5 vị Thánh từng có kinh nghiệm tan vỡ trái tim có thể giúp bạn trong kỳ lễ Valentine này

29-01-2020 585 lượt xem

Kỳ lễ Valentine đã đến, nhiều cặp đôi đang lên kế hoạch ăn mừng lễ bên nhau ở một buổi tiệc lãng mạn nào đó, trong khi nhiều người khác thì không để ý mấy. Với những người vừa thất tình thì ngày lễ khá là khó chịu; cả thế giới đang yêu, còn mình thì đang đau. Nếu bạn cũng đang phải đấu tranh với tình trạng đau khổ này thì đừng lo, có một số vị Thánh có thể giúp bạn vì các ngài cũng từng trải qua cảnh ấy.

MariaGuggiariEcheverria.jpg

Chân phước Maria Guggiari Echeverria (1925-1959): Chị là người con lớn nhất trong gia đình 7 người con, sinh ở Paraguay. Lúc còn trẻ ngài đã tự mình khấn giữ đức khiết tịnh. Tuy vậy, lời khấn bị đe doạ khi vào tuổi 20, chị phải lòng một sinh viên y khoa. Maria nghĩ mình và người kia sẽ có một mối quan hệ vợ chồng khiết tịnh như Thánh Giuse và Đức Mẹ đồng trinh. Tuy nhiên, cuối cùng người thanh niên lại chọn đi tu. Chị Maria đau lòng nhưng cũng hết lòng ủng hộ ơn gọi của chàng, nhất là che giấu chuyện này khỏi người cha Hồi giáo của chàng. Không lâu sau, Maria trở thành một nữ tu Cát Minh, và 4 năm sau thì qua đời vì bệnh gan.

ConcepcionCabreradeArmida.jpg

Chân phước Concepcion Cabrera de Armida (1862-1937): Chị là một nhà thần bí Mêxicô, một phụ nữ có chồng và 9 người con. Mới 39 tuổi thì chồng chị qua đời, chị Concepcion suy sụp hoàn toàn. Chị viết: "Đó thật là một lưỡi gươm thâu qua tâm hồn tôi, không một chút xoa dịu nào, không một chút an ủi nào. Đúng đêm ấy, Đức Chúa trao cho tôi chén đắng và khiến tôi uống đến giọt cuối cùng... Ôi, nếu chính Người không nâng đỡ tôi, với sự yếu đuối của mình, tôi đã ngã quỵ rồi. Người chồng gương mẫu! Người cha mẫu mực! Người đàn ông công chính. Anh ấy thật là khéo léo, tinh tế trong mối quan hệ với tôi, cẩn trọng trong mọi hành động, đầy tính Công Giáo trong tư tưởng, rất chân thật, hoàn hảo trong mọi việc." Sau khi chồng chị qua đời, Concepcion tiếp tục sống đời thường, nuôi đàn con đông đúc một mình, trong khi nội tâm chị đang được cảm nghiệm những ánh sáng siêu nhiên lạ lùng từ Chúa.

PierGiorgioFrassati.jpg

Chân phước Pier Giorgio Frassati (1901-1925): Chân phước Pier nổi bật trong giới tu đức về sự bình thường của mình. Ngài thích leo núi, hút thuốc và kể chuyện cười. Năm 22 tuổi, Pier yêu một phụ nữ lớn hơn mình vài tuổi. Tuy nhiên, gia đình Pier không chấp nhận cô ấy. Cũng trong thời gian ấy, cha mẹ của Pier đổ vỡ khiến chàng mất lòng tin vào hôn nhân. Sau khi cố gắng dâng các hy sinh của mình, Pier Giorgio viết thư cho bạn mình nói rằng "Tôi yêu bằng một tình yêu trong sáng và tôi thật lòng ước ao cô ấy hạnh phúc. Xin các bạn hãy cầu xin Chúa ban cho tôi sức mạnh đức tin để chấp nhận điều ấy cách thanh thản." Trái tim Pier đã không bao giờ lành được. Quả vậy, 7 tháng sau, chàng qua đời khi trái tim vẫn còn đau vì người chàng yêu nhưng không bao giờ nắm bắt được.

JohnJosephLataste.jpg

Chân phước John Joseph Lataste (1832-1869): Từ trẻ, chàng John đã ao ước cuộc đời linh mục, nhưng không lâu thì phải lòng một người khác ở trường cấp 3 và bắt đầu ngừng cả việc cầu nguyện hay tìm kiếm ý Chúa. Có một lúc chàng còn nghi ngờ đức tin và không biết mình có là Kitô hữu tiếp được không, dù cuối cùng đã vượt được những nghi nan ấy. Chuyện làm linh mục không còn trong tư tưởng John nữa, mà là một Cecile xinh đẹp. Gia đình phản đối chuyện hôn nhân của chàng với cô Cecile. Quẫn trí, John van nài Đức Mẹ soi sáng. Sau 2 năm buồn bã, người yêu chàng qua đời. Lataste sầu khổ ròng rã 2 năm nữa, rồi gia nhập dòng Đa Minh. Ở đó, chân phước John Joseph Lataste phục vụ không mệt mỏi các tù nhân, sau cùng thì thành lập một dòng tu cho những cựu tù nhân: Dòng Chị em Đa Minh Bethany.

ElisabethHungary.jpg

Thánh Elisabeth Hungary (1207-1231): Thánh nữ thương mình chồng mình rất nhiều. Chồng ngài, ông Louis cũng xứng đáng với một người vợ như thế. Tuy vậy, ông Louis qua đời khi chỉ mới 26 tuổi, lúc ấy Elisabeth mới 20. Elisabeth khóc lóc và kêu than rằng: "Thế giới với tất cả niềm vui của nó đã chết với tôi rồi!" Thánh nữ không thể nguôi ngoai suốt 6 tháng, sau đó thì lành lại và lao mình vào các việc từ thiện bác ái trong 4 năm đến khi qua đời ở tuổi 24.

Meg Hunter-Kilmer

Gioakim Nguyễn lược dịch từ https://aleteia.org/2020/02/08/5-saints-who-knew-a-broken-heart-to-help-you-through-valentines-day/

TRUYỀN THUYẾT VALENTINE

Lịch sử Ngày Tình Nhân (Valentine’s Day) vẫn còn là điều bí ẩn. Nhưng chúng ta biết rằng từ lâu tháng Hai đã là tháng của sự lãng mạn. Ngày lễ thánh Valentine là Ngày Tình Nhân, như chúng ta thấy ngày nay, gồm các vết tích của cả truyền thống Kitô giáo và truyền thống La Mã. Do đó, thánh Valentine là ai và được kết hợp với nghi lễ cổ này thế nào? Ngày nay, Công giáo nhận thấy ít nhất có 3 vị thánh có tên là Valentine hoặc Valentinus, 3 vị này đều tử đạo.

Một truyền thuyết cho rằng thánh Valentine là một linh mục sống hồi thế kỷ III ở Rôma. Khi hoàng đế Claudius II nói rằng binh sĩ độc thân này phục vụ tốt hơn những người có vợ và có gia đình, hoàng đế đã ra lệnh cấm cử hành lễ cưới cho các thanh niên. Thánh Valentine nhận thấy luật này bất công nên phản đối Claudius và vẫn bí mật cử hành lễ cưới cho các thanh niên yêu nhau. Việc làm của Valentine bị lộ, Claudius ra lệnh giết Valentine.

Các truyền thuyết khác cho rằng có lẽ Valentine bị giết vì “tội” giúp những người Kitô giáo trốn khỏi các nhà tù độc ác của Rôma.

Theo một truyền thuyết, chính Valentine đã gởi tấm thiệp tình yêu đầu tiên. Khi bị tù, Valentine phải lòng một cô gái trẻ (có thể là con gái của viên cai ngục) thường xuyên đến thăm ông. Trước khi chết, Valentine đã viết một lá thư, viết rõ “Người gởi: Valentine” – cách nói mà ngày nay vẫn dùng. Mặc dù sự thật về Valentine vẫn chưa rõ, nhưng các chuyện kể chắc chắn nhấn mạnh sức thu hút của Valentine là cảm thông, anh dũng, và đặc biệt là rất lãng mạn. Không lạ gì vào thời Trung cổ, Valentine là một trong các vị thánh được sùng kính nhiều ở Anh quốc và Pháp quốc.

Trong khi một số người tin rằng Ngày Tình Nhân được cử hành vào trung tuần tháng Hai để tưởng niệm ngày thánh Valentine qua đời – có thể từ khoảng năm 270, một số người khác lại tin rằng Kitô giáo có thể đã quyết định mừng lễ thánh Valentine vào giữa tháng Hai để cố gắng “Kitô hóa” lễ hội Lupercalia (*) của người ngoại giáo. Thời La Mã cổ đại, tháng Hai là tháng chính thức khởi đầu màu Xuân và được coi là thời gian thanh tẩy. Nhà cửa được dọn dẹp bằng cách quét sạch rồi rắc muối và bột mì mịn khắp trong nhà. Lễ hội Lupercalia bắt đầu từ ngày 15-2 (ides of February), đây là “lễ hội màu mỡ” (fertility festival, nghĩa là có khả năng sinh sản) dâng cúng thần Faunus (thần nông nghiệp La Mã), đồng thời tưởng nhớ hai người sáng lập là Romulus và Remus.

Bắt đầu lễ hội này, các thành viên Luperci (các tư tế La Mã) tụ họp tại một hang thánh (sacred cave), nơi có hai trẻ nhỏ Romulus và Remus được coi là được sói mẹ nuôi dưỡng. Lúc đó các tư tế hiến tế một con dê để cầu xin sự màu mỡ, và một con chó để cầu xin sự thanh tẩy.

Rồi các trẻ trai cắt da dê thành từng dải, nhúng các sợi da dê vào máu hiến tế và đem ra đường phố, rồi đập nhẹ các sợi da dê vào các phụ nữ và ruộng nương. Các phụ nữ La Mã không sợ mà lại thích thú được da dê chạm vào mình vì họ tin rằng các dải da dê có thể làm cho họ có khả năng sinh sản trong năm tới. Theo truyền thuyết, cuối ngày đó các cô gái trong thành phố sẽ đặt tên mình vào một cái bình lớn. Mỗi thanh niên độc thân sẽ chọn một tên trong chiếc bình đó và hai người sẽ cặp đôi với nhau. Việc cặp đôi này thường kết thúc bằng một đám cưới.

Giáo hoàng Gelasius tuyên bố ngày 14-2 là lễ thánh Valentine từ khoảng năm 498. Hệ thống “xổ số” của La Mã về việc cặp đôi lãng mạn được nghĩ là không bắt nguồn từ Kitô giáo và không đúng luật. Sau đó, vào thời Trung cổ, dân Pháp và Anh tin rằng ngày 14-2 là khởi đầu mùa chim chóc giao phối, ý tưởng này được thêm vào Ngày Tình Nhân để tăng thêm vẻ lãng mạn. Ngày nay, một bài thơ cổ của Charles, công tước vùng Orleans, làm tặng phu nhân khi ông ở trong nhà tù tại Tháp London sau khi bị bắt trong trận Agincourt. Lời chúc mừng, được viết năm 1415, là một phần trong bộ sưu tập bản thảo của Thư viện Anh quốc ởLondon. Vài năm sau, người ta cho rằng vua Henry V đã “đặt hàng” John Lydgate viết một lá thư ngắn gởi cho nàng Catherine ở Valois.

Ở Anh quốc, Ngày Tình Nhân bắt đầu được phổ biến rộng rãi vào khoảng thế kỷ XVII. Giữa thế kỷ XVIII, ngày này phổ biến trong giới bạn bè và những người yêu nhau ở các tầng lớp xã hội để trao tặng nhau những kỷ vật hoặc thư viết tay nhằm thể hiện tình cảm. Cuối thế kỷ XVIII, các thiệp in bắt đầu tahy thế thu viết tay vì kỹ thuật in ấn tân tiến. Tặng thiệp là cách thể hiện tình cảm dễ dàng hơn nói trực tiếp. Có lẽ người Mỹ đã bắt đầu tặng nhau những tấm thiệp Valentine tự làm từ đầu thập niên 1700. Vào thập niên 1840, Esther A. Howland bắt đầu sản xuất hàng loạt và bán những tấm thiệp Valentine ở Mỹ.

Theo Hiệp hội Thiệp, ước tính có tới 1 tỷ tấm thiệp Valentine được gởi tặng mỗi năm, làm cho Ngày Tình Nhân là ngày tặng thiệp nhiều thứ nhì trong năm, so với dịp Noël ước tính có tới 2,6 tỷ tấm thiệp được gởi đi. Xấp xỉ 85% thiệp Valentine được nữ giới mua tặng “chàng”.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ History.com và Wilstar.com)

(*) Tuy các nguồn tài liệu thời hiện đại nói không rõ về ngày lễ về và tình yêu của Greco-Roman nằm vào tháng hai, giáo sư Jack Oruch của viện khoa học của Kansas cho là không có sự liên kết nào của vị thánh tên Valentinus và tình yêu lãng mạn. Những nguồn liên kết trước đó nhắm vào sự hy sinh thay vì tình yêu lãng mạn. Trong lịch Attic, thời kỳ giữa tháng giêng đến giữa tháng hai trong lịch của lịch Hy Lạp, là thời gian tưởng nhiệm về đám cưới linh thiêng của Zeus và Hera.

Trong thời kỳ La Mã cổ đại, lễ Lupercalia được tổ chức vào ngày 13–15 tháng Hai, một nghi thức cổ xưa về sinh sản. Lễ Lupercalia là lễ riêng của TP Roma. Ngày lễ được tổ chức quy mô toàn quốc là lễ Juno Februa (Juno là đấng trong sạch hoặc đấng đồng trinh) được tổ chức vào ngày 13–14 tháng Hai. ĐGH Gelasius I (492–496) đã bỏ lễ Lupercalia. Một số nhà sử học đoán rằng lễ Candlemas (Lễ Nến, ngày 14 tháng Hai, về sau chuyển sang ngày 2 tháng Hai) được thay thế cho lễ Lupercalia, nhưng lễ Candlemas đã được bắt đầu tại TP Giêrusalem vào năm 381 trước công nguyên. Năm 500 sau công nguyên, Đức Giáo Hoàng chuyển lễ Valentine vào ngày 15 tháng Hai, và rồi được chuyển sang ngày 14 tháng Hai.

Xem đính kèm : tại đây.

Với mục đích để Lời Chúa được loan truyền và thông tin Giáo hội được lan tỏa, Legio Mariæ sẵn lòng để các tổ chức và cá nhân sử dụng lại tin bài đã đăng trên báo giấy và báo mạng legiomariævn.com của mình.

Tuy nhiên, vì đức công bằng và sự bác ái, xin quý vị vui lòng ghi đầy đủ nguồn như sau: “Theo Đạo Binh Đức Mẹ, website: legiomariævn.com”.

Ngoài ra, nếu chia sẻ bài lên mạng xã hội (Facebook, Twitter…), đề nghị dùng đường dẫn gốc trên website của Đạo Binh Đức Mẹ.

Tin liên quan