nó mạnh. Nó sâu. Nó buộc ta phải chọn: Nếu Chúa đã trao mình cho tôi đến thế, tôi có thể sống hời hợt sao? Nếu Chúa đã yêu tôi đến tận cùng, tôi có thể chỉ giữ đạo cho xong sao?
IV. MÙA CHAY - LÚC PHẢI QUYẾT ĐỊNH MÌNH LÀ AI.
Ra đi trong đức tin nghĩa là:
- Dám bỏ thói quen xấu.
- Dám cắt một điều mình biết là không đẹp lòng Chúa.
- Dám đặt Chúa trên lợi ích riêng.
Bước qua thử thách nghĩa là:
- Khi bệnh đến, không oán.
- Khi nghèo đến, không bỏ lễ.
- Khi con cái xa Chúa, không bỏ cầu nguyện.
Hiển dung nghĩa là: Để thánh giá đời mình không làm mình khô cứng, mà làm mình mềm ra trước mặt Chúa.
Hiển dung hôm nay: Khi đau khổ không làm tôi cay nghiệt.
Hiển dung mai ngày: Khi tôi được bước vào ánh sáng vĩnh cửu.
V. MỘT CÂU PHẢI TRẢ LỜI: TÔI LÀ AI?
Là người giữ đạo cho xong? Hay là Dân của Chúa?
Nếu tôi thực sự là Dân của Chúa, thì khi Chúa đi qua thập giá, tôi không thể đứng ngoài.
Nếu tôi không dám theo Chúa khi đời tối, tôi sẽ không thấy ánh sáng mai ngày.
Mùa Chay không hỏi ta hiểu bao nhiêu. Mùa Chay hỏi ta dám đi bao xa với Chúa.
Lạy Chúa, xin đừng để chúng con mất Chúa vì sợ mất điều khác. Xin cho chúng con dám ra đi như Ápram. Dám xuống núi như các Tông đồ. Dám đứng dưới Thánh Giá như những người thuộc về Chúa.
Để khi đời khép lại, Chúa có thể nói với chúng con: "Đây là Dân của Ta". mục lục
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
KIÊN TRÌ TRONG CẦU NGUYỆN VÀ SA MẠC MÙA CHAY
CÂU CHUYỆN VỀ SỰ KIÊN TRÌ
Một người đàn ông luôn thức dậy vào mỗi buổi sáng đến nhà thờ cầu nguyện. Một ngày nọ, sau khi mặc quần áo, ông đi bộ đến nhà thờ. Khi đến gần nhà thờ ông bị té và quần áo bị dơ. Đứng lên, quay về thay quần áo rồi lại đến nhà thờ, khi đến gần chỗ cũ ông lại bị té. Cũng vậy, đứng lên quay về thay quần áo rồi lại đi nhà thờ. Lần này trên đường đi ông gặp một người xa lạ cầm đèn chờ ông. Người cầm đèn giải thích rằng: "Tôi nhìn thấy ông bị té hai lần trên đường đến nhà thờ, vì thế tôi đến để soi đường cho ông đi."
Người đàn ông cảm ơn và cả hai cùng đến nhà thờ. Đến nơi ông mời người cầm đèn cùng vào cầu nguyện với ông. Người cầm đèn từ chối. Ngạc nhiên, người đàn ông hỏi tại sao ông không muốn vào nhà thờ cầu nguyện.
Người cầm đèn trả lời: "Bởi vì tôi là Sa-tan." Và Sa-tan tiếp tục giải thích rằng: "Tôi thấy ông đi đến nhà thờ vì thế tôi đã làm cho ông bị té. Khi ông quay về nhà, mặc lại quần áo và quay lại nhà thờ, Chúa Giê-su tha thứ tất cả tội lỗi của ông. Tôi lại làm cho ông té lần thứ hai, và ngay cả điều này cũng không làm cho ông bỏ cuộc để ở nhà, nhưng thay vào đó ông lại quay về thay quần áo rồi lại đến nhà thờ. Chính vì điều này mà Chúa đã tha thứ tất cả tội lỗi của gia đình ông. Tôi sợ rằng nếu làm cho ông té thêm một lần nữa Chúa sẽ tha thứ tất cả tội lỗi của cả giáo xứ ông nên để bảo đảm điều này không xảy ra tôi phải dẫn ông đến nhà thờ một cách an toàn."
Câu chuyện muốn nói rằng kiên trì trong cầu nguyện chúng ta sẽ nhìn thấy sự chiến thắng của Chúa Giê-su. Đây cũng là chủ đề của các bài đọc hôm nay.
HÀNH TRÌNH BỐN MƯƠI NGÀY
Từ Thứ Tư Lễ Tro, chúng ta bắt đầu hành trình bốn mươi ngày hướng đến Lễ Phục sinh, hướng đến trung tâm của năm phụng vụ và đức tin. Trong hành trình bước theo Chúa Giê-su, Tin Mừng hôm nay cho biết khi bắt đầu sứ vụ, Chúa Giê-su đã lui vào sa mạc để ăn chay và cầu nguyện, bị ma quỷ cám dỗ. Thế nhưng đâu là ý nghĩa thiêng liêng của sa mạc đối với chúng ta là những người đang sống nơi thành thị?
Ý NGHĨA CỦA SA MẠC
Nếu tưởng tượng đang ở trong một sa mạc, có lẽ cảm giác đầu tiên chúng ta sẽ nhận ra chính mình được bao phủ bởi một sự im lặng: không có tiếng động, ngoài tiếng gió và hơi thở của chúng ta. Sa mạc là nơi tách biệt khỏi những tiếng ồn ào. Ở đây không có lời nào ngoại trừ Lời của Chúa, như một làn gió nhẹ chạm đến con tim (x. 1 V 19,12).
Chúa thích nói chuyện với chúng ta nơi sa mạc. Trong sa mạc, Người ban cho Mô-sê Mười Điều Răn. Và khi dân chúng quay lưng lại với Người, Chúa nói: "Bởi thế, này Ta sẽ đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình. Ở đó, nó sẽ đáp lại như buổi thanh xuân" (Hs 2,16-17). Trong sa mạc, chúng ta nghe Lời Chúa và tìm kiếm sự thân mật và tình yêu của Chúa Cha giống như Chúa Giê-su đã làm sau một ngày giảng dạy, luôn vào nơi thanh vắng để cầu nguyện (x. Lc 5,16).
CHÚA GIÊ-SU TRONG SA MẠC
Tin Mừng hôm nay tường thuật liền ngay sau khi chịu phép rửa, Chúa Giê-su vào sa mạc và chịu cám dỗ. Chúa Giê-su ở trong sa mạc suốt bốn mươi đêm ngày gợi lại hành trình 40 năm của người Do Thái từ Ai-cập đến đất hứa. Sau khi vượt qua Biển Đỏ, dân Do Thái đối diện với sa mạc và những cám dỗ của nó.
Lời phàn nàn của họ về việc thiếu bánh ăn (Xh 16) được vang vọng trong cám dỗ thứ nhất: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá này biến thành bánh." Nghi ngờ của họ về sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa (Xh 17) được nhận ra trong cám dỗ thứ hai: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống đi," và thờ phượng bụt thần bò vàng (Xh 32) được phản ảnh trong cám dỗ thứ ba: "Tôi sẽ cho ông tất cả những cái đó, nếu ông sấp mình xuống thờ lạy tôi."
Người Do Thái đã đánh mất sự phó thác và vâng lời với Đấng đã cứu họ ra khỏi cuộc sống nô lệ và họ đã phạm tội. Chúa Giê-su cũng đối diện cùng một loại những cám dỗ như người Do Thái, nhưng đã chiến thắng nhờ sự trung tín và vâng lời dựa vào Lời Chúa. Vì thế để đánh bại cám dỗ chúng ta cần Lời Chúa.
LẮNG NGHE LỜI CHÚA
Trong sa mạc, Chúa mời gọi chúng ta hãy lắng nghe điều quan trọng nhất: Lời Chúa, "Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra" (Mt 4,4). Giống như cơm bánh, và còn hơn cả cơm bánh, chúng ta cần Lời Chúa, chúng ta cần nói chuyện với Chúa, chúng ta cần cầu nguyện. Bởi vì chỉ trước mặt Thiên Chúa, những khuynh hướng của trái tim mới lộ ra ánh sáng và tính nước đôi của linh hồn mới có thể chấm dứt.
Chúng ta sống trong một môi trường bị ô nhiễm bởi quá nhiều bạo lực bằng lời nói, bằng nhiều từ ngữ xúc phạm và có hại. Chúng ta bị bao phủ bởi những lời trống rỗng, với những quảng cáo, với những thông điệp tinh tế. Chúng ta quen với việc nghe mọi thứ về mọi người và có nguy cơ rơi vào một thế giới làm suy yếu trái tim chúng ta.
MÙA CHAY – THỜI GIAN CHO LỜI CHÚA
Vì thế Mùa Chay là thời điểm thích hợp để nhường chỗ cho Lời Chúa. Đây là lúc tắt tivi và mở Kinh Thánh; là lúc ngắt kết nối với điện thoại nhưng kết nối với Tin Mừng; là thời gian để từ bỏ những lời vô bổ, tán gẫu, tin đồn, buôn chuyện nhưng trao chính mình cho Chúa. Đây là thời gian để dành riêng cho một hệ sinh thái trái tim lành mạnh. Là thời gian nỗ lực để phân biệt tiếng nói của Chúa, tiếng nói của lương tâm, của sự tốt lành dành cho chúng ta.
Càng đứng vững trước cám dỗ chúng ta càng trở nên giống Chúa hơn. Vấp ngã không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng đối với một Kitô hữu là biết đưa những cám dỗ và tội lỗi của mình vào trong khuôn khổ cầu nguyện để đức tin không bị suy yếu, nhưng trưởng thành và giúp củng cố đức tin cho người khác. Bởi vì cầu nguyện là liên lạc với Chúa. Mất liên lạc với Chúa, sẽ khiến chúng ta mất đi lòng phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa. mục lục.
Lm. Fx. Nguyễn Văn Tuyết
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.