SUY NIỆM CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH – A
[Cv 8, 5-8. 14-17; 1 Pr 3, 15-18; Ga 14,15-21]
THỜI CỦA THÁNH THẦN – + ĐTGM Giu-se Vũ Văn Thiên
CHÚA THÁNH THẦN TÁC ĐỘNG NHẸ NHÀNG NHƯNG DIỆU KỲ – Phêrô Phạm Văn Trung
KHI TÌNH YÊU KHÔNG CÒN BIẾT YÊU – Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
YÊU MẾN THẦY, THÌ HÃY GIỮ GIỚI RĂN THẦY – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
YÊU RỒI MỚI GIỮ, HAY GIỮ ĐỂ MÀ YÊU? – Jos. Vinc. Ngọc Biển
MẸ LÀ MẪU MỰC YÊU THƯƠNG – Lm. Yuse Mai Văn Thịnh, CSsR
NHƯ THẦY ĐÃ YÊU THƯƠNG ANH EM – Lm. Giuse Hoàng Văn Quảng, SJ
Đức Giê-su đã hoàn tất công trình cứu độ trần gian, và Người đã về với Chúa Cha. Hy tế của Chúa Giê-su được dâng một lần trên thập giá là đủ cho con người được cứu rỗi. Tuy vậy, con người ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa lại luôn cần đến ơn Cứu độ, nên Chúa Giê-su hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”. “Đấng Bảo trợ khác” là Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, Đấng có cùng bản thể và cùng quyền năng với Chúa Cha và với Chúa Con. Như vậy, sau thời của Chúa Giê-su, là thời của Thánh Thần. Chúa Thánh Thần tiếp nối công việc Chúa Giê-su đã làm, để giúp con người ở mọi thời đại đón nhận ơn Cứu độ. Chúa Giê-su không bỏ các môn đệ mồ côi. Người chăm sóc họ bằng những hành động của Chúa Thánh Thần.
Trong ngày lễ Ngũ Tuần, lời hứa của Chúa Giê-su đã được thực hiện. Chúa Thánh Thần đã đến với các tông đồ đang khi các ông cầu nguyện bên Đức Ma-ri-a. Ngay từ lúc đó, các tông đồ đã được biến đổi. Từ những dân chài đơn sơ chất phác, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm. Chúa Thánh Thần đã hoạt động trong Giáo hội kể từ ngày ấy.
Lịch sử hai ngàn năm của Giáo hội đã chứng minh sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần. Ngài là Đấng Canh tân luôn làm cho Giáo hội trẻ trung và phù hợp với các nền văn hóa. Ngài là Đấng Bảo trợ luôn gìn giữ các môn đệ của Chúa Ki-tô trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách. Trong bối cảnh sa sút về đức tin của Giáo hội tại một số quốc gia tây phương hôm nay, nhiều người cảm thấy lo ngại cho tương lai của Giáo hội. Họ đặt câu hỏi: phải chăng giáo huấn của Chúa Giê-su đã trở thành lỗi thời với con người thời nay? Tuy vậy, nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử, chúng ta sẽ thấy có những gia đoạn Giáo hội gặp nhiều thử thách cam go, thậm chí có những chia rẽ ngay từ thượng tầng của Giáo hội. Ấy vậy mà Chúa Thánh Thần vẫn gìn giữ con thuyền của Giáo hội, và dẫn đưa con thuyền ấy vượt trùng dương, thoát nguy biến. Chúng ta tin vào quyền năng Thiên Chúa và cầu nguyện. Chúa sẽ có cách giải quyết của Người.
Mặc dù Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong Giáo hội, và mặc dù Chúa Giê-su vẫn hiện diện nơi trần thế như Người đã hứa: “Này đây Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế”, Ki-tô hữu không được chủ quan và ỷ lại. Mệnh lệnh Chúa Giê-su đã truyền cho các tông đồ, và hôm nay cho chúng ta, là: “hãy giữ điều răn của Thầy”. Điều răn của Thầy là điều nào? Là yêu thương nhau. Điều răn của Thầy còn là trọn vẹn giáo huấn mà Thầy đã rao giảng trong xứ Pa-lét-ti-na. Tình yêu của tín hữu dành cho Chúa Giê-su không dừng lại ở lý thuyết và ngôn từ trên môi miệng, nhưng phải được chứng minh bằng việc làm cụ thể, đó là thực hiện những gì Chúa đã dạy. Nhờ yêu mến và thực hành lời Chúa Giê-su, tín hữu được gặp gỡ Chúa Cha, được Chúa Cha yêu mến và được ở trong Chúa Cha, như đắm chìm vào đại dương yêu thương viên mãn vĩnh cửu. Đây là huyền nhiệm mà lý trí con người không sao hiểu thấu.
Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể lại, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi đã đạt được mùa màng bội thu (bài đọc 1). Số người tin Chúa gia tăng nhanh chóng, trong số đó có một số tư tế cũng đón nhận đức tin. Khi suy tư về Giáo hội, chúng ta thấy đây quả là công trình của Thiên Chúa. Từ một nhóm nhỏ dân chài ở biển hồ Ga-li-lê-a, những người tin theo Chúa ngày một đông, lớn mạnh và ngày nay đã hiện diện trên toàn thế giới. Giáo hội là công trình của Thiên Chúa, và công trình ấy lại được thực hiện qua những cố gắng và nỗ lực của con người. Ki-tô hữu có bổn phận học biết Chúa Giê-su, gặp gỡ Người, để có thể nói về Người cho anh chị em mình. Thánh Phê-rô khuyên chúng ta: “Hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng” (bài đọc 2). Hai yếu tố “hiền hòa và kính trọng” được thánh Tông đồ nêu như điều kiện cần thiết để việc giới thiệu Đức Giê-su mang lại hiệu quả tích cực. Quả vậy, truyền giáo không bao giờ là áp lực, là lôi kéo, đe dọa, chiêu dụ hay mua chuộc. Truyền giáo phải như hoa tỏa hương xung quanh, để những người chưa biết Chúa cảm nhận được hương thơm qua đời sống của các tín hữu. Những ai gia nhập Đạo do bị ép buộc, sẽ sớm bỏ Đạo, khi gặp khó khăn thử thách.
“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên, mừng Danh thánh rạng ngời!”. Dẫu rằng cuộc sống còn nhiều bi thương và thử thách, là Ki-tô hữu, chúng ta hãy vui mừng tạ ơn và cậy trông nơi Chúa. Đấng Bảo trợ là Chúa Thánh Thần luôn ở cùng chúng ta, để yêu thương nâng đỡ và để soi sáng khích lệ chúng ta trong cuộc sống đời thường. Đây là thời của Thánh Thần, cũng là thời của yêu thương, canh tân và ân sủng. Xin Chúa cho chúng ta cảm nhận được niềm vui thiêng liêng ấy. mục lục
+ ĐTGM Giu-se Vũ Văn Thiên
CHÚA THÁNH THẦN TÁC ĐỘNG NHẸ NHÀNG NHƯNG DIỆU KỲ
Trong bài đọc trích sách Công Vụ Tông Đồ, có một chi tiết rất “nhỏ” nhưng lại mang sức nặng của cả một đời sống đức tin: “Bấy giờ các ngài đặt tay trên họ, và họ nhận lãnh Thánh Thần” (Cv 8,17). Không có gió mạnh, không có những lời dài dòng, chỉ là một cử chỉ đơn sơ – đặt tay. Nhưng chính trong cử chỉ ấy, một điều linh thánh đã xảy ra, đó là con người được chính Thiên Chúa chạm đến.
1. Đức tin không chỉ là “nghe”, nhưng còn là “nhận lãnh”
Câu chuyện bắt đầu từ Samaria, một vùng đất từng bị coi là xa lạ, thậm chí bị khinh thường bởi người Do Thái. Vậy mà Tin Mừng lại đến đó, và “dân miền Samari đã đón nhận lời Thiên Chúa” (Cv 8,14). Họ tin. Họ đã chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Nhưng một điều vẫn còn thiếu: họ chưa nhận lãnh Thánh Thần.
Điều này rất quan trọng. Đức tin không chỉ dừng lại ở việc “biết” hay “tin rằng vậy là đúng” như kết quả của suy luận duy lý, của logic toán học, mà phải đi đến chỗ “được biến đổi”. Phép rửa mở cửa, nhưng chính Thánh Thần bước vào và làm cho đời sống mới thực sự bắt đầu, vì Tin Mừng không chỉ đến, mà còn sinh hoa trái: “cả thành được vui mừng khôn tả” (Cv 8,8).
Thánh Phaolô nói: “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14,17). Niềm vui của Samaria chính là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa không bị giới hạn bởi biên giới, văn hóa hay quá khứ của con người. Niềm vui ấy không phải là cảm xúc thoáng qua, nhưng là dấu chỉ của sự hiện diện của Thiên Chúa. Ngài đến, Ngài chữa lành, Ngài giải thoát.
Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã viết: “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một lựa chọn đạo đức hay một ý tưởng cao cả, mà là cuộc gặp gỡ với một sự kiện, một con người, mang đến cho cuộc sống một chân trời mới và một hướng đi quyết định” (Thông điệp Deus Caritas Est, số 1).
Cuộc gặp gỡ ấy chính là cuộc gặp gỡ với Chúa Thánh Thần, Đấng không chỉ dạy chúng ta về Thiên Chúa, nhưng đưa chúng ta vào trong chính sự sống của Ngài. Chúa Thánh Thần không phải là một “quyền năng”, mà là một “Đấng ở lại”. Chúa Giêsu hứa: “Thầy sẽ xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi” (Ga 14,16). Ngài không nói Thầy sẽ ban cho các con một sức mạnh, hay một cảm xúc, nhưng là một Đấng. Thánh Thần là một Ngôi Vị, là Thiên Chúa thật, Đấng đến để ở lại. Và Ngài không ở bên ngoài, nhưng “luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (Ga 14,17). Đây là một trong những mầu nhiệm sâu xa nhất của đời Kitô hữu: Thiên Chúa không còn ở xa, không còn chỉ ở trên trời, nhưng ở trong lòng ta.
Thánh Basiliô Cả đã diễn tả điều này rất đẹp: “Nhờ Thánh Thần, chúng ta được phục hồi lại tình trạng địa đàng, được dẫn trở về Nước Trời, được nhận làm con cái, được ban cho niềm xác tín để gọi Thiên Chúa là “Cha”, được thông phần ân sủng của Chúa Kitô, được gọi là con cái ánh sáng và được chia sẻ vinh quang đời đời.” *
2. Một lời hứa chạm đến nỗi cô đơn sâu nhất
Chúa Giêsu nói một câu rất dịu dàng: “Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi” (Ga 14,18). Có lẽ đây là một trong những nỗi sợ sâu xa nhất của con người: bị bỏ rơi. Giữa một thế giới đông đúc, người ta vẫn có thể cảm thấy cô đơn. Trên các nền tảng mạng xã hội, người ta vẫn có thể thấy mình không thuộc về ai. Chúa Giêsu sẽ không luôn giải quyết mọi vấn đề ngay lập tức, nhưng Ngài hứa một điều lớn hơn: Ngài ở đó. Ngài hiện diện.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng nói: “Chắc chắn rằng Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta” (Buổi tiếp kiến chung, 1 tháng 5 năm 2013, số 1). Sự hiện diện của Thánh Thần không xóa bỏ mọi thử thách, nhưng biến đổi cách chúng ta sống trong thử thách. Thánh Phêrô nhắn nhủ: “Anh em hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho mọi kẻ hỏi lý do của niềm hy vọng nơi anh em” (1 Pr 3,15).
Điều này giả định một điều: đời sống của chúng ta phải đủ khác “thói đời” để người khác phải tự vấn. Không phải bằng những lời giảng hùng hồn, nhưng bằng cách sống: khi bị hiểu lầm mà vẫn hiền từ, khi đau khổ mà vẫn trung tín, khi bị tổn thương mà vẫn yêu thương. Thánh nhân còn đi xa hơn: “Thà làm việc thiện mà đau khổ còn hơn là làm điều gian ác” (1 Pr 3,17). Đây không phải là một lý thuyết đạo đức, mà là con đường của chính Chúa Kitô: “Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương- hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Ngài đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Ngài đã được sống lại” (1 Pr 3,18).
Thánh Thần không chỉ làm cho chúng ta “cảm thấy vui vẻ, thoải mái, dễ chịu về mặt tinh thần hoặc thể chất”, nhưng làm cho chúng ta có khả năng sống như Chúa Kitô, yêu thương ngay cả khi phải trả giá.
3. Thánh Thần làm cho chúng ta sống
Chúa Giêsu nói một câu rất mạnh: “Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống” (Ga 14,19). Sự sống ở đây không chỉ là tồn tại, nhưng là một sự sống mới, sự sống của chính Thiên Chúa. Thánh Irênê thành Lyon đã nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống; và sự sống của con người là được chiêm ngưỡng Thiên Chúa” (Chống lại các dị giáo, Quyển 4, 20:7).
Nhưng làm sao để “sống” thật sự? Không phải bằng nỗ lực cá nhân, nhưng nhờ Thánh Thần, Đấng đã làm cho Đức Kitô sống lại, như Thánh Phaolô xác nhận: “Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Ngài đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8,11).
Hình ảnh các Tông đồ đặt tay trên các tín hữu Samaria không chỉ là một sự kiện trong quá khứ. Đó là hình ảnh của Hội Thánh mọi thời thực hiện sứ vụ cầu xin Chúa Thánh Thần ban sự sống thần linh, sự sống đích thực, xuống trên những kẻ tin vào Chúa Kitô.
Hội Thánh vẫn tiếp tục cử chỉ ấy trong Bí tích Thêm Sức khi đặt tay, cầu xin Thánh Thần. Nhưng không chỉ trong phụng vụ, chúng ta cũng được mời gọi, trong đời sống thường ngày, cầu nguyện cho người khác, nâng đỡ một người đang yếu đuối, dám hiện diện bên cạnh một người đau khổ
Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Những người loan báo Tin Mừng đầy Thánh Thần là những người dũng cảm mở lòng mình ra cho hoạt động của Chúa Thánh Thần…biến họ thành sứ giả công bố các kỳ công của Thiên Chúa, có khả năng nói cho mỗi người bằng thứ tiếng riêng của họ…can đảm công bố sự mới mẻ của Tin Mừng một cách dạn dĩ - parrhesía, mọi thời và mọi nơi, cả khi gặp chống đối” (Evangelii Gaudium, số 259).
Lời mời gọi này không chỉ dừng lại ở việc thông hiểu, nhưng còn đòi hỏi hỏi mỗi người xem xét lại chính mình cách thực tế: tôi đã thực sự “nhận được Thánh Thần” (Cv 8,17) và được biến đổi chưa? Tôi có niềm vui khôn tả như Samaria không, để có thể làm điều thánh Phêrô bảo: “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1 Pr 3, 15).
Nếu chưa thì chúng ta hãy mau đến với Chúa Kitô, lắng nghe và suy nghĩ về lời hứa của Ngài: “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy…Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14,21).
Hành trình đức tin qui hướng về Thiên chúa là cố gắng trở “nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài” (Rm 8, 29), nhưng không phải bằng sức riêng, nhưng là để cho Thánh Thần làm việc trong ta: “Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa” (Rm 8, 14). Thiên Chúa không đòi ta phải hoàn hảo ngay. Ngài chỉ cần chúng ta mở một cánh cửa. Và khi đã mở cửa cuộc đời mình cho Ngài, thì cuộc đời chúng ta, dù không có gì lạ thường, vẫn có thể trở thành một Samaria mới, một nơi mà người ta có thể nói rằng “Trong thành, người ta rất vui mừng” (Cv 8,8). mục lục
Phêrô Phạm Văn Trung
* https://bigccatholics.blogspot.com
KHI TÌNH YÊU KHÔNG CÒN BIẾT YÊU
Chưa bao giờ người ta nói nhiều về tình yêu như thời nay. Mở mắt ra là nghe yêu. Lướt điện thoại là thấy yêu. Phim ảnh nói yêu. Âm nhạc nói yêu. Mạng xã hội nói yêu...
Nhưng cũng có lẽ chưa bao giờ người ta làm tổn thương nhau nhiều như bây giờ. Chỉ vài ngày ngắn ngủi, liên tiếp khắp nơi là những bản tin khiến lòng người lạnh đi vì đau đớn:
Ở Tây Ninh, chồng phanh thây vợ vỏn vẹn trong một chiếc thau. Giết luôn cả con trai mới 2 tháng tuổi. Đâm cả cha mẹ ruột mình.
Ở Tuyên quan, chồng từ Hà nội bất ngờ về thăm vợ, bắt gặp vợ sống với người đàn ông khác, đã chém vợ chết tại chỗ.
Ở Đăk Lăk, một thiếu nữ 15 tuổi, sinh em bé trong nhà vệ sinh, nhét giấy vào miệng bé và giấu sau bồn cầu. Em bé cũng chết.
Ở Hồ Chí Minh, một bé trai 2 tuổi bị mẹ ruột và cha dượng bạo hành dã man, đa chấn thương, gảy xương và tổn thương nội tạng nặng.
Ở Hà Nội, một bé gái 4 tuổi bị cha ruột và mẹ ghẻ bạo hành đến chết.
Ở Bình Dương, chồng cũ ghen vợ cũ, giết chết vợ cũ.
Ở Dĩ An, cha dượng (hờ) bạo hành tàn bạo bé trai 14 tuổi con của vợ hờ.
Đọc những dòng ấy, có cảm giác như con người đang đánh mất dần khả năng yêu. Hay đúng hơn: Người ta đang gọi rất nhiều thứ là tình yêu, trong khi thật ra đó chỉ là: chiếm hữu, ích kỷ, thỏa mãn, bản năng, giận dữ, gông cùm, hay một nỗi trống rỗng đáng sợ đội lốt tình yêu.
Bởi tình yêu thật không thể giết người mình yêu. Một người cha đánh đập con mình đến gãy xương, đó không còn là yêu. Một người chồng vì ghen mà đoạt mạng vợ, đó không còn là yêu. Một người mẹ để mặc con thơ đau đớn, đó không còn là yêu.
Tình yêu thật luôn muốn người mình yêu được sống. Còn bất cứ điều gì đẩy người khác vào bóng tối, vào sợ hãi, vào cái chết, thì đó là phản tình yêu.
I. CƠN KHỦNG HOẢNG.
Có lẽ nhân loại hôm nay đang khủng hoảng không phải vì thiếu tình yêu, mà vì đánh mất chân lý của tình yêu. Người ta tưởng yêu là phải thuộc về mình; yêu là được quyền kiểm soát; yêu là được thỏa mãn cảm xúc; yêu là giữ lấy cho bằng được; yêu là muốn gì làm nấy miễn mình thấy hạnh phúc.
Nhưng càng yêu kiểu ấy, con người càng biến nhau thành địa ngục. Bởi tình yêu không có chân lý sẽ trở thành mù lòa. Thứ tình yêu mù lòa ấy, đến một lúc, sẽ quay lại cắn xé chính người mình từng nói là yêu thương.
II. CẦN LẮM MỘT THỨ YÊU...
Đó là thứ tình yêu làm thăng hoa, làm lành mọi vết thương tâm hồn, làm cho nhau được bảo vệ. Tình yêu ấy mang tên "Giêsu". Chúa Giêsu chưa bao giờ dạy con người yêu theo kiểu mù lòa. Chúa nói: "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy" (Ga 14, 23).
Nghĩa là: Tình yêu thật luôn đi cùng sự thật. Yêu không phải là chiều theo mọi đam mê của mình. Yêu là biết điều gì làm người kia được sống. Yêu là biết dừng lại trước điều ác. Yêu là biết thắng bản thân. Yêu là hy sinh. Yêu là tôn trọng. Yêu là bảo vệ. Yêu là không làm tổn thương.
Thiên Chúa yêu con người không phải bằng một thứ tình cảm mù quáng. Chúa yêu bằng chân lý cứu độ. Có những điều Chúa cấm, không phải vì Chúa muốn lấy mất tự do của con người, mà vì Chúa biết điều gì sẽ giết chết con người. Như người mẹ giật con lại khỏi dòng xe lao tới. Đứa bé có thể khóc vì bị kéo mạnh, nhưng nếu người mẹ buông tay, nó sẽ mất mạng.
Thiên Chúa yêu chúng ta cũng như thế.
III. TÌNH YÊU GIÊSU MÀ XA VẮNG... SẼ NỔ TUNG... SẼ BI KỊCH.
Điều đau lòng nhất hôm nay có lẽ không chỉ là những vụ án. Mà là sự cô độc đang lớn lên trong lòng con người. Người ta sống cạnh nhau nhưng không còn ở cùng nhau. Ở chung một mái nhà nhưng không còn nghe nhau. Ngủ cạnh nhau nhiều năm mà chưa từng thật sự hiểu nỗi đau của nhau.
Rồi những tổn thương tích tụ. Những cơn giận tích tụ. Những thất vọng tích tụ. Những vết thương tâm hồn không được chữa lành tích tụ... Cho đến một ngày... con người nổ tung.
Thế là người yếu nhất luôn là người chịu đau nhất: trẻ em, phụ nữ, những người không thể tự bảo vệ mình.
IV. HÃY ĐỂ CHÚA Ở LẠI.
Bởi vậy, Tin Mừng hôm nay trở nên tha thiết hơn bao giờ hết: "Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy" (Ga 14, 23). Thiên Chúa không chỉ muốn cứu con người sau khi chết. Chúa muốn ở lại trong lòng con người ngay từ hôm nay, để giữ trái tim con người khỏi hóa đá.
Bởi khi không còn Chúa, con người rất dễ đánh mất chính mình. Khi không còn ánh sáng của chân lý, bản năng sẽ lên ngôi. Khi không còn sự hiện diện của Thiên Chúa, con người có thể nhân danh tình yêu để tàn phá nhau.
V. VÀ BIẾT ĐỂ TÌNH YÊU CỦA CHÚA THỐNG TRỊ.
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà người ta cần nói về tình yêu nhiều hơn bao giờ hết. Nhưng không phải thứ tình yêu cảm tính, dễ dãi và bản năng. Mà là tình yêu có chân lý. Tình yêu biết cúi xuống. Tình yêu biết kiềm chế cơn giận. Tình yêu biết tha thứ. Tình yêu biết cầu nguyện. Tình yêu biết khóc trước nỗi đau của người khác. Tình yêu biết đặt sự sống của người kia cao hơn cảm xúc của mình.
Đó là tình yêu của Thiên Chúa. Một tình yêu không chiếm hữu nhưng giải thoát. Không bóp nghẹt nhưng chữa lành. Không hủy diệt nhưng cứu sống.
Và chỉ khi con người để cho Thiên Chúa ở lại trong lòng mình, thì con người mới học được cách yêu mà không làm đau nhau nữa. mục lục
Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
YÊU MẾN THẦY, THÌ HÃY GIỮ GIỚI RĂN THẦY
Trong khung cảnh trang nghiêm của Bữa Tiệc Ly (x. Ga 14,15-21), khi “giờ” đã đến, giờ Chúa Giê-su qua khỏi thế gian để về cùng Chúa Cha (x. Ga 13,1), Người đã để lại cho các môn đệ lời tâm huyết, như di chúc thiêng liêng của một người sắp ra đi: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).
Yêu Chúa là giữ Lời Chúa
Đây không phải là một mệnh lệnh khô cứng, nhưng là lời trăng trối đầy tình yêu. Chúa Giê-su mời gọi chứ không áp đặt. Người không đòi hỏi điều gì ngoài tình yêu, nhưng tình yêu ấy được diễn tả bằng hành động cụ thể, đó là “giữ các điều răn”. Vì thế, yêu mến Chúa không chỉ là cảm xúc đạo đức hay những lời kinh sốt sắng, mà là một chọn lựa sống động: sống theo lời Người dạy.
Chúa Giê-su còn đi xa hơn khi khẳng định: “Ai giữ các điều răn của Thầy, thì là người yêu mến Thầy; và ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha Thầy yêu mến” (x. Ga 14,21). Như thế, việc tuân giữ giới răn là dấu chỉ của một tương quan tình yêu. Yêu mến dẫn đến vâng phục, và vâng phục lại làm cho tình yêu được lớn lên và sinh hoa trái.
Những lời trên giúp chúng ta hiểu rằng điều Chúa Giê-su mong muốn nơi các môn đệ không phải là sự hoàn hảo theo kiểu luật lệ, nhưng là một con tim biết yêu. Như Thánh Au-gút-ti-nô từng nói: “Hãy yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”, vì khi yêu thật lòng, con người sẽ không thể làm điều trái với ý Chúa.
Yêu thương là thước đo
Chúa dạy nhiều điều, nhưng tất cả tóm về hai điều này là: kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Đây là trung tâm của Tin Mừng. Nếu như tình yêu đối với Thiên Chúa được thể hiện qua việc tôn thờ, tin tưởng và vâng phục; thì tình yêu đối với tha nhân được thể hiện qua lòng bác ái, thứ tha và phục vụ.
Nhưng tình yêu mà Chúa Giê-su mời gọi không dừng lại ở mức tự nhiên. Người đưa ra một chuẩn mực mới: yêu như chính Người đã yêu. Và Người đã yêu đến cùng, yêu đến hy sinh mạng sống: “Không ai có tình yêu lớn hơn người hy sinh mạng sống vì bạn hữu” (Ga 15,13).
Như vậy, thước đo của tình yêu Ki-tô giáo không còn là “yêu người như chính mình” theo nghĩa tự nhiên, mà là “yêu như Chúa yêu”. Đó là tình yêu vị tha, quảng đại, không tính toán, không giới hạn. Một tình yêu biết cho đi mà không đòi đáp trả, biết tha thứ ngay cả khi bị tổn thương.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy yêu thương không hề dễ dàng. Con người chúng ta vẫn mang trong mình những yếu đuối: ích kỷ, ghen tị, nóng giận, và chia rẽ. Ngay trong đời sống Hội Thánh, đôi khi những điều ấy vẫn len lỏi, làm tổn thương tình hiệp nhất. Đã có những người rời bỏ cộng đoàn không phải vì mất niềm tin vào Thiên Chúa, mà vì họ không cảm nhận được tình yêu nơi anh chị em mình.
Điều này nhắc nhở chúng ta rằng: dấu chỉ rõ ràng nhất của người Ki-tô hữu không phải là kiến thức hay hình thức đạo đức, mà là tình yêu. Như Thánh I-rê-nê đã nhấn mạnh, đời sống Ki-tô hữu là đời sống được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho tình yêu của Thiên Chúa trở nên hiện thực nơi con người.
Yêu trong Chúa Thánh Thần
Yêu thương là một “nghệ thuật” cần được học mỗi ngày. Không ai tự nhiên mà biết yêu như Chúa, nhưng mỗi người đều được mời gọi tập luyện. Học yêu là học tha thứ khi bị xúc phạm, kiên nhẫn khi gặp khó khăn, quảng đại khi phải cho đi. Tiên vàn học nơi Chúa Giê-su, Đấng hiền lành và khiêm nhường.
Chính vì biết con người yếu đuối, Chúa Giê-su đã hứa ban Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ, Thần Chân Lý đến ở cùng chúng ta luôn mãi. Thánh Thần không chỉ an ủi, mà còn dạy dỗ, hướng dẫn và ban sức mạnh để chúng ta sống điều Chúa truyền dạy. Như Công đồng Vaticanô II khẳng định: Thánh Thần là nguồn mạch hiệp nhất và là sức sống của Hội Thánh (Lumen Gentium, số 4).
Trong thế giới hôm nay, khi con người dễ khép kín, nghi ngờ và chia rẽ, lời mời gọi yêu thương của Chúa Giê-su lại càng mang tính thời sự. Người Ki-tô hữu được mời gọi trở thành dấu chỉ của tình yêu: nơi gia đình, giáo xứ, và xã hội. Một nụ cười, một lời tha thứ, một cử chỉ cảm thông đều có thể trở thành chứng tá sống động của Tin Mừng.
Có Thánh Thần hướng dẫn, lời Chúa soi sáng, và cộng đoàn nâng đỡ chúng ta không bị bỏ rơi Điều quan trọng là chúng ta có dám mở lòng để sống tình yêu ấy hay không.
Xin Đức Ma-ri-a, Đấng đã sống trọn vẹn tình yêu và sự vâng phục, cầu bầu cho chúng ta, để mỗi ngày chúng ta biết yêu thương, sống giới răn của Chúa với niềm vui vẻ.
Và xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta, để đời sống chúng ta trở thành chứng tá rằng: yêu thương chính là con đường dẫn đến Thiên Chúa. Amen. mục lục
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
YÊU RỒI MỚI GIỮ, HAY GIỮ ĐỂ MÀ YÊU?
Có bao giờ bạn thấy việc đi đạo sao mà nặng nề quá không? Giống như một danh sách dài dằng dặc những việc “phải làm” và “cấm làm” treo lơ lửng trên đầu. Nhưng thực ra, Chúa không muốn chúng ta sống như những người làm thuê sợ bị phạt, mà Ngài muốn chúng ta sống như những người con đang yêu. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su nhắn nhủ các môn đệ và tất cả chúng ta rằng: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14, 15). Câu nói này lật ngược lại tất cả: Không phải giữ luật để được yêu, mà là vì yêu nên mới giữ luật. Tình yêu chính là cái gốc, còn luật lệ chỉ là hoa trái mà thôi.
Đạo nào cũng tốt, nhưng không phải đạo nào cũng giống nhau
Nhiều người trong chúng ta thường có cái nhìn rất cởi mở rằng thôi thì đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành. Đúng, không có tôn giáo chính danh nào dạy điều xấu cả. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ dừng lại ở đó thì vô tình chúng ta đã làm phẳng đi vẻ đẹp độc bản của Kitô giáo. Thực tế, tất nhiên không đạo nào xấu, nhưng không vì thế mà đạo nào cũng giống đạo nào trong tính khả tín của giáo lý, trong tính chặt chẽ của hệ thống thần học và trong nhãn giới luân lý nhân sinh. Kitô giáo không phải là một hệ thống triết lý khô khan hay một bảng danh sách những việc phải làm để đổi lấy sự bình an. Điểm khác biệt nằm ở chỗ: Chúng ta không giữ luật để được Thiên Chúa yêu, mà vì chúng ta đã được Ngài yêu đến tận cùng rồi, nên chúng ta mới khao khát sống sao cho xứng đáng với tình yêu đó. Thần học Kitô giáo rất chặt chẽ ở chỗ nó đặt gốc rễ vào một con người thật là Đức Giêsu Kitô, dung mạo lòng thương xót của Chúa Cha. Luân lý của chúng ta không phải là nỗ lực tự thân để trở thành siêu nhân, mà là để trở nên giống như Đấng đã hiến mạng vì mình.
Đừng giữ luật như một cái máy
Để hiểu rõ hơn về tính logic của tình yêu này, chúng ta hãy nhìn sâu vào tình yêu của một đôi lứa. Khi một chàng trai và một cô gái thực lòng yêu nhau, họ tự nguyện đặt mình vào những luật lệ riêng của tình yêu mà không ai ép buộc. Anh ấy không nhìn ngó người phụ nữ khác, không phải vì sợ bị pháp luật phạt, mà vì trái tim anh ấy chỉ có hình bóng một người. Cô ấy dành thời gian nấu một bữa cơm ngon, không phải vì đó là nhiệm vụ giúp việc, mà vì niềm vui khi thấy người mình yêu được hạnh phúc. Trong tình yêu, lề luật không phải là rào cản, mà là lời cam kết. Khi yêu, người ta không đong đếm xem mình đã làm được bao nhiêu, mà chỉ sợ mình làm chưa đủ. Tình yêu đôi lứa sâu đậm đến mức họ muốn nên một với nhau, và mọi hành động giữ gìn lòng chung thủy đều trở nên nhẹ nhàng như hơi thở. Chúa Giê-su cũng muốn chúng ta yêu Ngài như thế. Nếu đi lễ chỉ để xong nợ, nếu giữ giới răn chỉ vì sợ hình phạt, chúng ta chỉ là những kẻ đứng ngoài ngưỡng cửa của tình yêu. Chúa không cần những cỗ máy tôn giáo; Ngài cần những “người tình” trung nghĩa, những người giữ luật vì biết rằng luật ấy bảo vệ sự kết hợp thiêng liêng giữa mình và Chúa.
Đấng Bảo Trợ - Bạn đồng hành trong từng hơi thở
Bên cạnh việc tự nguyện yêu mến, chúng ta còn được hỗ trợ bởi một nguồn sức mạnh thiêng liêng. Chúa Giê-su biết sức mình yếu, dễ nản chí nên Ngài hứa ban Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ. Ngài không ở đâu xa lạ, mà Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em (x. Ga 14, 17). Hãy hình dung Chúa Thánh Thần như một người bạn thân thiết, luôn đi sát bên cạnh để đỡ lời cho chúng ta. Khi ta định buông một lời nặng nề với hàng xóm, Ngài khẽ chạm vào lòng ta để ta dừng lại. Khi ta định làm ăn gian dối cho nhanh giàu, Ngài soi sáng để ta biết chọn con đường ngay thẳng. Ngài không ép buộc, nhưng Ngài kiên nhẫn uốn nắn cái tâm của ta, giúp ta hiểu rằng giữ luật Chúa thực chất là giữ cho tâm mình được bình an.
Sống đạo là hành động thực tế
Từ sự thúc đẩy của Đấng Bảo Trợ, tình yêu ấy phải được cụ thể hóa thành những việc làm hằng ngày. Tình yêu không chỉ nằm ở cảm xúc, mà phải được hiện thực hóa qua những lựa chọn trong cuộc sống. Giữ luật Chúa trong thực tế không phải là điều gì cao siêu, mà là sống công bằng và bác ái trong từng việc nhỏ.
Là người làm kinh doanh, ta giữ luật yêu thương bằng cách làm ăn ngay chính, không gian dối, tôn trọng đối tác và nhân viên.
Là thành viên trong gia đình, ta giữ luật bằng sự kiên nhẫn, bớt đi một lời gắt gỏng, thêm một cử chỉ quan tâm và chăm sóc.
Với xã hội, đó là sự tử tế với người hoạn nạn, không dửng dưng trước nỗi đau của anh em. Như Thánh Phê-rô nhắn nhủ: “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng hãy trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng” (1 Pr 3, 15-16). Khi chúng ta sống tử tế và chân thành, đó là lúc ta đang giữ luật Chúa một cách đẹp nhất.
Lạy Chúa Giê-su Phục Sinh, Chúa dạy chúng con rằng yêu Chúa là giữ lời Chúa. Xin ban cho con một trái tim biết yêu mến Chúa chân thành, để con không giữ luật như một gánh nặng, nhưng như một niềm vui của người con thảo. Xin Chúa Thánh Thần luôn ở trong con, soi sáng cho con biết sống hiền hòa, làm việc lương thiện và biết thương xót anh em. Xin cho cuộc đời con trở thành bài ca đơn sơ về tình yêu Chúa giữa thế gian này. Amen. mục lục
Jos. Vinc. Ngọc Biển
Đức Giê-su mở đầu bài Tin Mừng của Chúa Nhật thứ sáu, mùa Phục sinh, hôm nay bằng cách nhắc lại cho các môn đệ nhớ lại một chân lý căn bản và vô cùng quan trọng, đó là nếu anh chị em yêu mến Chúa thì phải tuân giữ các giới lịnh của Chúa. Đây không chỉ là lời khuyên mà là môt lịnh truyền, một lối sống mà người môn đệ của Chúa Ki-tô phải thực hiện.
Tình yêu mà Chúa Giê-su nói ở đây không chỉ được diễn tả bằng lời nói hay cảm xúc cá nhân, nhưng còn phải được diễn tả bằng hành động và việc làm. Đó là sự tác động của Chúa Thánh Thần, Người là Đấng mà Đức Giê-su sẽ xin Cha sai đến ở giữa chúng ta, sống với chúng ta và giúp chúng ta tuân theo lời dậy của Người. Vì thế, trong Chúa Thánh Thần, chúng ta được tác động để phàm ai yêu mến Chúa, thì sẽ được Chúa Cha yêu mến và Thiên Chúa sẽ đến và tỏ mình ra cho người ấy.
Đây là sự hiện diện mới của Chúa Giê-su. Nhận ra sự hiện diện này là quà tặng của Chúa Thánh Thần. Người sẽ giúp chúng ta nhận biết rằng cuộc sống của các tín hữu là ở lại, ở trong và ở với Chúa Giê-su. Và một khi chúng ta ở lại trong Chúa thì chúng ta cũng được mời gọi ra đi để nối kết với anh em mình.
Nhưng làm thế nào để có thể ở lại trong Chúa?
Câu trả lời được tìm thấy trong giới lịnh yêu thương của Chúa. Đó là chúng ta hãy yêu thương nhau. Yêu như Chúa đã yêu và đang yêu. Yêu đến độ hy sinh cả mạng sống mình để đem lại sự sống cho chúng ta, một sự sống phong phú và tràn đầy. Và, khi nói đến tình yêu đến độ hiến mạng sống mình cho người khác là lúc chúng ta nghĩ đến sự hy sinh của các người mẹ mà chúng ta tôn vinh trong ngày Mother’s day hôm nay.
Anh chị em thân mến,
Tình yêu và sự sống là những hạt giống quí báu nhất mà Thiên Chúa đã trao ban để các người mẹ gieo trồng, chăm bón và thu hoạch. Muốn cho các hạt giống này triển nở thì chính mẹ phải đón nhận tình yêu và sự sống như quà tặng mà Thiên Chúa ban cho mình trước.
Tình mẹ thật cao cả. Ơn gọi làm mẹ thật thiêng liêng. Nó không chỉ đơn thuần là một chức năng mang tính thể lý hay sinh học của người phụ nữ. Ngày nay người ta bàn nhiều về việc trao ban các thừa tác vụ trong Hội Thánh cho phụ nữ. Nhưng có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc phong chức cho các phụ nữ để làm mẹ hay chưa?
Thật ra, mẹ không cần tôn phong. Mẹ là một thiên chức mà Thiên Chúa ban tặng cho các người phụ nữ. Theo một nghĩa nào đó, chỉ có mẹ mới có quyền mang thai, nuôi dưỡng và thông ban sự sống cho con người ngay lúc còn trong bụng mẹ. Đó là sự ban tặng thiêng liêng của Thiên Chúa dành cho phụ nữ, họ noi gương Đấng Tạo Hóa trong việc tạo nên những sinh vật mới và giúp chúng tồn tại.
Vì cuộc sống là một món quà thiêng liêng từ Thiên Chúa cho nên khi người mẹ mang một cuộc sống mới vào thế giới này là lúc mẹ thực hiện phần vụ đáp trả lời mời gọi thiêng liêng nhất. Bất kỳ một người đàn ông nào, dù có muốn cũng không làm được việc này.
Anh chị em thân mến,
Có ai trong chúng ta lớn lên mà không mang trong mình dấu ấn của một người mẹ? Từ những đêm dài thao thức bên giường con, lại có những giọt nước mắt âm thầm tuôn rơi từ đôi mắt gần như mù lòa của người mẹ hết lòng dõi theo những vết chân hoang dại của con mình, cộng thêm những hy sinh không lời. Tất cả những điều ấy đã gieo vào mảnh đất để sự sống của các con được lớn lên. Mẹ không chỉ sinh ra một người con, nhưng còn sinh ra một con người, một tương lai và một cuộc đời.
Thật là kỳ diệu là vì trong từng cử chỉ yêu thương ấy, người mẹ đang cộng tác với chính Thiên Chúa là nguồn mạch của sự sống. Mỗi lần người mẹ nâng niu con mình, là một lần tình yêu của Thiên Chúa được chạm đến. Mỗi lần người mẹ tha thứ, hy sinh, là một lần dung mạo của Thiên Chúa được phản chiếu giữa dòng đời.
Vì thế, hôm nay, khi chúng ta mừng Ngày của Mẹ, chúng ta không chỉ tri ân một con người, nhưng còn chiêm ngắm một mầu nhiệm: mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa được hiện diện trong trái tim và những hy sinh của mẹ.
Nếu tình yêu của người mẹ đã lớn lao như thế, thì tình yêu của Thiên Chúa còn vĩ đại hơn dường nào! Thiên Chúa đã dùng chính trái tim của người mẹ, đặc biệt tại cung lòng và cuộc sống xin vâng của Mẹ Maria để dậy chúng ta biết về tình yêu của Người.
Nhìn lên Đức Maria, một cô thiếu nữ trẻ trung đã trở thành người Mẹ tuyệt vời nhất. Cho dù được Thiên Chúa chúc phúc, nhưng Mẹ Maria cũng phải vượt qua những khó khăn, thử thách khi chấp nhận và để cho chương trình của Thiên Chúa thành tựu trong cuộc sống xin vâng của Ngài. Mẹ đã âm thầm theo Con trong suốt hành trình: từ máng cỏ nghèo hèn đến năm tháng ẩn dật, trên hành trình rao giảng và sau cùng là dưới chân thập giá. Mẹ đã không giữ Con cho riêng mình, nhưng dâng Con cho Thiên Chúa và trao Con cho nhân loại. Mẹ chấp nhận mọi thử thách đôi khi có đau thương để tình yêu của Thiên Chúa được hoàn tất.
Anh chị em thân mến,
Hôm nay, trong bầu khí thánh thiêng và trước mặt cộng đồng dân Chúa nói chung và mỗi gia đình nói riêng là những người mẹ vẫn tiếp tục hy sinh, vẫn âm thầm yêu thương mà không cần được tôn vinh. Xin Thiên Chúa chúc lành cho quý bà, quý mẹ.
Cũng có thể có những người mẹ đã lìa trần nhưng tình yêu và những giọt máu đào của các ngài vẫn còn đó, vẫn sống trong từng nhịp đập của trái tim chúng ta. Xin Chúa cho các mẹ được nghỉ yên trong vòng tay yêu thương của Ba Ngôi.
Và cũng có thể, cho đến hôm nay chúng ta mới chợt nhận ra rằng đã lâu lắm rồi, chúng ta chưa đến thăm mẹ, quên nói lời cảm ơn, chưa trao một cái ôm, chưa bày tỏ tình yêu với mẹ…
Vì thế, giờ đây, trong Thánh lễ này, chúng ta hãy dâng lên Chúa lời tạ ơn vì ơn gọi của các người mẹ. Và để cụ thể hóa tâm tình tạ ơn này, chúng ta hãy thân thưa với mẹ rằng: “Mẹ ơi, chúng con yêu thương mẹ. Mẹ là tất cả, là thế giới của chúng con. Nhờ mẹ mà chúng con nhận ra tình yêu lân tuất, tình yêu cao cả của Thiên Chúa, Đấng đã tín thác và đặt chúng con vào bụng dạ, cung lòng và cuộc sống của mẹ để mẹ giữ gìn, chăm sóc và vun trồng như ý Chúa muốn.”
Xin dâng lời cảm tạ và tri ân. Mẹ mãi mãi là mẹ chúng con. Amen! mục lục
Lm Yuse Mai Văn Thịnh, DCCT
HÃY YÊU THƯƠNG NHAU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU THƯƠNG ANH EM
I. GIỚI RĂN MỚI CỦA CHÚA GIÊSU
Anh chị em thân mến,
“Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”
Mỗi người chúng ta hãy tự soi lại chính mình, xem giới răn đức ái mà chúng ta đã học từ thuở nhỏ, chúng ta đã sống như thế nào.
Luật của Cựu Ước, đối với người Do Thái, Thiên Chúa nói với dân Israel rằng: hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn, và yêu thương người thân cận như chính mình. Nhưng luật mới của Chúa Giêsu vượt lên trên luật của người Do Thái, đó là: yêu thương như Thầy.
Có một điều rất lạ trong cuộc sống hôm nay: chúng ta kết nối với nhau nhiều hơn bao giờ hết, nhưng lại dễ cô đơn hơn bao giờ hết. Một người có thể có hàng ngàn người theo dõi trên mạng xã hội, nhưng đêm về vẫn cảm thấy trống rỗng. Một người có thể cười rất nhiều ngoài xã hội, nhưng trong lòng lại mang đầy những vết thương.
Giữa thế giới ấy, Tin Mừng hôm nay vang lên lời rất dịu dàng của Chúa Giêsu: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”
Chúa Giêsu không chỉ nói: hãy yêu thương nhau, vì yêu thương kiểu con người đôi khi rất giới hạn, các bạn ạ. Khi yêu, người ta thường yêu người mình thấy dễ thương; yêu khi họ đáp lại; yêu khi mình có cảm xúc với họ. Nhưng Chúa Giêsu nói thêm một điều rất quan trọng: “Như Thầy đã yêu thương anh em.”
Nghĩa là yêu bằng tình yêu của Chúa; một tình yêu biết hy sinh, biết tha thứ, biết ở lại, biết cho đi và không tính toán.
II. TÌNH YÊU ĐÍCH THẬT LUÔN GẮN LIỀN VỚI HY SINH
Thưa các bạn trẻ, tuổi trẻ là tuổi của những rung động đẹp nhất. Các bạn thích được yêu, được quan tâm, được công nhận. Nhưng đôi khi chúng ta lại hiểu sai về tình yêu.
Nhiều người nghĩ rằng: yêu là chiếm hữu; yêu là bắt người khác phải làm theo ý mình; yêu là cần có cảm xúc mạnh; yêu là phải được biểu lộ qua những cử chỉ vuốt ve. Vì thế, khi thất vọng, người ta dễ bỏ nhau, dễ phản bội nhau, dễ làm tổn thương nhau; và đôi khi, trong tuyệt vọng, người ta có thể tìm đến cái chết.
Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy khuôn mặt thật của tình yêu: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13).
Tôi còn nhớ, cách đây một thời gian dài, trên một chuyến tàu — có lẽ đi ra Côn Đảo — tàu bị chìm. Áo phao thì rất giới hạn. Người bạn trai đã đưa chiếc áo phao cho người bạn gái của mình và nói: “Em hãy nhận lấy áo phao này. Em phải sống.”
Để rồi chính người bạn trai ấy đã hy sinh, chết chìm giữa biển khơi.
Vâng, thưa các bạn, tình yêu luôn gắn liền với hy sinh.
Một người mẹ thức trắng đêm để chăm sóc đứa con đau bệnh. Một người cha âm thầm làm việc vất vả để nuôi con ăn học. Một người bạn dám ở bên khi ta thất bại. Một người âm thầm tha thứ dù bị xúc phạm. Đó là tình yêu đích thật.
Và Chúa Giêsu đã sống điều đó. Ngài không chỉ nói yêu, mà Ngài đã yêu đến nỗi chết trên Thập giá.
Có lẽ điều đau khổ nhất không phải là những cây đinh đóng vào tay chân Chúa, mà là việc Ngài bị phản bội, bị từ chối, bị bỏ rơi. Nhưng ngay trong những lúc ấy, Chúa vẫn yêu.
Đó là tình yêu mà người trẻ hôm nay có thể đang rất thiếu.
III. CHÚA GIÊSU GỌI CHÚNG TA LÀ BẠN HỮU
Chúng ta đang sống trong một thời đại mà con người rất dễ dùng nhau. Người ta có thể kết bạn rất nhanh, nhưng cũng dễ bỏ nhau. Một cú “unfriend”, một lần “block”, một tin nhắn “seen” mà không trả lời cũng đủ làm tình bạn tan vỡ.
Có những tình yêu bắt đầu bằng vài dòng chat và kết thúc cũng chỉ bằng vài dòng chat.
Con người hôm nay sợ cam kết, sợ hy sinh, sợ đau. Nhưng Chúa Giêsu dạy rằng: chỉ ai dám yêu thật mới sống thật.
Điều đẹp nhất trong Tin Mừng hôm nay là Chúa Giêsu nói: “Thầy gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15,15).
Chúa không gọi chúng ta là tôi tớ, mà gọi chúng ta là bạn.
Vâng, thật cảm động khi nghĩ rằng Thiên Chúa toàn năng lại muốn làm bạn với con người nhỏ bé chúng ta.
Một người bạn thật không chỉ xuất hiện lúc vui, nhưng còn ở lại khi ta yếu đuối. Và Chúa Giêsu chính là người bạn như thế.
Có những lúc các bạn trẻ cảm thấy mình vô dụng, đời sống vô nghĩa. Có những lúc thất bại, thi cử không thành công. Có những lúc gia đình hiểu lầm nhau. Có những áp lực tương lai làm mình mệt mỏi, chán chường.
Khi nhìn bạn bè thành công còn mình thì chông chênh; có khi mang trong lòng những bí mật đau buồn mà không biết chia sẻ với ai.
Nhưng Tin Mừng hôm nay nhắc chúng ta rằng: Chúa vẫn gọi chúng ta là bạn hữu. Ngài không bỏ bạn. Cả thế giới có thể quay lưng, nhưng Chúa vẫn ở bên chúng ta.
Có thể người khác đánh giá bạn qua điểm số, ngoại hình hay thành công, nhưng Chúa nhìn mỗi người bằng trái tim nhân ái của Ngài. Và Chúa nói một điều rất đẹp: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16).
Nhiều bạn trẻ nghĩ rằng mình không xứng đáng với Chúa vì mình tội lỗi, yếu đuối, đã nhiều lần sa ngã. Nhưng Chúa không chọn những người hoàn hảo. Chúa chọn những con người bình thường và biến họ thành phi thường bằng tình yêu.
Một Phêrô từng chối Chúa. Một Phaolô từng bắt đạo. Một Maria Mađalêna từng lầm lỡ. Nhưng khi gặp Chúa, cuộc đời họ đã được biến đổi.
IV. HOA TRÁI CỦA NGƯỜI TRẺ KITÔ HỮU
Vì vậy, các bạn thân mến, điều đáng sợ nhất không phải là phạm lỗi; điều đáng sợ nhất là mất khả năng yêu thương.
Có những người học rất giỏi nhưng ích kỷ. Có những người thành công nhưng lạnh lùng. Có những người giàu có nhưng cô độc.
Cuối cùng, điều làm cho con người hạnh phúc không phải là mình có bao nhiêu, mà là mình đã yêu bao nhiêu.
Chúa nói Ngài chọn chúng ta để ra đi và sinh nhiều hoa trái.
Hoa trái của người trẻ hôm nay không chỉ là thành tích hay bằng cấp. Hoa trái lớn nhất là sống làm cho người khác hạnh phúc hơn.
Một lời động viên. Một sự cảm thông. Một hành động tử tế. Một lần đứng dậy sau thất bại. Một trái tim tinh sạch trước cám dỗ của hận thù và ích kỷ.
Thế giới hôm nay không thiếu những người tài giỏi, nhưng vẫn rất thiếu những người có trái tim biết yêu thương thật sự.
Có một điều rất hay: người trẻ không cần những Kitô hữu chỉ biết nói về Chúa, mà họ cần những Kitô hữu cho họ thấy khuôn mặt của Chúa.
Khi bạn sống tử tế, khi bạn biết tha thứ, khi bạn biết trung thành, khi bạn sống trong sạch, khi bạn dám bảo vệ điều đúng, khi bạn yêu mà không lợi dụng, lúc đó bạn đang làm cho người khác thấy Chúa Giêsu nơi khuôn mặt của bạn.
V. ĐỪNG CHỈ TÌM NGƯỜI YÊU MÌNH, NHƯNG HÃY TẬP TRỞ THÀNH NGƯỜI BIẾT YÊU
Cuối cùng, Chúa lặp lại một lần nữa: “Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15,17).
Chúa lặp lại điều đó vì điều ấy không dễ, thưa các bạn.
Yêu người dễ thương thì dễ; yêu người làm mình tổn thương mới khó. Yêu khi đang vui vẻ thì dễ; yêu khi lòng đầy đau đớn mới khó.
Nhưng đó chính là con đường của Chúa Giêsu.
Ước gì mỗi bạn trẻ hôm nay đừng sống hời hợt; đừng để trái tim mình trở nên lạnh lùng giữa một thế giới vô cảm.
Đừng chỉ tìm người yêu mình, nhưng hãy tập trở thành người biết yêu.
Tuổi trẻ rồi sẽ qua. Nhan sắc rồi sẽ tàn. Thành công rồi cũng sẽ biến mất. Nhưng người biết yêu thương sẽ để lại dấu vết đẹp trong cuộc đời này.
Xin Chúa Giêsu, người bạn lớn nhất của chúng ta, dạy chúng ta biết yêu như Chúa đã yêu, để tuổi trẻ của chúng ta không chỉ là những năm tháng đẹp, mà còn là những năm tháng đầy ý nghĩa.
VI. Ý CẦU NGUYỆN THÁNG NĂM CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG
Và thưa các bạn, sau cùng, tôi muốn nhắc đến ý cầu nguyện trong tháng 05/2026 của Đức Giáo hoàng Lêô XIV.
Ngài mời gọi toàn thể cộng đoàn cầu nguyện để mọi người đều có lương thực, và không ai còn phải chịu cảnh đói nghèo hay bị loại trừ khỏi những nhu cầu căn bản của cuộc sống.
Đồng thời, Ngài cũng kêu gọi mọi người hoán cải chung, từ những nhà sản xuất lớn đến từng người tiêu dùng nhỏ bé, biết cam kết tránh lãng phí thực phẩm, tôn trọng giá trị của của ăn hằng ngày, và cùng nhau xây dựng một nền văn hóa liên đới, nơi mọi người đều có thể tiếp cận với nguồn lương thực an toàn, đầy đủ và xứng hợp với phẩm giá con người.
Tôi xin phép nói thêm khi tóm tắt bài viết của Ngài.
Bài viết ấy phản ánh một nghịch lý đau lòng của thế giới hôm nay: nhân loại có đủ khả năng sản xuất lương thực rất lớn, nhưng hàng trăm triệu người vẫn phải chịu đói khát.
Theo báo cáo của FAO - Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc – năm 2025, khoảng 673 triệu người đã phải đối diện với nạn đói trong năm 2024, tương đương khoảng 8,2% dân số thế giới, và hơn 295 triệu người rơi vào tình trạng khủng hoảng lương thực cấp tính tại 53 quốc gia; và vùng lãnh thổ rơi vào tình trạng khủng hoảng lương thực cấp tính trong năm 2024; con số này tăng thêm 13,7 triệu người so với năm trước, cho thấy mức độ khủng hoảng dai dẵng và nghiêm trọng.
Trong khi đó, thế giới lại lãng phí hơn một tỷ tấn lương thực mỗi năm, tương đương hàng tỷ bữa ăn cho những người nghèo.
Cho nên, vấn đề không chỉ là thiếu lương thực, mà sâu xa hơn là thiếu tình yêu, thiếu sự chia sẻ, bởi đó là hậu quả của lối sống ích kỷ của con người. Vì thế, thưa tất cả các bạn, tóm lại, Ngài mời gọi chúng ta thế này: hãy cầu nguyện để mọi người, từ những nhà sản xuất lớn đến những người tiêu dùng nhỏ, biết cam kết tránh lãng phí thực phẩm và bảo đảm rằng mọi người đều có thể tiếp cận với nguồn thực phẩm chất lượng.
Vậy tôi sẽ làm gì để bày tỏ tình yêu của mình đối với những người nghèo khó mà tôi gặp trong đời sống hằng ngày? mục lục
Lm. Giuse Hoàng Văn Quảng, SJ
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.