Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?

01-01-2020 74 lượt xem

1- Làm sao biết được Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha ở trên trời? 2- Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không? 3- Đức Mẹ có nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô hay không?

Trả lời: 

1- Trong Kinh Tin Kính Nicene   ( đọc ngày Chúa nhật và các ngày Lễ trọng) và  Kinh Tin Kính của các Thánh Tông Đồ, Giáo Hội đều tuyên xưng  Chúa Giê-su Kitô, “ chết, sống lại,  lên trời và ngự bên  hữu Chúa Cha”. 

Lời tuyên xưng này bắt nguồn từ chính lời Chúa Giê su trả lời cho viên thượng tế  Cai pha và  trước toàn thể thượng Hội Đồng  thương tế , kỳ mục và kinh sư Do Thái họp nhau lại  để tìm cách  buộc tội  Chúa với  án tử hình. Viên thượng tế đã hỏi Chúa  xem có phải Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không.

Chúa đã trả lời như sau:  “ Phải chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người  ngự bên hữu  Đấng  Toàn Năng và ngự  giá mây trời mà đến.”( Mt 26: 64; Mc 14: 62; Lc 22: 69)

Như  thế lời tuyên xưng của Giáo Hội về  chỗ ngồi  của Chúa Kitô, bên hữu  Chúa Cha  trên Nước Trời  có nguồn gốc vững chắc  là chính lời Chúa  Giê su đã  nói và được ghi lại trong các Tin Mừng, như bằng chứng trên đây. 

2- Tín điều Đức Mẹ là Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?

Trước khi trả lời câu hỏi này, xin được nhắc lại một lần nữa là vào thế kỷ thứ 4 sau Chúa Giáng Sinh, có một linh mục tên là Arius  thuộc  Tòa Thượng Phụ Alexandria ( Ai Cập) đã lạc giáo ( heretic) khi  cho rằng Chúa Giê-su Kitô có hai bản tính riêng rẽ là nhân tính( humanity) và thần tính ( Divinity) khi xuống trần gian làm Con Người. Vì thế Đức Mẹ Maria chỉ là Mẹ  của Chúa Giêsu  về phần nhân tính  mà thôi. Quan điểm lạc giáo này đã  bị Công Đồng Nicaea năm 325  A.D lên án  và bác bỏ hoàn toàn vì đi ngược với niềm tin của Giáo Hội về  sự  đồng nhất bản thể của Ba Ngôi Thiên Chúa ( Trinity) và về hai bản tính không tách rời nhau của Chúa Cứu Thế Giêsu.Nghĩa là,  Chúa Giê-su Kitô là Thiên Chúa thật và là Con Người thật, Chúa vừa có Thần tính ( Divinity) như  Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, vừa có nhân tính (humanity)  như mọi  con người , và hai bản tính này không hề tách rời nhau. Arius đã lạc giáo khi cho rằng Chúa Kitô có hai bản tính tách rời nhau, nên Mẹ Maria chỉ là  Mẹ Chúa  Giêsu trong phần nhân tính mà thôi. chứ không thể là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos)  như  các Giáo Phụ  dạy  và Giáo Hội sơ khai  đã tin .Quan điểm sai lầm trên đến đầu thế kỷ thứ  5, (428 A.D) lại được tán đồng  bởi  Thượng Phụ Nestorius thành Constantinople, là người cũng cho rằng Đức  Mẹ chỉ là Mẹ phần xác ( nhân tính) của Chúa Giê su-Kitô để  phủ nhận điều các Giáo Phụ từ thời tiên khởi đã dạy rằng : Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa ( Deipara= Theotokos=  God bearer =Đấng cưu mang Thiên Chúa.

Các Công Đồng Nicaea ( 325) và Ê-phê sô  ( 431) đều lên án tư tưởng lạc giáo của Arius và Nestorius để  khẳng định rằng Chúa Giê-su đồng bản tính ( bản thể= substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Lại nữa, Chúa Kitô có hai bản tính không hề tách rời nhau là nhân tính ( Humanity  và Thiên tính ( Divinity). Do đó, Đức Mẹ là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, nên Mẹ được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa=( Deipara=Theotokos= God bearer)  như Giáo Hội đã dạy không sai  lầm

Sau đây là bằng chứng Kinh Thánh:

Khi Đức Mẹ đến viếng thăm người  chị em họ là  bà Ê-i-sa-bét ( Elizabeth), thì bà này đã được  tràn đầy Thánh Thần,  liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu của Chúa  ( Mother of my Lord) đến với tôi thế này  Lc 43: 39- 43)

Bà Eli-sa-bét chắc chắn đã được Chúa Thánh Thần soi sáng  nên đã thốt ra những lời  trên để ca tụng Đức Mẹ. Như thế đủ cho thấy Giáo Hội ,từ đầu, đã không sai lầm khi tuyên xưng Đức Trinh Nữ Mara là Mẹ Thiên Chúa, vì  là Mẹ thật của Chúa Giê su-Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, đồng bản tính ( bản thể= Substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi một Thiên Chúa ( Holy Trinity).

Nhưng cho dầu với địa vị cao trọng làm vậy, Đức Mẹ cũng không cao hơn Thiên Chúa mà chỉ được tôn kính( veneration) ở mức Hyperdulia trong khi Thiên Chúa được tôn thờ  ( adoration) ở mức Latria trong phụng vụ thánh của Giáo Hội.Nghĩa là chúng ta chỉ phải thờ lậy ( adore), ngượi khen, vinh danh  một mình Thiên Chúa mà thôi, chứ không thờ  lậy Đức Mẹ, mà chỉ tôn kính ( venerate)  Mẹ cách đặc biệt ( hyperdulia) hơn các Thánh nam nữ khác,  được tôn kính ở mức Dulia.

Do đó, trong thực hành, người tín hữu phải cầu xin Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhờ Đức Mẹ và các Thánh chuyển giúp cầu thay, chứ không cầu xin Mẹ hay bất cứ Thánh Nam nữ nào như nguồn ban phát mọi ơn phúc.Chỉ có Chúa  là  cội nguồn của mọi ơn phúc mà chúng ta phải cầu xin cho được an vui trong cuộc sống trên trần gian này , và nhất là biết  sống  xứng đáng  là con cái của Cha trên trời để được cứu rỗi nhờ công nghiệp Chúa Kitô và sự  phù giúp đắc lực của Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ  đang  vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.

Lại nữa, khi vào nhà thờ hay nhà nguyện nào, thì  phải bái lậy trong tâm tình thờ lậy  Chúa trong nhà tạm ( Tabernacle) trước khi bái kính  ảnh tượng Đức Mẹ , Thánh Cà Giuse, hay Thánh  nam nữ nào khác.Phải nói điều này vì có một số người, khi vào nhà thờ,  đã chạy ngay đến nơi có thánh thượng Đức Mẹ  để cầu xin mà quên bái quỳ thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện thực sự  trong nhà tạm.

Tóm lại, sùng kính Đức Mẹ là việc đạo đức rất tốt đẹp và đáng khuyến khích cho mọi tín hữu, nhưng đừng quên là trên hết phải thờ lậy Chúa  là Đấng mà Mẹ Maria cũng phải tôn thờ cùng các Thánh nam nữ và các Thiên Thần, mặc dù Mẹ có địa vị cao trọng là Mẹ Chúa Kitô và cũng là Mẹ Thiên Chúa như Giáo Hội dạy.

3- Mẹ Maria có nhận công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô không ?

Theo giáo lý của Giáo Hội, chúng ta phải tin  Mẹ được diễm phúc  thụ thai không mắc tội nguyên tổ ( immaculate Conception) và mọi tội khác  như mọi người trong nhân loại, cũng như được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật  đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần như đã nói ở trên. Nhưng Mẹ không cao hơn Chúa và không cùng một bản thể ( substance) với  Ba  Ngôi  Thiên Chúa, nên Mẹ vẫn phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô  như chính Mẹ đã tuyên xưng như sau:

“Linh hồn tôi ngượi khen Đức Chúa
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi.…” (My Savior)
(Bài ca Ngượi khen Magnificat, Lc 1:46-55)

Vì là Mẹ Chúa Kitô, nên Mẹ được diễm phúc khỏi tội tổ tông và mọi tội cá nhân từ  khi được thụ thai cho đến khi về trời cả hồn xác. Mẹ được sinh ra như  mọi tạo vật khác, trừ đặc ân được  giữ gìn khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi để xứng đáng làm Mẹ  Ngôi Lời nhập thể.

Nhưng việc nhận ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu ,Con của Mẹ, không làm thương tổn địa vị cao trọng của Mẹ là Mẹ Ngôi Hai và là Mẹ Thiên Chúa. Ngược lại, Mẹ đã vinh danh Chúa Cứu Thế  Giêsu khi nhận ơn cứu chuộc của Chúa, vì “ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh ấy mà được cứu độ.” (Cv 4 :12)

Như thế khi nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô, Mẹ  đã tôn vinh Chúa là Đấng cứu thế duy nhất đã hòa giải con người với Thiên Chúa qua vâng phục và hy sinh chịu chết trên thập giá năm xưa,  mặc dù Mẹ không có tội lỗi nào cần phải được tha thứ nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa.

Chúng ta cảm tạ Mẹ Maria thật nhiều  vì Mẹ đã “ xin vâng” với Thiên Chúa để làm Mẹ Chúa Cứu Thế Giêsu, và cộng tác với Con của Mẹ trong sứ mệnh cứu chuộc  cho nhân loại khỏi phải chết vì tội. Vai trò của  Mẹ thật quan trọng trong Chương Trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô, Con của Mẹ.

Vậy chúng  ta hãy siêng năng chạy đến với Mẹ để nhờ Mẹ nguyện giúp cầu thay cho chúng ta  được mọi ơn cần thiết của Chúa trong cuộc lữ hành về quê Trời giữa bao khốn khó , gian nan vì cản trở  và đánh phá  của ma quỷ ,  cám dỗ của thế gian với đầy rẫy gương xấu, dịp tội và vì  bản chất yếu đuối nơi mỗi người chúng ta.

Lm. Phanxicô Xaviê  Ngô Tôn Huấn.

Tầm quan trọng và ý nghĩa các

lễ kính Đức Maria trong năm phụng vụ

Trong năm phụng vụ các lễ kính Đức Mẹ cũng phải phản ánh một cách rõ ràng mầu nhiệm của Chúa Kitô.

Vì tất cả cuộc đời Mẹ đâm rễ sâu trong mầu nhiệm ấy. Nếu không có điểm tham chiếu đó, các lễ kính Đức Mẹ sẽ không có ý nghĩa cũng như lý do hiện hữu. Đàng khác, năm phụng vụ sẽ không trọn vẹn, nếu không cho thấy một sự hiện diện thích hợp của Đức Maria. Cũng thế, như trong nguồn gốc và lịch sử của mình Giáo Hội hiệp nhất với Mẹ Thiên Chúa, thì cũng phải cử hành Mẹ trong cuộc sống phụng tự của mình. Đức Trinh Nữ hiện diện trong năm phụng vụ, bởi vì Mẹ hiện diện trong cuộc sống của Giáo Hội, và là mẫu gương của thái độ tinh thần, qua đó Giáo Hội cử hành và sống các mầu nhiệm của Chúa (MC 16).

Sự hiện diện này của Đức Maria trong năm phụng vụ là một sự kiện quan trọng có các hiệu qủa thuộc trật tự thiêng liêng và mục vụ. Vì thế các lễ kính Đức Maria đã là đối tượng của sự chú ý đặc biệt trong việc cải tổ lịch phụng vụ. Phải chú ý tới các nguyên tắc của Hiến chế Phụng Vụ Thánh cũng như giáo lý của chương VIII trong hiến chế về Giáo Hội.

Sau đây là bảng liệt kê các lễ kính Đức Mẹ so sánh giữa hai lịch phụng vụ cũ ban hành ngày 25 tháng 7 năm 1960 và lịch phụng vụ mới ban hành ngày 21 tháng 3 năm 1969. Nó là dụng cụ giúp đọc hiểu và tổng hợp các lễ kính Đức Mẹ trong năm phụng vụ.

- 1 tháng Giêng: lịch cũ không có lễ; lịch mới lễ Đức Maria rất thánh Mẹ Thiên Chúa.
- 2 tháng 2: lịch cũ lễ Thanh tẩy của Đức Trinh Nữ Maria; lịch mới lễ Dâng Chúa trong đền thờ.
- 11 tháng 2: lịch cũ lễ hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm; lễ nhớ 7 sự thương khó Đức Mẹ; lịch mới không có.
- 25 tháng 3: lịch cũ lễ Truyền tin của Đức Trinh Nữ Maria; lịch mới lễ Truyền tin của Chúa.
- 31 tháng 5 lịch cũ lễ Đức Maria Trinh Vương; lịch mới lễ Thăm viếng của Đức Trinh Nữ Maria hay lễ Đức Mẹ đi thăm bà Elisabét.
- Thứ bẩy sau lễ Thánh Tâm lịch cũ không có lễ; lịch mới lễ Trái Tim Đức Mẹ.
- 2 tháng 7 lịch cũ lễ Đức Mẹ đi thăm bà Elidablét; lịch mới không có lễ.
- 16 tháng 7 lịch cũ lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria của núi Camêlô; lịch nới lễ Trinh Nữ Maria của núi Camêlô.
- 5 tháng 8 lễ dâng kính nhà thờ Đức thánh Maria của tuyết, hay nhà thờ Đức Bà xuống tuyết; lịch mới dâng kính Vương cung thánh đường Đức Bà Cả.
- 15 tháng 8 lễ Đức Trinh Nữ Maria hồn xác lên trời trong lịch cũ cũng như trong lịch mới.
- 22 tháng 8 lịch cũ lễ trái tim vô nhiễm nguyên tội của Đức Trinh Nữ Maria; lịch mới lễ Đức Maria Trinh Vương.
- 8 tháng 9 lễ sinh nhật Đức Maria trong lịch cũ và lịch mới.
- 12 tháng 9 trong lịch cũ lễ kính tên rất thánh của Đức Trinh Nữ Maria; lịch mới không có.
- 15 tháng 9 lễ kính bẩy sự thương khó của Đức Trinh Nữ Maria trong lịch cũ cũng như trong lịch mới.
- 24 tháng 9 trong lịch cũ lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria Mercede; trong lịch mới không có.
- 7 tháng 10 lễ Đức Mẹ Mân Côi trong lịch cũ cũng như trong lịch mới.
- 11 tháng 10 trong lịch cũ lễ kính chức làm mẹ của Đức Trinh Nữ Maria; trong lịch mới không có.
- 21 tháng 11 lễ dâng Đức Trinh Nữ Maria vào đền thánh trong lịch cũ cũng như trong lịch mới.
- 8 tháng 12 lễ Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội trong lịch cũ cũng như trong lịch mới.

Trong lịch cũ có các ngày lễ bậc nhất, bậc nhì, bậc ba; trong lịch mới có các lễ trọng, lễ kính, lễ nhớ buộc hay không buộc. Và thêm kinh tiền tụng riêng.

Toàn thể các lễ về Đức Mẹ được trình bầy như là phản ánh các lễ của Chúa Giêsu Kitô. Và người ta có khuynh hướng thiết lập một sự song song giữa việc cử hành các mầu nhiệm của Chúa Kitô với việc cử hành các mầu nhiệm của Đức Maria như sau:

- Truyền tin của Chúa = Vô nhiễm nguyên tội
- Chúa giáng sinh = Sinh nhật Đức Mẹ
- Dâng Chúa trong đền thánh = Dâng Đức Maria vào đền thánh
- Phục sinh lên trời của Chúa Kitô = Đức Maria hồn xác lên trời.

Việc bắt chước này cũng có trong cả các lễ tước hiệu hay các khía cạnh đặc biệt như:

- Thánh Tâm Chúa Giêsu = Trái tim vô nhiễm nguyên tội Đức Maria
- Chúa Kitô Vua = Đức Maria Nữ Vương.

Trong số các kiểu khác nhau giúp duyệt xét danh sách các lễ về Đức Mẹ mà lịch phụng vụ đề nghị, kiểu phù hợp nhất với các nguyên tắc do Hiến chế Phụng Vụ Thánh và cả Tông huấn về việc sùng kính Đức Maria thiết định, xem ra là kiểu sắp xếp thành các lễ nhớ, nghĩa là tưởng niệm các biến cố cứu độ, trong đó Đức Trinh Nữ được kết hiệp một cách mật thiết với Chúa Con, và thành các lễ bầy tỏ lòng sùng mộ.

Trước hết là các lễ nhớ. Các lễ nhớ đầu tiên là các lễ diễn tả các biến cố của lịch sử cứu độ, được lồng vào trong việc nhập thể cứu rỗi. Khi quy chiếu tình trạng biến chuyển hiện nay của chúng, có thể sắp các lễ ấy thành một lược đồ như sau:

1. Lễ Đức Maria vô nhiễm nguyên tội
2. Lễ sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria
3. Lễ dâng Đức Trinh Nữ Maria vào đền thánh
4. Lễ Truyền tin của Chúa
5. Lễ Đức Trinh Nữ Maria thăm bà Elidabét
6. Lễ Đức Maria rất thánh Mẹ Thiên Chúa
7. Lễ dâng Chúa trong đền thờ
8. Lễ Đức Maria sầu bi
9. Lễ Đức Trinh Nữ Maria hồn xác lên trời.

Danh sách này còn phải được thu hẹp lại hay làm cho lớn hơn: thu hẹp lại bởi vì hai lễ Truyền Tin và Dâng Chúa Giêsu trong đền thờ là các lễ của Chúa Kitô, và chỉ tưởng niệm Đức Maria một cách phụ thuộc; làm cho lớn hơn bởi vì danh sách không bao gồm các ngày Chúa Nhật mùa Vọng liên quan tới Đức Maria và các tưởng niệm truyền tin và thăm viếng trong các ngày lễ giáng sinh của mùa vọng, nghĩa là các ngày 20-21 tháng 12.

Ngoài ra, cần phải ghi nhận rằng hầu như tất cả các lễ mùa giáng sinh đều có bóng dáng gương mặt của Đức Maria, vì vai trò và thế đứng đặc biệt của Mẹ trong thời thơ ấu của Chúa Giêsu: lễ Giáng Sinh, lễ Thánh Gia, lễ Chúa tỏ mình cho ba nhà Đạo sĩ cũng như trong tiệc cưới làng Cana.

Cái khó khăn lớn nhất phát xuất từ các lễ kể trên đó là chúng có nguồn gốc với các lý do và thời điểm độc lập, vì thế cả khi trong sự phát triển chúng đã trở thành các lễ nhớ, nhưng chúng không đựơc sắp xếp một cách cơ cấu với chu kỳ nền tảng. Việc sắp xếp chúng hầu như luôn luôn gắn liền với các ngày trong các tháng, đôi khi vén mở cho thấy một sự gắn bó với chu kỳ cứu độ, nhưng không thể đi xa hơn ý tưởng này. Do đó trong thực tế, một vài lễ phần nào vẫn còn là các lễ có tính cách tín lý.

Theo cái nhìn đó thì chỉ có lễ trọng Đức Mẹ hồn xác lên trời và lễ nhớ Đức Mẹ sầu bi là thuộc chu kỳ phục sinh, trong khi tất cả các ngày lễ khác, một cách ít nhiều trực tiếp, đều quy chiếu về chu kỳ của sự nhập thể. Sự kiện này một phần có thể giải thích được bởi chỗ đứng của Đức Maria trong các Phúc Âm thời thơ ấu, và bởi sự xuất hiện rất kín đáo của Mẹ trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, dưới khía cạnh cử hành, bởi vì Giáo Hội đã luôn luôn nhìn Đức Maria trong Con Mẹ và tự nhìn mình qua mầu nhiệm của Mẹ, mà không tạo ra các ngày lễ mới, nên thật đáng mong ước có một việc tưởng niệm Mẹ đơn sơ trong các cử hành, trong đó Mẹ Maria được nhắc tới trong các văn bản Thánh Kinh Tân Ước: như Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá Chúa, Mẹ hiện diện và cầu nguyện với các môn đệ trong Nhà Tiệc Ly, trong khi chờ đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống (Ga 19,25-27 Cv 1,12-14), để cho việc tưởng niệm Mẹ được đầy đủ và quân bình hơn đối với các thời điểm khác nhau của năm phụng vụ.

(Thánh Mẫu Học bài 324)
Linh Tiến Khải

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan