VÌ SAO GIÁO HỘI ĐỒNG HÀNH VỚI NGƯỜI DI DÂN?
Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc, SJ
Có những cuộc lên đường rất đẹp. Người ta đi vì muốn học thêm, làm ăn, mở mang cuộc đời, tìm một chân trời mới. Cũng có những cuộc lên đường rất đau đớn. Người ta đi không phải vì thích đi, nhưng vì nếu ở lại thì không còn sống nổi. Đằng sau một chiếc va-li nhỏ, một túi áo quần, một đứa trẻ ngủ say trên tay mẹ, một người cha lủi ngoài ga tàu, có khi là cả một lịch sử đập vỡ: chiến tranh, nghèo đói, đàn áp, thất nghiệp, nợ nần, bạo lực, khí hậu khắc nghiệt, hoặc một chế độ làm cho con người không còn thở.
Tin Mừng theo thánh Mát-thêu kể rất ngắn gọn: “Sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giu-se rằng: ‘Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập…’” (Mt 2,13). Thánh Giuse không thảo luận. Ngài không xin thêm thời gian. Thánh nhân không chờ trời sáng, nhưng “liền trỗi dậy”, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập ngay trong đêm [1]. Ở đây, ta thấy một người cha âm thầm nhưng quyết đoán. Đêm ấy, Thánh Giuse không chỉ bảo vệ một gia đình nhỏ. Ngài đang bảo vệ chính sự sống mong manh của Thiên Chúa làm người.
Từ biến cố này, Giáo hội đọc thấy nơi Thánh Gia một nét rất gần với bao gia đình di dân hôm nay. Đức Phanxicô nhắc lại rằng cuộc trốn sang Ai-cập của Thánh Gia “không phải là kết quả của một quyết định tự do”, cũng như nhiều cuộc di cư trong lịch sử dân Ítraen và trong thế giới ngày nay không phải là lựa chọn tự do. Vì thế, ngài nêu rõ: “Quyết định di cư phải luôn luôn là quyết định tự do”, nhưng thực tế nhiều người bị đẩy đi bởi hoàn cảnh quyết định [2].
Điều này giúp ta tránh một cái nhìn quá đơn giản về di dân. Không phải ai rời quê hương cũng là người “ham đi”. Không phải ai vượt ra ngoài biên giới cũng là người “muốn làm phiền” quốc gia khác. Nhiều người ra đi vì cơm áo, vì chiến tranh, vì con cái, vì đức tin, vì phẩm giá, vì bị đe dọa, vì tương lai bị khóa chặt. Có người đi hợp pháp. Có người đi trong tình trạng bấp bênh. Có người bị lừa. Có người đã bị bóc lột. Có người phải học ngôn ngữ thứ hai khi tuổi xế chiều. Có trẻ nhỏ lớn lên giữa hai nền văn hóa, nói tiếng của cha mẹ chưa sõi, nói tiếng của quê mới cũng chưa tròn. Di dân không chỉ là vấn đề giấy tờ. Đó là vấn đề của con người.
BA ĐƯỜNG CỦA MỘT GIA ĐÌNH DI DÂN
Trong đêm trốn sang Ai-cập, Thánh Giuse cho ta thấy ba đường của một gia đình di dân.
1. Lắng nghe
Di dân không chỉ bắt đầu bằng đôi chân, nhưng bắt đầu bằng một tiếng gọi rất sâu trong lòng: phải cứu sự sống. Giuse nghe tiếng Chúa trong giấc mơ, nhưng giấc mơ lại gắn rất chặt với thực tế. Hêrôđê đang tìm giết Hài Nhi. Cái ác không còn là lý thuyết. Nó có tên, có quyền lực, có quân lính, có chính sách và có khả năng sát thương trẻ thơ. Vì thế, đối với Giuse, thi hành ý Chúa không phải là đứng yên để “phó thác” cách thụ động. Phó thác ở đây là hành động ngay lập tức. Tin Chúa là lên đường trong đêm.
Nhiều gia đình di dân hôm nay cũng vậy. Họ nghe trong lòng mình một tiếng gọi rất cơ bản: phải sống, phải bảo vệ con, phải tìm một nơi con mình được đi học, được chữa bệnh, được lớn lên mà không sợ tiếng bom, tiếng súng, bạo lực, nghèo đói hoặc bất kỳ thị. Có khi họ không diễn thuyết bằng ngôn ngữ tôn giáo, nhưng trong tiếng gọi bảo vệ sự sống, Giáo hội nhận ra một điều cực thánh. Bởi vì nơi nào sự sống con người bị đe dọa, nơi đó trái tim Thiên Chúa bị tổn thương.
2. Lên đường
Đường đi của Thánh Gia không phải là chuyến du lịch. Đó là con đường đáng sợ, thiếu cơ sở, bất trắc. Đức Piô XII, trong truyền thống mà Đức Phanxicô nhắc lại, đã tìm thấy nơi Hài Nhi Giêsu trên đường trốn sang Ai-cập “số phận bi thảm của những người phải di chuyển và người tị nạn”, một số phận đầy “sợ hãi, bất định và bất an”. Đức Phanxicô còn nói rằng hàng triệu gia đình ngày nay có thể nhận ra mình trong thực tại nỗi buồn này [3].
Thực sự không thể nói khác. Con Thiên Chúa không chỉ sinh ra trong cỏ. Người còn kinh nghiệm bị truy đuổi. Người không chỉ là em bé nghèo của Bêlem. Người còn là em bé tị nạn trên đất Ai-cập. Như vậy, Thiên Chúa không đứng bên ngoài lịch sử di dân. Ngài đi vào trong đó. Ngài để mình được bồng bế qua biên giới. Ngài hiểu cái lạnh của đêm, cái lo của cha, cái vất vả của mẹ, cái bấp bênh của người không biết ngày mai sẽ ra sao.
Đây là điểm rất đẹp của đức tin Kitô giáo. Thiên Chúa không yêu cầu con người bằng cách đứng trên cao mà chỉ tay. Ngài cứu bằng cách đi xuống và đi cùng. Ngài không chỉ nói với người tị nạn: “Ta thương con.” Ngài còn nói: “Ta đã từng ở trong cảnh của con.” Vì thế, người di dân không phải là một “đối tượng dịch vụ” lạnh lùng. Họ là nơi Đức Kitô đang tiếp tục đi qua thế giới này trong vẻ ngoài mệt mỏi, lấm lem và dễ bị tổn thương.
3. Hy vọng
Ai-cập trong Kinh Thánh vừa là nơi nguy hiểm, vừa là nơi tạm trú. Dân Ítraen từng xuống Ai-cập vì đói. Thánh Gia cũng xuống Ai-cập để thoát khỏi bạo quyền. Có những miền đất người ta đi tới không phải vì nó hoàn hảo, nhưng vì nó mở ra một lối sống còn. Trong hành trình di dân, hy vọng không phải lúc nào cũng rực rỡ như bình minh. Có khi hy vọng chỉ nhỏ như một ngọn đèn dầu: đủ để đi thêm một đoạn, đủ để giữ con khỏi lạnh, đủ để tin rằng Thiên Chúa không bỏ rơi gia đình mình.
Ở đây, ta hiểu vì sao Giáo hội đồng hành với người di dân. Trước hết, vì Giáo hội học điều đó từ chính Chúa Giêsu. Hội đồng Tòa Thánh về Mục vụ cho Người Di dân và Lữ hành, trong văn kiện Người tị nạn: Thử thách của tình liên đới, đã đặt cuộc trốn sang Ai-cập của Thánh Gia trong dòng lịch sử cứu độ: Giuse đưa Hài Nhi và Mẹ trốn sang Ai-cập vì Hêrôđê tìm giết Hài Nhi. Cũng trong Kinh Thánh, nhiều cuộc chuyển tiếp khác xảy ra vì đói, chiến tranh, lưu đày và bách hại [4]. Di dân, vì thế, không nằm bên cạnh lịch sử cứu độ. Nó đi ngang qua lịch sử chính yếu.
Thứ đến, Giáo hội đồng hành với người di dân vì phẩm giá con người không dừng lại ở biên giới quốc gia. Quốc gia có quyền tổ chức đời sống xã hội, bảo vệ an ninh, gìn giữ trật tự chung. Nhưng người di dân, dù tình trạng pháp lý thế nào, vẫn là một người có phẩm giá. Đức Phanxicô đã tóm tắt mục tiêu hướng dẫn của Giáo hội bằng bốn động từ: “tiếp nhận, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập” người di dân và tị nạn [5]. Động lực từ đây rất thực tế. Tiếp nhận không phải là mở cửa vô trách nhiệm. Bảo vệ không phải là một biện pháp bất chấp pháp luật. Thăng tiến không phải là khơi dậy lòng thương hại. Hội nhập không phải là một người đánh mất căn tính của họ. Đó là một tiến trình nhân bản, trong đó người đến và người được đón đều được mời lên.
Thêm nữa, Giáo hội đồng hành với người di dân vì nơi họ, Giáo hội học lại chính căn tính của mình. Giáo hội cũng là dân du hành. Không ai trong chúng ta có quê hương vĩnh viễn ở đời này. Mỗi Thánh lễ, mỗi cuộc hành hương, mỗi lần bước vào nhà thờ, ta đều được nhắc nhở rằng đời sống Kitô hữu là một hành trình về Nhà Cha. Vì thế, người di dân như một tấm kính trước Hội Thánh. Họ nhắc ta rằng nhà trần gian rất quý, quê hương rất thiêng, nhưng không phải là tuyệt đối. Tuy nhiên, chính vì quê hương quý và thiêng, nỗi đau mất quê, xa quê, không được trở về quê lại càng đáng được lắng nghe.
Đức Phanxicô cũng nói rằng Giáo hội, khi đồng hành với người di dân và tị nạn, không chỉ tìm cách hiểu các nguyên nhân của di cư, mà còn cố gắng vượt qua những hậu quả tiêu cực và phát huy những ảnh hưởng tích cực nơi cộng đồng xuất phát, cộng đồng quá cảnh và cộng đồng tiếp nhận [6]. Cái nhìn này rất quân bình. Di dân không chỉ là gánh nặng. Nếu được đón nhận và hội nhập đúng cách, người di dân có thể nhận được quà tặng: làm phong phú văn hóa, lao động, đức tin, gia đình, cộng đoàn và cả đời Giáo hội địa phương.
Tuy nhiên, nói đến di dân mà chỉ nói hy vọng thì chưa đủ. Phải nói đến gian nan. Người di dân dễ gặp khó khăn vì thiếu ngôn ngữ, thiếu giấy tờ, thiếu mạng lưới hỗ trợ, thiếu hiểu biết pháp luật. Họ có thể bị bóc lột lao động, bị lừa đảo, bị buôn bán, bị kỳ thị hoặc bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ. Có những người phải sống “khôn” để tồn tại, nhưng sự thật đôi khi được hiểu là khó khăn. Thực ra, trong nhiều hoàn cảnh, họ chỉ đang cố gắng sống sót giữa một thế giới quá phức tạp. Điều mục vụ cần làm không phải là phi công dự án, nhưng là phân định: đâu là yếu đuối cần chữa lành, đâu là bất công cần lên tiếng, đâu là trách nhiệm cá nhân cần nâng đỡ để người ta đứng dậy.
Nơi Tin Mừng Mt 2,13-18 cũng cho ta thấy một sự thật đau lòng: khi quyền lực sợ mất ngai, trẻ thơ là nạn nhân đầu tiên. Hêrôđê giết trẻ em ở Bêlem. Đó không chỉ là một câu chuyện xa xưa. Hôm nay, chiến tranh, nghèo đói, chính sách bất công và những nền kinh tế vô cảm vẫn đang “giết” tuổi thơ của bao em nhỏ. Có em chết trên biển. Có em lớn lên trong trại tị nạn. Có em không thể đến trường. Có em bị tách khỏi cha mẹ. Có em phải làm người lớn quá sớm. Vì thế, mục vụ di dân không phải là một công việc phụ của Giáo hội. Đó là nơi Tin Mừng chạm vào cơ thể gây tổn thương của nhân loại.
Thánh Giuse không nói bất cứ lời nào trong đoạn Tin Mừng này. Nhưng sự im lặng của ngài không trống rỗng. Đó là sự tĩnh lặng của người biết Chúa và biết hành động đúng lúc. Có lẽ mục vụ di dân hôm nay cũng cần học nơi Thánh Giuse: giảm ồn ào, giảm khẩu hiệu, giảm phán xét, và nhiều hơn những hành động cụ thể. Một chỗ ở tạm thời. Một lớp học ngôn ngữ. Một bữa ăn nhẹ. Một giải pháp tư vấn. Một cộng đồng biết chào đón. Một giáo xứ có Thánh lễ bằng tiếng mẹ đẻ. Một người chịu ngồi nghe câu chuyện của họ từ đầu đến cuối. Đôi khi, với người di dân, chỉ cần gọi đúng tên là một phép lành.
Sau cùng, câu hỏi “Tại sao Giáo hội đồng hành với người di dân?” có thể trả lời rất ngắn: vì Chúa Giêsu đã từng là một hài nhi tị nạn. Vì Thánh Giuse đã từng là người cha phải đưa gia đình đi trong đêm. Vì Đức Maria đã từng là người mẹ ôm con nơi đất khách. Vì từng khuôn mặt di dân, Giáo hội gặp lại một mảnh đời của Thánh Gia.
Có lẽ, còn vì một lý do rất người: khi một gia đình phải bỏ nhà ra đi, nếu Giáo hội không bước theo họ, thì Giáo hội sẽ đứng ở đâu?
Nguồn tham khảo
[1] Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giu-se rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!” Ông Giu-se liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: “Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.”
Bấy giờ vua Hê-rô-đê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi kỹ các nhà chiêm tinh. Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a: “Ở Ra-ma, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ: tiếng bà Ra-khen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì họ không còn nữa.” (Mt 2,13-18)
[2] “Sứ điệp của Đức Phanxicô nhân ngày Thế giới Di dân và Tị nạn lần thứ 109 – năm 2023.”
[3] “Sứ điệp của Đức Phanxicô nhân ngày Thế giới Di dân và Tị nạn lần thứ 106 – năm 2020.”
[4] Hội đồng Tòa Thánh “Cor Unum” và Hội đồng Tòa Thánh về Mục vụ cho Người Di dân và Lữ hành, Refugees: A Challenge to Solidarity (1992).
[5] “Sứ điệp của Đức Phanxicô nhân ngày Thế giới Di dân và Tị nạn lần thứ 104 – năm 2018: Nhận tiếp, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập người di dân và người tị nạn.”
[6] “Sứ điệp của Đức Phanxicô nhân ngày Thế giới Di dân và Tị nạn năm 2014: Người di dân và người tị nạn: Hướng tới một thế giới tốt đẹp hơn.”
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.