BIẾU XUÂN TẶNG TẾT
Thánh Gioan xác định: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Đó là tặng phẩm vô giá và tuyệt vời nhất. Đời sống Kitô hữu có vẻ lặng lẽ nhưng không trĩu nặng u buồn, nghĩa là lúc nào cũng “vui như Tết” vì luôn được tận hưởng quà tặng của Chúa Cha là Đức Kitô Giêsu.
Thời gian vui Xuân mừng Tết là lúc thảnh thơi, người ta có thời gian đi thăm nhau và chúc nhau những điều tốt lành nhất, và thường có chút quà biếu nhau để chia sẻ niềm vui Xuân, gọi là quà Tết. Đó cũng là một cách lì xì.
Người giàu thì biếu nhau những món quà giá trị cao về vật chất, người nghèo thì không đủ tiền để mua sắm như người giàu, nên đôi khi người nghèo cũng thấy ngại, ngay cả bà con thân thuộc cũng chẳng tránh được cái “thói đời” này, thậm chí còn bị khinh ra mặt. Biết sao được, vì thời nay người ta coi trọng vật chất hơn tinh thần. Nói mà không có “phong bì” thì bị người khác “khó chịu” trong cái bụng lắm. Chuyện đời quá nhiêu khê!
Thôi thì có vật chất làm quà tết biếu nhau cũng tốt, còn không thì tinh thần và tình cảm vẫn là điều quan trọng hơn. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền có món quà Tết độc đáo lắm, ông tặng cả mùa Xuân, do đó ông đã viết ca khúc “Anh Cho Em Mùa Xuân”, phổ thơ của Thi sĩ Kim Tuấn. Ca khúc này viết ở nhịp 4/4, âm thể Trưởng, tiết tấu giản dị nhưng vẫn tạo sự vui nhộn của không khí mùa Xuân, lời thơ cũng mộc mạc, bình dị như những người dân quê chất phác.
“Anh” ở đây là chính mình (dù nam hay nữ), là đại từ chỉ ngôi thứ nhất số ít, là người tặng; còn “em” là đại từ ngôi thứ hai, là người được tặng (dù người đó là ai). Vấn đề là chân thành tặng nhau với cả tấm lòng: “Anh cho em mùa Xuân, nụ hoa vàng mới nở, chiều Đông nào nhung nhớ”. Nỗi nhớ thường gắn liền với mùa Đông, có lẽ do cái lạnh khiến người ta có nhiều cảm xúc. Nỗi nhớ đó có thể là nỗi nhớ của đôi tình nhân, của cha mẹ và con cái, của ông bà và cháu chắt, của anh chị em, của bạn bè, của người thân, của người quen,… Mùa Xuân rộn rã nhưng đâu phải ai cũng “vui như Tết”, có người vẫn mặc vẻ trầm tư kỳ lạ: “Đường lao xao lá đầy, chân bước mòn hè phố, mắt buồn vin ngọn cây”.
Tặng nhau cả mùa Xuân thì quá tuyệt vời, vì mùa Xuân nở hoa và nảy lộc, chẳng mùa nào đẹp tươi hơn: “Anh cho em mùa Xuân, mùa Xuân này tất cả, lộc non vừa trẩy lá”. Cảnh quê thật êm ả và trữ tình, toát lên vẻ thơ mộng từ những gì đơn sơ nhất: “Lời thơ rung cõi đời, bầy chim lùa vạt nắng, trong khói chiều chơi vơi”. Khói bay chơi vơi là khói lững lờ bay lên từ các nhà bếp lợp tranh, nhìn khói như lớp sương phủ dính vào mái nhà, chơi vơi mà không buồn, chơi vơi mà đậm đà tình làng nghĩa xóm. Thương biết bao!
Nói đến đồng quê Việt Nam thì người ta nghĩ ngay tới những ruộng lúa như tấm thảm xanh mướt tận chân trời: “Đất Mẹ gầy cỏ lúa, đồng ta xanh mấy mùa, ngoài đê diều căng gió, thoảng câu hò đôi lứa”. Quê hương có Mẹ, ở đâu có Mẹ là có quê hương, có đất nước, có tổ quốc, nên người ta gọi là Đất Mẹ. Đẹp lắm những cánh diều no gió bay cao vút, xa xa vọng vang những tiếng hò thật hữu tình. Ngoài đồng ruộng còn đẹp như vậy, huống chi là xóm làng: “Trong xóm vắng chuông chùa, trăng sáng soi liếp dừa, con sông dài mấy nhánh, cát trắng bờ quê xưa”. Ai có tâm hồn nghệ sĩ thì không thể không viết vài câu thơ hoặc sáng tác một khúc ca. Quê hương là thế, giản dị mà tuyệt vời!
Quà Tết vật chất thì nhỏ, còn quà Tết tinh thần thì to lớn lắm, cả mùa Xuân kia mà! Hãy tặng nhau cả mùa Xuân cho tình yêu thương lên ngôi, cho tình người ngự trị, cho niềm vui trải rộng mọi chiều kích cuộc đời: “Anh cho em mùa Xuân, trẻ nô đùa khắp trời, niềm yêu đời phơi phới”. Quà Tết tinh thần còn tuyệt vời hơn vì đó là mùa Xuân quê hương, nơi đất lành chim đậu, nơi chôn nhau cắt rốn: “Bàn tay thơm sữa ngọt, dải đất hiền chim hót, mái nhà xinh kề nhau”. Mái nhà san sát nhau, không bao giờ rời xa nhau, đó là biểu tượng của tình nghĩa đồng bào, như ca dao nói: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng”.
Có Xuân là có Tết, có hoa, có nhạc, có niềm vui tưng bừng, vui từ nhà ra ngõ, vui đó vui đây, vui lây sang mọi người: “Anh cho em mùa Xuân, đường hoa vào phố nhỏ, nhạc chan hòa đây đó”. Cuộc đời luôn cần có tình yêu – tình gia đình, tình xóm giềng, tình đồng bào, tình đồng loại: “Tình yêu non nước này, bài thơ còn xao xuyến, rung nắng vàng ban mai”. Ở đâu có tình yêu thương thì ở đó có mùa Xuân ngự trị.
NS Nguyễn Hiền dùng đoạn coda (kết) ngắn gọn, không kết ở chủ âm mà kết ở trung âm, chuyên môn gọi là “kết nữ”, ít ca khúc dùng loại này nên khá đặc biệt: “Anh cho em mùa Xuân, nhạc thơ tràn muôn lối”. Nét nhạc đi lên như hy vọng dâng cao trong tâm hồn mọi người suốt cả năm mới này.
Tặng nhau cả mùa Xuân trọn vẹn, có nhạc và có thơ, vừa lãng mạn vừa chân thành: Cung Chúc Tân Xuân – Chúc Mừng Năm Mới!
Kinh thánh nói: “CHO thì có phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35). Dù vật chất hay tinh thần cũng vậy. Chúa Giêsu nói: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7:7). Chính Ngài đã làm trước nên mới dạy chúng ta như vậy. Và đó cũng là lời hứa chắc chắn, bằng chứng là chúng ta đã cầu nguyện và luôn nhận được những điều chúng ta xin – nếu đúng Ý Chúa.
Nhưng Ngài cũng cảnh báo chúng ta: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7:12). Chỉ là người đời thôi mà cũng cảm nhận được điều mà Chúa Giêsu đã dạy, như cổ nhân nói: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác).
Chúa Giêsu còn khuyến cáo chúng ta điều cao hơn: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6:33). Đó là điều tối cần thiết cho bất kỳ ai mệnh danh là Kitô hữu.
TRẦM THIÊN THU
(*) Ns Nguyễn Hiền sinh năm 1927 tại Hà Nội. Bắt đầu học nhạc từ năm 1935, ông đã học và sử dụng dương cầm (piano), phong cầm (harmonium) và vĩ cầm (violon). Ông viết nhạc cho ca khúc đầu tay năm 18 tuổi là bài “Người Em Nhỏ”, phổ bài thơ của Thiệu Giang. Năm 1950, ông là nhạc trưởng của ban nhạc “Hotel de Paris” tại Hà Nội.
Ông lập gia đình năm 1953, rồi vào Nam một năm 1954. Ông làm việc tại các bộ Thông Tin, Chiêu Hồi và Xây Dựng Nông Thôn. Ông từng làm chủ sự phòng Chương trình Đài Phát Thanh Saigon, và phụ tá giám đốc Đài Truyền Hình Việt Nam.
Năm 1978, ông bị qui là dính líu đến tổ chức phục quốc và bị giam đến năm 1980. Năm 1988, ông và gia đình định cư tại Hoa Kỳ theo diện ODP. Ông cùng cố NS Ngọc Bích và một số người bạn lập ra ban Saigon Band ở Little Saigon (Saigon Nhỏ) ở Westminster, California, Hoa Kỳ.
Năm 2004 ông được Trung tâm Thúy Nga mời đến Toronto (Canada) để thực hiện Đại nhạc hội Paris By Night 74 với chủ đề “Hoa Bướm Ngày Xưa” để vinh danh ông cùng với hai nhạc sĩ Huỳnh Anh và Song Ngọc. Ông mất tại Mỹ tháng 12-2005 vì bị ung thư phổi.
Một số ca khúc khác của NS Nguyễn Hiền: Bước Chân Dĩ Vãng (viết chung với NS Lan Đài), Buồn Ga Nhỏ (viết chung với NS Minh Kỳ), Đường Tơ Thôi Lưu Luyến, Hồ Than Thở, Hoa Bướm Ngày Xưa (viết chung với Thanh Nam), Hoa đào năm cũ (viết chung với NS Lê Dinh), Huyền Trân Công Chúa, Lá Rơi Bên Thềm (viết chung với NS Lê Trọng Nguyễn), Lá thư gửi mẹ, Mái Tóc Dạ Hương, Ngàn Năm Mây Bay, Thanh Bình Ca, Tiếng Hát Học Trò (viết chung với NS Minh Kỳ), Tìm Đâu, Từ giã Thơ Ngây, Về Đây Anh (viết chung với NS Nhật Bằng),…
CHÚC XUÂN
Tết Nguyên Đán có điều gì đó rất đặc biệt, cả về tinh thần lẫn ngoại cảnh. Theo chiết tự: Tết là “tiết”, Nguyên là “khởi đầu”, Đán là “buổi sáng sớm”. Tiết Nguyên Đán được “rút gọn” và biến âm Tiết thành Tết, người Trung Hoa gọi là Xuân Tiết.
Nói đến Tết thì có nhiều thứ để nói, nhưng có lẽ không thể không nói tới tấm Thiệp Xuân – một dạng phổ biến ngày xưa, ngày nay không còn phổ biến nhưng lại có dạng e-card (thiệp điện tử), thậm chí là “tin nhắn”. Do đó, hình như tình cảm không còn “thật” như xưa, cứ “nhạt” dần, thế nên người ta cũng có vẻ “xa nhau” dần…
Dù ở dạng nào, thiệp Xuân (có kèm lời chúc) vẫn là nét văn hóa thể hiện sự quan tâm lẫn nhau, biểu hiện “chất” yêu thương, nhưng đôi khi người ta lại sử dụng thiệp ở dạng “thô”, tức là mang nặng hình thức chứ chưa thực sự chân thành. Đó là điều thật đáng tiếc!
Chẳng ai lại không biết tấm thiệp là cái gì và như thế nào, tùy dịp, đặc biệt là thiệp Xuân. Riêng về thiệp Xuân, Ns Lê Minh Bằng (nhóm “bộ ba” là LÊ Dinh, MINH Kỳ và Anh BẰNG) có một loại thiệp “khác người”, đó là “Cánh Thiệp Đầu Xuân” bằng âm nhạc chứ không bằng giấy. Thường thì người ta nói “tấm thiệp” chứ ít người nói “cánh thiệp”. Thiết tưởng, nói “cánh thiệp” có vẻ “cao cấp” hơn, vì nó diễn tả cái gì đó sâu lắng và thâm trầm hơn.
Ca khúc “Cánh Thiệp Đầu Xuân” được viết ở âm thể Trưởng (D, rê trưởng), với nhịp 4/4 (tương đương C), lồng trong giai điệu tươi vui, tiết tấu không cầu kỳ, chỉ có những đảo phách đơn giản ở đầu các trường canh, rất đều đặn, nhưng không đơn điệu (monotone), và vẫn tạo được nét “nhí nhảnh” của mùa Xuân vốn dĩ trẻ trung.
Mùa Xuân là mùa của muôn hoa, mùa của lộc biếc, mùa của yêu thương, mùa của mơ ước. Người ta có thể nhận thấy bóng dáng Xuân qua cảnh vật. Xuân đến, Tết về, ai mà không biết? Thế nhưng người ta vẫn “giả nai” để duy trì tính ngây thơ khi hỏi nhau, thực ra là muốn chia sẻ niềm vui khi Xuân mà thôi: “Hoa, lá nở thắm đẹp làn môi hồng, Xuân đến rồi đây nào ai biết không? Mang những hoài mong đi vào ngày tháng, bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang”.
Mùa Xuân cũng là mùa của những lời chúc, ước mong cho nhau những điều tốt đẹp. Nhưng đôi khi người ta lại cảm thấy lúng túng, không biết chúc thế nào cho hợp lý nhất, đặc biệt là khi gặp nhau vào ngày Tết: “Tôi chúc gì đây vào mùa Xuân này? Khi nắng vàng tươi nhuộm làn tóc ai, khi gió nhẹ lay hoa đào hồng thắm, trong khi Xuân ấm mới tô đẹp tháng năm”. Chúc gì thì chúc, miễn sao đó là lời chúc tốt lành và chân thành.
Vâng, chắc chắn không gì hơn là lòng chân thành, cứ thấy sao nói vậy, đừng “rào trước, đón sau”, đừng đầu môi, chót lưỡi. Đây là lời chúc Xuân: “Tôi chúc muôn người mọi điều ước muốn”. Có lẽ đó lời chúc “khôn” nhất: “Chúc mọi điều ước muốn”. Có thể gọi đó là lời chúc của các lời chúc, sự như ý của các sự như ý. Và cụ thể là: “Non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình, để người anh yêu dấu quay về gia đình, tìm vui bên lửa ấm”.
Cụ thể hơn nữa là những điều bình thường của mọi người, cách riêng với người trẻ: “Tôi chúc yên lành người người khắp chốn, mong gió đưa duyên cho cô gái xuân thì, ước nguyện sao chóng thành, rượu hồng se duyên”.
Vô vàn lời chúc, vô vàn kiểu chúc. Tác giả tiếp tục chúc những gì rất đời thường: “Tôi chúc ngày mai dù đường xa vời, trai gái bền duyên đẹp tình lứa đôi, cho bướm vàng bay trên nẻo đường mới, vai bên vai những lúc tâm tình lên khơi”.
Sum họp rồi chia tay, cuộc vui nào cũng tàn, nỗi buồn nào cũng hết, Xuân đến rồi Xuân đi. Quy luật tự nhiên là thế. Cầu chúc cho nhau dù xa mặt nhưng không cách lòng, mãi còn nhớ về kỷ niệm ngày gặp mặt vào mùa Xuân này: “Tôi chúc rồi đây người về phương nào, cho dẫu thời gian lạnh lùng lướt mau, mong ước ngày sau như là ngày trước, tay trong tay nhớ lúc trao thiệp đầu Xuân”.
Được vui Xuân này, đó là hạnh phúc thực tại, không là trong mơ tưởng, hãy cứ vui cho trọn, vì biết mình còn có được vui Xuân sau nữa hay không. Nói vậy xem chừng “bi quan”, nhưng KHÔNG, vì hoàn toàn thực tế. Lá xanh hay vàng đều “rụng”, thậm chí cò khi “bị hái”. Nhưng đó là một thực tế không ai có thể phủ nhận. Vì thế, người ta càng cần chân thành với nhau hơn, nhất là vào dịp Tết Nguyên Đán.
Công giáo không dùng thiệp Xuân, nhưng những năm gần đây, người ta dùng Lời Chúa để mọi người hái lộc đầu Xuân. Có thể coi đây là dạng “thiệp Xuân” mà Chúa gởi đến mỗi gia đình và mọi người trong dịp đón mừng năm mới, với ý Chúa trong câu Kinh Thánh mỗi người nhận được..
Về lời chúc, Kinh Thánh cho biết rằng, ngày thứ năm trong công cuộc sáng tế, Thiên Chúa cầu chúc vạn vật: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy biển; và chim phải sinh sản cho nhiều trên mặt đất” (St 1:22).
Thiên Chúa nói với ông Áp-ram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, MỌI GIA TỘC TRÊN MẶT ĐẤT SẼ ĐƯỢC CHÚC PHÚC” (St 12:1-3).
Ông Men-ki-xê-đê, vua thành Sa-lem, cầu chúc cho ông Áp-ram: “Xin Thiên Chúa Tối Cao, Đấng dựng nên trời đất, CHÚC PHÚC cho Áp-ram!” (St 14:19). Khi ông Áp-ra-ham tuân lệnh Chúa là hiến tế con trai duy nhất, sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi ông Áp-ra-ham và nói: “Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy chính danh Ta mà thề: bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Dòng dõi ngươi sẽ chiếm được thành trì của địch. Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ CẦU CHÚC CHO NHAU được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta” (St 22:16-18).
Người ta chúc phúc cho cô Rê-bê-ca: “CHÚC em sinh vạn sinh ngàn, giống dòng chiếm cứ cửa thành địch quân” (St 24:60). Kinh Thánh còn cho biết: “Đức Chúa CHÚC PHÚC cho ông I-xa-ác và ông trở nên giàu có, mỗi ngày một giàu thêm, giàu vô kể. Ông có những đàn chiên, đàn bò, có nhiều đầy tớ, khiến người Phi-li-tinh phải ghen” (St 26:12-14). Hoặc như tác giả Thánh Vịnh nhắn nhủ: “Kẻ nghèo hèn được ăn uống thoả thuê, người tìm Chúa sẽ dâng lời ca tụng. CẦU CHÚC họ vui sống ngàn đời” (Tv 22:27).
Tác giả Thánh Vịnh nói về kẻ xấu, những người chúc bằng môi miệng chứ không thật lòng: “Con người ấy, chúng chỉ mưu hạ bệ, chúng thoả lòng vì đã nói dối nói gian. Miệng thì chúc phúc cầu an, mà lòng nguyền rủa chứa chan những lời” (Tv 62:5). Câu này khiến chúng ta phải lưu ý, vì nếu không thật lòng chúc lành, đôi khi chúng ta lại “vô tình” chúc dữ cho người khác.
Chúc nhau những điều tốt lành là chuyện cần, nhưng cần hơn chắc chắn phải là cầu chúc nhau được lãnh nhận hồng ân, đặc biệt là làm vinh danh Thiên Chúa: “Nguyện Chúa Trời dủ thương và CHÚC PHÚC, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài. Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài!” (Tv 67:2-4). Hẳn là thế, vì Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha (x. Mt 6:9-13; Lc 11:2-4).
Chúng ta cũng cần tỉnh táo và lưu ý, vì có thể chúng ta lại hiểu lệch lạc hoặc ganh tỵ với người khác về việc cầu chúc. Thánh Mác-cô kể: Khi người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giêsu, để Người đặt tay trên chúng, nhưng các môn đệ la rầy chúng. Thấy vậy, Người bực mình và quở trách các ông. Rồi “Người ÔM LẤY các trẻ em và ĐẶT TAY CHÚC LÀNH cho chúng” (Mc 10:16).
Có lẽ tốt nhất là chúc bình an. Vì Chúa Giêsu đã căn dặn: “Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy” (Mt 10:12). Khi chữa lành cho người ta, Ngài cũng thường cầu chúc bình an cho khổ chủ (Mc 5:34; Lc 7:50; 8:48), đặc biệt là lời chúc của Chúa Giêsu sau khi Ngài phục sinh: “Bình an cho anh em” (Lc 24:36; Ga 20:21; Ga 20:26).
Nhưng khó nhất vẫn là cầu chúc cho những người không cùng phe mình, đối nghịch với mình, không ưa mình,... Điều này rất “ngược đời”, không phù hợp với bản tính nhân loại, rất khó thực hiện, và tưởng chừng không thể, nhưng đó lại là điều tích cực mà Chúa Giêsu buộc chúng ta phải thực hành: “Hãy YÊU KẺ THÙ và LÀM ƠN cho kẻ ghét anh em, hãy CHÚC LÀNH cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6:27-28).
Chúng ta phải làm theo lệnh truyền của Chúa Giêsu, vì Ngài đã yêu thương và thương xót chúng ta dù chúng ta chỉ là những tội nhân khốn nạn. Chúng ta phải yêu thương không chỉ theo lệnh truyền mà còn vì lý do rất thực tế mà ngôn sứ Isaia đã nói từ ngàn xưa: “Ngài [Đức Giêsu Kitô] đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8:17).
TẾT NHÂN ÁI: ĐỔI MỚI ĐỂ HOÀN THIỆN
XUÂN XÓT THƯƠNG: NHÂN TỪ THEO LỆNH TRUYỀN
Thiên Chúa duy nhất: “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13:8).
TRẦM THIÊN THU
Thưởng thức CÁNH THIỆP ĐẦU XUÂN
Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.
Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.
Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.