TRƯỚC MẶT CHÚA
JM. Lam Thy ĐVD
Sẽ đến một lúc mà tình yêu vợ chồng đạt tới đỉnh cao hạnh phúc và trở thành một không gian độc lập lành mạnh: khi đó người này khám phá ra người kia không thuộc về riêng mình, mà có một chủ nhân quan trọng hơn rất nhiều, đó là Thiên Chúa duy nhất của người ấy. Không ai có thể tham vọng chiếm được nơi thầm kín riêng tư và bí mật nhất của người mình yêu, chỉ có Thiên Chúa mới là trung tâm điểm của cuộc sống người ấy.
Đó là lý do giải thích Thiên Chúa luôn hiện diện trong gia đình và tất cả hành động của mọi phần tử trong gia đình đều diễn ra trước mặt Chúa. Chủ đề mục vụ gia đình tháng 9/2018 là: TRƯỚC MẶT CHÚA. Xin cùng tìm hiểu:
I. TÌNH YÊU VỢ CHỒNG LÀ TÌNH YÊU GIAO ƯỚC
Sự hiệp thông trong hôn nhân nối kết hai người nam và nữ lại với nhau, vừa khác nhau, vừa bình đẳng với nhau. Sự nối kết này không tạo thành một hợp chất làm biến mất những cá tính riêng của mỗi người; nhưng là một giao ước, mà vì tình yêu, vợ và chồng, mỗi người vẫn phát triển và xác định nhân cách của mình. Là một giao ước, tình yêu hôn nhân bao hàm những chọn lựa và từ bỏ, hầu cùng thực hiện tốt hơn những điều “sống vì” và “sống cho” bạn của mình, để cùng xây dựng một mái ấm gia đình. Giao ước hôn nhân, theo mạc khải của Kinh Thánh, không phải là một giao ước suông mà người ta có thể hủy bỏ khi không được thỏa mãn. Giao ước hôn nhân lấy nguồn và lấy mẫu từ sự nối kết giữa Đức hôn phu Ki-tô và hiền thê Giáo hội, là một giao ước mới, trong đó, cả hai vợ chồng vừa là những người ký kết đồng thời là chứng tá cho cuộc hôn nhân.
Qua Chúa Ki-tô, tính chất của tình yêu mà hai vợ chồng Công giáo gánh vác trên vai được tỏ hiện. Cuộc sống hằng ngày trong xã hội luôn diễn ra những cạm bẫy của tình yêu, ích kỷ, vụ lợi, cãi cọ, tranh chấp, bất đồng, ly thân, ly dị. Trước những cảnh huống này, mới thấy giáo huấn của Giáo hội là một Tin Mừng, khi đòi hỏi nơi tình yêu hôn nhân phải một vợ một chồng và bất khả phân ly. Giáo hội chỉ ra cho thấy tình yêu hôn phối là một tình yêu chung thủy suốt đời, một giao ước làm đôi bên thỏa lòng, vì mỗi bên đều trước nhất tìm cách làm vừa lòng bạn đời của mình hơn là cho bản thân mình.
Giáo hội yêu cầu các đôi hôn phối khi muốn trao đổi lời hôn ước, trước tiên phải ý thức về lời giao ước ấy và sau là diễn tả lòng ưng thuận qua việc trả lời công khai các câu hỏi có ý nghĩa như sau:
1- Sự tự do
Vợ chồng hiến thân cho nhau một cách hoàn toàn tự do. Tự do không chỉ là lựa chọn người phối ngẫu, mà còn là chọn lựa dấn thân trong hôn nhân, là giữ lấy một quyết định trọng đại, đó là kết hôn.
2- Sự trung tín
Đơn hôn (một vợ một chồng). Vợ chồng Công giáo cần phải sống thế nào để minh chứng rằng: sống tín trung bằng chính tình yêu của họ và họ đã mang lại hạnh phúc cho nhau.
3- Tính bất khả phân ly
Vĩnh viễn (sống trọn đời với nhau, không chia ly vì bất cứ lý do gì, ngoại trừ sự chết). Có một sự tương hợp giữa giao ước của Chúa và dân Người với lời giao ước của vợ chồng dấn thân cho nhau. Và khi qui hướng về chương trình của Chúa, Đức Ki-tô đã đặt nền tảng vững bền của vợ chồng: “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19, 6). Chính Người mang ánh sáng kế hoạch tình thương của Chúa đến cho hôn nhân.
4- Sinh sản
Vợ chồng chấp nhận trách nhiệm làm cha mẹ và sinh đẻ con cái. Tình yêu vợ chồng dự phần vào tình thương sáng tạo của Thiên Chúa thông ban và giải truyền sự sống. Vì vậy, nếu vợ chồng tự ý từ chối con cái, là chưa thật sự kết hôn: vì lời hứa hôn nhân chưa có giá trị bí tích.
II. THIÊN CHÚA LUÔN HIỆN DIỆN TRONG GIA ĐÌNH
Thiên Chúa cư ngụ trong tâm hồn những ai sống trong ân sủng của Người. Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện trong đền thờ của mối hiệp thông hôn nhân. Như Thiên Chúa ở trong những lời tán tụng của dân Người (x. Tv 22,4) thế nào, thì Người cũng sống thâm sâu trong tình yêu vợ chồng đang tôn vinh Người thế ấy. Sự hiện diện của Thiên Chúa trong gia đình là sự hiện diện thực tế và cụ thể, cùng với mọi khổ đau, chiến đấu, niềm vui và những cố gắng hằng ngày của gia đình.
Sống tốt đẹp tình hiệp thông gia đình là một hành trình đích thực để nên thánh trong đời sống hằng ngày và để được lớn lên trong kinh nghiệm thần linh, một phương thế để kết hợp thâm sâu với Thiên Chúa. Quả thật, những đòi hỏi của đời sống huynh đệ và cộng đoàn trong gia đình là một cơ hội để người ta không ngừng mở lòng ra hơn nữa, và nhờ đó có thể liên kết với Thiên Chúa ngày càng trọn vẹn hơn. Vì thế, những ai có niềm khao khát tâm linh sâu xa không nên nghĩ rằng gia đình tách biệt sự khát khao tâm linh khỏi đời sống trưởng thành trong Thánh Thần; nhưng hãy xem đó như một đường lối mà Thiên Chúa đang dùng để dẫn mình tới những tầm cao của sự hiệp thông.
Nếu gia đình luôn qui hướng về Đức Ki-tô, Người sẽ hiệp nhất và soi sáng toàn thể đời sống của gia đình. Những khổ đau và những vấn đề của gia đình trải nghiệm trong sự thông hiệp với Thập Giá Chúa Ki-tô, sẽ giúp gia đình vượt qua được những khó khăn, ngõ hầu tránh được sự đổ vỡ. Các gia đình dần dần đạt được sự thánh thiện qua đời sống hôn nhân, bằng ân sủng của Thánh Thần, nhờ đó những khó khăn và đau khổ chuyển hóa thành một hiến lễ tình yêu. Mặt khác, những khoảnh khắc của niềm vui, thư giãn hay những dịp lễ mừng, và ngay cả hành vi tính dục cũng được xem như một sự tham dự vào sự viên mãn của Đấng Phục Sinh. Cũng bởi vì chính Đấng Cứu Độ đã dạy: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3,20).
Tông huấn Niềm Vui Yêu Thương “Amoris Lætitia” (số 315) khẳng định: “Sự hiện diện của Chúa trong gia đình là sự hiện diện thực tế và cụ thể, cùng với mọi khổ đau, chiến đấu, niềm vui và những cố gắng hằng ngày của nó. Khi sống trong gia đình, chúng ta không thể mang một bộ mặt nạ vì khó mà giả vờ hay nói dối. Nếu như tình yêu linh hoạt sự chân thực ấy, thì đúng là Chúa đang ngự trị ở đó, bằng niềm vui và sự bình an của Người. Linh đạo tình yêu gia đình được cấu thành từ hàng ngàn cử chỉ thực tế và cụ thể. Trong tình hiệp thông được xây dựng từ bao nhiêu là dâng hiến và gặp gỡ, Thiên Chúa có chỗ ngự trị của Ngài. Sự dâng hiến cho nhau đó kết hợp “những giá trị nhân văn và thần linh”, vì nó là sự tròn đầy của tình yêu Thiên Chúa. Cuối cùng, linh đạo hôn nhân là một linh đạo của mối dây ràng buộc, trong đó tình yêu Thiên Chúa cư ngụ.”
III. TRƯỚC MẶT CHÚA
Một khi Thiên Chúa đã cư ngụ trong tâm hồn mỗi phần tử trong gia đình, thì tất nhiên bất cứ một ý nghĩ, một tư tưởng hay một hành động nào của từng cá nhân Thiên Chúa đều thấy rõ. Sống tốt đẹp tình hiệp thông gia đình là một hành trình đích thực để nên thánh trong đời sống hằng ngày và để được lớn lên trong kinh nghiệm thần bí, một phương thế để kết hợp thâm sâu với Thiên Chúa. Những đòi hỏi của đời sống huynh đệ và cộng đoàn trong gia đình là một cơ hội để không ngừng mở lòng ra hơn nữa, và nhờ đó có thể gặp gỡ Thiên Chúa ngày càng trọn vẹn hơn.
Lời Chúa đã dạy “ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối, và kẻ ấy bước đi trong bóng tối” (1 Ga 2,11) và như thế là người ấy “ở lại trong sự chết” (1 Ga 3,14). Chỉ cần con người “yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở trong họ và tình yêu của Ngài sẽ nên hoàn hảo nơi họ” (1 Ga 4,12). Điều đó cho thấy tình yêu vợ chồng đi theo một linh đạo “Hiệp thông siêu nhiên” như Tông huấn Niềm Vui Yêu Thương “Amoris Lætitia” (số 314) chỉ rõ: “Chúng ta vẫn thường nói Thiên Chúa cư ngụ trong tâm hồn những ai sống trong ơn sủng của Ngài. Ngày nay chúng ta cũng có thể nói Chúa Ba Ngôi hiện diện trong đền thờ của mối hiệp thông hôn nhân. Như Thiên Chúa ở trong những lời tán tụng của dân Ngài (x. Tv 22,4) thế nào, thì Ngài cũng sống thâm sâu trong tình yêu vợ chồng đang tôn vinh Ngài thế ấy.”
Nói cách khác, tất cả mọi sự kiện trong gia đình đều diễn ra trước mặt Chúa. Vì thế, những lời thề hứa trong lễ cưới cần phải được hành xử và duy trì trong suốt cuộc sống hôn nhân. Muốn được như vậy, hãy cầu nguyện. Cầu nguyện trong gia đình là một phương thế ưu việt để diễn tả và củng cố đức tin phục sinh. Gia đình có thể dành ít phút mỗi ngày để qui tụ nhau trước Thiên Chúa hằng sống, nói với Người về những lo lắng bận tâm, cầu xin với Người cho những nhu cầu của gia đình, cho một ai đó đang gặp khó khăn, xin Người trợ giúp gia đình biết sống yêu thương, tạ ơn Người về cuộc sống và về bao ơn lành khác; cầu xin Đức Mẹ Ma-ri-a – Mẹ của các gia đình – che chở dưới tà áo của Mẹ.
Với những lời đơn sơ như thế, giờ cầu nguyện này có thể đem lại điều tốt lành lớn lao cho gia đình. Những diễn tả khác nhau của lòng đạo đức bình dân là một kho tàng linh đạo cho nhiều gia đình. Hành trình cầu nguyện chung của gia đình đạt tới đỉnh điểm trong việc tham dự Thánh lễ, nhất là trong khung cảnh ngày nghỉ lễ Chúa Nhật. Đức Giê-su gõ cửa các gia đình chia sẻ với họ bữa tiệc Thánh Thể (x. Kh 3,20). Ở đó, vợ chồng luôn luôn có thể ký kết lại giao ước Vượt Qua vốn là giao ước đã kết hợp họ và phản ảnh Giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với nhân loại trên thập giá. Thánh Thể là bí tích của Giao Ước Mới, trong đó công trình cứu chuộc của Đức Ki-tô được thực hiện (x. Lc 22,20).
Như thế, mối liên kết sâu xa giữa đời sống hôn nhân và Thánh Thể càng trở nên rõ nét hơn. Lương thực Thánh Thể là sức mạnh và động lực cần thiết cho đôi vợ chồng để sống hôn ước mỗi ngày như một “Hội Thánh tại gia” trước mặt Chúa.
KẾT LUẬN
Tóm lại, lời hứa yêu thương của đôi phối ngẫu không phải chỉ là một sự chứng thực trước mặt mọi người về cuộc sống hôn nhân được bắt đầu; mà hơn thế nữa, nó phải là một giao ước tình yêu, một lòng chung thủy sắt son và bền đỗ trong ơn gọi của cả hai vợ chồng trước mặt Chúa. Giao ước tình yêu mạnh hơn cả mọi sự cam kết trên môi miệng, nó chẳng hề bị ràng buộc bởi hệ thống luật lệ hay luật pháp của một quốc gia nào, cũng chẳng bị phá vỡ bởi những thủ tục nơi trần gian; nhưng trên hết đó là một giao ước mà cả hai cùng trao cho nhau tình yêu trên nền tảng vững bền của tình yêu Thiên Chúa.
Vì thế, mỗi sáng khi thức dậy, vợ chồng hãy lặp lại trước mặt Chúa quyết định trung tín này của mình, cho dù có điều gì sẽ xảy ra trong ngày. Và mỗi người, khi đi ngủ, lại mong đợi đến lúc thức dậy để tiếp tục cuộc phiêu lưu kỳ thú này, nhờ tín thác vào sự giúp đỡ của Thiên Chúa. Như thế, giữa vợ chồng – người này đối với người kia – sẽ là một dấu chỉ sự gần gũi của Chúa, Đấng không bao giờ để chúng ta đơn độc: “Này đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Qủa thật, trước mặt Chúa không còn gì đáng làm hơn là hãy “Dâng cho Chúa sự yếu hèn và tội lỗi, dâng cho Chúa tất cả cuộc đời dù xấu xa nhơ nhuốc tới đâu chăng nữa”.
Có như thế mới hy vọng “Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an" và Người sẵn sàng dang tay đón vào “trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị” (2 Pr 3,13).
Ước được như vậy. Amen.
HẠNH PHÚC LÀ QUÊN MÌNH
Thôi! anh cứ để nguyên màu cũ
Còn chút rêu sẽ mãi xanh đời
Đừng bồi hồi theo cánh lá rơi
Sợ hương mới chạnh lòng thay đổi
Thôi! anh cứ để nguyên bối rối
Đừng đem chia cho cánh phượng hồng
Bên song cửa, em tủi chờ mong
Cái lạnh đầu mùa anh chia sẻ...
Xin anh cứ để nguyên ước thệ
Cho nắng mưa phủ bớt đục trong
Cho thời gian xóa vết thương lòng
Để mái ấm còn nguyên màu cũ
Cho em cứ để nguyên cổ hủ
Như đôi bờ ngày ấy sông tương
Đành rằng cuộc sống vốn vô thường
Mộng và thực đều phù du quá!
Thôi! anh cứ để nguyên màu lá
Bên nụ mai vàng còn... ấp e
Con thơ vẫn đùa giỡn sau hè
Hạnh phúc là quên mình chấp nhận
Và… em sẽ giữ nguyên lời khấn
Cho gia đình mãi ấm yêu thương
Dù anh đi muôn nẻo dặm trường
Cuối cùng... gia đình là bến đỗ
Vâng! em sẽ giữ nguyên nếp khổ
Như Mẹ Ma-ri-a, gươm nhọn thấu tim
Chìa khóa hạnh phúc trong tay mình
Trong lời kinh hằng ngày dâng hiến.
Thanh Hương
NGÀY ÔNG BÀ
Ngày Ông Bà (Grandparents' Day), cũng gọi là Ngày Liên Thế Hệ (Intergenerational Day), là ngày lễ được cử hành tại Hoa Kỳ từ năm 1978 và chính thức được công nhận tại nhiều quốc gia khác – ngày lễ thay đổi tùy năm (năm 2018 là ngày 9-9, năm 2019 là ngày 8-9, năm 2020 là ngày 13-9). Ngày Ông Bà cử hành vào Tháng Chín vì là Mùa Thu, với ý nghĩa “tuổi già là Mùa Thu của đời người”. Dĩ nhiên Ngày Ông Bà là ngày của cả ông bà Nội và ông bà Ngoại.
LỊCH SỬ
Nhiều người kính trọng ông bà bằng nhiều hoạt động như tặng quà, tặng thiệp,... Các cháu có thể mời ông bà tới trường học vào ngày đặc biệt nào đó. Nhiều trường có các hoạt động liên quan ông bà, chẳng hạn thi kể chuyện về ông bà.
Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 4 triệu tấm thiệp được tiêu thụ vào dịp cử hành Ngày Ông Bà. Đây là dịp tốt để giới trẻ bày tỏ lòng yêu thương đối với ông bà qua các hoạt động như gọi điện thăm hỏi hoặc mời ông bà đi ăn uống. Những người sống ở các nhà hưu dưỡng có thể được cháu chắt và người thân đến thăm.
Ngày Ông Bà có nguồn gốc khác nhau. Một số người cho rằng ngày đó do đề nghị của Michael Goldgar hồi thập niên 1970, sau khi ông thăm người dì ở nhà dưỡng lão Atlanta, ông dùng 11.000 USD để vận động cho Ngày Ông Bà được công nhận chính thức, ông tới Washington DC 17 lần trong vòng 7 năm để gặp các nhà lập hiến.
Một số người khác lại cho rằng Marian Lucille Herndon McQuade (1917-2008), một bà nội trợ ở miền Tây Virginia, là người khởi xướng Ngày Ông Bà. Thập niên 1970, McQuade cố gắng cho người ta biết về sự đóng góp quan trọng của người dân, sự đóng góp mà họ sẵn sàng làm nếu được yêu cầu. Bà cũng thúc giục người ta phụng dưỡng ông bà, không chỉ trong ngày này mà suốt cả đời.
Năm 1978, Tổng thống Jimmy Carter đã ký luật công nhận Ngày Ông Bà là ngày lễ quốc gia. Marian McQuade đã nhận được điện thoại từ Tòa Bạch Ốc đề cập sự kiện quan trọng này. Nhiều người tin rằng Ngày Ông Bà được gợi hứng từ nỗ lực của bà. Tổng thống tuyên bố ngày 6-9-1979 là ngày chính thức, và ấn định Ngày Ông Bà vào Chúa Nhật, 9-9-1979, Chúa Nhật đầu tiên của Tháng Chín sau Ngày Lao Động (Labor Day).
Ca khúc chính thức của Ngày Ông Bà là bài “A Song for Grandma And Grandpa” của Johnny Prill (*), và biểu tượng là hoa “forget-me-not” (hoa lưu ly). Tương tự các dịp lễ khác, mỗi dịp đều có những bài hát ngắn đặc trưng – chẳng hạn dịp Năm Mới có bài “Auld Lang Syne” hoặc dịp Giáng Sinh có bài “Grandma Got Run Over By a Reindeer”.
Tại Australia, bang Queensland cử hành Ngày Ông Bà vào Chúa Nhật thứ nhất trong Tháng Mười. Tại New South Wales, Ngày Ông Bà được cử hành lần đầu tiên vào Chúa Nhật 30-10-2011, và được cử hành hàng năm vào Chúa Nhật cuối cùng trong Tháng Mười. Còn tại Australian Capital Territory và Western Australia cử hành Ngày Ông Bà lần đầu tiên vào năm 2012.
Tại Canada, Ngày Ông Bà được cử hành lần đầu tiên năm 1995, nhưng bị gián đoạn tới năm 2014 mới được cử hành lại. Theo ý kiến của nhiều người, Ngày Ông Bà nên được cử hành vào Chúa Nhật thứ hai trong Tháng Chín để giáo dục ý thức về gia đình trong việc phụng dưỡng ông bà, đồng thời cũng giáo dục về việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái.
Tại Estonia, Ngày Ông Bà (Vanavanemate Päev) được cử hành vào Chúa Nhật thứ hai trong Tháng Chín. Tại Pháp, Ngày Ông Bà (La Fête des Grands-Mères) được cử hành lần đầu tiên vào năm 1987 với nhãn hiệu cà phê Grand'Mère, và ấn định là Chúa Nhật thứ nhất trong Tháng Ba. Tại Anh, Ngày Ông Bà được cử hành vào năm 1990, và từ năm 2008 ấn định là Chúa Nhật thứ nhất trong Tháng Mười.
Tại Đức, Ngày Ông Bà được cử hành lần đầu tiên vào năm 2010, và ấn định là Chúa Nhật thứ hai trong Tháng Mười. Tại Tây Ban Nha, Ngày Ông Bà (Día del Abuelo) được cử hành vào ngày 26-7, lễ Thánh Gioakim và Thánh Anna – song thân của Đức Mẹ, ông bà ngoại của Chúa Giêsu. Tại Ý, Ngày Ông Bà (Festa Nazionale dei Nonni) được cử hành lần đầu tiên vào năm 2005, và ấn định là ngày 2-10, lễ Các Thiên Thần Bản Mệnh theo lịch Công giáo Rôma.
Tại Mexico, Ngày Ông Bà (tiếng Tây Ban Nha: Día del Abuelo) được cử hành vào ngày 28-8. Tại Ba Lan, Ngày của Bà (Dzień Babci) được tạp chí Kobieta i Życie giới thiệu vào năm 1964, và từ năm 1965, Ngày của Bà được cử hành vào ngày 21-1, và sau đó là Ngày của Ông (Dzień Dziadka) được cử hành vào ngày 22-1. Tại Nam Sudan, Ngày Ông Bà được cử hành lần đầu tiên vào năm 2013, và ấn định là Chúa Nhật thứ hai trong Tháng Mười Một.
Tại Singapore, Ngày Ông Bà được cử hành lần đầu tiên vào năm 1979, và được ấn định là Chúa Nhật thứ tư trong Tháng Mười Một. Tại Hong Kong, Ngày Ông Bà được cử hành lần đầu tiên vào năm 1990, và ấn định là Chúa Nhật thứ hai trong Tháng Mười. Tại Đài Loan, Ngày Ông Bà (祖父母節, Zǔfùmǔ Jié) được cử hành lần đầu tiên vào ngày 29-8-2010, và ấn định là Chúa Nhật cuối cùng trong Tháng Tám, ngay trước khi các cháu bắt đầu học kỳ mới.
MỤC ĐÍCH
Tại Hoa Kỳ, Ngày Ông Bà là Chúa Nhật thứ nhất trong Tháng Chín – sau Ngày Lao Động. Ngày này được thành lập không phải để bán thiệp và hoa, mà là để khơi dậy lòng kính trọng và yêu mến ông bà – cha mẹ của cha mẹ mình. Người đề xướng là bà Marian Lucille Herndon McQuade. Chồng bà là ông Joseph L. McQuade cũng ủng hộ bà. Họ có 15 người con, 43 người cháu, 10 người chắt, và 1 người chút. Bà McQuade qua đời ngày 26-9-2008, sau 60 năm hôn nhân.
Có ba mục đích đối với Ngày Ông Bà:
1. Thể hiện lòng kính trọng ông bà.
2. Tạo cơ hội để ông bà thể hiện yêu thương với cháu chắt.
3. Giúp cháu chắt nhận biết sức mạnh, thông tin và sự hướng dẫn quý báu từ những người lớn tuổi.
Bà McQuade muốn rằng Ngày Ông Bà là ngày của các gia đình. Bà nghĩ tới các gia đình tận hưởng những cuộc họp mặt, đoàn tụ, hoặc cùng nhau tham gia các sự kiện của cộng đồng.
Về phương diện xã hội, Ngày Ông Bà cho chúng ta cơ hội xác định sự đồng nhất và tầm quan trọng của ông bà, những người giữ vai trò chính trong gia đình. Đó cũng là ngày dấn thân, quên mình, chia sẻ niềm hy vọng, ước mơ, và các giá trị khác, đồng thời cũng nêu gương và tư vấn cho thế hệ tương lai.
Bà McQuade khiêm nhường nhận mình chỉ là người nội trợ, nhưng công việc của bà đáng trân trọng vì đã không ngừng nỗ lực làm cho Ngày Ông Bà được xã hội công nhận. Bà dành nhiều thời gian tư vấn cho những người lớn tuổi. Năm 1971, bà được bầu làm phó chủ tịch Ủy Ban Người Già của vùng Tây Virginia, và được ủy thác làm người đại diện tại Hội Nghị về Người Già của Tòa Bạch Ốc. Năm 1972, nỗ lực của bà McQuade được Tổng thống Richard Nixon tuyên bố là Ngày Ở Nhà Toàn Quốc (National Shut-in Day). Bà còn là chủ tịch Tổ chức Phục hồi Hướng nghiệp, phó chủ tịch Cơ quan Y tế Tây Virginia, thành viên lãnh đạo Nhà Dưỡng Lão, và liên quan nhiều hoạt động khác.
Lailah Rice, một người cháu của bà McQuade, nhắn nhủ trẻ em ngày nay: “Các cháu có thể học hỏi nhiều từ ông bà hơn mình tưởng – đó không chỉ là công việc trong gia đình”.
Ngày Ông Bà là “gạch nối” quan trọng trong gia đình, với mối quan hệ liên thế hệ. Ngày nay, nhiều trường học và các nhóm cộng đồng cử hành Ngày Ông Bà vào bất cứ thời gian nào trong năm, với minh định là liên kết gia đình và cộng đồng. Cháu chắt có cơ hội để bày tỏ lòng biết ơn đối với ông bà – những người đã sinh ra cha mẹ mình, đồng thời cũng là dịp để ông bà cảm thấy cuộc đời của mình không vô nghĩa và được quý mến.
Tuổi già bắt đầu từ tuổi trẻ. Hỡi các cháu chắt, hãy luôn chân thành yêu quý ông bà, đặc biệt là Ngày Ông Bà!
TUỔI GIÀ TRONG KINH THÁNH
Kinh Thánh không đề cập ông bà một cách rõ ràng, nhưng có nói tới tuổi già, người già, cao niên và trường thọ – đó là ngụ ý nói tới ông bà, tiền nhân của chúng ta. Ông bà là những người mà chúng ta gọi là “lớn tuổi”. Họ đã trải qua tuổi thơ, tuổi trẻ và tuổi trung niên, chắc chắn họ dày dạn kinh nghiệm và cũng tích lũy được nhiều điều khôn ngoan. Con cháu hãy lắng nghe họ, đừng làm cho họ tủi thân!
Là con người, ai cũng có cha mẹ, và tất nhiên là ai cũng có ông bà nội – ngoại (nội tổ phụ và nội tổ mẫu, ngoại tổ phụ và ngoại tổ mẫu). Đối với con cháu, chữ hiếu không chỉ dành cho cha mẹ mà cho cả ông bà nội – ngoại. Đừng “cân-đo-đong-đếm” mà coi trọng bên nào hơn bên nào, thử hỏi không có bên này thì làm sao có bên kia?
Kinh Thánh dạy hậu duệ phải kính trọng người già, dù họ không phải là ông bà của mình: “Thấy người đầu bạc, ngươi phải đứng lên, ngươi phải kính trọng người già cả: như vậy là ngươi kính sợ Thiên Chúa của ngươi” (Lv 19:32). Đó là cách cư xử của người có giáo dưỡng, dù người đó có niềm tin tôn giáo hay không. Kinh Thánh không nói xa hay nói gần, mà nói cụ thể về hành trình con người: “Đừng khinh dể người đã cao niên, vì đến lượt chúng ta rồi cũng già hết cả” (Hc 8:6).
Kinh nghiệm và khôn ngoan có liên quan lẫn nhau. Cuộc sống rất cần hai thứ đó để có thể “sống khôn”. Và như tiền nhân nói, có sống khôn mới có thể chết thiêng. Kinh nghiệm và khôn ngoan có thể do mình tích lũy, nhưng có lẽ phần lớn do “vốn liếng” của tiền nhân. Thế nên Kinh Thánh khuyên: “Đừng bỏ qua chuyện các vị cao niên kể lại, vì chính các ngài đã học hỏi nơi tổ tiên mình; nhờ học với các ngài mà con có được sự hiểu biết, và khi cần, con biết đưa ra câu trả lời thích hợp” (Hc 8:9).
Đối với con cháu, đừng tưởng được học hành ba chữ rồi tự cho mình là giỏi giang mà coi thường người khác, cũng đừng tưởng mình văn minh tiến bộ hơn ông bà vì mình sử dụng các apps, nhanh nhẹn lướt internet,... Tất nhiên là tre già thì măng mọc, nhưng 70 chưa chắc đã khôn hơn 71. Cái túi khôn của ông bà luôn quý giá, chưa chắc giới trẻ đã học hết. Kinh Thánh xác định: “Người cao niên phán đoán, bậc lão thành chỉ bảo, thật đẹp đẽ biết bao! Sự khôn ngoan của các vị bô lão, tư tưởng và ý kiến của các bậc danh nhân thật đẹp đẽ chừng nào! Giàu kinh nghiệm là triều thiên cho hàng bô lão, lòng kính sợ Đức Chúa là niềm hãnh diện của các ngài” (Hc 25:4-6).
Tôn trọng tha nhân là tôn trọng Thiên Chúa. Với mọi người còn phải cư xử như vậy huống chi đối với ông bà, tiền nhân của mình. Và cái gì cũng có hệ lụy tất yếu của nó: “Ai kính sợ Đức Chúa sẽ được trường thọ, còn tuổi đời đứa ác bị rút ngắn đi” (Cn 10:27). Và Kinh Thánh cho biết một hệ lụy khác: “Kính sợ Đức Chúa khiến tâm hồn sung sướng, cho con người được hoan hỷ mừng vui và an khang trường thọ” (Hc 1:12).
Người già rất dễ tủi thân, mặc cảm mình là “người thừa”, thế nên con cháu cần tế nhị và khôn khéo trong cách cư xử. Ông bà là những người dày dạn kinh nghiệm làm cha mẹ, luôn sống cho con cái mà quên bản thân mình. Họ yêu thương con cái thế nào thì họ cũng yêu thương cháu chắt như vậy, sợi dây máu mủ ruột rà không thể chia lìa. Vả lại, “triều thiên của người già là đàn con cháu” (Cn 17:6a).
Tuổi già gắn liền với kinh nghiệm và sự khôn ngoan, mà khôn ngoan là một nhân đức. Thật vậy, Kinh Thánh xác định: “Khôn ngoan quý hơn cả trân châu, không bảo vật nào của con so sánh nổi. Bên hữu khôn ngoan là trường thọ, bên tả là danh giá giàu sang” (Kn 3:15-16).
Một lần nữa, chúng ta cùng tự nhủ và động viên nhau: “Hãy luôn chân thành yêu quý ông bà, đặc biệt là Ngày Ông Bà!”. Đó là niềm vui của chúng ta, đồng thời cũng là bổn phận và trách nhiệm. Hãy là hiếu tử chứ đừng bao giờ là nghịch tử đối với cha mẹ, cũng hãy là hiếu tôn chứ đừng bao giờ là nghịch tôn đối với ông bà!
Lạy Chúa, xin giúp chúng con sống trọng chữ hiếu, và xin chúc lành cho ông bà của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU (viết theo TimeAndDate.com và LegacyProject.org)
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.